1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản sắc văn hoá việt nam trong thơ nôm hồ xuân hương

70 1,4K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bản sắc văn hoá việt nam trong thơ nôm hồ xuân hương
Tác giả Trần Thị Hiền
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Minh Đạo
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam trung đại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 299,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc tìm hiểu Bản sắc văn hoá Việt“Bà chúa Nam trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng” còn nhằm làm rõ mối quan hệ giữa văn hoá dân gian và văn học trung đại Việt Nam, đồng thời giúp cho

Trang 1

trờng đại học vinh khoa ngữ văn

- -trần thị hiền

bản sắc văn hoá việt nam

trong thơ nôm hồ xuân hơng

khóa luận tốt nghiệp đại học

chuyên ngành: văn học việt nam trung đại

Trang 2

giáo ThS Hoàng Minh Đạo Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới tất cả mọi ngời đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này!

Vinh, tháng 5 năm 2010

Sinh viên

Trần Thị Hiền

Trang 3

A - Phần mở đầu

I Lí do chọn đề tài

1.1 Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng là một hiện tợng độc đáo trong nền vănhọc trung đại Việt Nam Sự độc đáo trong thơ Nôm của nữ sĩ họ Hồ đã thuhút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu văn học ở nớc ta cũng nh ở một số nớctrên thế giới Họ tìm thấy ở đây một cá tính sáng tạo của một con ngời màsáng tác thơ ca của con ngời đó đã và đang gây nhiều tranh cãi Không phải

ngẫu nhiên mà nhà thơ Xuân Diệu đã tôn vinh Hồ Xuân Hơng là Bà chúa“Bà chúa

thơ Nôm” Thơ Nôm của bà cuốn hút, hấp dẫn ngời đọc không chỉ ở những

nét mới lạ trong cảm hứng, mà còn ở những nét rất thân quen, bình dị từ đềtài đến nguồn chất liệu gắn với cuộc sống và con ngời Việt Nam Hay nóicách khác, thơ Nôm của nữ sỹ họ Hồ đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Đểgóp phần làm sáng tỏ giá trị thơ Nôm Hồ Xuân Hơng trên bình diện văn hoá,

chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề Bản sắc văn hoá Việt Nam trong thơ“Bà chúa

Nôm” của bà.

1.2 Nh chúng ta đã biết, trong quá trình sinh thành và phát triển, giữavăn học dân gian và văn học trung đại ở nớc ta luôn có mối quan hệ tác độngqua lại Là một nhà thơ tiêu biểu của nền văn học trung đại ở giai đoạn vănhọc chữ Nôm phát triển đến đỉnh cao, Hồ Xuân Hơng trong sáng tác thơ bằngchữ Nôm cũng nằm trong quy luật chung đó Thơ Nôm của bà có sự gắn bómật thiết với văn học dân gian, hay nói rộng hơn là với văn hoá dân gian do

nhân dân lao động sáng tạo Do đó, việc tìm hiểu Bản sắc văn hoá Việt“Bà chúa

Nam trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng” còn nhằm làm rõ mối quan hệ giữa

văn hoá dân gian và văn học trung đại Việt Nam, đồng thời giúp cho mọi

ng-ời thấy rõ hơn về sự vận dụng sáng tạo nguồn chất liệu từ kho tàng văn hoádân tộc trong quá trình sáng tác thơ Nôm của một nhà thơ có bản lĩnh

1.3 Trong sách giáo khoa môn Ngữ văn ở trờng trung học cơ sở vàtrung học phổ thông ở nớc ta, thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng đã và đang đợc

dành vị trí xứng đáng Một số bài thơ của bà nh: Mời trầu, Bánh trôi

nớc…đ-ợc tuyển chọn để dạy và học Nội dung trữ tình của những bài thơ đó ít haynhiều, trực tiếp hay gián tiếp đều ánh lên cái hồn văn hoá của dân tộc ta Vìthế, vấn đề mà chúng tôi quan tâm ở khoá luận này, nếu đợc giải quyết thấu

đáo hi vọng sẽ giúp ích cho việc dạy học thơ Nôm Hồ Xuân Hơng đạt hiệuquả cao

Trang 4

II Nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Khảo sát, thống kê, phân loại các bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng

trên bình diện văn hoá dân tộc, tập trung sự chú ý vào đề tài và nội dung phản

ánh

2.2 Chỉ rõ những biểu hiện cụ thể về bản sắc văn hoá Việt Nam trongthơ Nôm của bà từ nội dung đến hình thức; từ cảm hứng đến nguồn chất liệu.Nhiệm vụ trọng tâm xoay xung quanh việc trả lời câu hỏi: Bản sắc văn hoáViệt Nam đợc thể hiện nh thế nào trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng?

2.3 Lý giải nguyên nhân là do đâu mà thơ Nôm của nữ sỹ họ Hồ baogiờ cũng đậm đà bản sắc văn hoá Việt Nam, tạo thành một tiếng nói rất riêngtrong thơ bà

III Phơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này đòi hỏi phải có sự hiểu biết sâu sắc về bản sắcvăn hoá Việt Nam và tập thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng, đặc biệt phải có ph-

ơng pháp thực hiện phù hợp; ở đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng phơngpháp sau:

- Phơng pháp thống kê, phân loại

- Phơng pháp so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp

Đồng thời, khi thực hiện đề tài phải luôn luôn tuân thủ hai quan điểmkhoa học:

- Quan điểm duy vật lịch sử (tính lịch đại, tính đồng đại)

- Quan điểm duy vật biện chứng (hình thức trong mối quan hệ với nộidung)

IV Phạm vi nghiên cứu

Tài liệu về tập thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng sử dụng phục vụ cho khoá

luận này đó là tập Hồ Xuân Hơng thơ và đời do Lữ Huy Nguyên tuyển, soạn

và giới thiệu, NXB Văn học, 2004

Xung quanh vấn đề xác định văn bản thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng hiệnnay còn có nhiều tranh cãi, có nhiều ý kiến cho rằng nên gọi là thơ Nômtruyền tụng Hồ Xuân Hơng Tuy nhiên dựa vào cuốn tài liệu mà chúng tôi sửdụng để nghiên cứu, chúng tôi mạnh dạn coi tất cả những sáng tác thơ Nôm

đó là của Hồ Xuân Hơng

V Lịch sử vấn đề

Ngời ta thờng bảo Nôm na là cha mách qué“Bà chúa ” thế nhng với thơ Hồ XuânHơng thì đó lại là một ngoại lệ, bởi vì ngời đọc nhớ Xuân Hong, yêu Xuân

Trang 5

Hơng lại chính từ sự mách qué“Bà chúa ” ấy Nếu không có cái chất nôm na ,“Bà chúa ”

mách qué , xỏ xiên

“Bà chúa ” “Bà chúa ” đầy tinh nghịch này thì có lẽ đã không có một Hồ

Xuân Hơng để cho ngời đời chiêm ngỡng và tôn vinh bà thành Bà chúa thơ“Bà chúa

Nôm ” (Xuân Diệu) trong làng thơ Việt Nam Chính cái chất nôm na và ýnghĩa t tuởng trong thơ bà đã tạo men xúc tác mãnh liệt trong lòng ngời đọc,

và là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Nghiên cứu về thơ Nôm Hồ Xuân Hơng có rất nhiều công trình, ý kiến,

do phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ xin giới thiệu một số bài viết có liênquan đến vấn đề mà đề tài đặt ra:

Xuân Diệu với bài viết Hồ Xuân Hơng-Bà chúa thơ Nôm đã nói rằng:

Nhìn chung trong thơ cổ điển của ta, bao gồm từ Chu Mạnh Trinh trở lên,

“Bà chúa

nếu xét về khía cạnh có tính cách dân tộc hơn cả, có lẽ thơ Hồ Xuân Hơng thì treo giải nhất chi nh

“Bà chúa ờng cho ai ! Thơ Xuân Hơng Việt Nam hơn cả, vì

đã thống nhất đợc cao độ hai tính cách dân tộc và đại chúng… Nội dung thơ Xuân Hơng toát ra từ đời sống bình dân, hằng ngày và trên đất nớc nhà…”

[20; tr.171]

Tác giả Phạm Thế Ngũ với bài viết Đặc sắc thơ Hồ Xuân Hơng lại nói

về việc đòi hỏi quyền bình đẳng cho ngời phụ nữ của Hồ Xuân Hơng: Bà“Bà chúa

lớn tiếng đòi hỏi dân quyền, nhất là nữ quyền: quyền cho ngời đàn bà đợc

v-ơn lên ngang hàng với đàn ông, quyền cho ngời đàn bà đợc chủ động trong việc tìm khoái lạc sinh lý nh đàn ông” [19; tr.115]

Nguyễn Tuân trong bài viết Băm sáu cái nõn nờng Xuân Hơng lại nêu lên rằng: Thế giới quan,nhân sinh quan của Xuân H“Bà chúa ơng (Cổ Nguyệt) là một nhân sinh quan nõn nờng Bất cứ cái gì,bất kể lúc nào và ở đâu, vẫn vang ngân lên chỉ nõn và nờng Câu nào,chữ vần nào cũng chỉ có mỗi cái sự nh thế của cái ấy và cái nọ” [20, tr.219]

Nguyễn Lộc trong bài Thơ Hồ Xuân Hơng có viết: Tr“Bà chúa ớc đây, có nhà nghiên cứu cho rằng Hồ Xuân Hơng là một hiện tợng ngoại lệ trong lịch sử văn học dân tộc Nhận định nh thế chắc chắn là không đúng Hồ Xuân Hơng không ngoại lệ chút nào Những gì Hồ Xuân Hơng có trong sáng tác của mình đều có thể tìm thấy bóng dáng của nó trong truyền thống của văn học, văn hoá dân tộc” [20, tr.253]

Trang 6

Nguyễn Đăng Na trong Thơ Hồ Xuân Hơng với văn học dân gian đã nêu lên rằng: Hồ Xuân H“Bà chúa ơng nghĩ cái nghĩ dân gian, cảm cái cảm dân gian ,

Hồ Xuân H

“Bà chúa ơng rất dân gian nhng cũng rất Xuân Hơng” [10,tr.36]

Nhà phê bình văn học Tam Vị trong bài nghiên cứu Tinh thần phục hng

trong thơ Hồ Xuân Hơng đã viết: Hồ Xuân H“Bà chúa ơng coi thân thể và cả bộ phận sinh dục trên cơ thể con ngời nh là tự nhiên, thiên tạo, nó giống nh tự nhiên, thiên nhiên vậy Đã thế quyền miêu tả nó trong văn chơng cũng là một quyền năng tự nhiên” [27, tr.21]

Đỗ Đức Hiểu trong bài Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hơng đã viết: “Bà chúaở đây

không hề có cái tục , mà chỉ có cái đẹp tự nhiên, cái đẹp sức sống của tồn“Bà chúa ”

tại con ngời.Không phải vấn đề đạo lý, mà vấn đề triết lý, triết lý tự nhiên và triết lý cao đẹp” [6; tr.40]

Hoàng Hữu Yên với bài viết Thơ Hồ Xuân Hơng đã nhận xét: Thơ Hồ“Bà chúa

Xuân Hơng rất đại chúng nhng lại rất kết tinh Tuy không có phân biệt về nguyên tác giữa ngôn ngữ thông thờng-ngôn ngữ giao tế - và ngôn ngữ văn học nhng với tập thơ của mình, nữ sỹ họ Hồ đã góp phần rất đáng kể làm cho ngôn ngữ dân tộc tức tiếng Việt văn học phong phú, trong sáng và chính xác hơn ” [20; tr.409]

Bùi Ngọc Minh trong Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong thơ Hồ

Xuân Hơng nhận xét: Điểm xuất phát trong quan niệm của bà là lấy con ng“Bà chúa

-ời đích thực mang khát vọng sống phồn thực của con ng-ời, đặc biệt là ng-ời phụ nữ để khám phá và biểu hiện cuộc sống” [11;tr.335]

Trơng Xuân Tiếu từng đa ra nhận xét: Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân“Bà chúa

hơng là kết tinh sáng tạo nghệ thuật của một tài năng lớn, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa truyền thống thơ quốc âm Việt Nam thời trung đại và những giá trị tinh thần của thời đại” [24; tr.30]

Đỗ Lai Thuý đã đa ra nhận định rằng: Trong các nhà thơ cổ điển Việt“Bà chúa

Nam, có lẽ Hồ Xuân Hơng là dân tộc nhất Bà đặc Việt Nam Trớc hết, ngời

ta thấy nguồn cảm xúc của bà phát nguyên từ mạch dân gian Mà ở xã hội Việt Nam cổ truyền dân gian và dân tộc là những khái niệm gần chồng khít Dân tộc ở Hồ Xuân Hơng đó là lối t duy luỡng hợp của ngời Việt cổ hiện còn

lu lại trong các phong tục tập quán và lời ăn tiếng nói hàng ngày” [22;

tr.224]

Nh vậy, chúng ta thấy rằng vấn đề thơ Nôm Hồ Xuân Hơng đã đợcnhiều ngời nghiên cứu, tìm hiểu trên những phơng diện khác nhau, và ở mỗi

Trang 7

lĩnh vực nghiên cứu đều có những quan điểm, những cách nhìn nhận, đánhgiá rất phong phú và đa dạng.

Tuy nhiên các bài viết cha có một cái nhìn tổng quát đầy đủ về thơ Nôm

Hồ Xuân Hơng ở phơng diện văn hoá, để chỉ rõ những giá trị dân tộc trongthơ bà

Trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm và kết quả mà các nhà nghiên cứu đã

đạt đợc liên quan đến đề tài, chúng tôi muốn tiếp tục tìm hiểu những nét bảnsắc văn hoá Việt Nam thể hiện trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng một cách có

hệ thống, đầy đủ Qua đó để thấy đợc tính dân tộc rõ nét trong thơ nữ sỹ họHồ

VI Cấu trúc của khoá luận

Để giải quyết những vấn đề mà khoá luận đặt ra, ngoài phần mở đầu,phần kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài đợc triển khaiqua ba chơng sau:

Chơng 1 Những Vấn đề chung

Chơng 2 Bản sắc văn hóa trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng thể hiện trên

phơng diện nội dung

Chơng 3 Bản sắc văn hoá trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng thể hiện trên

phơng diện nghệ thuật

Trang 8

ở Việt Nam đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên cứu, luận bàn

về khái niệm hay định nghĩa về bản sắc văn hoá

Theo Trơng Hữu Quýnh Cái chung cơ bản là con ng“Bà chúa ời Còn cái riêng khác biệt thể hiện trong văn hoá là cái bản sắc Vậy có thể hiểu bản sắc dân tộc (hay bản sắc văn hoá dân tộc) là những biểu hiện giá trị (tinh thần hay vật chất nói lên đặc điểm của một tộc ngời nhất định, phân biệt họ với các tộc ngời khác Vấn đề ở đây chủ yếu không thuộc lĩnh vực ngôn ngữ hay nhân dạng ” [12 ;tr.154 -155]

Phan Ngọc lại khẳng định: Nói đến bản sắc văn hoá tức là nói đến cái“Bà chúa

mặt bất biến của văn hoá trong quá trình phát triển của lịch sử Dĩ nhiên văn hoá là một hệ thống những quan hệ, không phải là những vật Các hệ thống quan hệ này mang những tên gọi riêng, có thể chứa đựng những cách lí giải khác nhau trong cách biểu hiện qua các thời đại Cái tạo thành tính bất biến của các hệ thống quan hệ này là những nhu cầu của tâm thức con ngời Việt Nam ” [15; tr.34]

Trần Ngọc Thêm cũng đa ra quan điểm của mình về bản sắc văn hoá,

theo ông: Bản sắc văn hoá của một dân tộc là các giá trị tinh thần tồn tại t“Bà chúa

-ơng đối lâu bền hơn cả truyền thống văn hoá dân tộc ấy T “Bà chúa ơng đối lâu bền”

nghĩa là bản sắc văn hoá vẫn có thể đợc điều chỉnh, biến đổi nhng rất chậm

và khó khăn ” [25; tr.34]

Đỗ Lai Thuý cho rằng: Tính dân tộc của ng“Bà chúa ời Việt hoặc bản sắc văn hoá Việt đợc hình thành trong quá trình lịch sử và thay đổi theo lịch sử” [22;

Trang 9

tr.226], nghĩa là ông cũng cho rằng bản sắc văn hoá cũng luôn có sự điềuchỉnh, biến đổi, chọn lọc

Ngô Đức Thịnh trong bài viết Văn hoá dân gian và văn hoá dân tộc khẳng

định: Bản sắc văn hoá là gì? Đó là tổng thể các giá trị đặc tr“Bà chúa ng của văn hoá dân tộc, đợc hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của

đất nớc với các giá trị, đặc trng mang tính bền vững, trờng tồn, trừu tợng và tiềm ẩn Do vậy, muốn nhận biết nó phải thông qua vô vàn các sắc thái văn hoá, với t cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hoá ấy ” [32]

Civillawinfor trong bài viết Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

trong quá trình giao lu hội nhập cho rằng: Bản sắc văn hoá dân tộc là cái“Bà chúa

hồn , là sức sống nội sinh, là cái thẻ căn c

biệt dân tộc này với dân tộc khác, từ đó nó có thể bộc lộ một cách toàn vẹn nhất sự hiện diện của mình trong quá trình giao lu và hội nhập ” [33]

Nh vậy, ta có thể thấy rằng mỗi nhà nghiên cứu tuỳ theo t duy củamình mà đa ra những khái niệm riêng cho mình về bản sắc văn hoá để nghiên

cứu và giảng dạy Qua quá trình tìm hiểu về văn hoá ta có thể hiểu bản sắc

văn hoá là cái cốt lõi, cái đặc trng riêng của một cộng đồng văn hoá trong

lịch sử tồn tại và phát triển, giúp phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Bản

sắc văn hoá dân tộc không phải là cái ngng đọng, bất biến, mà luôn phát

triển một cách biện chứng theo xu hớng tích luỹ, thu nạp những điều tốt đẹp,tiến bộ, sa thải cái xấu, cái lạc hậu, không phù hợp của thời đại Trải quahàng ngàn năm lịch sử, văn hoá Việt Nam đã vợt qua sự bị động để tiếp thutinh hoa văn hoá nhân loại, làm giàu thêm bản sắc của mình Nó có thể baogồm: cội nguồn, cách t duy, cách sống, dựng nớc, giữ nớc, sáng tạo văn hoá,khoa học - nghệ thuật… Khái niệm bản sắc văn hoá ở đây có hai quan hệ cơbản: quan hệ bên ngoài là dấu hiệu để phân biệt các cộng đồng với nhau vàquan hệ bên trong chỉ tính đồng nhất mà mỗi cá thể trong cộng đồng phải có

2 Một số đặc điểm của văn hoá Việt Nam

2.1 Điều kiện lịch sử và địa lý

Các nhà sử học thống nhất ý kiến ở một điểm: Việt Nam có một cộng

đồng văn hoá khá rộng lớn đợc hình thành vào khoảng nửa đầu thiên niên kỉthứ nhất trớc Công nguyên và phát triển rực rỡ vào giữa thiên niên kỉ này Đó

là cộng đồng văn hoá Đông Sơn Cộng đồng văn hoá ấy phát triển cao so vớicác nền văn hoá khác đơng thời trong khu vực, có những nét độc đáo riêng

Trang 10

nhng vẫn mang nhiều đặc trng của văn hoá vùng Đông Nam á (Môngloidphơng Nam) và nền văn minh lúa nớc.

Văn hoá dân tộc Việt Nam nảy sinh từ một môi trờng sống cụ thể: xứnóng, nhiều sông nớc, nơi gặp gỡ của nhiều nền văn minh lớn Điều kiện tựnhiên (nhiệt, ẩm, gió mùa, sông nớc, nông nghiệp trồng lúa nớc…) đã tác

động không nhỏ đến đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc, đếntính cách, tâm lý con ngời Việt Nam

Dân tộc Việt Nam hình thành sớm và luôn luôn phải thực hiện các cuộcchiến tranh giữ nớc, từ đó tạo nên một đặc trng văn hoá nổi bật: t tởng yêu n-

ớc thấm sâu và bao trùm mọi lĩnh vực Các yếu tố cộng đồng có nguồn gốcnguyên thuỷ đã sớm đợc cố kết lại, trở thành cơ sở phát triển chủ nghĩa yêunớc và ý thức dân tộc

Chiến tranh liên miên, đó cũng là lí do chủ yếu khiến cho lịch sử pháttriển xã hội Việt Nam có tính bất thờng, tất cả các kết cấu kinh tế - xã hội th-ờng bị chiến tranh làm gián đoạn, khó đạt đến điểm đỉnh của sự phát triểnchín muồi Cũng vì chiến tranh phá hoại, Việt Nam ít có đợc những côngtrình văn hoá - nghệ thuật đồ sộ, hoặc nếu có cũng không bảo tồn đợc nguyênvẹn

Việt nam gồm 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ, mỗi dân tộcmột sắc thái riêng, cho nên văn hoá Việt Nam là sự thống nhất trong đa dạng.Ngoài văn hoá Việt-Muờng mang tính tiêu biểu, còn có các nhóm văn hoá

đặc sắc khác nh Tày - Nùng, Thái, Chàm, Hoa - Ngái, Môn-Khơmer,H’Mông - Dao, nhất là văn hoá các dân tộc Tây Nguyên giữ đợc truyền thốngkhá phong phú và toàn diện của một xã hội thuần nông nghiệp gắn bó vớirừng núi tự nhiên

2.2 Phong tục

Phong tục là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu, đ“Bà chúa ợc

đại đa số mọi ngời thừa nhận và làm theo (phong: gió; tục: thói quen; phong tục: thói quen lan rộng), phong tục có trong mọi mặt của đời sống (phong tục tang ma, hôn nhân, lễ tết, lễ hội…)” [26; tr.143]

Ngời Việt vốn thiết thực, chuộng ăn chắc măc bền Đầu tiên là ăn, có“Bà chúa

thực mới vực đợc đạo , trời đánh còn tránh bữa ăn” ” ” Cơ cấu ăn thiên về thựcvật, cơm rau là chính cộng thêm thuỷ sản Luộc là cách nấu ăn đặc sắc củaViệt Nam Nhng cách thức chế biến món ăn lại giàu tính tổng hợp, kết hợp

Trang 11

nhiều chất liệu và gia vị Ngày nay có nhiều thịt cá, vẫn không quên vị da cà.Ngoài ra ngời Việt có tục ăn trầu, dùng hỗn hợp lá trầu không và cau Tục ăntrầu có công dụng làm thơm miệng và là nghi thức xã giao cùng lễ nghi ởNam á và Đông Nam á ở Việt Nam trầu có thể thêm vôi, vỏ chay, vỏquạch, vỏ quế và thuốc lào Các loại thực vật khác đợc dùng ăn kèm có vỏtrầm, rễ sen, vỏ khoai, vỏ đỏ Trầu cau là những thứ ngày xa không thể thiếutrong các dịp xã giao hay lễ hội của ngời Việt Cho đến ngày nay, trầu cauvẫn là thứ không thể thiếu trong việc giao hiếu, kết thân và cới hỏi của ngờiViệt Tuy rằng ngày nay các phong tục tập quán này mất đi khá nhiều nhng

nó vẫn còn mang ý nghĩa sâu đậm trong văn hoá và văn chơng Việt Nam.Ngời Việt xa còn có tục nhuộm răng đen, tục này cũng có liên hệ với tục ăntrầu, tuy hai tập tục này là hai khía cạnh khác nhau Một mang hình thức xãgiao và lễ nghi, một là cách trang sức nhng cả hai bổ sung cho nhau

Ngời Việt hay dùng các chất liệu vải có nguồn gốc thực vật, mỏng, nhẹ,thoáng, phù hợp xứ nóng, với các sắc màu nâu, chàm, đen Trang phục namgiới phát triển từ đóng khố ở trần đến áo cánh, quần ta (quần Tàu cải biến).Nữ giới xa phổ biến mặc yếm, váy, áo tứ thân sau này đổi thành chiếc áo dàihiện đại Nói chung, phụ nữ Việt Nam làm đẹp một cách tế nhị, kín đáo trong

một xã hội "cái nết đánh chết cái đẹp" Trang phục cũ cũng chú ý đến khăn,

nón, thắt lng

Ngôi nhà Việt Nam xa gắn liền với môi trờng sông nớc (nhà sàn, máicong) Sau đó là nhà tranh vách đất, lợp rạ, vật liệu chủ yếu là tre gỗ, khôngcao quá để chống gió bão, quan trọng nhất là hớng nhà thờng quay về phíaNam chống nóng, tránh rét Nhà cũng không rộng quá để nhờng diện tích

cho sân, ao, vờn cây Vả lại, ngời Việt Nam quan niệm "rộng nhà không

bằng rộng bụng" Các kiến trúc cổ bề thế thờng ẩn mình và hoà với thiên

nhiên

Phơng tiện đi lại cổ truyền chủ yếu là đờng thuỷ Con thuyền các loại làhình ảnh thân quen của cảnh quan địa lý - nhân văn Việt Nam, cùng với dòngsông, bến nớc

Các phong tục hôn nhân, tang ma, lễ tết, lễ hội của Việt Nam đều gắnvới tính cộng đồng làng xã Hôn nhân xa không chỉ là nhu cầu đôi lứa màcòn phải đáp ứng quyền lợi của gia tộc, gia đình, làng xã, nên kén ngời rất

kỹ, chọn ngày lành tháng tốt, trải qua nhiều lễ từ dạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu

đến tơ hồng, hợp cẩn, lại mặt, và phải nộp cheo để chính thức đợc thừa nhận

Trang 12

là thành viên của làng xóm Tục lễ tang cũng rất tỉ mỉ, thể hiện thơng xót vàtiễn đa ngời thân qua bên kia thế giới, không chỉ do gia đình lo mà hàng xómláng giềng tận tình giúp đỡ.

Việt Nam là đất nớc của lễ hội quanh năm, nhất là vào mùa xuân, nôngnhàn Các tết chính là tết nguyên đán, tết rằm tháng giêng, tết Hàn thực, tết

Đoan ngọ, tết rằm tháng bảy, tết trung thu, tết ông Táo Mỗi vùng thờng có

lễ hội riêng, quan trọng nhất là các lễ hội nông nghiệp (cầu ma, xuống đồng,cơm mới ), các lễ hội nghề nghiệp (đúc đồng, rèn, pháo, đua ghe ) Ngoài

ra là các lễ hội kỉ niệm các bậc anh hùng có công với nớc, các lễ hội tôn giáo

và văn hóa (hội chùa) Lễ hội có 2 phần, phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ

ơn và phần hội là sinh hoạt văn hóa cộng đồng gồm nhiều trò chơi, cuộc thidân gian

ng-Nói đến tín ng

“Bà chúa ỡng là nói đến quá trình thiêng hoá một nhân vật đợc gửi gắm vào niềm tin tởng của con ngời Quá trình ấy có thể là quá trình huyền thoại hoá, lịch sử hoá nhân vật phụng thờ Mặt khác, giữa các tín ngỡng đều

có những đan xen và trong từng tín ngỡng có nhiều lớp văn hoá lắng đọng ”[30; tr.92]

Tín ngỡng dân gian Việt Nam từ cổ xa đã bao hàm: tín ngỡng phồn thực,tín ngỡng sùng bái tự nhiên và tín ngỡng sùng bái con ngời Con ngời cầnsinh sôi, mùa màng cần tơi tốt để duy trì và phát triển sự sống, nên đã nảysinh tín ngỡng phồn thực

ở Việt Nam, tín ngỡng đó tồn tại lâu dài, dới hai dạng biểu hiện: thờsinh thực khí nam và nữ (khác với ấn Độ chỉ thờ sinh thực khí nam) và thờ cảhành vi giao phối (ngời và thú, ngay ở Đông Nam á cũng ít có dân tộc thờviệc này) Dấu tích trên còn để lại ở nhiều di vật tợng và chân cột đá, trong

Trang 13

trang trí các nhà mồ Tây Nguyên, trong một số phong tục và điệu múa, rõnhất là ở hình dáng và hoa văn các trống đồng cổ.

Nông nghiệp trồng lúa nớc phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên đã đa

đến tín ngỡng sùng bái tự nhiên ở Việt Nam, đó là tín ngỡng đa thần và coitrọng nữ thần, lại thờ cả động vật và thực vật Một cuốn sách nghiên cứu(xuất bản năm 1984) đã liệt kê đợc 75 nữ thần, chủ yếu là các bà mẹ, cácMẫu (không những có ông Trời, mà còn có bà Trời tức Mẫu Cửu Trùng,ngoài ra là Mẫu Thợng Ngàn, bà chúa sông v.v )

Ngời Việt tự nhận là thuộc về họ Hồng Bàng, giống Tiên Rồng (HồngBàng là tên một loài chim nớc lớn, Tiên là sự trừu tợng hóa một giống chim

đẻ trứng, Rồng sự trừu tợng hóa từ rắn, cá sấu) Rồng sinh ra từ nớc bay lêntrời là biểu trng độc đáo đầy ý nghĩa của dân tộc Việt Nam

Trong tín ngỡng sùng bái con ngời, phổ biến nhất là tục thờ cúng tổ tiên,gần nh trở thành một thứ tôn giáo của ngời Việt Nam (trong Nam bộ gọi là

đạo ông bà) Việt Nam trọng ngày mất là dịp cúng giỗ hơn ngày sinh Nhànào cũng thờ Thổ công là vị thần trông coi gia c, giữ gìn hoạ phúc cho cảnhà Làng nào cũng thờ Thành hoàng là vị thần cai quản che chở cho cả làng(thờng tôn vinh những ngời có công khai phá lập nghiệp cho dân làng, hoặccác anh hùng dân tộc đã sinh hay mất ở làng)

Cả nớc thờ vua tổ, có ngày giỗ tổ chung (Hội đền Hùng) Đặc biệt việcthờ Tứ Bất Tử là thờ những giá trị rất đẹp của dân tộc: Thánh Tản Viên(chống lụt), Thánh Gióng (chống ngoại xâm), Chử Đồng Tử (nhà nghèo cùng

vợ ngoan cờng xây dựng cơ nghiệp giàu có), bà chúa Liễu Hạnh (công chúacon Trời từ bỏ thiên đình xuống trần làm ngời phụ nữ khát khao hạnh phúcbình thờng)

Mặc dù có trờng hợp dẫn tới mê tín dị đoan, tín ngỡng dân gian vẫnsống dẻo dai và hoà trộn cả vào các tôn giáo chính thống

Các tôn giáo bên ngoài du nhập vào Việt Nam nh Phật giáo, Đạo giáo,Thiên Chúa giáo không làm mất đi tín ngỡng dân gian bản địa mà hoàquyện vào nhau làm cho cả hai phía đều có những biến thái nhất định

3 Vài nét về tác giả Hồ Xuân Hơng và tập thơ Nôm

3.1 Vài nét về tác giả Hồ Xuân Hơng

Hồ Xuân Hơng là một nhà thơ nổi tiếng cuả dân tộc ta giai đoạn vănhọc Việt Nam cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Nhng cuộc đời và thơvăn của bà còn nhiều điều cha sáng tỏ, từ trớc đến nay những ngời su tầm,

Trang 14

nghiên cứu, giảng dạy về Hồ Xuân Hơng vẫn không ngớt tranh luận về cuộc

đời, cũng nh thơ văn của bà Có ngời còn cho rằng không có hiện tợng HồXuân Hơng, không có tác giả Hồ Xuân Hơng

Tơng truyền Xuân Hơng là con của Hồ Phi Diễn (có ý kiến khác là concủa Hồ Sĩ Danh ) quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu, tỉnh Nghệ An

Mẹ Hồ Xuân Hơng họ Hà lấy lẽ Hồ Phi Diễn thì quê ở Hải Dơng Nh vậy HồXuân Hơng là sự hòa máu, lai tạo giữa miền Trung và miền Bắc Xuân Hơngsinh trởng ở đất Bắc, cha mẹ nhà ở phờng Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận,

Hà Nội

Tiểu sử cũng nh thơ văn của Hồ Xuân Hơng đợc lu truyền bằng miệng,chứ không bằng văn bản cho nên năm sinh, năm mất, đến di cảo văn thơ của

bà đều không chính xác Ta chỉ biết bà sống vào thời Lê mạt, Nguyễn sơ,

ng-ời cùng thng-ời với Nguyễn Du (1765 - 1820), Phạm Đình Hổ (tức Chiêu Hổ(1768 - 1839) Bà là em cùng cha với Hồ Sĩ Đống (1738 -1786) đậu HoàngGiáp; làm đến Hành Tham Tụng, tớc Quận Công, cùng Bùi Huy Bích đứng

đầu phủ chúa Trịnh Sâm, Trịnh Khải

Cuộc đời Hồ Xuân Hơng long đong vất vả và đầy bất hạnh, bà lấy chồngmuộn, hai lần lấy chồng thì đều làm lẽ, hai lần chồng chết (tơng truyền HồXuân Hơng lấy lẽ một viên Tổng Cóc và ông Phủ Vĩnh Tờng)

Các sách kể rằng khi cha mất, Hồ Xuân Hơng đợc mẹ nuôi cho ăn học.Xuân Hơng hay đi đây đi đó, từng trải nhiều danh lam thắng cảnh ở miềnBắc, ở miền Trung và tiếp xúc với nhiều khách văn chơng Trong văn họcViệt Nam trớc cách mạng, ít có tác giả nào đời mình gắn liền với tác phẩmcủa mình khăng khít nh Xuân Hơng Đời Xuân Hơng với thơ bà không chiatách nhau, mỗi đoạn đời là có thơ, đến trớc mỗi cảnh vật lại có thơ, cho đếnnỗi cũng nhờ đó mà bây giờ trớc hiện trạng thiếu tài liệu về tiểu sử Hồ XuânHơng thì ngời ta lần theo thơ mà dựng lại chặng đời của tác giả

Cuộc đời riêng bất nh ý của Hồ Xuân Hơng lại nằm trong hoàn cảnh xãhội càng bất nh ý hơn Chế độ phong kiến trải qua một cuộc khủng hoảng cực

kỳ trầm trọng, lúc đó đã mục nát tận gốc Trịnh - Nguyễn phân tranh, đánhnhau kéo dài nửa thế kỷ khiến cho đời sống nhân dân vô cùng quẫn bức, khổcực Mọi giá trị đạo đức của Nho giáo bị đảo lộn, mặt khác thời kỳ này kinh

tế hàng hóa, tầng lớp thị dân phát triển cho nên t tởng tự do, phóng khoáng,cá nhân của con ngời cũng có điều kiện hình thành Sống trong thời đại nh

Trang 15

thế thơ Hồ Xuân Hơng đã mang rất sâu sắc dấu hiệu của thời đại bà, thơ HồXuân Hơng thờng đợc gắn với hiện tợng chuyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn

Hồ Xuân Hơng là một phụ nữ thông minh, có tài văn chơng và rất cóbản lĩnh trong sáng tạo nghệ thuật

3.2 thơ Nôm Hồ Xuân Hơng

Về sáng tác của Hồ Xuân Hơng gồm có hai mảng chính: mảng thơ Nôm

có trên dới 50 bài, thơ chữ Hán có tập thơ Lu hơng ký, ngoài ra bà còn sáng

tác một số câu đối Nôm Thơ Hồ Xuân Hơng thờng tập trung vào ba chủ đề

đó là: Chống phong kiến, đề cao ngời phụ nữ và thể hiện lòng yêu đời củanhà thơ Trong phạm vi đề bài này ta chỉ đi tìm hiểu và nghiên cứu ở mảngthơ Nôm

Hồ Xuân Hơng đợc mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm (“Bà chúa ” Xuân Diệu) Bà

có rất nhiều đổi mới, sáng tạo trong thể loại thơ Đờng Luật, sử dụng ngônngữ và hình tợng nghệ thuật

Thơ Nôm - Đờng Luật của Hồ Xuân Hơng là tiếng nói giải phóng tìnhcảm cá nhân con ngời, chống lại chủ nghĩa cấm dục của Nho giáo, chủ nghĩadiệt dục của Phật giáo, chủ nghĩa tiết dục của Đạo giáo

Mặt mạnh cũng là mặt cha mạnh trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng làbản năng Con ngời bản năng, nhu cầu trần thế là những vấn đề nổi bật trongthơ bà

Vấn đề dâm“Bà chúa ” và tục“Bà chúa ” đợc bàn cãi nhiều trong thơ Hồ Xuân Hơng

nghệ thuật chứ không phải là cứu cánh Nó tơng tự cách đố tục , giảng“Bà chúa ” “Bà chúa

thanh” và ngợc lại trong câu đối dân gian và yếu tố dâm , tục“Bà chúa ” “Bà chúa ” trongtruyện cời dân gian Việt Nam

Thơ văn bà có ý lẳng lơ, mỉa mai, tinh nghịch, táo bạo nhng chứa chantình cảm lãng mạn, thoát ly hẳn với những lễ giáo phong kiến thời bấy giờ.Ngôn ngữ là mặt thành công nhất của Hồ Xuân Hơng, cách tả cảnh, tảtình, cách dùng từ trong thơ Nôm của bà có một không hai, vô cùng sống

động và đặc sắc, sử dụng nhiều phơng thức tu từ nh nói lái, chơi chữ, ngoangữ Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng có nhiều tơng quan nghệ thuật với ca dao Việt

và sử dụng thành công thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt vào sáng tác văn học

Trang 16

Thơ Hồ Xuân Hơng không bao giờ tĩnh lặng, bằng phẳng mà ngợc lạichúng luôn luôn sống động, gai góc, gồ ghề, xa lạ với sự chừng mực hài hòacủa không khí văn chơng đơng thời, không đài các nh thơ của bà huyệnThanh Quan, không bác học trữ tình một cách đằm thắm và đau đáu với nỗi

đau đoạn trờng nh Nguyễn Du, cũng chẳng quý phái vàng son, sang trọng tớitừng câu, từng chữ mà độ gọt giũa đến tinh xảo nh chạm, khắc của NguyễnGia Thiều Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng chỉ có thể sánh với lời ăn tiếng nói của

dân gian, mà nói nh Xuân Diệu thơ Hồ Xuân Hơng tót vời của nguồn thơ“Bà chúa

và độc giả nớc ngoài, mà còn là đề tài thu hút sự sáng tạo nghệ thuật của rấtnhiều nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, họa sỹ

Chơng 2 Bản sắc văn hóa trong thơ Nôm Hồ Xuân hơng

thể hiện trên phơng diện nội dung

Trang 17

1 Phản ánh phong tục, tín ngỡng

1.1 Phong tục

Hồ Xuân Hơng theo nh tiểu sử lu truyền thì bà thuộc tầng lớp trung lu,

bà gắn chặt với tầng lớp dới, cảm thông với họ, học tập lời ăn tiếng nói của

họ, nhất là thái độ hồn nhiên, cảm quan hội hè, các phong tục của quầnchúng nhân dân Điều này đợc thể hiện khá rõ trong thơ bà

Theo thống kê, trong khoảng 50 bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng màchúng tôi lấy để nghiên cứu thì chúng tôi thấy có 4 bài thơ đề cập đến vấn đề

phong tục, chiếm tỉ lệ 8%, đó là các bài : Mời trầu, Đánh đu, Bánh trôi nớc,

Trăng thu.

Bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hơng gợi cho ngời đọc liên tởng tới tập

tục trầu cau của dân tộc:

“Bà chúa Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hơng đã quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh nh lá, bạc nh vôi

Trầu cau là một biểu tợng văn hóa, biểu tợng trung tâm của văn hóaViệt Ăn trầu là phong tục cổ truyền của ngời Việt; tơng truyền có từ thời

Hùng Vơng và gắn liền với câu chuyện cổ tích nổi tiếng Sự tích trầu cau Với

ngời Việt Nam, trầu cau là biểu hiện của phong cách, vừa thể hiện tình cảm

dân tộc độc đáo “Bà chúaMiếng trầu là đầu câu chuyện” Với thôn dân Việt Nam,

miếng trầu thắm têm vôi nồng cùng cau bổ tám bổ t, vỏ chay rễ quạch luôn là

sự bắt đầu, sự khơi mở tình cảm Miếng trầu làm ngời với ngời gần gũi, cởi

mở với nhau hơn Và với các nam nữ thanh niên xa thì nó là cội nguồn để bắt

đầu tình yêu, bắt đầu câu hát, để vào với hội làng, hội nớc:

Từ ngày ăn phải miếng trầu

“Bà chúa

Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu ,”miếng trầu cũng còn là cầu nối của nhân duyên, chẳng thế mà trầu cauluôn luyến quyện trong tâm hồn ngời Việt, trầu cau nói hộ cho ngời ta cái nỗi

lòng mình Bởi vậy, khi trao hay nhận miếng trầu, ngời ta hiểu Miếng trầu“Bà chúa

ăn nặng bằng chì , ” cái nặng của tình, của nghĩa, và của cả một truyền thốngdân tộc gắn liền với nó Nh thế đủ thấy trầu cau gắn liền với sinh hoạt củanông thôn ta chặt chẽ và lâu đời biết nhờng nào

Trang 18

Mở đầu bài thơ Hồ Xuân Hơng chủ động mời mọc, chủ động mở đầumột lời giao ớc một cách đầy khiêm tốn : một quả cau nho nhỏ, một lá trầu

hôi, xoàng xĩnh, nhng nó là tất cả tấm lòng của Xuân H“Bà chúa ơng” thật đáng trân

trọng

Tiếp tục những lời “Bà chúamời trầu” trong văn hóa dân gian Việt Nam, HồXuân Hơng đã đa miếng trầu vào trong thơ nói lên quan niệm về nhân duyêncủa mình

Nhân dân ta quan niệm: Miếng trầu là đầu câu chuyện ; Miếng trầu“Bà chúa ” “Bà chúa

nên dâu nhà ngời

“Bà chúaBa đồng một mớ trầu cay

Sao anh không hỏi những ngày còn không ” Nói tới miếng trầu ngời ta thờng nghĩ đến chuyện nhân duyên, ở đây

Hồ Xuân Hơng cũng có dụng ý đó

Bài thơ trớc hết là lời mời trầu của Hồ Xuân Hơng, nhng đối tợng đợcmời trầu là đối tợng đặc biệt, bởi gắn với miếng trầu là ý nghĩa giao duyênchứ không đơn thuần là miếng trầu xã giao, Hồ Xuân Hơng mời ngời ăn trầu,cũng là mời gọi về một cuộc tình duyên Qua hình thức mời trầu, Xuân Hơnggói ghém, gửi gắm và bộc lộ chân thành, tha thiết tấm lòng mình với khách

Tác giả sử dụng h từ có phải“Bà chúa ” nó nh một câu hỏi, một sự chờ đợi vềcái duyên sắp đến với mình:

Có phải duyên nhau thì thắm lại“Bà chúa

Đừng xanh nh lá, bạc nh vôi”

Bằng biện pháp nghệ thuật sử dụng các tính từ “Bà chúaxanh, bạc, thắm ” nói

lên tính chất của miếng trầu khi cha ăn và khi đã ăn, Hồ Xuân Hơng muốnnói lên quan niệm của mình về tình yêu, có thể hiểu khi đã yêu thì yêu thắmthiết Miếng trầu khi cha ăn thì lá có màu xanh, vôi trắng vì hai thứ cha đợchòa quyện vào nhau Nhng khi đã ăn thì đỏ thắm Từ ba yếu tố: cau, trầu, vôi,khi quyện vào nhau tạo nên màu đỏ thắm, thơm nồng Xuân Hơng muốn nóitới ớc nguyện hớng đến hôn nhân, vấn đề duyên kiếp cùng nhau qua miếngtrầu giao duyên Từ thực tại Xuân Hơng hớng đến một tơng lai, hớng tới mộtkết quả tốt đẹp đó là chuyện lứa đôi duyên thắm, tình nồng

Đây là một bài thơ mời ngời ăn trầu nhng qua đó thể hiện tấm lòngthành của Xuân Hơng hớng tới ngời mình yêu, hớng tới cuộc đời, bộc lộ khátkhao giao cảm, khát khao hạnh phúc lứa đôi, mong muốn có một tình yêu

Trang 19

chân thành, đằm thắm, thủy chung, thể hiện khát vọng đầy tính nhân bản củangời phụ nữ.

C dân Việt và c dân các tộc ít ngời ở Việt Nam là những c dân nôngnghiệp sống bằng nghề trồng lúa nớc Vòng quay của thiên nhiên và mùa vụtạo ra trong họ những nhu cầu tâm linh Khoảng thời gian nghỉ ngơi này làdịp để ngời dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho họ một mùa màng đãqua, vừa cầu xin thần linh phù hộ cho một mùa màng sắp tới Dần dà, biếnthiên thời gian đã lắng đọng nhiều phù sa văn hóa trong lễ hội Sinh hoạt vănhóa ấy của c dân đợc gọi là lễ hội Lễ hội là một bảo tàng văn hóa, một thứbảo tàng tâm thức lu giữ các giá trị văn hóa, các sinh hoạt văn hóa Đó có thể

là các hình thức diễn xớng dân gian, các tín ngỡng, các trò chơi

Bài thơ đánh đu của Hồ Xuân Hơng là một bài thơ mang đậm màu sắc

lễ hội Đánh đu là một trò chơi có nguồn gốc từ xa, một trò chơi trong hội

xuân ở miền Bắc nớc ta cho đến nay, hội ngày xuân nhiều nơi vẫn giữ trò

chơi đánh đu Cái khó bớc đầu là việc chọn tre và trồng cây đu, sao cho khi

đu nhẹ, an toàn và bay (càng cao càng tốt) Đây là một trò chơi khỏe và đẹp :

“Bà chúa Bốn cột khen ai khéo khéo trồng

Ngời thì lên đánh, kẻ ngồi trông”

ở đây Xuân Hơng đã dùng hai từ khéo“Bà chúa ” trên một dòng thơ khiến cho

ý thơ trở nên duyên dáng, gợi cảm hơn Thật ra, Xuân Hơng không chỉ khenchuyện trồng cột đu mà còn hàm nghĩa khen trò chơi hấp dẫn, tạo thích thú,gợi cho ngời đọc niềm say mê theo dõi

Thiên tài Hồ Xuân Hơng đã miêu tả cách đánh đu rất đẹp đầy hình

ảnh, màu sắc, động tác gợi đợc không khí chơi xuân:

“Bà chúa Trai đu gối hạc khom khom cật

Gái uốn lng ong ngửa ngửa lòng

Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới

Hai hàng chân ngọc duỗi song song

Chơi đu không nhất thiết phải chơi đôi; nhng một trai, một gái là cuộcthi sức, thi lòng dũng cảm Đôi trai gái rời mặt đất, tung bay lên không, họthi nhau đẩy nhng lại lo lắng cho nhau Khi chàng trai nhấn đu, cô gái trong

t thế tay nắm chặt, chân duỗi thẳng chờ đón độ cao bay bổng Và khi độ cao

đã giảm đến lợt cô gái nhún, chàng trai lại chờ đón Tất cả đều phải nhịpnhàng, khỏe mà mềm mại, bay cao mà ung dung, bình tĩnh

Trang 20

Hoạt động khỏe hết mình, vẻ đẹp càng hiện rõ: hình thể bên ngoài, tố

chất bên trong của gối hạc , l“Bà chúa ” “Bà chúa ng ong” đều đẹp Hình ảnh khi nhấn đu đã

đẹp, hình thành khi tung bay, ngng nghỉ lại hấp dẫn hơn ( Bốn mảnh quần“Bà chúa

hồng bay phấp phới/ Hai hàng chân ngọc duỗi song song ).

Kết thúc bài thơ là niềm luyến tiếc, bâng khuâng về ngày xuân đã qua,

lễ hội trò chơi đã hết :

“Bà chúa Chơi xuân có biết xuân chăng tá

Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không ”

Cuối vụ chơi xuân, các cột đu lại bị nhổ đi hết, chỉ còn trơ lại các lỗ

cột và rồi ngời ta sẽ lấp đi Yêu đời, Hồ Xuân Hơng tiếc nuối cái đẹp, tiếcniềm vui không còn nữa

Bằng lời thơ trang nhã, trong veo, đầy nhạc điệu, Hồ Xuân Hơng đã

vẽ nên một khung cảnh chơi đu vào ngày hội xuân thật sống động, vui tơi,mang lại niềm phấn chấn cho mọi ngời khi tham gia trò chơi lễ hội, nhữngsinh hoạt tập thể Đồng thời cũng thể hiện sự nuối tiếc của nhà thơ khi lễ hộikết thúc, tiếc nuối về niềm vui, sự nhộn nhịp của ngày hội xuân, mang đậmbản sắc văn hóa lễ hội của ngời Việt

Nghề lúa nớc mang tính thời vụ cao, lúc có việc thì tối tăm mặt mũi,ngay miếng ăn cũng đại khái cốt đợc việc thì thôi, cho nên lúc rảnh rỗi ngờinông nghiệp có tâm lí chơi bù, ăn bù Vì vậy, mà ở Việt Nam bên cạnh các lễhội, trò chơi, các lễ tết cũng nhiều

Các ngày lễ tết đợc phân bố theo thời gian trong năm, xen vào cáckhoảng trống trong lịch thời vụ ( chữ “Bà chúaTết” là biến âm từ chữ “Bà chúatiết” mà ra Lễtết gồm hai phần: cúng tổ tiên (lễ) và ăn uống bù cho lúc làm lụng đầu tắtmặt tối (tết) Tết là phải ăn - “Bà chúaăn Tết”)

Bánh trôi nớc là một trong những bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng

làm theo thể thơ Đờng luật thất ngôn tứ tuyệt Bài thơ miêu tả một loại bánh

đợc nhân dân ta làm để cúng và ăn trong lễ tết Hàn Thực (mồng 3 tháng 3

âm lịch)

Về nguồn gốc, có thể coi đây là một lễ thức nông nghiệp truyền thống

ở Trung Hoa cổ đại, đợc đan xen vào văn hóa dân gian Việt Nam Truyện xa

kể rằng thời Xuân Thu ở Trung Quốc, công tử Trung Nhĩ (về sau là vua TấnVăn Công) khi gặp cảnh loạn lạc, đói quá, đợc Giới Tử Thôi cắt thịt đùi mìnhnấu dâng cho ăn Sau mời chín năm phiêu bạt, Trung Nhĩ lại về nắm giữ vơngquyền nớc Tần Vua ban thởng cho tất cả những ngời đã nếm mật nằm gai,

Trang 21

nhng lại quên mất Tử Thôi, Tử Thôi đa mẹ vào rừng ở Đến khi vua nhớ racông trạng mời về thì Tử Thôi nhất quyết không chịu, vua không có cách nàoliền cho phóng hỏa đốt rừng hòng buộc Tử Thôi đa mẹ ra Rốt cuộc hai mẹcon Tử Thôi bị chết cháy Đó là ngày mồng ba tháng ba Vua thơng xót cholập miếu thờ, hàng năm đến ngày này thì làm giỗ, có tục kiêng đốt lửa, đồ ăntrong nhà phải làm sẵn từ hôm trớc để hôm sau ăn lạnh (nguội) Vì vậy màgọi là “Bà chúahàn thực” Đến đời Tống sau ba ngày còn thực hiện lễ thức “Bà chúanhóm lửalại” rồi mới nấu nớng nh ngày thờng.

Từ thời Lý (1010 - 1225) nhân dân ta đã tiếp nhận lễ tết này và làmbánh trôi, bánh chay để ăn thay đồ nguội, nhng mục đích chủ yếu là để cúnggia tiên chứ ít ai rõ chuyện Giới Tử Thôi , cũng không kiêng đốt lửa

Còn có một chuyện kể khác về bánh trôi, bánh chay ấy là sự môphỏng tích trăm trứng, trăm con của truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ Lễ tụcnày đợc diễn ra vào lễ hội đền Hùng (mồng mời tháng ba năm Âm Lịch) vàngày hội đền Hát Môn (ngày mồng năm tháng 3 năm Âm Lịch) - đền thờ Hai

Bà Trng Trong lễ này, dân làng làm một mâm gồm 100 cái bánh trôi để dângcúng, sau khi thắp hơng xong họ chia số bánh làm hai phần: 50 cái đặt trên

bè sen thả xuống sông, 50 cái đem rớc lên đặt trên đỉnh núi Đó cũng chính

là sự phân chia cha Rồng mẹ Tiên, với 50 ngời con theo mẹ lên non và 50

ng-ời con theo cha xuống biển Tập tục này nh vậy không chỉ mang yếu tố tínngỡng đa thần, mà còn là ý thức nhắc nhở con cháu ngời Việt luôn nhớ tớicội nguồn, khẳng định sự đoàn kết các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam Saukhi xong lễ đặt và thả bánh mọi ngời đợc phép ào vào tranh nhau lấy bánh đểcầu phúc lộc, tốt lành cho năm mới

Bánh trôi là thứ bánh làm bằng bột gạo nếp nhào với nớc lã thành viênnhỏ, bỏ vào ruột bánh một mẩu đờng phên (đờng làm từ mật mía) để làmnhân Bánh đợc thả vào nồi nớc đang sôi, sao cho chìm xuống nổi lên đúng

ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh

“Bà chúa ” thì bánh chín Bánh đợc vớt ra và bày vào

đĩa, rồi rắc vừng rang vàng lên trên bánh

Cùng với bánh trôi, ngời ta còn làm bánh chay để ăn, cấu tạo và cáchchế biến tơng tự nh bánh trôi, duy chỉ khác một điểm: nhân bánh chay là đậuxanh giã nhỏ, đồ chín, chứ không phải mẩu đờng phên nh bánh trôi

Từ cảm hứng thi ca về một loại bánh mà nhân dân ta làm để cúng tếtrong lễ tết Hàn thực, trong lễ hội đền Hùng và lễ hội Hát Môn, Hồ Xuân H-

ơng đã sáng tạo nên bài thơ Bánh trôi nớc, qua đó ngợi ca vẻ đẹp văn hóa của

Trang 22

ngời phụ nữ Việt Nam, đề cao vai trò to lớn của ngời phụ nữ trong việc sángtạo ra nòi giống con Lạc - cháu Hồng, trong việc chiến đấu vì nền độc lập, tựchủ của dân tộc, một vẻ đẹp hài hòa giữa ngoại hình lẫn tâm hồn:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn“Bà chúa

Bảy nổi ba chìm với nớc non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Bài thơ không đơn thuần chỉ diễn tả đặc trng của bánh trôi : thân màutrắng, hình tròn Loại bánh này có nhân, đợc làm chín bằng cách đun sôitrong nớc Bánh chắc hay bở là do sự khéo tay hay vụng về của ngời làm ra

nó Cùng với việc hình dung về một loại bánh, ngời đọc còn tiếp nhận những

chi tiết mà tập hợp chúng đủ sự hình thành một giá trị khác: thân em“Bà chúa ”, cái

đẹp mềm mại trắng , tròn“Bà chúa ” “Bà chúa ”, sự không đợc làm chủ sổ phận mình, tuy long

đong vất vả nhng vẫn kiên trinh, vẫn chịu đựng, vẫn giữ tấm lòng son“Bà chúa ”

Hai tính từ diễn tả vẻ đẹp đợc kết nối bằng phụ từ vừa“Bà chúa ”, tạo sự bổ

sung tăng tiến Trắng“Bà chúa ” và tròn“Bà chúa ” biểu thị những giá trị có tính cụ thể, trực

tiếp Sang câu Bảy nổi ba chìm với n“Bà chúa ớc non”, tính chất cụ thể, trực tiếp đã bị

“Bà chúanhòe” bớt Có điều này trớc hết phải kể đến vai trò của thành ngữ Ba chìm“Bà chúa

bảy nổi” đợc dùng đảo Ai cũng biết nghĩa của thành ngữ vợt lên nghĩa đen

của ngôn từ Sau đó là do sự biến đổi ý nghĩa từ n “Bà chúa ớc” sang n “Bà chúa ớc non” Vẫn còn yếu tố n “Bà chúa ớc” để diễn tả cái bánh trôi nhng khi kết hợp với non“Bà chúa ” nó đãchuyển hẳn sang nghĩa giang sơn đất nớc Hai câu thơ đã thể hiện sự đốinghịch giữa phẩm chất chủ thể và số phận của nó

Hai câu sau vẫn nhất quán trong ý nghĩa về cái bánh trôi (rắn, nát, tay

kẻ nặn, tấm lòng son), đồng thời lại nhất quán trong việc biểu thị một giá trị

ngoài bánh trôi, biểu thị con ngời Điều này không chỉ do lặp lại một từ có

thể hiểu là từ nhân xng ( em“Bà chúa ”) mà còn do hình ảnh tấm lòng son Lòng“Bà chúa ” “Bà chúa

son” đã xa hẳn cái nghĩa là ruột màu đỏ Biểu tợng này nhằm biểu lộ sự trung

thực, thủy chung Hai câu thơ đã thể hiện sự đối nghịch cao độ giữa thânphận và phẩm giá của ngời phụ nữ

Có thể nói với việc miêu tả chiếc bánh trôi nớc đợc dùng làm vậtcúng trong một số lễ hội xuân của dân tộc, Hồ Xuân Hơng đã thực sự cónhững khám phá sâu sắc, những phát hiện mới mẻ về những vẻ đẹp của ngời

phụ nữ Việt Nam Bánh trôi nớc là một trong những bài thơ hay và đẹp của

Trang 23

Hồ Xuân Hơng viết về phụ nữ, về phong tục lễ tết, lễ hội đậm bản sắc vănhóa của ngời Việt.

Ngoài ra, với bài Trăng thu Hồ Xuân Hơng cũng gợi cho ngời đọc

nhớ đến tết trung thu của dân tộc với hình ảnh chị Hằng, chú Cuội :

Một trái trăng thu chín mõm mòm“Bà chúa

Nảy vừng quế đỏ đỏ lòm lom

Giữa in chiếc bích khuôn còn méo

Ngoài khép đôi cung cánh vẫn khòm

Ghét mặt kẻ trần đua xói móc

Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom

Hỡi ngời bẻ quế rằng ai đó

Đó có Hằng Nga ghé mắt dòm”

Tết Trung thu (Rằm tháng tám) vốn là tết chung của mọi ngời, đánh

dấu có ngày trăng tròn nhất trong năm Theo sử sách, tết Trung thu có cách

đây gần 2000 năm, từ thời xa xa, các vị đế vơng có tục lệ tế mặt trời vào mùaxuân và tế trăng vào mùa thu Cũng có ngời cho rằng tết Trung thu của ngờiViệt bắt nguồn từ văn hóa Trung Hoa

Tết Trung thu ở Việt Nam gắn liền với hình ảnh chị Hằng, chú Cuội.Vào rằm tháng tám ngời ta bày cỗ Trung thu trong khung cảnh trăng thanhgió mát, với những đặc sản của mùa thu để tạ ơn trời đất Dù tết Trung thu cónguồn gốc ngoại nhập hay nội sinh thì từ lâu đã ăn sâu vào tâm thức của mỗingời Việt Nam, trở thành một nét đặc trng về bản sắc văn hóa dân tộc Ngày

xa, tết Trung thu là dịp để mọi ngời cầu ma thuận, gió hòa, mùa màng bộithu, tạ ơn trời đất Còn ngày nay tết Trung thu đợc coi là tết nhi đồng, là dịp

để cha mẹ bày tỏ tình thơng yêu với con cái

Trong bài thơ của mình, Hồ Xuân Hơng đã miêu tả hình tợng ánh trăng

đêm rằm trung thu đã đến độ viên mãn chín mõm mòm , đỏ lòm lom“Bà chúa ” “Bà chúa ”, đây

là thời khắc trái trăng“Bà chúa ” đẹp nhất, tròn trịa nhất trong năm Ngắm nhìn vầngtrăng giữa trời đêm yên tĩnh, nhà thơ không cảm thấy huyền bí, xa lạ, trái lạinhà thơ nh bắt gặp ở đây sự quyến rũ của màu sắc, hơng vị, dáng hình củanhững thứ quả mùa thu nơi vùng quê nhiệt đới Đặc biệt, nhìn trăng nhà thơliên tởng tới chị Hằng, chú Cuội, đây là biểu tợng đặc trng của trung thuViệt Nam (khác với ở Trung Quốc, trung thu ngời ta thờng nói đến Hằng Nga

và thỏ ngọc) Trong ca dao ngời Việt, hình tợng “Bà chúatrăng” luôn luôn gắn liền

Trang 24

với hình tợng chị Hằng và chú Cuội Hình ảnh chú Cuội đã xuất hiện nhiềulần trong ca dao ngời Việt hát về trăng:

- Đêm khuya trông bóng vầng trăng“Bà chúa

Vui thay chú Cuội, chị Hằng sánh đôi”

- Thằng Cuội ngồi gốc cây đa“Bà chúa

Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời”

Qua hình tợng ánh trăng, Hồ Xuân Hơng nhằm ám chỉ sự hấp dẫn của

một bộ phận kín đáo trên thân thể ngời phụ nữ đối với những ngời khác giới

Đồng thời cũng phê phán đả kích xã hội đơng thời nhà thơ sống đã chín“Bà chúa

mõm mòm” rồi, đáng lý phải rụng, nhng nó vẫn cố tồn tại, rồi thế nào cái xã

hội ấy cũng phải rơi rụng Trăng rằm tròn đẹp rực rỡ hiện lên ở chân trời thế

mà thành ra cái xã hội vàng son thích sơn son thiếp vàng, cố quét sơn mạ

vàng, nó lòe loẹt một cách khó chịu: Nảy vừng quế đỏ đỏ lòm lom“Bà chúa ”, vớinhững khuôn phép còn méo, đầy bất công, một xã hội trọng nam khinh nữ,

áp chế ngời phụ nữ Hồ Xuân Hơng muốn nhắn nhủ ai đó“Bà chúa ” muốn bẻ quế “Bà chúa ”thì nên coi trọng đến Hằng Nga, đến trăng, đến ngời phụ nữ… chớ ngại gì

đến những kẻ trần xói móc“Bà chúa ” và thằng Cuội Bài thơ thể hiện sự giao hòa,giao cảm của nhà thơ với thiên nhiên, sự giao hòa tình cảm đạt đến độ gầngũi, gắn bó mật thiết sâu sắc

1.2 Tín ngỡng

Tín ngỡng đợc thể hiện trong thơ Hồ Xuân Hơng khá rõ và sinh động,chủ yếu qua tín ngỡng thờ mẫu và tín ngỡng phồn thực Có thể nói Hồ XuânHơng đã làm sống lại cả một truyền thống văn hóa tín ngỡng đa dạng của dântộc ta

1.2.1 Tín ngỡng thờ Mẫu

Chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hậu quả trong quan hệ xãhội đó là lối sống thiên về tình cảm, trọng nữ Chế độ mẫu hệ còn để lại ảnh h-ởng khá đậm trong đời sống xã hội của c dân Việt Nam Tục ngữ Việt Nam

chứa đựng không ít những câu thể hiện nguyên lý này: Nhất vợ nhì trời“Bà chúa ”;

“Bà chúalệnh ông không bằng cồng bà”; Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu“Bà chúa

lòng”… Phụ nữ Việt Nam là ngời có trách nhiệm quản lý kinh tế, tài chính

trong gia đình, dân gian gọi là tay hòm chìa khóa“Bà chúa ” Phụ nữ Việt Nam đợc

xem là ngời có vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại“Bà chúa

mẫu” Vì tầm quan trọng của ngời mẹ cho nên trong tiếng Việt, từ cái“Bà chúa ” vốn

Trang 25

có nghĩa là mẹ “Bà chúa ” (con dại cái mang) đợc chuyển nghĩa thành lớn, quan trọng,“Bà chúa

chủ yếu” (sông cái, đờng cái, đũa cái, ngón tay cái, trống cái…)

Cho đến tận bây giờ, ở các dân tộc ít chịu ảnh hởng của văn hóa Trung

Hoa nh Chàm hoặc hoàn toàn không chịu ảnh hởng nh nhiều dân tộc TâyNguyên (Ê đê, Giarai,…) vai trò của ngời phụ nữ vẫn rất lớn: phụ nữ chủ

động trong hôn nhân, chồng về ở đẵng nhà vợ, con cái đặt tên theo họ mẹ…

Tục thờ Mẫu (đạo Mẫu) đã trở thành một tín ngỡng Việt Nam điển

hình và vì cái đích mà ngời nông nghiệp hớng tới là sự phồn thực Cho nên nữthần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp mà là các bà mẹ, các Mẫu Trớchết là thờ các Bà Trời, Bà Đất, Bà Nớc, những nữ thần cai quản các hiện tợng

tự nhiên, thiết thân nhất đối với cuộc sống của ngời trồng lúa nớc

Ngời Việt còn thờ các hiện tợng tự nhiên khái quát nh không gian vàthời gian Thần không gian đợc hình dung theo ngũ hành Ngũ Hành Nơng N-

ơng rồi có Ngũ Phơng chi thần coi sóc các phơng trời, Ngũ Đạo chi thầntrông coi các ngả đờng Theo địa chỉ, ngời ta thờ thần thời gian là Thập nhịHành khiến Thời gian kéo dài bảo tồn sự sống vô tận, nên mời hai nữ thầnnày đồng thời có trách nhiệm coi sóc việc sinh nở - đó là mời hai Bà Mụ

Bài thơ Quan thị của Hồ Xuân Hơng cũng đề cập đến chuyện thần thoại,

tín ngỡng về mời hai bà mụ này

M “Bà chúa ời hai Bà Mụ ghét chi nhau

Đem cái xuân tình vứt ở đâu?

Rúc rích thây cha con chuột nhắt

Vo ve mặc mẹ cái ong bầu

Đố ai biết đó vông hay trốc

Còn kẻ nào hay cuống với đầu

Đã thế thì thôi, thôi mặc thế

Trăm năm càng khỏi tiếng nơng dâu”

Sự tích của mời hai vị thần này hôm nay chúng ta chỉ còn biết một cách

lờ mờ Có thuyết nói đó là các thần giúp việc cho Ngọc Hoàng từ lúc ông ta

có ý định sáng tạo ra loài ngời Nhng cũng có thuyết lại cho đó là các vị thần

đợc Ngọc Hoàng giao phó trách nhiệm sau khi ông đã sáng tạo ra vạn vật, vũtrụ Trời muốn sáng tạo ra một loài vật thông minh để cai quản muôn loài vàgiao công việc nặn ngời cho mời hai nữ thần khéo tay mà hạ giới vẫn gọi là

Trang 26

mời hai Bà Mụ Mời hai bà Mụ mỗi ngời làm một công việc khác nhau Bànặn tay, bà nặn chân, bà nặn mắt, bà nặn cơ quan sinh dục, bà dạy bò, bàdạy lật, bà dạy cời, bà dạy nói Vì có bà mụ đãng trí quên nặn cơ quan sinhdục cho một số ngời nên giống ngời có kẻ á nam, á nữ vì thiếu mất sinh thựckhí.

ở vùng đất phơng Nam lại có quan niệm cho rằng mời hai Bà Mụ là mờihai vị luân phiên nhau lo việc thai sản trong mời hai năm, tính theo “Bà chúathập nhịchi”- tức là theo mời hai con giáp Nói cách khác, mời hai Bà Mụ mang đậmdấu ấn của thần thời gian, thật ra mời hai con số dùng để chia thời gian lẫnkhông gian, đây là tích số của bốn phơng nhân với ba bình diện của thế giới

Số mời hai chia bầu trời thành mời hai hình quạt cầu, mời hai cung củaHoàng đạo đợc ghi chép từ cổ đại xa xa nhất Số mời hai tợng trng cho hoàn

vũ trong chu trình vận hành trong không gian và thời gian Từ xa đến nay, sốmời hai vẫn là con số của sự hoàn thành, một chu kỳ đã hoàn tất Có lẽ vìnhững lẽ trên nhiều ngời nghĩ về công đức hóa sinh của tạo hóa và cha mẹ,

họ cúng tạ mời hai Bà Mụ khi đứa trẻ đợc đầy tháng, đợc thôi nôi

Bọn vua chúa ngày xa thờng có nhiều cung tần, mỹ nữ Để canh giữlàm của riêng cho nhà vua, chúng thờng dùng số đàn ông vốn sinh ra đã ánam á nữ Nếu thiếu loại quan thị ấy, chúng cho hoạn một số đàn ông (Hoạnquan) Xuân Hơng bỏ đi việc quan thị thói thờng hống hách, lộng hành, chỉchọn nét tiêu biểu:

“Bà chúa Mời hai Bà Mụ ghét chi nhau

Đem cái xuân tình vứt đi đâu ”

Ngời xa cho rằng, khi ngời đàn bà thụ thai, thì mời hai bà mụ mỗi bà

lo một việc: kẻ nặn chân, nặn tay một bà chuyên nặn cái riêng phân biệt

trai, gái Chắc các bà ghét bỏ chi nhau“Bà chúa ” nên mới vứt mất cái xuân tình“Bà chúa ”.Trong vốn ngôn ngữ dân tộc khá nhiều từ chỉ cái riêng của đàn ông, nhiều từriêng cho đàn bà Đó là một sự phong phú Xuân Hơng sáng tạo một từ màchỉ cho cả hai, ngộ nghĩnh mà cũng rất Xuân Hơng

Không ngờ, cái việc các bà mụ thiếu trách nhiệm“Bà chúa ” ấy bọn vua chúachộp ngay và sử dụng có hiệu lực

Các quan thị dẫu cho đời có rúc rích , vo ve “Bà chúa ” “Bà chúa ” hấp dẫn đến đâu, cái

chuyện buồng the với quan thị, quan cũng thây cha , mặc mẹ“Bà chúa ” “Bà chúa ”, mặc cho

hình dạng cái xuân tình“Bà chúa ” của quan thị là vông hay chốc“Bà chúa ”; cuống với đầu ,“Bà chúa ”

rõ là hình dạng “Bà chúa ” mà chẳng ra hình dạng nào cả

Trang 27

Trớc tình cảnh nh vậy còn biết tính sao: “Bà chúaĐã thế thì thôi, thôi mặc

thế” Một câu thơ có hai từ thôi“Bà chúa ” mà vẫn trôi chảy lại còn diễn đạt đợc từngnấc của suy nghĩ, đắn đo và quyết định

Giá là s, là vãi, Xuân Hơng đả kích may mà họ trở lại với đời, vì dùsao các vị ấy còn hơn hẳn các quan thị vì các bà mụ không quên Đằng này,các quan thị có gì đâu mà nhập thế ? Xuân Hơng đành bó tay không xoay nổitình thế, an ủi:

Ngàn năm còn khỏi tiếng n“Bà chúa ơng dâu”

Hồ Xuân Hơng là nhà thơ của sự sống, bà chúa ghét những gì xa lạ với

sự sống Nhng ở bài thơ này bà không nhằm chế giễu những khiếm khuyết tựnhiên, hoặc do tự nhiên sinh ra Xuân Hơng chỉ ghét, chỉ nhằm lên án nhữnggì phản tự nhiên, sự vô sinh nhân tạo của bọn hoạn quan

1.2.2 Tín ngỡng phồn thực

Ngay từ đầu, duy trì và phát triển sự sống đã là một nhu cầu thiết yếunhất của con ngời Đối với văn hóa nông nghiệp, hai việc này lại càng bộiphần quan trọng Để duy trì cuộc sống, cần cho mùa màng tơi tốt Để pháttriển sự sống, cầu cho con ngời sinh sôi Hai hình thức sản xuất lúa gạo (đểduy trì sự sống) và sản xuất con ngời (để kế tục dòng giống) này có bản chấtgiống nhau, đó là sự kết hợp của hai yếu tố khác loại (đất và trời, mẹ và cha)

Từ thực tiễn đó, t duy c dân nông nghiệp Nam - á đã phát triển theohai hớng : những trí tuệ sắc sảo đi tìm quy luật khách quan để lí giải hiệnthực, kết quả tìm đợc triết lý âm dơng Còn những ngời có trình độ hạn chếthì nhìn thấy ở hiện thực một sức mạnh siêu nhiên bởi vậy mà sùng bái nó

nh thần thánh, kết quả là xuất hiện tín ngỡng phồn thực (phồn = nhiều, thực =nảy nở) Triết lý âm dơng và tín ngỡng phồn thực chỉ là hai mặt của một vấn

đề ở Việt Nam, tín ngỡng phồn thực từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử vớihai dạng biểu hiện: thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vi giao phối

Vai trò của tín ngỡng phồn thực trong đời sống ngời Việt cổ lớn tới mứcchiếc trống đồng - biểu tợng sức mạnh và quyền lực của ngời xa đồng thờicũng là biểu tợng toàn diện của tín ngỡng phồn thực Ngay cả trên những t-ởng tợng chừng nh rất xa xôi nh chùa Một Cột vuông(âm) đặt trên một cộttròn (dơng), cột tròn lại đợc đặt trong cái hồ vuông (âm), hồ vuông này xanằm trên đảo trong hồ Linh Chiểu hình tròn (dơng); tháp Bút (dơng) bêncạnh đài Nghiên (âm) ở cổng đền Ngọc Sơn; cửa sổ tròn (dơng) trên gác

Trang 28

Khuê Văn soi mình xuống hồ vuông Thiên Quang Tỉnh (âm) trong VănMiếu tất cả đều liên quan đến tín ngỡng phồn thực.

Nh vậy, có thể thấy rằng tín ngỡng phồn thực đã tồn tại và phát triển từ

xa xa rất mạnh mẽ, là một nét đặc trng của văn hóa Việt Nam

Mấy thế kỷ qua, không ai là không cảm thấy hứng thú khi đọc thơ HồXuân Hơng Tiếng cời trong thơ Hồ Xuân Hơng đã làm phong phú và sâu sắcthêm tiếng cời dân gian Thế nhng vẫn có ngời chê thơ bà là dâm, là tục, làchớt nhã, “Bà chúaquá đà” Hẳn họ vội lãng quên quá khứ mà không chịu nhớ rằng

đã có thời gian kéo dài hàng ngàn năm ông bà ta đã từng trân trọng, bàynhững cái mà các vị phong kiến gọi là dâm, là tục để thờ cúng Và đã vũ điệuhóa cả những động tác truyền giống trớc khi rớc những vật thiêng đi trongcác lễ hội trang nghiêm Có thể nói rằng Hồ Xuân Hơng đã làm sống lại mộttruyền thống văn hóa phồn thực hùng hậu Các biểu tợng phồn thực trong thơ

Hồ Xuân Hơng rất đa dạng, phong phú, tạo thành một thế giới riêng biệt.Hầu hết các bài thơ Nôm của bà đều đề cập đến biểu tợng này.Thực tế đó đã

đợc tìm hiểu cặn kẽ, công phu trong công trình của Đỗ Lai Thuý với tiêu đề

Hồ Xuân H

“Bà chúa ơng, hoài niệm phồn thực

Trong các biểu tợng phồn thực, hình ảnh âm vật trong thơ Hồ Xuân

H-ơng liên quan đến tính chất sáng thế Trong sự lỡng phân trời đất thì trời làcha, đất là mẹ Con ngời, cũng nh muôn loài, đợc sinh ra từ lòng đất mẹ, từhang động,… Bởi vậy một cách tự nhiên ngời ta coi hang động, hang giếng…

nh là âm vật, nơi con ngời từ bụng mẹ (đất) đi ra Hang động cũng là nơinhững ngời sơ thủy c trú, chở che họ khỏi nắng ma giá rét, bảo vệ họ khỏi kẻthù, thú dữ ở đây cũng là nơi ngời ta vẽ lên vách đá những bức tranh mang ýnghĩa ma thuật, thiêng liêng

Thơ Hồ Xuân Hơng có rất nhiều bài nói về những biểu tợng hang động:

Động Hơng Tích, Hang Cắc Cớ, Hang Thánh Hóa, Kẽm Trống, Đèo Ba Dội…

Đây là bài thơ Hang Cắc Cớ :

Trời đất sinh ra đá một chòm“Bà chúa

Nứt làm đôi mảnh hỏm hòm hom

Kẻ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn

Luồng gió thông reo vỗ phập phòm

Giọt nớc hữu tình rơi lõm bõm

Trang 29

Con đờng vô ngạn tối om om

Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc

Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm

Bài thơ tả cảnh một cái hang, hang Cắc Cớ, rất thực, rất đúng Nhng việc

sử dụng một số từ có dụng ý nh nứt làm đôi mảnh, kẽ hầm, rêu mốc, giọt n“Bà chúa

-ớc hữu tình, con đờng vô ngạn, xuyên (tạc)” và sử dụng nhiều vần om“Bà chúa ” trong

bài thơ (chòm, hỏm hòm hom, phòm, lõm bõm, om om ) đã dấy lên một nghĩa

khác, nghĩa ngầm chỉ âm vật Cả hai nghĩa này đều rất đúng và không thểtách khỏi nhau đợc

Hay nh bài thơ Kẽm Trống tác giả cũng tả về cảnh thiên nhiên nơi địa d

Kẽm Trống với một lối tả cảnh “Bà chúanghịch ngợm”

Hai bên thì núi giữa thì sông,

“Bà chúa

Có phải đây là Kẽm Trống không ? Gió giật sờn non khua lắc cắc, Sóng dồn mặt nớc vỗ long bong

ở trong hang núi còn hơi hẹp

Ra khỏi đầu non đã rộng thùng Qua cửa, mình ơi nên ngắm lại Nào ai có biết nỗi bng bồng ”Kẽm Trống thuộc tỉnh Hà Nam, giáp giới huyện Kim Bảng và huyệnThanh Liêm Hai bên núi sát liền nhau, chỉ vừa một lối nớc chảy, thế rất hẹp,giống nh một cái cửa Bởi vậy, cảnh ấy mới có sự hình dung nh thế của tácgiả Tuy nhiên, đặc sắc của bài thơ này còn ở thủ pháp sử dụng ngôn ngữ đạttới sự ám chỉ Tác giả đã đặt liền nhau những từ chỉ có quan hệ cú pháp chứkhông có liên hệ từ vựng, nhng trong chuỗi dọc tuyến tính thì tự nhiên chúng

có liên hệ ngữ nghĩa với nhau Nh Kẽm Trống không?“Bà chúa ” thì thành Kẽm/“Bà chúa

Trống không?” ở đây chỉ hang động, chỉ âm vật.

Biểu tợng khác trong thơ Hồ Xuân Hơng đáng lu ý liên quan đến âm

vật là biểu tợng giếng“Bà chúa ”

Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông,

“Bà chúa

Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng Cầu trắng phau phau đôi ván ghép Nớc trong leo lẻo một dòng thông

Cỏ gà lún phún leo quanh mép Cá diếc le te lách giữa dòng

Trang 30

Giếng ấy thanh tân ai có biết

Đố ai dám thả nạ dòng dòng”

(Giếng thơi)

Đây là một cái giếng thanh tân ở thời điểm dậy thì của ngời con gái

Hồ Xuân Hơng rất chú ý đến các “Bà chúađiểm nút nhân học” trong vòng đời conngời nh dậy thì, lấy chồng, chửa, đẻ, chồng chết…ngời thiếu nữ tất cả đều đã

phát triển đầy đủ, nhng vẫn còn thiếu một yếu tố nam tính ( nạ dòng dòng“Bà chúa ”

là cá quả, cá chuối mẹ - biểu tợng của dơng vật) nữa để tạo ra sự sinh đẻ Vàsinh đẻ, với tâm thức ngời xa là một điều kỳ lạ, thiêng liêng

Túi càn khôn “Bà chúa ” cũng là một biểu tợng liên quan đến âm vật Theohuyền thoại của nhiều dân tộc trên thế giới : xa trời đất là một khối hỗnmang, nguyên lý đực và nguyên lý cái còn lẫn lộn, cha phân biệt Sau đó là

sự phân biệt tính giao và sinh con đẻ cái: trời đất tách nhau ra tạo thànhkhoảng không Bầu trời, đất, túi vũ trụ, túi càn khôn trở thành biểu tợng của

âm vật, của cái rỗng không có khả năng sinh sản Đây là một sự liên tởng vềchức năng có tính vũ trụ luận Từ liên tởng này Hồ Xuân Hơng mới viết :

Cán cân tạo hóa rơi đâu mất

Bởi vậy, biểu tợng sừng - dơng vật này trong thơ Hồ Xuân Hơng

không chỉ là sự liên tởng về hình dạng hoặc chức năng ( húc )“Bà chúa ” mà bắt nguồn

từ sâu xa trong các nền văn hóa Việt Thời tiền lúa nớc, lớp c dân cổ chủ yếusống bằng nghề săn bắt trâu bò rừng hoặc ăn bột cây báng (có nơi ăn bầu bí)lúc bấy giờ còn rất nhiều Có tộc ngời Việt cổ nào đó đã lấy trâu làm vật tổ

nh những ảnh xạ lu trong truyền thuyết con ngời từ lòng đất chui ra qua mõmtrâu, lễ đâm trâu trong mỗi dịp hội hè đình đám của ngời Việt…Tranh vẽ ng-

ời đội sừng ở hang Đồng Nội Ngoài ra, sừng trâu còn đơc treo trớc cửa; trênnóc nhà, nóc đình cũng có bộ phận mô phỏng sừng trâu…Nh vậy, sừng là

Trang 31

biểu tợng của săn bắt so với hái lợm, của chăn nuôi so với trồng trọt, của đàn

ông so với ngời đàn bà, của dơng so với âm…

Những biểu tợng liên quan đến hành động mang tính giao, ngời ta thấy

rõ nhất trong các trò chơi : múa mo, múa nõ nờng, ném còn, kéo co…ở cáctrò dân gian, tính chất tranh nhau đợc thua, hơn kém chỉ là sự tha hóa saunày Thời kỳ đầu chúng chỉ là những hành vi mô phỏng hành động tính giao,một công đoạn của hành động hội, để cầu sự phồn thực, phồn sinh Ví nh,trong trò chơi kéo co thì bên nữ bao giờ cũng phải thắng để mang lại sự maymắn, đợc mùa, làm ăn thịnh vợng cho làng Cũng có nơi khi trời nắng lắm(hạn hán) thì nữ thắng, còn khi trời ma lâu (lũ lụt) thì nam thắng, ngời tadùng năng lợng âm dơng của ngời để tạo ra một sự hài hòa âm dơng của vũtrụ, để điều chỉnh thời tiết Trò chơi, lễ hội thờng diễn ra vào mùa xuân, lúctrời và đất giao hòa, thuận tiện cho muôn vật sinh sôi nảy nở

Đánh đu là một bài thơ tiêu biểu cho việc miêu tả tính giao của Hồ Xuân

Hơng:

Bốn cột khen ai khéo khéo trồng

“Bà chúa

Ngời thì lên đánh kẻ ngồi trông Trai đu gối hạc khom khom cật Gái uốn lng ông ngửa ngửa lòng Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới Hai hàng chân ngọc duỗi song song Chơi xuân có biết xuân chăng tá?

Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không !”

Đánh đu là một trò chơi không thể thiếu đợc trong những ngày tết hoặchội xuân ở làng quê Thờng thì một nam một nữ lên chơi cho cân bằng âm d-

ơng Trờng hợp nếu hai ngời cùng giới “Bà chúalên đánh” thì những “Bà chúakẻ ngồi trông”

ở bên dới phải khác giới cho cân bằng âm dơng Khi cây đu chuyển động thìchính là sự chuyển động của ngời đàn ông (so với ngời đàn bà) từ nằm dớilên nằm trên, rồi từ nằm trên xuống nằm dới Còn ngời đàn bà thì ngợc lại

Đây là sự bù trừ, đắp đổi, sự giao hòa năng lợng nam và năng lợng nữ mangmột ý nghĩa phồn thực

Bài thơ tả cảnh đánh đu thật vui tơi, khỏe khoắn, đầy màu sắc của mùa

xuân trong trời đất và trong lòng ngời: Trai đu gối hạc khom khom cật/ Gái“Bà chúa

uốn lng ong ngửa ngửa lòng/ Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới/ Hai hàng chân ngọc duỗi song song” Những hình tợng trên cộng với cách dùng từ đôi

Trang 32

nghĩa nh trồng“Bà chúa ” (tiếng Bắc cũng là chồng“Bà chúa ”, xếp lên, chồng lên nhau, Bốn“Bà chúa

cột khen ai khéo khéo trồng”); Âm đầu c, l trong câu “Bà chúaCọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không”, biểu tợng cọc , lỗ“Bà chúa ” “Bà chúa ”; các từ láy đôi đầy ám chỉ khéo khéo, khom“Bà chúa

khom, ngửa ngửa, phấp phới, song song…” làm bài thơ dấy lên một nghĩa

khác, nghĩa chỉ hành động tính giao

Những biểu tợng tính giao khác nh dệt cửi, tát n“Bà chúa ớc, đánh trống”

ngoài hàm nghĩa sao phỏng hành vi tính giao, còn có văn hóa tín ngỡng sâu

xa Dệt vải là sự đan kết những sợi dọc và sợi ngang thành một tấm biểu hiện

sự hợp nhất âm dơng Tát nớc là sự ban phát nguồn sống, tinh dịch, cho mùamàng tơi tốt và động vật sinh sôi nảy nở

Ngoài ra, các biểu tợng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hơng còn liên quan

đến thân thể ngời phụ nữ (bánh trôi, quả mít, ốc nhồi, trăng) đến các bộ phận

gợi dục, bộ phận ăn uống hoặc bài tiết của cơ thể Các bộ phận này phần nhiều

đợc phóng đại đến kỳ dị để tô đậm chức năng, phồn thực của chúng Ngời ta

thờng nhắc đến cái hông vĩ đại của ngời đàn bà, bà mẹ tạo vật trong câu Bố“Bà chúa

cu lổm ngổm bò trên bụng/ Thằng bé hu hơ khóc dới hông ” (Nợ chồng con) hoặc cái mông phồn thực của ngời đàn bà tát nớc Xì xòm đáy n“Bà chúa ớc mình nghiêng ngửa/ Nhấp nhổm bên ngời đít vắt ve” (Tát nớc).

Thơ Hồ Xuân Hơng có nhiều biểu tợng phồn thực do bà sáng tạo ra,những biểu tợng này không có nghĩa tự thân ngoài văn bản thơ, nhng trong

thơ Hồ Xuân Hơng chúng mang nghĩa phồn thực Chẳng hạn hình ảnh đầu“Bà chúa

s” là một thứ rất đáng kính trọng mà trong thơ Hồ Xuân Hơng cũng làm liên

tởng đến một thứ đầu khác:

Nào nón tu lờ, nào mũ thâm“Bà chúa

Đi đâu chẳng đội để ong châm ?

Đầu s há phải gì…bà cốt Bá ngọ con ong bé cái nhầm.”

(S bị ong châm)

Trớc hết, bài thơ mang giọng điệu “Bà chúahỏi thăm”, ra vẻ quan tâm đáng tiếccho nhà s, nhng thực ra chỉ để nhắc lại câu chuyện to tát hơn, thấm thía hơn.Hỏi để mà không hỏi, thơng để mà không thơng, y nh Nguyễn Khuyến nghe

ông tuần nọ vừa bị mất cớp, vừa bị kẻ gian lôi ra giữa đồng đánh đập cũng

“Bà chúathăm hỏi”:

C

“Bà chúa ớp của đánh ngời quân tệ nhỉ

Xơng gà da cóc có đau không ?”

Trang 33

Hỏi thăm một cách thóc mách, hỏi thăm để tố cáo: không hiểu nhà s đi“Bà chúa

đâu” (thật đáng ngờ) mà mặc dù có đủ Nào nón tu lờ, nào mũ thâm“Bà chúa ” mà

chẳng đội để đến nỗi bị ong châm “Bà chúa ” Hồ Xuân Hơng không nói ong đốt“Bà chúa ” mà

nói châm“Bà chúa ” (động từ chỉ động tác cụ thể) để gợi liên tởng nh trong câu Ong“Bà chúa

non ngứa nọc châm hoa rữa ” Và từ chữ châm“Bà chúa ” đó mới có câu gì “Bà chúa …bà cốt”,

trong một câu thơ mà để một hình ảnh có thật : đầu s với một cái giấu đi (…

bà cốt) để so sánh, trách cứ con ong bé cái nhầm“Bà chúa ” của Hồ Xuân Hơng thậthóm hỉnh, sâu xa Việc con ong châm phải đầu s không phải vì đầu s giống

ợc, nó lấp lửng, ẩn hiện Mà nói nh Xuân Diệu trong Hồ Xuân Hơng - Bà

chúa thơ Nôm: Thơ Hồ Xuân H“Bà chúa ơng tục hay là thanh ? Đố ai bắt đợc: bảo rằng nó hoàn toàn thanh, thì cái nghĩa thứ hai của nó có giấu đợc ai, mà Xuân Hơng có muốn giấu đâu Mà bảo rằng nó là nhảm nhí, là tục, thì có gì

là tục nào ? ” [20; tr.161]

Nh vậy, những biểu tợng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hơng nóiriêng và biểu tợng phồn thực trong văn hoá Việt Nam nói chung là có haimặt, lấp lửng: thiêng và tục, thanh và tục Hai mặt này luôn vận động, chuyểnhóa vào nhau để tạo thành một trạng thái hòa quyện, hai mà một, vừa tránh

đợc lối t duy nhị nguyên, vừa đảm bảo hứng thú cho ngời đọc khi họ luôn

đ-ợc chuyển dịch từ thanh sang tục, rồi lại từ tục sang thanh trong một biếndịch không ngừng Bởi vì nó gắn chặt với một điều thiêng liêng là sự cầumong sinh sôi, nảy nở cho mùa màng, con ngời, động vật và cây cối Nóchính là điều thiêng liêng đó, trong ý thức dân gian, ngời ta cũng không coi

đó đơn thuần là dâm tục Chỉ có trong ý thức chính thống của xã hội mới làdâm tục, bởi vì ngời ta tách rời những biểu tợng này khỏi cái thiêng liêng là

sự cầu mong phồn thực, phồn vinh

Trang 34

Tóm lại, thơ Hồ Xuân Hơng bằng những phẩm chất của mình nh ýnghĩa phồn thực, triết lý tự nhiên, đã đa độc giả vào trạng thái xuất thần, xóa

bỏ sự phân biệt thiêng tục nhân tạo và giả tạo do ý thức xã hội dựng lên, giảiphóng văn học khỏi xu hớng khắc dục, để trở về với thời đại của thái cực, củanhất nguyên Đến đây ta có thể nhận xét rằng Hồ Xuân Hơng đã làm sống lạitrong văn học tiếng Việt - văn học thành văn ở giai đoạn cổ điển của nó cảmột truyền thống văn hóa phồn thực nhiều hình, nhiều vẻ

2 Phản ánh những t tởng nổi bật của con ngời Việt Nam

2.1 Đề cao ngời phụ nữ

Đề tài ngời phụ nữ là đề tài rất quen thuộc trong sáng tác dân gian ở đềtài này giữa sáng tác dân gian và thơ Nôm Hồ Xuân Hơng có sự gặp gỡ ởnhiều điểm chung Trớc hết, chúng ta thấy truyền thống văn hoá dân gian rất

đề cao ngời phụ nữ Các sáng tác dân gian và thơ Nôm Hồ Xuân Hơng đềutập trung ca ngợi vẻ đẹp về hình thức, về phẩm chất tâm hồn của ngời phụ nữ.Hình ảnh ngời phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hơng chiếm số lợng lớn Tìm hiểugần 50 bài thơ Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng mà chúng tôi chọn làmnghiên cứu, ta thấy có tới 28 bài thơ trực tiếp hoặc gián tiếp viết về đề tài ng-

ời phụ nữ (chiếm tỉ lệ 56%), đó là các bài: Tranh tố nữ, Bánh trôi nớc, Quả

mít, ốc nhồi, Cái quạt(I), cái quạt(II), Thiếu nữ ngủ ngày, Không chồng mà chửa, Dỗ ngời đàn bà khóc chồng, Bỡn bà lang khóc chồng, Cái nợ chồng con, Làm lẽ, Trống thủng, Miếng trầu, Đá ông chồng bà chồng, Đề đền Sầm Nghi Đống, Khóc Tổng Cóc, Tự tình I, Tự tình II, Tự tình III, Quan thị, Tát n-

ớc, Trách Chiêu Hổ I, Trách Chiêu Hổ II, Trách Chiêu Hổ III, Lũ ngẩn ngơ, Trống thủng, Dệt cửi

Thời Xuân Hơng, ngời phụ nữ là nạn nhân của chế độ gia trởng nam tônnữ ty, ngời phụ nữ không đợc hoạt động xã hội, không đợc ở trong bộ máynhà nớc, không đợc học hành thi cử, chịu thiệt thòi đủ đờng cả ngoài xã hội,

cũng nh trong gia đình: Tại gia tòng phụ xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.

Số phận bi đát của ngời phụ nữ là chủ đề của những sáng tác lớn nhất đơngthời:

“Bà chúaThuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên ”

Trang 35

(Truyện kiều - Nguyễn Du)

Chọn ngời phụ nữ làm đối tợng trung tâm cho cảm hứng sáng tạo nghệthuật của mình, Hồ Xuân Hơng đã có những khám phá, biểu hiện nghệ thuậtvô cùng sâu sắc, tinh tế về họ

Trong thơ Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng, ngời phụ nữ luôn luôn

đ-ợc ca ngợi một cách hài hoà, nhuần nhuyễn giữa hai vẻ đẹp: vẻ đẹp tâm hồn

và vẻ đẹp hình thể, hay nói cách khác giữa cái nội dung bên trong và hìnhthức bên ngoài của họ

Trớc hết, Xuân Hơng ca ngợi ngời phụ nữ ở vẻ đẹp hình thể, ngời phụ nữtrong thơ Hồ Xuân Hơng mang vẻ đẹp trần thế, dân dã, gần gũi, một vẻ đẹptrinh nguyên

Chẳng hạn, thông qua hình tợng xinh xắn, trắng tròn của chiếc bánh trôinớc, Hồ Xuân Hơng đã thể hiện nổi bật những dáng vẻ yêu kiều trên thể hìnhhoàn hảo, tuyệt mỹ của ngời phụ nữ:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

động” [9; tr.279] về vẻ đẹp vật chất, vẻ đẹp hình thể đầy sự khêu gợi, hấp dẫn

giới tính ở ngời phụ nữ

“Bà chúa Mùa hè hây hẩy gió nồm đông

Thiếu nữ nàm chơi quá giấc nồng

Lợc trúc biếng cài trên mái tóc

Yếm đào trễ xuống dới lơng nong

Ngày đăng: 18/12/2013, 10:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Các (1994), Từ điển Hán Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Lê Văn Các
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
2. Trần Văn Chánh (1999), Từ điển Hán Việt hán ngữ cổ đại và hiện đại, Nxb trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt hán ngữ cổ đại và hiện đại
Tác giả: Trần Văn Chánh
Nhà XB: Nxb trẻ
Năm: 1999
3. Đỗ Hữu Châu (1996), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học quốcgia Hà Nội
Năm: 1996
4. Xuân Diệu (2000), Ba thi hào dân tộc, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba thi hào dân tộc
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
5. M.Gorki (1965), Bàn về văn học (Tập 2), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học (Tập 2)
Tác giả: M.Gorki
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1965
6. Đỗ Đức Hiểu (1990), Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, Tạp chí văn học số5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hơng
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Năm: 1990
7. Nguyễn Xuân kính (2006), Thi pháp ca dao, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân kính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
8. Đinh Trọng Lạc (2003), 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
9. Nguyễn Lộc (1997), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến hếtthế kỉ XIX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
10. Nguyễn Đăng Na (1991), Thơ Hồ Xuân Hơng với văn học dân gian, Tạp chí văn học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hồ Xuân Hơng với văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Năm: 1991
11. Nhiều tác giả (2000), Phân tích bình giảng văn học chọn lọc, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích bình giảng văn học chọn lọc
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2000
12. Nhiều tác giả (1996), Văn hoá đại cơng và cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá đại cơng và cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1996
13. Nhiều tác giả (2006), Tác giả trong nhà trờng Hồ Xuân Hơng, Nxb văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả trong nhà trờng Hồ Xuân Hơng
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb vănhọc
Năm: 2006
14. Lữ Huy Nguyên (1995), Hồ Xuân Hơng thơ và đời, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hơng thơ và đời
Tác giả: Lữ Huy Nguyên
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
15. Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 2002
17. Vũ Ngọc Phan (1998), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 1998
18. Nguyễn Hữu Sơn (1991), Tâm lí sáng tạo trong thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng, Tạp chí văn học số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí sáng tạo trong thơ Nôm Hồ Xuân H-"ơng
Tác giả: Nguyễn Hữu Sơn
Năm: 1991
19. Nguyễn Hữu Sơn - Vũ Thanh (tuyển chọn và giới thiệu) (2003), Hồ Xuân hơng về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: HồXuân hơng về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Hữu Sơn - Vũ Thanh (tuyển chọn và giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
20. Tuấn Thành, Anh Vũ (tuyển chọn) (2005), Hồ Xuân hơng tác phẩm và lời bình, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân hơng tác phẩm vàlời bình
Tác giả: Tuấn Thành, Anh Vũ (tuyển chọn)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
21. Lã Nhâm Thìn (1998), Thơ Nôm Đờng luật, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Nôm Đờng luật
Tác giả: Lã Nhâm Thìn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w