Gần đây 2010 một số luận văn thạc sĩ tại Đại học sư phạm Thái Nguyên nghiên cứu về một số khía cạnh trên bình diện ngữ pháp của tiếng Tày như: Câu hỏi trong tiếng Tày của Vũ Huyền Nhung,
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Văn Phúc
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ Từ ngữ chỉ văn hóa ẩm thực trong tiếng Tày là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong các công trình khác Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin đƣợc đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả luận văn
Hoàng Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành kháo học và luận văn này, em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Đại học Sư phạm I (Hà Nội), các giáo sư, tiến sĩ của Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển và Bách khoa thư… đã tận tình truyền đạt kiến thức quý báu để hoàn thành luận văn này
Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy PGS.TS Đoàn Văn Phúc, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, ủng
hộ và giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình học tập, nghiên cứu, điền dã … để hoàn thành công trình này
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
6 Cái mới và ý nghĩa của đề tài 8
7 Bố cục 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9
1.1 Khái niệm hình vị, từ, ngữ và nghĩa 9
1.1.1 Hình vị 9
1.1.2 Từ 11
1.1.3 Ngữ 13
1.1.4 Nghĩa và nghĩa của từ, ngữ 14
1.1.5 Trường nghĩa và vốn từ chỉ văn hóa ẩm thực 19
1.2 Vấn đề định danh 21
1.2.1 Khái niệm định danh 21
1.2.2 Đơn vị định danh và đơn vị miêu tả 23
1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 23
1.3.1 Khái niệm về văn hóa 23
1.3.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 26
1.4 Vài nét về người Tày và tiếng Tày 27
1.4.1 Về người Tày 27
1.4.2 Vài nét về tiếng Tày 30
1.4.2.1 Đặc điểm loại hình và cấu trúc 30
Trang 51.4.2.2 Chữ viết 35
1.4.2.3 Vấn đề phương ngữ trong tiếng Tày 37
1.4.2.4 Đặc điểm về ngôn ngữ học - xã hội 38
Tiểu kết chương 1 40
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ ẨM THỰC TRONG TIẾNG TÀY 41
2.1 Kết quả khảo sát, thống kê 41
2.2 Đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ ẩm thực trong tiếng Tày 43
2.2.1 Từ đơn 44
2.2.2 Từ phức 44
2.2.2.1 Từ láy 45
2.2.2.2 Từ ghép 45
2.2.2.3 Từ ngẫu hợp 50
2.2.3 Ngữ 51
2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ ẩm thực trong tiếng Tày 52
2.3.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ đơn 52
2.3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ phức 52
2.3.2.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ ghép đẳng lập 53
2.3.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ ghép chính phụ 53
2.3.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ ngẫu hợp 57
2.3.4 Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm cụm từ (ngữ) 57
2.4 Đặc điểm phương thức định danh các từ ngữ chỉ ẩm thực trong tiếng Tày 58
2.4.1.Phương thức định danh theo nguyên liệu chính 59
2.4.2 Phương thức định danh theo phương pháp/cách thức chế biến 60
2.4.3 Phương thức định danh theo hình thức/hình dáng bề ngoài 61
2.4.4 Phương thức định danh theo nguyên liệu chính và phương pháp/cách thức chế biến 61
2.4.5 Phương thức định danh theo phương pháp/cách thức chế biến, mùi vị và nguyên liệu chính 62
Trang 62.4.6 Phương thức định danh theo phương pháp/cách thức chế biến, gia
vị và nguyên liệu chính 63
2.4.7 Phương thức định danh theo nguyên liệu chính và hương vị 63
2.4.8 Các phương thức định danh khác 64
Tiểu kết chương 2 64
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA NGƯỜI TÀY QUA CÁC TỪ NGỮ CHỈ ẨM THỰC 67
3.1 Từ ngữ chỉ ẩm thực thể hiện phương thức sinh tồn của người Tày 67
3.1.1 Ẩm thực người Tày trong quan hệ với tự nhiên 67
3.1.2 Ẩm thực người Tày trong quan hệ với cộng đồng làng xóm 69
3.1.3 Ẩm thực Người Tày trong hoạt động văn hóa tinh thần 73
3.1.3.1 Mâm cơm cúng tổ tiên trong ngày Tết Nguyên đán 74
3.1.3.2 Một số đồ ăn truyền thống, đặc sắc của người Tày theo các thời điểm trong năm 75
3.2 Từ ngữ chỉ ẩm thực thể hiện phương thức tư duy và triết lí của người Tày 82
3.2.1 Tên gọi món ăn 82
3.2.2 Các ý niệm khác của con người về món ăn 84
Tiểu kết chương 3 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 96
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Các từ ngữ chỉ ẩm thực trong tiếng Tày 41 Bảng 2: Các từ ngữ chỉ ẩm thực trong tiếng Tày xét về đặc điểm cấu tạo 43 Bảng 3: Các kiểu quan hệ cơ bản giữa các yếu tố trong từ ghép chính phụchỉ
ẩm thực trong tiếng Tày 50 Bảng 4: Một số phương thức định danh các từ ngữ chỉ ẩm thực trong tiếng Tày 59
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ khi có xã hội loài người đến nay, vấn đề “ăn, mặc, ở, đi lại” luôn là
cơ sở của sự tồn tại cũng như sự phát triển và tiến bộ Trong đó, ăn uống là một phần quan trọng trong cuộc sống của loài người Nó không chỉ nuôi dưỡng con người mà còn gắn liền với các hoạt động văn hóa, phản ánh mối quan hệ của con người với tự nhiên và xã hội Con người phải biết cách ăn uống sao cho có văn hóa, và sau đó mới học những điều khác như người Trung Hoa thường có câu: “dân vĩ thực vi tiên” (người dân lấy việc ăn uống làm đầu)
Hầu hết các dân tộc, các địa phương trên mọi miền đất nước Việt Nam đều có những tập quán ẩm thực riêng Việc tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa ẩm thực của các dân tộc sẽ cho ta cách nhìn toàn diện, đầy đủ hơn về con người,
về sự phát triển của nhân loại Không những thế văn hóa ẩm thực còn giúp cho ta hiểu thêm về thế giới xung quanh và hiểu thêm về chính bản thân mình
để từ đó có cách nhìn nhận đúng đắn hơn về cuộc sống, có cách ứng xử hài hòa hơn với môi trường tự nhiên và xã hội
Mặt khác, ngôn ngữ được coi là chiếc “hàn thử biểu của xã hội” Ngôn ngữ và đời sống luôn có mối quan hệ tác động hai chiều Xã hội Việt Nam mang dấu ấn của nền văn minh lúa nước với nền văn hóa đa dạng của 54 dân tộc anh em Chính kho từ vựng phong phú luôn được mở rộng đã kịp thời phản ánh những tri thức phong phú, những phát hiện mới mẻ của con người
về thế giới xung quanh
Dân tộc Tày là một cộng đồng có số dân đông nhất trong số 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam Gần giống như người Kinh, người Tày cũng có nền kinh
tế nông nghiệp khá phát triển Vì thế, với người Tày, tập quán ẩm thực mang
Trang 9đậm đặc tính của cư dân vùng thung lũng; phản ánh đặc trưng văn hóa tộc người, nhất là ở khía cạnh ứng xử Trong tiếng Tày, có hàng loạt các từ ngữ
có yếu tố liên quan đến “ăn” và “uống” với cả nghĩa đen và nghĩa bóng đã làm phong phú thêm vốn từ vựng trong ngôn ngữ này Có thể nói, với số lượng vô cùng lớn và liên quan tới trường ngữ nghĩa ẩm thực, gắn liền với
văn hóa dân tộc nên việc chúng tôi chọn đề tài Từ ngữ chỉ văn hóa ẩm thực trong tiếng Tày làm đối tượng nghiên cứu sẽ có ý nghĩa lí luận và thực tiễn
sâu sắc
Là một người con của dân tộc Tày, khi chọn nghiên cứu vấn đề này chúng tôi có cơ hội hiểu sắc hơn về bề dày văn hóa của dân tộc mình để thêm yêu quý, tự hào Đồng thời, người viết cũng mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc trước cơn lũ của hội nhập và giao lưu văn hóa đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ
2 Lịch sử vấn đề
Qua khảo sát của chúng tôi, tính đến nay đã có khá nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu về từ vựng tiếng Tày trên các phương diện cấu trúc, xã hội ngôn ngữ học khác nhau
* Trên phương diện ngữ âm:
Qua sự tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống, toàn diện về ngữ âm tiếng Tày Song ngay từ những năm bảy mươi của thế kỉ XX đã có một số bài viết nghiên cứu về ngữ
âm tiếng Tày (Tày - Nùng) Chẳng hạn, trong Ngữ pháp tiếng Tày Nùng
(1971), các tác giả Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo đã trình bày sơ lược hệ thống ngữ âm của tiếng Tày – Nùng Hoặc điều này có thể được biết rõ ràng
hơn qua công trình Hệ thống ngữ âm tiếng Tày Nùng của tác giả Đoàn Thiện Thuật (1972 trong Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Viện
Ngôn ngữ học, Hà Nội) Gần đây, trong giáo trình giảng dạy tiếng Tày cũng
Trang 10có đề cập và giới thiệu hết sức sơ lược về hệ thống ngữ âm tiếng Tày (chẳng hạn cuốn Slon Phuối Tày của Lương Bèn (Chủ biên), Ma Ngọc Dung Nxb
Đại học Thái Nguyên, 2009) hoặc một số bài viết Ví dụ: bài viết Bản sắc
riêng trong tiếng nói của người Tày ở Nghĩa Đô, Lào Cai trên trang web của
Cục văn thư lưu trữ Nhà nước [45] đã chỉ ra điểm độc đáo ở một số chữ, âm
vần, thanh lửng, phụ âm lắc trong tiếng Tày Nghĩa Đô so với tiếng Tày ở các vùng khác Đặc biệt, năm 2010 tại Đại học Sư phạm Hà Nội, với luận văn cao
học Nghiên cứu ngữ âm tiếng Tày ở xã Na Hối và Tà Chải (Bắc Hà, Lào Cai)
của mình, tác giả Nông Thị Nhung, cũng đã miêu tả hết sức chi tiết những đặc điểm ngữ âm của tiếng Tày ở hai xã Nà Hối và Tà Chải.[24]
* Trên phương diện từ vựng – ngữ nghĩa
Có thể nói, đây là phương diện được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm hơn cả Điều này được thể hiện qua số bài viết và công trình dưới đây:
Bài viết Xây dựng và phát triển hệ thống từ vựng Tày – Nùng (1969)
của Nguyễn Hàm Dương đã chỉ ra một cách khái quát đặc điểm hệ thống từ vựng Tày – Nùng, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng và phát triển
hệ thống từ vựng Tày – Nùng Trong Báo Văn nghệ Độc lập số 1441, năm
1970 có bài Đẩy mạnh việc giảng dạy và học chữ Tày- Nùng xen kẽ với chữ
quốc ngữ nói đến vai trò của tiếng Tày và sự cần thiết phải học chữ Tày tại
thời điểm đó Các tác giả Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo với các bài Vài nét về
sự phát triển của tiếng Tày - Nùng sau Cách mạng Tháng Tám , và Một vài ý kiến về các từ mượn trong tiếng Tày – Nùng (1970); Nguyễn Thiện Giáp
(1970) với bài Cách làm giàu vốn từ vựng Tày – Nùng, báo Việt Nam Độc lập Bên cạnh đó, có thể kể đến Lạc Dương (1971) với bài Tính phong phú
của tiếng Tày - Nùng, báo Việt Nam Độc lập, hay Đoàn Thiện Thuật (1986)
với bài Về kho từ vựng chung Việt – Tày Ngoài ra, cũng phải kể tới các cuốn
Từ điển Tày Nùng – Việt, Việt – Tày Nùng của nhóm tác giả Hoàng Văn Ma,
Trang 11Lục Văn Pảo, hay Từ điển thành ngữ, tục ngữ Tày Nùng của Triều Ân, Hoàng
Quyết, Nxb VHDT, 1996 Đây là công trình công phu, hệ thống, bổ ích về vốn từ vựng tiếng Tày trong sự đối chiếu với tiếng Nùng và tiếng Việt mà những người quan tâm đến tiếng Tày không thể bỏ qua
Vài năm gần đây, tại Đại học sư phạm Thái Nguyên đã có một số luận văn Thạc sĩ nghiên cứu tiếng Tày (Tày Nùng) theo hướng liên ngành ngôn
ngữ - văn hóa Chẳng hạn, Ngôn Thị Bích (2009) với Từ ngữ chỉ lúa gạo và
sản phẩm làm từ lúa gạo trong tiếng Tày (có so sánh với tiếng Việt); Nguyễn
Thị Hằng với Từ ngữ chỉ người trong tiếng Tày Nùng Ngoài ra, cũng năm
2009, còn có luận văn thạc sĩ Đặc điểm cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của
tục ngữ dân tộc Tày của Hà Huyền Nga Có thể nói, các công trình này cũng
là sự gợi mở cho chúng tôi tiếp tục khai thác vấn đề từ vựng tiếng Tày không chỉ dưới góc độ ngôn ngữ học mà còn nhằm tìm ra những giá trị văn hóa tiềm
ẩn trong các lớp từ đó.[4,6]
* Trên phương diện ngữ pháp
Đó là công trình Ngữ pháp Tày – Nùng (1971) của Hoàng Văn Ma, Lục
Văn Pảo Gần đây (2010) một số luận văn thạc sĩ tại Đại học sư phạm Thái Nguyên nghiên cứu về một số khía cạnh trên bình diện ngữ pháp của tiếng
Tày như: Câu hỏi trong tiếng Tày của Vũ Huyền Nhung, Phương thức láy
trong tiếng Tày của Hà Thị Bạch…[4,25,26]
* Trên phương diện xã hội ngôn ngữ học
Mấy chục năm gần đây, những vấn đề về xã hội ngôn ngữ học được các nhà ngôn ngữ học ở nước ta tập trung nghiên cứu, đặc biệt đối với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong đó có tiếng Tày Chẳng hạn,
Tiếp xúc ngôn ngữ Việt (Kinh) - Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam, của Đặng
Thanh Phương, Luận án tiến sĩ lịch sử, H., 2004; Tình hình sử dụng ngôn ngữ
ở hai xã Hưng Đạo và Hoàng Trung (Huyện Hòa An - tỉnh Cao Bằng), của Tô
Trang 12Phương Chi (2006), Khóa luận tốt nghiệp, HN; Cảnh huống ngôn ngữ ở Hà
Giang của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2010); Nguyễn Thị Thanh Huyền, Bình
Thành (2010), Một số đặc điểm của cảnh huống ngôn ngữ ở Hà Giang, Ngôn ngữ; Cảnh huống ngôn ngữ ở Thái Nguyên, của Dương Thị Thanh Hoa (2010); Mấy nét về cảnh huống ngôn ngữ ở Thái Nguyên, của Dương Thị Thanh Hoa, Lan Hương (2010), Ngôn ngữ; Cảnh huống đa ngữ ở huyện Hòa
An, tỉnh Cao Bằng, của Nguyễn Hoàng Lan (2010) Hoặc bài viết Vị thế, chức năng của các ngôn ngữ dân tộc ở vùng Đông Bắc của Hoàng Văn Ma và
Phan Lương Hùng trong Bức tranh toàn cảnh về các ngôn ngữ ở Việt Nam, đề
tài cấp Bộ, Viện ngôn ngữ học (đã nghiệm thu 3/2011) [8, 19, 20, 21, 27, 30]
Nhìn lại các công trình, bài viết như đã nêu trên, chúng tôi thấy các nhà nghiên cứu thường đề cập đến một số vấn đề về ngữ âm, từ vựng-ngữ nghĩa, ngữ pháp, xã hội ngôn ngữ học… trong tiếng Tày Nùng Tuy vậy, những vấn
đề về tiếng Tày vẫn còn là mảnh đất hứa mong chờ các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu, đặc biệt là nghiên cứu theo hướng liên ngành: Ngôn ngữ - văn hóa; ngôn ngữ - văn học, ngôn ngữ - văn học – văn hóa; ngôn ngữ - xã hội…
Với những tư liệu hiện có và sự hiểu biết của mình, chúng tôi thấy chưa
có công trình, bài viết nào nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống, toàn diện về
nhóm từ ngữ chỉ văn hóa ẩm thực trong tiếng Tày (đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn) Do đó, chọn thực hiện đề tài Từ ngữ chỉ văn hóa ẩm thực trong tiếng Tày, chúng tôi mong muốn đóng góp thêm những nghiên cứu mới
mẻ về khía cạnh ngôn ngữ vừa quen thuộc vừa thú vị này
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của luận văn là nhóm từ ngữ chỉ văn hóa ẩm thực trong tiếng Tày
Trang 133.2 Phạm vi nghiên cứu
Do trường ngữ nghĩa thuộc văn hóa ẩm thực khá rộng, cho nên luận
văn chỉ dừng lại khảo sát những danh từ gọi tên các món ăn, thức uống trong tiếng Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có ba nhiệm vụ:
Thứ nhất, khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến: từ ngữ, trường
từ vựng ngữ nghĩa và văn hóa ẩm thực cũng như đặc điểm của tiếng Tày về các phương diện cội nguồn, loại hình cấu trúc…
Thứ hai, miêu tả đặc trưng cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ văn hóa ẩm thực mà chủ yếu là các danh từ chỉ đồ ăn thức uống trong tiếng Tày
Thứ ba, qua các lớp từ ngữ này, tìm hiểu và chỉ ra đặc điểm văn hóa của cư dân Tày nói chung, cư dân Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn nói riêng qua các “đồ ăn thức uống” của họ
5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Tư liệu nghiên cứu
Tư liệu về vốn từ ngữ chỉ “đồ ăn, thức uống, đồ hút” của người Tày được thống kê từ hai nguồn chủ yếu:
Thứ nhất, trên cơ sở khảo sát thực tế tiếng Tày trong đời sống hàng ngày ở vùng Bắc Kạn
Trang 14Thứ hai, trên cơ sở thống kê tham khảo từ các nguồn:
1 Từ điển Tày - Nùng – Việt của Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo…1984,
KHXH; Nxb Từ điển học và Bách khoa thư, tái bản lần 1 năm 2006;
2 Từ điển Văn hóa Cổ truyền của người Tày của Hoàng Triều Ân,
- Phương pháp điền dã ngôn ngữ học để thu thập tư liệu một cách hiệu quả về các từ ngữ chỉ văn hóa ẩm thực trong tiếng Tày
Trên cơ sở các tư liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành thống kê, phân loại, miêu tả, nhận xét và rút ra đánh giá tổng hợp để từ đó miêu tả đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và văn hoá của các từ ngữ chỉ văn hóa ẩm thực trong tiếng Tày Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, đề tài còn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác: Phương pháp quy nạp, vốn là phương pháp của tư duy lôgíc cũng được áp dụng
Trang 156 Cái mới và ý nghĩa của đề tài
- Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về lớp từ ngữ (danh từ) chỉ văn hóa ẩm thực trong tiếng Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Do vậy, luận văn sẽ cung cấp thêm những cứ liệu về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của lớp từ này trong hệ thống từ vựng văn hóa các ngôn ngữ ở Việt Nam
- Những tư liệu thu nhận được và sự lý giải của chúng tôi sẽ góp phần soi sáng thêm mối quan hệ giữa các ngôn ngữ cùng thuộc nhóm Tày Thái nói chung và sự vay mượn từ ngữ trong tiếng Tày với các ngôn ngữ khác riêng trong tiến trình lịch sử
- Cung cấp thêm tư liệu trong việc tìm hiểu, biện giải những nét văn hóa (đặc biệt là văn hóa ẩm thực) của cư dân Tày nói chung và cộng đồng người Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn nói riêng
- Góp phần vào việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc Tày cũng như các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
7 Bố cục
Ngoài Phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và thư mục tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ ẩm thực trong tiếng Tày
Chương 3: Đặc điểm văn hóa của người Tày qua các từ ngữ chỉ ẩm thực
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm hình vị, từ, ngữ và nghĩa
tố và hậu tố
Trong ngữ pháp học, một kiểu có tổ chức tối đơn giản dùng làm thành
tố để trực tiếp hay gián tiếp tạo nên tất cả mọi kiểu đơn vị khác còn lại: đơn vị
đó được xem là đơn vị gốc, đơn vị tế bào của ngữ pháp Kiểu đơn vị đó, trong thuật ngữ ngôn ngữ học, thường được gọi là hình vị, moóc phem hay từ tố” (Dẫn theo [6, Tr 9-10])
Cần phân biệt “hình vị” với đơn vị được coi là “thành tố cấu tạo từ” Nếu hình vị có thể trực tiếp cấu tạo nên từ (một mình nó hoặc kết hợp với các hình vị khác) hoặc không trực tiếp cấu tạo nên từ, mà gián tiếp, bằng cách kết hợp với các hình vị khác để tạo thành một thành tố có nghĩa lớn hơn hình vị Thành tố này mới được dùng để trực tiếp cấu tạo nên từ Thành tố cấu tạo từ
có thể trùng hoặc không trùng khớp với hình vị Còn “thành tố cấu tạo từ” được hiểu là yếu tố bên trong từ, yếu tố hợp thành nên từ
Trang 17Như vậy, chúng ta thấy hình vị là đơn vị nhỏ nhất có mang ý nghĩa,
mang giá trị ngữ pháp dùng để cấu tạo từ
Theo quan niệm chung thì hình vị (morpheme) là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và để cấu tạo từ Đã có rất nhiều những định nghĩa khác nhau, trong các công trình nghiên cứu về từ vựng, và hình vị được gọi bằng các tên khác nhau: từ tố (Nguyễn Văn Tu), nguyên vị (Hồ Lê), tiếng (Nguyễn Tài Cẩn), hình vị (Đỗ Hữu Châu, Đái Xuân Ninh) Dưới đây là một số những định nghĩa về hình vị như sau:
Từ những định nghĩa trên, ta thấy “hình vị” có một số đặc điểm đáng lưu ý là:
- Là đơn vị có kích thước vật chất - âm thanh nhất định, là mặt biểu thị, hình thức;
- Là đơn vị có ý nghĩa nhất định, là mặt được biểu thị, nội dung;
- Là đơn vị có cấu trúc nội tại tương đối ổn định, vững chắc, không thể phân tách thành các đơn vị nhỏ hơn về nghĩa;
- Là đơn vị có chức năng cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn nó, chủ yếu là dùng để cấu tạo nên từ
Tuy vậy hình vị trong các ngôn ngữ cụ thể (với tất cả các dạng thức của nó) không phải là đơn vị có thể nhận thức dễ dàng Hình vị là kết quả của sự phân tích và tổng hợp của nhà nghiên cứu, nhằm mục đích “mổ xẻ” để hiểu rõ bản chất, chức năng của các đơn vị lớn hơn nó hoặc chính nó trong các mối quan hệ với các đơn vị cùng loại và khác loại Cái đơn vị này thường không hiển nhiên đối với người bản ngữ
Tuy nhiên, ở đây cần có sự phân biệt giữa hai khái niệm nhiều khi không trùng khớp: “hình vị” và “thành tố cấu tạo từ” Hình vị có thể trực tiếp cấu tạo nên từ (một mình nó hoặc kết hợp với các hình vị khác) hoặc không trực tiếp cấu tạo nên từ, mà gián tiếp, bằng cách kết hợp với các hình vị khác
Trang 18để tạo thành một thành tố có nghĩa lớn hơn hình vị Thành tố này mới được dùng để trực tiếp cấu tạo nên từ Thành tố cấu tạo từ có thể trùng hoặc không trùng khớp với hình vị Cách nhìn nhận như vậy, giúp ta giải thích có logic đối với những trường hợp các hình vị kết hợp với nhau, nhưng sản phẩm của
sự kết hợp này không thể được đánh giá là từ (không tái hiện được tự do trong lời nói để tạo nên câu), mà chỉ nên xem là thành tố cấu tạo từ
“Thành tố cấu tạo từ” được hiểu là yếu tố bên trong từ, yếu tố hợp thành nên từ Như vậy, cách hiểu này còn giúp phân biệt nó với đơn vị được gọi là “đơn vị gốc”, đơn vị ở bên ngoài từ đang nói, đơn vị được lấy làm cơ sở
để tác động và chuyển hoá thành ra thành tố cấu tạo từ
Có nhiều cách để phân loại hình vị, nếu phân loại hình vị theo cách truyền thống ta có căn tố và phụ tố, nó đảm bảo được hai yếu tố là chức năng
và ngữ nghĩa
L Bloomfield thì lại phân loại hình vị thành hình vị tự do và hình vị hạn chế Với cách phân loại này ta phát hiện ra một đặc tính quan trọng của hình vị là tính chất hoạt động trên trục tuyến tính nhưng nó lại làm mất đi phương diện ngữ nghĩa, chức năng quyết định sự tồn tại của hình vị trong ngôn ngữ
Cách phân loại nữa về hình vị là người ta dựa vào các đặc tính thiên về hình thức Dựa vào vị trí ta có tiền tố, hậu tố, trung tố Dựa vào đặc tính âm vị học của các hình vị thì theo E.Nida ta có các hình vị gián cách và các hình vị
từ Tuy nhiên dù phân loại theo cách nào thì hai tiêu chí là chức năng và ngữ nghĩa là yếu tố quan trọng nhất để phân loại hình vị
Trang 19từng ngôn ngữ Các dấu hiệu đặc trƣng của từ là tính hoàn chỉnh, tính có thể phân chia thành các bộ phận và khả năng tái hiện lại dễ dàng trong lời nói Từ
có thể phân chia thành các cấu trúc: Cấu trúc ngữ âm của từ (là toàn bộ các hiện tƣợng âm thanh tạo nên vỏ âm thanh của từ), cấu trúc hình thái của từ (là toàn bộ các hình vị tạo nên từ) và cấu trúc ngữ nghĩa của từ (là toàn bộ các nghĩa khác nhau của từ)
Cho đến nay, trong ngôn ngữ học, các định nghĩa về từ đã đƣợc đƣa ra không ít Chẳng hạn, trong cuốn “ Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nguyễn Nhƣ Ý đã dẫn ra 36 quan niệm về từ và từ tiếng Việt Các định nghĩa ấy, ở mặt này hay mặt kia đều đúng, nhƣng đều không đủ và không bao gồm hết đƣợc tất cả các sự kiện đƣợc coi là từ trong ngôn ngữ và ngay cả trong một ngôn ngữ cũng vậy Ví dụ:
- Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật chất
(vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch sử
- Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách
khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp
Trong rất nhiều quan niệm về từ, chúng tôi chấp nhận quan điểm của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong cuốn
“Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết
cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên; đƣợc vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [10, Tr 170]
Qua các định nghĩa, chúng tôi nhận thấy từ có những đặc điểm cơ bản giúp phân biệt nó với các đơn vị khác trong hệ thống ngôn ngữ nhƣ sau:
- Là một khối thống nhất, hoàn chỉnh của hình thức và nội dung hay nói
cách khác, từ bao gồm hai mặt: âm thanh và ý nghĩa Tính hoàn chỉnh và thống nhất giữa hai mặt này giúp cho từ có khả năng hoạt động độc lập để tạo câu theo những quy tắc kết hợp nhất định
Trang 20- Mang tính sẵn có, tồn tại độc lập: Chúng có thể tách ra khỏi câu mà
vẫn có ý nghĩa như vậy, chúng có thể được dùng để đặt câu khác
- Có cấu trúc cố định - bắt buộc: Từ không thể chia nhỏ ra nữa mà vẫn
giữ nguyên ý nghĩa cũ Hay nói cách khác, từ là đơn vị có cấu trúc nội tại tương đối vững chắc, ổn định, có nghĩa mà không thể phân tách thành đơn vị nhỏ hơn
- Về mặt nội dung (mặt được biểu thị), từ là đơn vị có ý nghĩa biểu thị
các sự vật, hiện tượng…nhất định
- Là đơn vị nhỏ nhất trực tiếp tạo câu, tạo lời nói
Quan điểm và cách hiểu về từ như trên sẽ là cơ sở để chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê và phân loại những ngữ liệu có liên quan đến văn hóa
ẩm thực trong tiếng Tày (cụ thể là các từ, ngữ chỉ đồ ăn thức uống) một cách chính xác nhất Đồng thời, đây cũng là căn cứ để chúng tôi so sánh vốn từ này trong tiếng Tày với tiếng Việt qua đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về mặt ngôn ngữ và văn hóa kết chứa trong lớp từ này
1.1.3 Ngữ
Bên cạnh đơn vị “từ”, trong ngôn ngữ người ta còn đề cập đến một đơn
vị cũng cùng chức năng nhưng cấu tạo khác đơn vị “từ” có là “ngữ” hay còn được gọi là cụm từ, từ tổ
Cũng theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn Như
Ý [35,Tr176]: “ Ngữ là sự kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư từ có quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan.”
Về cấu tạo, ngữ là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc – theo quan hệ phù hợp, chi phối hay liên hợp Trong một số ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt
Trang 21ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là các thành tố phụ Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tạo nên ngữ danh từ), động từ (tạo nên ngữ động từ), tính từ (tạo nên ngữ tính từ)
Về chức năng và đặc điểm: Cũng giống như từ, ngữ cũng là phương tiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng quá trình, phẩm chất Ý nghĩa ngữ pháp của ngữ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng
Về phân loại: Ngữ thường chia thành hai kiểu: Ngữ tự do (cụm từ tự do) và ngữ không tự do (ngữ/cụm từ cố định)
+ Ngữ tự do/Cụm từ tự do: Bao gồm những ý nghĩa từ vựng độc lập của tất cả các thực từ tạo thành ngữ Mối liên hệ cú pháp của các yếu tố trong ngữ tự do là mối liên hệ linh loạt và có sức sản sinh
+ Ngữ không tự do/Ngữ cố định/cụm từ cố định: Tính độc lập về mặt từ vựng của một hoặc cả hai thành tố bị yếu đi hoặc bị mất và ý nghĩa từ vựng của ngữ trở nên giống như ý nghĩa của một từ riêng biệt
Tóm lại, ngữ giống từ về bản chất (cố định, có nghĩa, có chức năng định danh, trực tiếp tham gia tạo câu…) nhưng khác từ về mặt cấu tạo và phân loại
1.1.4 Nghĩa và nghĩa của từ, ngữ
* Quan niệm về nghĩa trong ngôn ngữ học đại cương
Trong ngôn ngữ học đại cương, F.De Saussure – ông tổ của ngôn ngữ học cấu trúc đã quan niệm về tín hiệu và gián tiếp nói về nghĩa “Tín hiệu ngôn ngữ kết liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi, mà là một
khái niệm với một hình ảnh âm thanh Hình ảnh này không phải là cái âm vật
chất, một vật thuần túy vật lí mà là dấu vết tâm lí của cái âm đó, là cái biểu tượng mà các giác quan của ta cung cấp cho ta về cái âm đó, nó thuộc cảm quan, và nếu đôi khi ta gọi nó là vật chất thì chỉ với ý nghĩa đó và để đối lập
Trang 22với thành phần kia của sự liên hệ, tức là với khái niệm thường trừu tượng hơn
Vậy, tín hiệu ngôn ngữ là một thực thể tâm lý có hai mặt, có thể được biểu
tượng bằng hình vẽ:
Hai yếu tố này gắn bó khăng khít với
nhau và đã có cái này là có cái kia
Không những thế, F.de Saussure còn
dùng từ tín hiệu để chỉ cái tổng thể
và thay khái niệm bằng cái được biểu
hiện, thay hình ảnh âm thanh bằng
cái được biểu hiện
Như vậy, trong ngôn ngữ học đại cương, F.de.Sassure coi nghĩa là cái
khái niệm, là cái được biểu hiện Trong quan niệm của ông, cái biểu hiện là hình ảnh âm thanh “là cái biểu tượng mà giác quan của ta cung cấp cho ta về
giác quan đó” Nhưng so với nó (cái biểu hiện) thì cái được biểu hiện, khái niệm
thường trừu tượng hơn Đây là một phát hiện mang tính bước tiến lớn trong nhận thức về nghĩa của tín hiệu – từ Nó đưa ngôn ngữ học vào vị trí trung tâm của khoa học ký hiệu học và cho nghĩa là cái trừu tượng [33, Tr 73]
Tuy nhiên, quan niệm của Saussure còn hạn chế vì chưa trả lời được câu hỏi “Khái niệm là gì và nó được hình thành như thế nào?” và chưa đề cập đến hai nhân tố quan trọng khác là hiện thực và chủ thể ngôn ngữ Vì thế, sau F.de Saussure, đã có nhiều tác giả như Ogden, Rchards, G.tern, S.Ullmann, Lyons đã có thêm những kiến giải về nghĩa một cách khá thuyết phục Chẳng hạn:
- So với sơ đồ nghĩa của F.de.Saussure, Ogden và Richards đã gọi cái
biểu hiện là cái biểu trưng Hai ông bổ sung thêm nhân tố tư duy con người
và hiện thực (sự vật) trong quy định nghĩa
- So với Ogden và Richards, G.Stern đã thay cái biểu trưng bằng tín
hiệu ngôn ngữ là từ hình thức và giải thích thêm cái quy chiếu hoặc tư duy là
Khái niệm Hình ảnh
âm thanh
Trang 23nghĩa, đồng thời thay quan hệ chính xác bằng quan hệ biểu hiện và thay quan
hệ chính xác bằng quan hệ biểu hiện và thay quan hệ dành cho bằng quan hệ lĩnh hội chủ quan cái được quy chiếu, thay quan hệ thay thế đại diện thành quan hệ biểu thị hoặc gọi tên cái được quy chiếu
- So với G.Tern, S.Ullmannn đã chỉ rõ: “Nghĩa là nội dung mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau giữa tên gọi và nội dung liên hội” Như vậy, đến S.Ullmann, nghĩa không chỉ là thực thể tâm lý, tinh thần nữa mà có vai trò của quan hệ, không chỉ bản thân mà cả chức năng
- So với S.Ullmann, Lyons không coi cái quy chiếu là nghĩa nữa Ông phân biệt quy chiếu và biểu thị Nghĩa là nội dung khái niệm, là nội dung liên hội và nghĩa biểu thị Như vậy, với nhân tố tư duy con người và hệ thống tín hiệu ngôn ngữ, Lyons cho rằng có hai loại nghĩa là: Nghĩa biểu thị và nghĩa
hệ thống [33, Tr 83]
* Quan niệm về nghĩa của từ
Theo GS TS Lê Quang Thiêm: “Nói đến hình thức, biểu thức, từ, ngữ, câu, lời, văn bản, diễn ngôn…là nói đến những hiện tượng, đơn vị, thực thể của ngôn ngữ trong ngôn ngữ học Nghĩa của những đơn vị thực thể đó là nghĩa của ngôn ngữ, thuộc ngôn ngữ Thuật ngữ gọi thứ nghĩa này là ngữ nghĩa Nhưng có sự khác nhau giữ nghĩa trong ngôn ngữ, nghĩa của ngôn ngữ với nghĩa của các tồn tại khác” [33, Tr 5]
Qua phần biện giải trên, chúng ta đểu biết từ là một đơn vị quan trọng của ngôn ngữ Nó có hai mặt: mặt hình thức vật chất âm thanh và mặt nội dung ý nghĩa Hai mặt này gắn bó với nhau như hai mặt của một tờ giấy, nếu
không có mặt này thì cũng không có mặt kia Vậy nghĩa của từ tồn tại trong
từ, nói rộng ra là trong hệ thống ngôn ngữ Nó là cái phần nửa làm cho ngôn
ngữ nói chung và từ nói riêng, trở thành những thực thể vật chất - tinh thần
Trang 24Nghĩa của từ không tồn tại trong ý thức, trong bộ óc của con người Trong ý thức, trong tư duy của con người chỉ có những hoạt động nhận thức,
hoạt động tư duy mà thôi Điều này ngụ ý rằng: Trong ý thức, trong bộ óc
trí tuệ của con người chỉ tồn tại sự hiểu biết về nghĩa của từ chứ không phải
là nghĩa của từ Từ những điều trên đây, suy tiếp ra rằng những lời trình bày, giải thích trong từ điển, cái mà ta vẫn quen gọi là của từ trong từ điển, thực chất là những lời trình bày tương đối đồng hình với sự hiểu biết của ta về nghĩa của từ mà thôi
Như vậy, từ nhiều quan niệm khác nhau, chúng tôi đưa ra một cách
hiểu mang tính tổng quát về ý nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là nội dung
mà từ biểu hiện, nó được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố Trong số đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân
tố nằm trong ngôn ngữ Nhân tố ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người sử dụng Nhân tố trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ
Từ có liên hệ với nhiều nhân tố, nhiều hiện tượng Bởi thế nghĩa của từ cũng không phải chỉ có một thành phần, một kiểu loại Tùy theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ có những thành phần ý nghĩa sau đây:
- Ý nghĩa từ vựng gồm:
+ Ý nghĩa biểu vật (denotative meaning) ứng với chức năng biểu vật:
Là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính, hành động, ) mà
nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động, đó, người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật (denotat) Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất vật chất hoặc phi vật chất Ví dụ:
đất, trời, mưa, nắng, nóng, lạnh, ma, quỷ, thánh, thàn, thiên đường, địa ngục,
Trang 25+ Ý nghĩa biểu niệm (significative meaning) ứng với chức năng biểu niệm: là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một số ý nghĩa biểu vật của từ Chính vì ý nghĩa biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể gọi nó là cấu trúc biểu niệm [7, Tr 118]
+ Ý nghĩa biểu thái/Ý nghĩa ngữ dụng (pragmatical meaning) ứng với chức năng biểu thái: còn được gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa hàm chỉ (connotative meaning), là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ bao gồm những nhân
tố đánh giá, nhân tố cảm xúc, nhân tố thái độ …mà từ gợi ra cho người nói và người nghe Ở đây, chúng ta chỉ bàn tới ý nghĩa biểu thái trong hệ thống ngôn ngữ, nghĩa là những ý nghĩa biểu thái khi nó đứng riêng rẽ, tách khỏi văn bản
- Ý nghĩa ngữ pháp/nghĩa cấu trúc (structural meaning): ứng với chức năng ngữ pháp (quan hệ, kết hợp, khái quát hóa) Ý nghĩa ngữ pháp là loại ý nghĩa chung cho hàng loạt đơn vị ngôn ngữ và được thể hiện bằng những phương tiện ngữ pháp nhất định Có thể nói, ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa vật thể, còn ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa siêu vật thể hay phi vật thể, được thể hiện ra bằng những hình thức nhất định
Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục: trục đối vị (paradigmatical axis) và trục ngữ đoạn (syntagmatical axis) Quan hệ trên trục đối vị cho ta xác định được giá trị của từ, khu biệt từ này với từ khác, còn quan hệ trên trục ngữ đoạn cho ta xác định được ngữ trị (valence) – khả năng kết hợp – của từ
Ở trên chúng tôi đã trình bày từng thành phần ý nghĩa trong từ Tuy nhiên, vì từ là một thể thống nhất, cho nên mỗi thành phần ý nghĩa chẳng qua chỉ là những phương diện khác nhau của cái thể thống nhất đó Sự hiểu biết
Trang 26đầy đủ về ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết thấu đáo từng mặt một nhƣng cũng phải là sự hiểu biết tổng quát về những mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng
GS Đỗ Hữu Châu đã khẳng định vai trò của ý nghĩa nhƣ sau: “Ý nghĩa
là cái quyết định, là lý do tồn tại của ngôn ngữ Không một đối tƣợng nghiên cứu nào của ngôn ngữ học mà không liên hệ với ý nghĩa…Ý nghĩa là tờ
“chứng chỉ” cho các sự kiện ngôn ngữ Thế nhƣng, tờ “chứng chỉ” ấy lại trừu tƣợng và khá mơ hồ Vì thế, để có thể tiến hành đƣợc sự nghiên cứu ý nghĩa, phải biết tách nó ra từng mặt đối lập để tìm hiểu Chẳng hạn, tách ý nghĩa trong hệ thống với ý nghĩa trong lời nói; tách cấu trúc cốt lõi của ý nghĩa của
từ với những thành phần tạo nên “da thịt”, sức sống của từ do xã hội và cá nhân mang lại
Cái cấu trúc cốt lõi đó là các cấu trúc biểu niệm Cấu trúc này vừa là cái chung cho nhiều từ, là một tổ chức những nét nghĩa chung, ở những mức
độ khái quát và cụ thể khác nhau, vừa là cái riêng cho từng từ, do sự có mặt của các nét nghĩa hạn chế biểu vật trong cái cấu trúc chung đó Cấu trúc biểu niệm của từ là cái riêng, tính hệ thống về ngữ nghĩa là cái chung Giữa chúng
có mối quan hệ mật thiết Tuy tách ra từng mặt đối lập để nghiên cứu, nhƣng chúng ta cũng phải chú ý đến những tác động qua lại, sự chuyển hóa giữa các mặt đó” [7, Tr 234]
Đây chính là những cơ sở lý luận cần thiết giúp cho chúng tôi đi vào tìm hiểu và biện giải về cấu trúc và ý nghĩa của các từ, ngữ (đặc biệt là lớp danh từ) chỉ văn hóa ẩm thực trong tiếng Tày một cách hệ thống, khoa học
1.1.5 Trường nghĩa và vốn từ chỉ văn hóa ẩm thực
* Trường nghĩa
Theo Đỗ Hữu Châu, giữa các từ có không ít sự đồng nhất về hình thức
và về ý nghĩa Căn cứ vào những cái chung giữa các từ, chúng ta sẽ tiến hành
Trang 27sự phân lập toàn bộ từ vựng của tiếng Việt thành những hệ thống nhỏ hơn và phát hiện ra những quan hệ giữa các từ trong từ vựng
Do quá lớn và quá phức tạp, những liên hệ ngữ nghĩa trong từ vựng không hiện ra một cách trực tiếp giữa các từ lựa chọn một cách ngẫu nhiên Tuy nhiên, những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt được các từ (các ý nghĩa của từ) vào những hệ thống con thích hợp Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa
Với các trường nghĩa, chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường F.de.Saussure đã chỉ ra hai dạng quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (hay quan trực tuyến, quan hệ hệ hình) Theo hai dạng quan hệ có thể có hai loại trường nghĩa: Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) [35, Tr 171]
* Vốn từ chỉ văn hóa ẩm thực
Vốn từ hay còn gọi là vốn từ vựng/ từ vựng là tập hợp các từ và ngữ cố định được gọi là từ vựng của ngôn ngữ Vì có nhiều tiêu chí tập hợp khác nhau cho nên có những dạng từ vựng khác nhau Ở đây, khái niệm từ vựng được dùng với nghĩa rộng nhất: tập hợp tất cả các từ của một ngôn ngữ không phân biệt tiêu chuẩn tập hợp” [35, Tr 6]
Như vậy, nếu xét vốn từ theo khái niệm trên thì sẽ rất rộng Mặt khác, bản thân thuật ngữ “văn hóa ẩm thực” cũng hàm chứa nội dung rất rộng Do
đó, như đã giới thuyết ở phần mở đầu và trong các tiểu mục trên của chương
Trang 28này, chúng tôi chỉ đi sâu vào khảo sát các danh từ chỉ gia vị, đồ ăn, thức uống trong tiếng Tày của cộng đồng dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn Cụ thể là:
- Các từ, ngữ chỉ gia vị
Ví dụ: khinh (gừng), khá (giềng), mác phết (quả ớt), hua sluốn (tỏi)…
- Các từ, ngữ chỉ món ăn có nguồn gốc từ thịt
Ví dụ: nựa cáy (thịt gà), nựa mu (thịt lợn), nựa vài (thịt trâu)…
- Các từ, ngữ chỉ món ăn có nguồn gốc từ thủy sản
Ví dụ: củng (tôm), pja (cá); pu (cua)…
- Các từ, ngữ chỉ món ăn có nguồn gốc từ ngũ cốc
Ví dụ: khẩu nua (cơm nếp), bắp tổm (ngô luộc), chảo (cháo)…
- Các từ, ngữ chỉ món ăn có nguồn gốc từ rau nấm, cây cỏ
Ví dụ: keng cải xoong (canh rau cải soong), mảy lsổm (măng chua), chóp núm (mộc nhĩ), chóp nhù (nấm rơm)…
- Các từ, ngữ chỉ đồ uống có men và không men
Ví dụ: lẩu bắp (rượu ngô), lẩu khẩu (rượu gạo), nặm cắt (nước lã), nặm xè (nước chè)…
- Các từ, ngữ chỉ đồ uống có màu và không màu
Ví dụ: lẩu van (rượu ngọt), lẩu lượt (rượu tiết, các loại (như: rắn - ngù, mật lợn - đi mu, dúi - uẩn, lẩu khao - rượu trắng, nặm phật - nước sôi…
Chúng tôi sẽ thu thập, xử lý 7 nhóm từ, ngữ nói trên từ các nguồn tư liệu chủ yếu như đã giới thuyết ở phần mở đầu Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát các từ ngữ này trong đời sống hàng ngày của cư dân ở vùng Bắc Kạn Từ những ngữ liệu thu thập được, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích nhóm từ này trên các phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa và làm rõ giá trị văn hóa của chúng
1.2 Vấn đề định danh
1.2.1 Khái niệm định danh
“Định danh” là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latin với nghĩa là
“tên gọi” Thuật ngữ này biểu thị kết quả của quá trình gọi tên của các đơn vị ngôn ngữ
Trang 29Theo từ điển của Nguyễn Như Ý [35, Tr 89]: Định danh là sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình thành những khái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú và câu
Trong các đơn vị ngôn ngữ, nếu câu là đơn vị có chức năng thông báo thì từ là đơn vị có chức năng định danh rõ nhất Hay nói cách khác, chức năng định danh được coi là một trong những tiêu chí để xác định từ Đúng như tác giả Đỗ Hữu Châu đã viết: “Từ là đơn vị định danh của ngôn ngữ, nó cũng là một hình thức ngữ pháp được các thành viên của một tập thể hiểu như nhau trong quá trình trao đổi Từ có âm thanh và hình thức Tuy vậy, âm thanh và hình thức chỉ là những phương tiện cấu tạo nên từ, bản thân chúng chưa phải
là từ Chỉ khi nào gắn liền với một ý nghĩa nào đấy thì chúng mới có khả năng biểu đạt tư tưởng” [3, Tr 331]
Theo đó, đối tượng của lý thuyết định danh là nghiên cứu, mô tả những luật về cách cấu tạo những đơn vị ngữ nghĩa, về sự tác động qua lại giữa tư duy - ngôn ngữ - hiện thực khách quan trong quá trình định danh Tìm hiểu vai trò của nhân tố con người trong việc lựa chọn các dấu hiệu làm cơ sở cho
sự định danh xuất phát từ mối quan hệ giữa hiện thực – khái niệm và tên gọi
Mặt khác, lý thuyết định danh phải nghiên cứu và miêu tả cấu trúc của đơn vị định danh, từ đó xác định những tiêu chí hoặc những đặc trưng cần và
đủ để phân biệt đơn vị định danh này với đơn vị định danh khác Chúng ta có thể hình dung qua sơ đồ sau:
[cây]
định biểu danh hiện
Phản ảnh “ cây”
Trang 30Từ sơ đồ trên, ta có thể hiểu như sau:
+ Hiện thực khách quan: được hình dung như là cái biểu vật của tên gọi, nghĩa là như toàn bộ các thuộc tính được chia tách ra trong các hành vi định danh ở tất cả các lớp sự vật do tên gọi đó biểu thị khái niệm, khi lựa chọn những thuộc tính có tính chất phạm trù tham gia như là cái biểu nghĩa của tên gọi
+ Tên gọi: được nhận thức như là một dãy âm thanh được phân đoạn trong nhận thức ứng với một cấu trúc cụ thể của ngôn ngữ đó
+ Chính mối tương quan giữa cái biểu nghĩa, biểu vật và xu hướng của mối quan hệ này trong những hành vi định danh cụ thể sẽ tạo nên cấu trúc cơ
sở của sự định danh
1.2.2 Đơn vị định danh và đơn vị miêu tả
Tìm hiểu từ ngữ chỉ văn hóa ẩm thực trong tiếng Tày dưới góc độ định danh chúng tôi quan niệm rằng: Các đơn vị từ, ngữ đặc biệt là các danh từ chỉ văn hóa ẩm thực trong tiếng Tày là chính là các đơn vị định danh Chúng tôi
sẽ xem xét, nghiên cứu nhóm từ ngữ này trên các phương diện cấu trúc, ngữ nghĩa và văn hóa trong mối quan hệ với các đơn vị định danh khác
1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
1.3.1 Khái niệm về văn hóa
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới
164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới
Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc
học, nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách
gọi của châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội
học, và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác
Trang 31nhau Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều Một trong những cách đó phân loại các định nghĩa về văn hóa thành những dạng chủ yếu sau đây
* Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh
"Cultus" mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là
"gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự
giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người" Theo nhà triết học Anh Thomas
Hobbes (1588-1679): "Lao động giành cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy
dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần"
* Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn
hóa bao hàm, chẳng hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) đã định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa hay văn minh hiểu theo
nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin,
nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội
* Các định nghĩa lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội,
truyền thống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa Một trong những định nghĩa đó là của Edward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học,
ngôn ngữ học người Mỹ: văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là
những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống
* Các định nghĩa chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá
trị, chẳng hạn William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹ
coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các
thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử, )
Trang 32* Các định nghĩa tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với
môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người Một trong những cách định nghĩa như vậy của William Graham Sumner
(1840 - 1910), viện sỹ Mỹ, giáo sư Đại học Yale và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông là: Tổng thể những thích nghi của con người với
các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa.[11]
* Các định nghĩa cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của
văn hóa, ví dụ Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ định
nghĩa: a.Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các
thành viên xã hội; b Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của
nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa
* Các định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc
của nó, ví dụ định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại
học Harvard: Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra,
hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn
hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong
xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin [14]
Tóm lại, văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần
Trang 33áo, các phương tiện, v.v Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và
đó là một phần của văn hóa
Như vậy, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Và chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra [46]
1.3.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Các nhà nghiên cứu đều cho rằng ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ với nhau, chúng tác động lẫn nhau Ngôn ngữ là cơ
sở, nền tảng của văn hóa Văn hóa dân tộc không tồn tại ngoài ngôn ngữ
Theo tác giả Nguyễn Văn Chiến trong cuốn Tiến tới xác lập vốn từ vưng văn
hóa Việt [9, Tr 51] : “Ngôn ngữ lại chính là sản phẩm văn hóa của nhân loại
giống như tất cả những sản phẩm khác… Ngôn ngữ, nói một cách chính xác,
là một hiện tượng văn hóa, nằm trong văn hóa Văn hóa có ngoại diên lớn, trong khi đó ngôn ngữ có ngoại diên hẹp hơn, nhưng có những đặc tính nội hàm rộng lớn hơn Mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ là mối quan hệ bao nhau Giữa chúng có những chỗ khác nhau, giao nhau và giống nhau”
Do ngôn ngữ là một hiện tượng văn hóa, thuộc phạm trù văn hóa, cho nên tất cả những gì là đặc tính, thuộc tính của văn hóa cũng đều tương tự như
là đặc tính thuộc tính của ngôn ngữ và được ẩn chứa trong ngôn ngữ Mọi cấu trúc phân tích các đơn vị phạm trù của ngôn ngữ Nói một cách khác, các sự kiện ngôn ngữ đều đẳng cấu với các sự kiện văn hóa Khác với sự kiên văn hóa khác, ngôn ngữ là một hiện tượng văn hóa đặc thù, bởi: Ngôn ngữ là một
Trang 34sản phẩm văn hóa nhưng lại đồng thời là phương tiên ghi nhận các hiện tượng văn hóa khác, là chỗ lưu lâu dài các sự kiện văn hóa; là công cụ thể hiện các đặc trưng văn hóa cộng đồng Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người Trong hoạt động hành chức, ngôn ngữ luôn phải chịu sự chi phối của hàng loạt các quy tắc giao tiếp văn hóa cộng đồng (Dẫn theo [9, 53])
Như vậy, có thể khẳng định rằng, mỗi ngôn ngữ, tự thân, đều là sản phẩm văn hóa cộng đồng Mỗi một dân tộc đều có sản phẩm văn hóa trong đời sống Không những vậy, các dân tộc đều có cách nhìn nhận và thể hiện riêng Do vậy có thể hiểu ngôn ngữ là tinh thần văn hóa dân tộc Từ đó, qua việc tìm hiểu một ngôn ngữ ta có thể thấy được những nét văn hóa riêng của
dân tộc đó Việc tìm hiểu vốn từ ngữ chỉ văn hóa ẩm thực của dân tộc Tày
ở Bắc Kạn của chúng tôi cũng hướng vào mục đích đó
1.4 Vài nét về người Tày và tiếng Tày
1.4.1 Về người Tày
Về tên gọi và dân số: Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm
2009, người Tày ở Việt Nam có dân số 1.626.392 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 2 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố Dân tộc Tày còn có tên gọi khác là Thổ với các nhóm sau: Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí Người Tày có quan hệ thân thuộc với người Nùng, người Giáy, Cao Lan ở Việt Nam và dân tộc Choang ở Quý Châu Trung Quốc
Về địa bàn cư trú: Người Tày sống xen kẽ với nhau khắp các tỉnh trong
cả nước, đặc biệt là ở thượng du và trung du Bắc Bộ Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang Họ thường cư trú trong các thung lũng, các cánh đồng thuộc các lưu vực sông Chảy, sông Gâm, sông Lô, sông Băng, sông Thương, sông Kì Cùng Đơn vị cư trú của người Tày là bản Bản thường có từ 20 đến 25 nhà, có bản lớn trên 100 nhà
Trang 35Về tập quán canh tác và sản xuất: Người Tày có một nền nông nghiệp
cổ truyền khá phát triển với đủ loại cây trồng như lúa, ngô, khoai và rau quả mùa nào thức đó Mặt khác, là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời, người Tày đã biết thâm canh và biết áp dụng rộng rãi các biện pháp thủy lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng việc thả rông gia súc, gia cầm đến nay vẫn còn khá phổ biến Các nghề thủ công gia đình được chú ý, nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại văn hóa đẹp, đa sắc màu và độc đáo
Về nhà ở: Nhà của người Tày gồm có 3 loại: nhà sàn, nhà đất và nhà
phòng thủ Trong đó, nhà sàn là loại phổ biến nhất Nhà có cầu thang lên xuống, có sàn phơi Tùy theo từng vùng mà sàn phơi được dựng ở phía trước hay đầu hồi nhà, nhưng đều gắn với cửa chính Nhà sàn của người Tày là loại nhà tổng hợp
Về trang phục truyền thống: Trang phục của người Tày chủ yếu làm từ
vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài bên ngoài, có thắt lưng bằng những tấm vải chàm hay đũi dài khoảng hai sải tay làm tăng thêm vẻ duyên dáng nhất là đối với thanh nữ Nam mặc áo năm thân, quần lá tọa Với người Tày, áo là nơi chứa
đựng linh hồn sống của con người và được người Tày gọi là slửa khoăn (áo
linh hồn)
Về đời sống tinh thần: Người Tày có đời sống tinh thần rất phong phú
và đa dạng được thể hiện rõ nhất trên khía cạnh tín ngưỡng, văn học nghệ thuật và các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian Có thể nói trong vấn đề tín ngưỡng, quan niệm “vạn vật hữu linh” đã chi phối toàn bộ tín ngưỡng của họ Chính vì vậy, họ không theo tôn giáo nào mà chỉ chịu ảnh hưởng của một số
tư tưởng của Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo Người Tày chủ yếu thờ cúng
Trang 36tổ tiên, vua bếp, thổ địa, bà Mụ, các vị thánh trong rừng hay những người có
công với địa phương Hàng năm, người Tày thường tổ chức lễ hội vào mùa
xuân để cầu mong mùa màng tươi tốt, bội thu: Hội lồng tồng (xuống đồng), hội hai (hội trăng), óc pò (ra núi) Lễ vật dùng để cúng là các sản phẩm của nông nghiệp như: xôi, bánh ngon, gà thiến, lợn quay và các thứ ngon khác
Dân tộc Tày có một kho tàng văn học dân gian khác phong phú gồm
nhiều thể loại Đặc biệt, người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, puối rọ trong đó, lượn là điệu dân ca phong phú nhất gồm nhiều điệu khác nhau: lượn slương, lượn then, nàng hai, nàng ới, lượn cọi
* Người Tày ở Bắc Kạn
Tính đến năm 2009, người Tày ở Bắc Kạn có 155.510 người, chiếm 52,9 % dân số toàn tỉnh và 9,6% tổng số người Tày tại Việt Nam Bản của người Tày Bắc Kạn thường ở chân núi hay ven suối Tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông (như: Nà Pha, Bản Chảy; Nà Mặn; Pác Ngòi ) Mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ Nhà ở của họ là nhà sàn, nhà đất Trong nhà phân biệt phòng nam ở ngoài, nữ
ở trong buồng Người Tày thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm, áo phụ
nữ dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách ở bên phải, cài 5 khuy Gia đình người Tày thường quý con trai hơn và có qui định rõ ràng trong quan hệ giữa các thành viên trong nhà Vợ chồng yêu thương nhau, ít ly hôn Đã từ lâu không còn tục ở rể Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ tôn giáo hàng đầu của người Tày ở Bắc Kạn [47]
Tóm lại, người Tày là một trong những dân tộc có một quá trình phát triển lâu dài trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Họ đã hun đúc, xây dựng nên nền văn hóa truyền thống mang đặc trưng tộc người sâu sắc Văn hóa truyền thống của người Tày đã đóng góp tích cực vào bản sắc văn hóa chung của cả dân tộc, làm cho văn hóa Việt Nam thêm đa dạng, hoàn thiện trước sự ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài
Trang 371.4.2 Vài nét về tiếng Tày
1.4.2.1 Đặc điểm loại hình và cấu trúc
* Về loại hình
Xét về đặc điểm loại hình, tiếng Tày thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Những đặc trưng đơn lập ở tiếng Tày được thể hiện cụ thể:
- Về ngữ âm: Trong tiếng Tày, âm tiết có tính tổ chức chặt chẽ và có
vị trí quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Âm tiết gồm một số lượng nhất định thành tố kết hợp với nhau theo quy tắc nhất định Âm tiết thường là vỏ của hình vị, trong nhiều trường hợp là vỏ của từ Tiếng Tày là một ngôn ngữ
âm tiết tính, thuộc tiểu loại hình trung Cũng như các ngôn ngữ đơn lập khác (tiếng Việt, tiếng Hán ), từ trong tiếng Tày không có hiện tượng biến đổi hình thái khi sử dụng Ví dụ:
1 Vằn cón, khỏi chắng chập te dú lầy (Hôm trước, tôi mới gặp nó ở trên nương)
2 Vằn cón, te chắng chập khỏi dú lầy (Hôm trước, nó mới gặp tôi ở trên nương)
Ở hai phát ngôn (câu) trên, chúng ta thấy khỏi (tôi), te (nó) có những
chức năng ngữ pháp khác nhau (chủ ngữ, định ngữ) Tuy đảm nhận các nhiệm
vụ ngữ pháp khác nhau và nằm ở vị trí khác nhau, dạng thức “te” và “khỏi”
vẫn giữ nguyên hình thức ngữ âm khi tham gia cấu tạo lời nói
- Về ngữ pháp: Ý nghĩa ngữ pháp, quan hệ ngữ pháp trong tiếng Tày
được biểu thị biểu chủ yếu bằng trật tự từ và hư từ VD: Người Tày khi nói
đến từ bút (bút), chúng ta rất khó xác định đây là từ chỉ số ít hay số nhiều Muốn phân biệt được điều đó, người ta phải sử dụng hư từ nằm bên ngoài từ
bút để thể hiện VD: tu lăng – cửa sau; lăng tu – sau cửa Do vị trí của từ tu
(cửa) thay đổi nên ý nghĩa của nó cũng thay đổi theo
Với những đặc điểm cơ bản nói trên, tiếng Tày được coi là một ngôn ngữ điển hình cho ngôn ngữ đơn lập
Đặc điểm về loại hình tiếng Tày Nùng có mối liên hệ khá chặt chẽ với các đặc điểm về cấu trúc (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) của chúng
Trang 38* Về cấu trúc
- Những đặc điểm ngữ âm
Về phương diện ngữ âm, tiếng Tày Nùng có những đặc điểm đáng lưu
ý sau:
- Hệ thống thanh điệu: Tiếng Tày gồm có sáu thanh:
+ Thanh ngang cao [khoang] Ví dụ: vai (sẻ), phai (ao), lao (sợ), slưa (hổ),…
+ Thanh huyền [pàn] Ví dụ: nà (ruộng), và (sải tay), mà (về),…
+ Thanh sắc [pắc] Ví dụ: đá (mắng), pí (anh/chị), má (ngâm),…
+ Thanh hỏi [thỏi] Ví dụ: pả (bác gái), phải (vải), lả (muộn),…
+ Thanh nặng [lộm] Ví dụ: cạ (bảo), xẹ (sẽ), noọng (em),…
+ Thanh lửng [lương] Dùng dấu “_” đặt dưới nguyên âm
Ví dụ: na (dì), lang (chuồng), …
+ Thanh ngã: không có trong tiếng Tày, chỉ dùng khi vay mượn tiếng Việt Trong sáu thanh điệu của tiếng Tày, thanh lửng là đáng chú ý nhất Thanh này tồn tại ở rất nhiều địa phương tiếng Tày Nùng Ở những vùng không có thanh lửng, những âm tiết mang thanh lửng thường được thay bằng những âm tiết mang thanh hỏi
- Hệ thống phụ âm đầu
Trong tiếng Tày thường có từ 20 - 21 phụ âm có chức năng âm đầu (tuy
ở một vài vùng phương ngữ Tày có thể có từ 25 - 27 phụ âm) Các phụ âm ở
vị trí âm đầu đó là: /ph, th, kh, p, t, ch, k, b, d, f, s, sl, h, v, l, z, m, n, nh, ng/
và phụ âm tắc thanh hầu, vô thanh Thậm chí ở một số vùng còn tồn tại một vài phụ âm tắc, hữu thanh, thở (breathy voiced stoped consonant)
Lưu ý: Để tránh sự phức tạp in ấn, nên chúng tôi không dùng các kí
hiệu phiên âm quốc tế IPA, mà chỉ dùng chữ Latinh trong tiếng Tày
- Hệ thống âm đệm: Trong tiếng Tày có 2 bán nguyên âm /w/ và /j/ ở vị trí âm đệm Hai âm đệm này có khả năng kết hợp rộng rãi với các phụ âm có
Trang 39chức năng âm đầu, và với các nguyên âm có chức năng âm chính Riêng bán nguyên âm /j/ chỉ đi sau các phụ âm môi, vì vậy có những ý kiến đề nghị nên coi /j/ là một yếu tố ngạc hóa (mềm hóa) của các phụ âm môi Song theo các
tác giả Ngữ pháp tiếng Tày - Nùng (1971) thì nên coi /j/ là một bán nguyên
âm có chức năng âm đệm thì hợp lí hơn Tuy nhiên, tất cả chỉ là các giải pháp
âm vị học mà thôi
- Hệ thống âm cuối: Trong tiếng Tày Nùng có 9 âm cuối, gồm 6 phụ
âm, và 3 bán nguyên âm là: /p, t, ch, k, m, n, nh, ng, w (u, o), y (i), ư/
- Âm chính: Trong tiếng Tày Nùng thường có 9 nguyên âm đơn: /i, ê, e,
ư, ơ, a, u, ô, o/, và hai nguyên âm đơn ngắn /ă/ và /â/ có khả năng giữ vai trò
âm chính trong âm tiết Trong các phương ngữ Tày khác nhau, số lượng nguyên âm xê dịch từ 10 - 18 âm vị, nhưng các nguyên âm cơ bản hầu như đồng nhất Sự khác nhau về số lượng trong hệ thống nguyên âm giữa các phương ngữ Tày là ở các cặp đối lập ngắn / dài và các nguyên âm đôi
Trong các phương ngữ Tày (trừ phương ngữ Tày ở Hoàng Su Phì) đều
có 3 nguyên âm đôi là /iê, ươ, uô/
- Đặc điểm về vốn từ
Vốn từ vựng tiếng Tày Nùng khá phong phú, khá đầy đủ các lớp từ thường dùng để chỉ những hiện tượng tự nhiên trong đời sống con người, những mối quan hệ thân tộc, xã hội, kể cả miêu tả tâm lí con người Vốn từ vựng này trong tiếng Tày gồm hai bộ phận
Bộ phận thứ nhất và quan trọng nhất là các từ gốc Thái-Kađai, mà trực tiếp là các từ gốc của tiểu chi Thái trung tâm, là vốn từ của riêng dân tộc Tày Đây là lớp từ cơ bản nhất chỉ các sự vật, hiện tượng gần gũi nhất trong cuộc sống, được sử dụng nhiều nhất trong đời sống hàng ngày
Bộ phận thứ hai là lớp từ vay mượn từ ngôn ngữ các dân tộc có tiếp xúc Khi so sánh vốn từ tiếng Tày với các ngôn ngữ có tiếp xúc trong khu
Trang 40vực, rõ ràng ở tiếng Tày có những từ chung gốc với các ngôn ngữ Nam Đảo, Nam Á, Hán Tạng, Mông Dao… Đây là kết quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ-văn hóa giữa các tộc người này Nếu đi sâu nghiên cứu về từ vựng, ta có thể chỉ ra những lớp từ có nguồn gốc khác nhau trong tiếng Tày, đặc biệt là các từ có nguồn gốc Hán và Việt (Kinh)
Do điều kiện cư trú liền kề, do nhu cầu lịch sử - xã hội, suốt mấy trăm năm Nhà nước phong kiến chủ trương học chữ Hán để phát triển dân trí, tiếng
Tày đã mượn một bộ phận từ Hán khá quan trọng Ví dụ: cang (cái chum), tảo
lị (đạo lí), fằn thèo (phở)… Tuy nhiên, có một số từ ngày nay người ta khó
xác định được là từ Tày mượn tiếng Hán hay Hán mượn từ tiếng Tày, hoặc
cùng một gốc chung cổ xưa Ví dụ: pây tàng (tàng - đường), pây lỏ (lỏ - lộ)…
Từ vay mượn từ tiếng Hán: do sự tiếp xúc về văn hóa cũng như kiểu sống xen kẽ với đồng bào dân tộc trong quá trình di cư một thời gian tương đối dài, mà từ mượn Hán trong tiếng Tày khá phổ biến, đặc biệt được xuất hiện khá nhiều trong các tác phẩm văn học cổ Từ mượn của tiếng Hán ở những nơi khác nhau có sự khác nhau về số lượng, nơi mượn nhiều, nơi mượn
ít, có nơi mượn của phương ngôn này, có nơi mượn của phương ngôn khác Người Tày ở vùng Tây Bắc (của khu Việt Bắc) có khi mượn tiếng Quan hỏa, còn phần lớn những vùng khác thường mượn tiếng Lưỡng Quảng Ví dụ: hòm
(cái hòm), slúc sleng (súc vật), slinh minh (thanh minh), sleng (sinh = đẻ),
slống (tống = đưa ), chá ( giả ) … Tuy là những từ vay mượn từ tiếng Hán,
song nhiều từ trong số chúng đã được Tày hóa về cấu tạo Có nhiều yếu tố vay mượn đã tham gia vào quá trình phái sinh ra những từ mới Một số từ đa tiết tiếng Hán được tổ chức lại theo qui tắc tạo từ của tiếng Tày, nhưng vẫn giữ nguyên nghĩa cũ, như:
xảo hài (thảo hài) thành hài xảo (giầy cỏ)
sla chỉa (sa chỉ) thành chỉa sla (giấy bản); …