Văn học theo cách nói chung nhất, là bất kỳ tác phẩm nào bằng văn bản. Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, thì văn học là dạng văn bản được coi là một hình thức nghệ thuật, hoặc bất kỳ một bài viết nào được coi là có giá trị nghệ thuật hoặc trí tuệ, thường là do cách thức triển khai ngôn ngữ theo những cách khác với cách sử dụng bình thường. Trong các định nghĩa hiện đại hơn, văn học bao hàm cả các văn bản được nói ra hoặc được hát lên (văn học truyền miệng). Sự phát triển trong công nghệ in ấn đã cho phép phân phối và phát triển các tác phẩm chữ viết, và tạo ra loại văn học điện tử. Văn học có thể phân loại thành: hư cấu hoặc phi hư cấu (theo nội dung), và thơ hoặc văn xuôi (theo hình thức). Thể loại văn xuôi có thể phân loại tiếp thành tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch bản. Các tác phẩm văn học có thể được phân loại theo từng giai đoạn lịch sử được nhắc đến, hoặc một số thể loại nội dung hoặc hành văn đặc thù (bi kịch, hài kịch, lãng mạn, gợi tình,...)
Trang 3N guyễn Thị H ưòng
Nghiên cứu sách dạy lịch sử Việt Nam
viết bằng chữ Hán và chữ Nôm
Trang 4VIỆN H À N LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN N G H IÊN CỨU H Á N N Ô M
Trang 5Cuốn sách này là của bé Hồng Hà,
để sau này lớn lên, con sẽ thấy
con và mẹ con cũng là một phần của lịch sử
Cảm ơn Tập đoàn Trung Nguyên
đã tài trợ một phần kinh phí ân loát cho chuyên luận này.
TỔ CHỨC BẢN THẢO:
Nguyễn Quốc Anh Nguyễn Tuấn Cường Trần Trọng Dương
Vũ Thị Hương Nguyễn Tô Lan
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: Sự hình thành và phát triển của sách dạy lịch sử Việt 7
Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm
1.1 Giới thuyết về sách dạy lịch sử Việt Nam viểt bằng chữ Hán và chữ Nôm 71.1.1 Khái niệm sách giáo khoa hay sách dạy lịch sử Việt Nam viết 7 bằng chữ Hán và chữ Nôm
1.1.2 Sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán, chữ Nôm và bối 12 cảnh chung của hệ thống sách Hán Nôm dùng giảng dạy ừong
nền giáo dục Việt Nam truớc năm 1945
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của sách dạy lịch sử Việt Nam 37 viết bằng chữ Hán và chữ Nôm
1.2.1 Sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm 37truớc thế kỷ XIX qua nguồn tu liệu hiện còn
1.2.2 Các nhân tố chi phối sụ hình thành và phát triển của sách dạy 46 lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm từ nửa đầu
thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX
Trang 72.1.2 Các sách đa văn bản 762.2 Đặc điểm văn bản các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán 123
3.1.1 Sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm: 143Tài liệu thuờng thức và chuyên sâu về lịch sử Việt Nam
3.1.2 Sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán, chữ Nôm với 160 văn hóa giáo dục giai đoạn cuối thế kỷ' XIX đầu thế kỷ XX
3.1.3 Quan điểm giáo dục lịch sử Việt Nam quạ các sách dạy lịch sử 169 Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm
Trang 8Phụ lục 2: Sách Hán Nôm dùng giảng dạy trong giáo dục Nho học thời
phong kiến độc lập có trong D i sản H án Nôm Việt Nam -
Thư mục đề yếu
Phụ lục 3: Tấu chương ngày mồng 6 tháng 7 năm Thành Thái 18 (1906) 275
của Viện Cơ Mật, hiện đang lưu trữ tại Trung tâm luư trữ Quốc gia II, tờ 8, tập 95
Phụ lục 4: Sách giảng dạy bằng chữ Hán chữ Nôm giai đoạn giáo dục 281
Nho học cải lương thời Pháp thuộc trong D i sản H án Nôm
Việt Nam - Thư mục đề yếu
Phụ lục 5: Bảng đối chiếu các trang đính chính trong sách Cải lương 287
m ông học quốc sử giáo khoa thư
Phụ lục 6: Bảng so sánh tiêu đề bài mục ở tập xuân giữa hai ký hiệu ?g9
VHv.987/1 và VHv.2581 sách Trung học Việt sử to á t yếu
Phụ lục 7: Bảng so sánh phần chính văn bản Việt sử lược tứ tự kinh hay 291
Việt sử lược biên
Phụ lục 8: Tinh trạng văn bản sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ 295
chữ Hán và chữ Nôm
Trang 9QUY ƯỚC VIẾT TẮT
ĐVSKTT Đại Việt sửĩĩỷ toàn thư
VSCM Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Trang 102.4 Sự phân bố các văn bản về mặt loại hình theo thời gian 1242.5 Các nhà in tiến hành in sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng 125chữ Hán và chữ Nôm
2.6 Sự phân bố về mặt niên đại của các sách dạy lịch sử Việt 127Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm
2.7 Địa vị xã hội các tác giả sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng 131chữ Hán, chữ Nôm
3.3 Tần chia đất Bách Việt làm ba quận Lĩnh Nam 1493.4 Triệu Vũ Đế chia Tượng Quận làm hai, họp Nam Hải, Quế 149Lâm gọi là nước Nam Việt
3.5 Hán chiạ Nam Việt làm chín quận gọi là Giao Chỉ 149
3.7 Niên hiệu Việt Nam trong Trung học Việt sử to á t yếu 1533.8 Tỷ lệ bài có nội dung về chính trị và quân sự trong SGK lịch 214
sử hiện hành
3.9 So sánh cách trinh bày sự kiện lịch sử đời Trần giữa SGK 217
Lịch sử 7 và cuốn Tiểu học quốc sử lược biên
3.10 Sự kiện khởi nghĩa Hai Bà Trưng qua SGK Lịch sử 10 và 219cuốn Trung học Việt sử to á t yếu
DANH MỰC BIỂU ĐỒ
2.1 Sự phân bố loại hình văn bản theo thời gian 1262.2 Sự phân bố sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán, chữ 128Nôm về mặt niên đại
Trang 11DANH MỤC ẢNH MINH HỌA
2.2 Khóa nhi tiêu giản tứ tự quốc âm thể AB.646 712.3 Mông học Việt sử tam tự giáo khoa thư A.2314 73
2.7 Trung học Việt sư biên niên toát yếu A.238 76
2.10 Ảu học lịch sử giáo khoa thư VHv.1485 79
2.18 Tiểu học quốc sử lược hiên A.1327 và A.329 103
2.22 Việt sử tam tự tăn ước toàn biên VHv 1820 114
3.1 Bản đồ Việt Nam trong K hải đồng thuyết ước 144
Trang 12LỜI GIÓI THIỆU
Tôi viết lời giới thiệu chuyên luận Nghiên cím sách dạy lịch sử Việt Nam viết hằng chữ Hán và chữ Nôm trong một hoàn cảnh rất đặc biệt đó là
viết giới thiệu sách của Tiến sỹ Nguyễn Thị Hường - Người đang ở cõi âm.Thật xúc động viết những dòng chữ này
Chị Nguyễn Thị Hường sinh năm 1981, tại Bắc Giang trong một gia đình có truyền thống hiếu học, tốt nghiệp loại giỏi chuyên ngành Hán Nôm, Khoa Vãn học, Trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và được tặng bằng khen Gương mặt trẻ tiêu biểu Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2002 Năm 2004 Nguyễn Thị Hường về
công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm sau đợt thi tuyển công chức với
số điểm đứng đầu danh sách các ứng viên tham dự kỳ thi Năm 2005, chị hoàn thành luận văn Thạc sỹ về Nghiên cím văn bia chữ Nôm Ngày 7
tháng 9 năm 2012, chín ngày trước khi lâm nạn, Nguyễn Thị Hường đã bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ Hán Nôm về đề tài Nghiên cíni sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, tại Học viện Khoa
học xã hội thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, và được Hội đồng khoa học đánh giá loại xuất sắc
Luận án Nghiên cứu sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán
và chữ Nôm của Tiến sỹ Nguyễn Thị Hường, đã phác họa một cái nhìn
chung về tình hình biên soạn sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm thời trung đại Trên cơ sở đó sẽ lựa chọn những văn bản đáng tin cậy để dịch thuật, công bố nhằm tiếp nhận những bài học kinh nghiệm quý giá của ông cha để lại Đặc biệt, luận án đã đưa ra một số kiến nghị về tình hình biên soạn sách giáo khoa lịch sử hiện nay Nội dung chính của luận án gồm 3 chương:
- Chương một Tác giả đi sâu nghiên cứu sự hình thành và phát triển
sách dạy lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán và chữ Nôm, gồm các vấn đề: 1/Giới thuyết về sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hản và chữ Nôm (với các nội dung: Khái niệm sách giáo khoa hay sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán, chữ Nôm và bối cảnh chung của hệ thống sách Hán Nôm
Trang 13dùng giảng dạy trong nền giáo dục Việt Nam trước năm 1945) 2/ Quá trình hình thành và phát triển của sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm (vói các nội dung: Sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm trước thế kỷ XEX qua nguồn tư liệu hiện còn Các nhân tố chi phối sự hình thành và phát triển của sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm từ nửa đầu thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX).
- Chương hai: Tác giả đã làm rõ đặc điểm văn bản sách dạy lịch sử
Việt Nam bằng chữ Hán và chữ Nôm, trên 2 vấn đề: 1/ Hiện trạng văn bản sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm (với các nội dung: Các sách đơn văn bản Các sách đa văn bản) 2/ Đặc điểm văn bản các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm (với các nội dung: Loại hình văn bản, Niên đại, Tác giả, Thể loại, Văn tự, Bậc học, Hình thức tổ chức biên soạn)
- Chương ba: Tìm hiểu giá trị sách dạy lịch sử Việt Nam bằng chữ
Hán và chữ Nôm Đây là chương mà Nguyễn Thị Hường đã đưa ra những kiến giải rất khoa học và được Hội đồng chấm luận án đánh giá cao, gồm các vấn đề: 1/ Các giá trị về nội dung (với các nội dung: Sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm: Tài liệu thường thức và chuyên sâu về lịch sử Việt Nam Sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán, chữ Nôm với văn hóa giáo dục giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Quan điểm giáo dục lịch sử Việt Nam qua các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm) 2/ Các giá trị về hình thức (với các nội dung: Phương pháp biên soạn sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán, chữ Nôm và những biến chuyển của nó từ thế kỷ X3X sang thế kỷ
XX M ột số vấn đề về ngôn ngữ văn tự trong sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm) 3/ Một số kiến nghị đối vói việc biên soạn sách giáo khoa lịch sử hiện nay
Ngoài ra, luận án còn cung cấp mội Phụ lục gồm các biểu bảng rất công
phu, hết sức có giá trị
Tiến sỹ Nguyễn Thị Hường là một cán bộ trẻ, thông minh, có năng lực và nhiều triển vọng của Viện Nghiên cứu Hán Nôm Chị đã công bố nhiều bài viết có liên quan đến thư tịch học và văn tự học, tham gia nhiều công trinh, đã và sẽ xuất bản, như: Địa chí Bắc Ninh, Onổc sử dì biên, Từ điển điển cố văn học Nôm, Từ điển từ cổ và chữ Nôm cổ, v.v
Trang 14Nhưng rồi bể dâu kiếp người, “Xe cộ đi chẳng thuận cung đường, nghiệp chữ nghĩa bỗng hóa thành dang dở”
Thật là: “Người vốn chăm ngoan, đời sao khốn khổ”
Người ta thường nói âm dương cách biệt, nhưng một năm qua, nơi chín suối, chắc Nguyễn Thị Hường cũng thấu hiểu được tấm lòng thơm thảo của bè bạn Được sự đồng ý và ủng hộ của gia đình Nguyễn Thị Hường, các bạn bè và đồng nghiệp của chị đã cùng nhau chung sức: nsười mở máy tính dò password tìm file luận án, người chế bản, người biên tập, người đi xin kinh phí, người liên hệ nhà xuất bản để in luận án kịp dâng lên linh hồn bạn, nhân ngày giỗ đầu (chị mất ngày ngày 16 tháng
9 năm 2012, nhằm ngày mùng 1 tháng 8 năm Nhâm Thìn)
Tôi có duyên may là người hướng dẫn khoa học cho Nguyễn Thị Hường ở cả hai bậc học, Thạc sỹ và Tiến sỹ, nay lại được các bạn thân của Nguyễn Thị Hường gửi niềm tin viết cho người xấu số mấy lời tri ngộ, tạm nén buồn thương, cẩn trọng:
Trang 15Kho sách Hán Nôm là một kho sách quý, có nhiều giá trị đối với nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, không chỉ về lịch sử, văn học, luật pháp, y học, thiên văn, địa lý, v.v mà nó còn bao chứa những cuốn sách khá giá trị đối với việc tìm hiểu lịch sử giáo dục, văn hóa giáo dục Việt Nam.Trong những năm gần đây, vấn đề biên soạn sách giáo khoa môn lịch sử đang là một chủ đề đuợc xã hội quan tâm Làm thế nào để biên soạn một bộ sách giáo khoa lịch sử có khả năng thu hút sự quan tâm của học sinh vẫn là một câu hỏi mà những nhà biên soạn sách giáo khoa băn khoăn, trăn trở Vì vậy, việc tìm hiểu về các sách giáo khoa lịch sử từng có trong lịch sử cũng là một công việc có ý nghĩa đối với nhu cầu chung của xã hội.
Khi tìm hiểu kho sách Hán Nôm, chúng tôi nhận thấy một trữ luợng không nhỏ những cuốn sách có tính chất giáo khoa, dùng để dạy lịch sử ở những bậc học khác nhau, dùng trong các truờng lớp do tư nhân cũng như do Nhà nước tổ chức Việc nghiên cứu những tư liệu này mang lại cho chúng ta nhiều ý nghĩa, như là:
- Phác họa một cái nhìn chung về tình hình biên soạn sách dạy lịch
sử viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Qua đó có một cái nhìn khá cụ thể về diện mạo văn hóa giáo dục, cũng như một số vấn đề tư tưởng, học thuật ở thời kỳ mà các cuốn sách đó tồn tại
- Tìm hiểu các sự kiện lịch sử và các vấn đề liên quan như: cương vực, dân số, dân tộc, v v qua nội dung các cuốn sách
- Tìm hiểu quan điểm giáo dục lịch sử của nhà soạn sách qua cácthời kỳ
- Tìm hiểu phương pháp biên soạn và những biến chuyển về mặt phương pháp giữa các thời kỳ, qua đó có những nhận xét về vấn đề biên soạn sách dạy lịch sử
- Hình thức thể hiện của các cuốn sách như thể văn, loại hình ngôn ngữ - văn tự là tư liệu quan trọng cho những kiến giải về đặc điểm và tính
Trang 16hiệu quả của những thể văn được sử dụng trong các sách, đồng thời cũng
là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu ngồn ngũ' - văn tự ở thời kỳ mà chúng ra đời, v.v
Ngoài ra, sau khi khảo sát, chúng tôi nhận thấy phần lớn các cuốn sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm là những cuốn sách có niên đại muộn, chủ yếu là xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX Đó là thời kỳ mà nền giáo dục nước ta có những biến động lớn dưới tác động của nhiều yếu tố ngoại lai, trong đó có chính sách đô hộ của người Pháp Những biến động đó ảnh hưởng đến hệ thống sách giáo khoa nói chung và sách dạy lịch sử Việt Nam nói riêng trên nhiều mặt như nội dung biên soạn, phương pháp biên soạn và ngôn ngữ thể hiện (Hán, Nôm, Quốc ngữ) Vì vậy, có thể thấy, việc tìm hiểu các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm không chỉ có ý nghĩa đối với việc tìm hiểu diện mạo sách dạy lịch sử Việt Nam trong truyền thống nói chung mà còn đặc biệt có ý nghĩa trong việc nghiên cứu văn hóa - giáo dục thời kỳ cuối XIX đầu XX
1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy cho đến nay chưa có một công trình nào tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống về các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Nghiên cứu về sách giáo khoa Hán Nôm vẫn chỉ là những trình bày lẻ tẻ, đan xen trong các chuyên khảo và các bài viết
Đối với các chuyên khảo, hầu hết các tài liệu nghiên cứu về lịch
sử giáo dục - khoa cử nước ta đều ít nhiều nhắc đến mảng đề tài này Có thể kể đến các cuốn chuyên khảo như: Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam ừiĩởc 1945 của tác giả Vũ Ngọc Khánh [81], Nho học ở Việt Nam - Giáo dục và thi cử của tác giả Nguyễn Thế Long [108], Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng thảng 8 - 1945 của nhóm tác giả Nguyễn Đăng
Tiến [172], Khoa cử và giáo dục Việt Nam của tác giả Nguyễn Q Thắng
[156], Thi Hương của tác giả Nguyễn Thị Chân Quỳnh [147], Nho giáo - Đạo học trên đẩt kinh kỳ (Thăĩĩg Long - Đông Đô - Hà Nội) cửa hai tác
giả Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Thị Hồng Hà [29], Giáo dục và khoa cử Nho học Thăng Long - Hà Nội của tác giả Bùi Xuân Đính [48], Giáo dục khoa cử và quan chế ở Việt Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc của tác giả Nguyễn Công Lý [110], v v Nhìn chung, các chuyên
khảo đều chỉ nêu tên các sách được giảng dạy trong chương trình giáo dục
Trang 17Nho học thòi phong kiến, trong đó có mô thuật nội dung một số sách phổ biến Đây đều là những luợc thuật không đầy đủ, mang tính kế thừa và không dựa trên nguồn tư liệu thực chứng.
Đối vói các bài viết, khi nghiên cứu về sách giáo khoa Hán Nôm phần lớn các tác giả đều chỉ đề cập đến sách dạy chữ Hán như các bài viết của tác giả Nguyễn Đình Hòa về cuốn sách Nhất thiên tự [201], Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca [203], v v (trong khoảng những
năm từ 1960 -1980); các bài viết của tác giả Phạm Văn Khoái như M ội
vài vẩn đề sách giáo khoa dạy chữ Hán viết bằng chữ Hán và chữ Nôm,
trong Thông báo Hán Nôm học năm 1995 [82], Đôi điều về việc dạy và học chữ Hán ở Việt Nam sau năm 1919, trong cuốn Nhìn lại Hán Nôm học thế kỷ X X [ 186].
Trong những năm tù' 1997 đến 1999, tác giả Thế Anh có một số bài viết đăng trên Tạp chỉ Hán Nôm về vấn đề sách giáo khoa như bài Sách học chữ Hán cho học sinh nhỏ tuổi ngày xưa [9], bài Nhũng cuốn sách giảo khoa truyền thống của Tnmg Ouổc dành cho lứa tuổi vỡ lòng [11], v.v
Năm 2000, Trần Ngọc Thuận trên Tạp chí Hán Nôm, số 2 có bài
về nguồn gốc và tác giả của cuốn “Au học ngũ ngôn th r [169].
Trong bối cảnh này, ngay từ năm 2001 chúng tôi đã bước đầu phác thảo những nét đầu tiên cho việc hình thành một chuyên luận về vấn
đề này qua đề tài nghiên cứu phân tích cuốn sách Kiểm tự trên phương
diện tìm hiểu một cách học những chữ Hán dễ nhầm lẫn trong Hội nghị Báo cáo khoa học dành cho sinh viên khoa Văn học
Để góp phần bổ sung cho khoảng trống còn chưa được giải quyết trong nghiên cứu sách giáo khoa Hán Nôm nói chung và sách giáo khoa Hán Nôm giai đoạn giáo dục Nho học cải lương đầu thế kỷ XX, năm
2011, chúng tôi có công bố bài viết Diện mạo sách giáo khoa Hán Nôm trong giáo diỊC Nho học cài lưcmg [76] Bài viết này đã dựa trên các tài
liệu thực chứng bao gồm bản Tấu chương ngày 6 tháng 7 năm Thành Thái thứ 18 (1906), tờ trình của Tuần phủ Đoàn Triển, tài liệu về chương trình giáo dục của Pháp và sách Hán Nôm trong bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (Trần Nghĩa và Franẹois chủ biên, 1993) để đưa ra
danh mục các sách giáo khoa Hán Nôm được dùng giảng dạy trong chương trình giáo dục của các trường Nho học kể từ sau cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906)
Trang 18Trong khi đó, lịch sử nghiên cứu mảng tư liệu sách dạy lịch sử viết bằng chữ Hán và chữ Nôm còn khá khiêm tốn Năm 2001, trong cuốn chuyên khảo của mình, tác giả Phạm Văn Khoái có kể tên một số sách dạy lịch sử nhu Bắc sử tân san toàn biên, Tiểu học quốc sử lược biên, Trung học Việt sử toát yếu [83, tr.230] Do sách dạy lịch sử không nằm
trong những nội dung chủ đạo của chuyên khảo này nên tác giả không tiến hành trình bày kỹ hơn Nhận thấy đây là một huớng nghiên cứu chua đuợc quan tâm đúng mức, trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm học năm
2007, chúng tôi đã công bố bài viết Sơ bộ khảo sát các sách dạy lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán và chữ Nôm cuối thế kỷ X IX đầu thế kỷ X X ở Việt Nam [74, tr.484-500] Bài viết là khởi đầu cho những nghiên cứu của
chúng tôi về sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.Tháng 6 năm 2010, học viên Vũ Văn Ngân đã bảo vệ luận văn Thạc sĩ với đề tài Loại hình văn bản sách giáo khoa lịch sử cho hệ Âu học đầu thế kỷ X X qua nghiên cứu văn bản “An Nam sơ học sử lược” Luận
văn kế thừa một số thành quả nghiên cứu của chúng tôi đuợc công bố trong bài viết năm 2007 nói trên Tác giả đã có nhiều đóng góp trong việc dịch thuật và đánh giá nội dung cuốn sách An Nam sơ học sử lược Tuy
nhiên, vấn đề văn bản của cuốn sách này, cụ thể là văn bản gốc và các bản dịch chữ Hán, còn chua đuợc giải quyết triệt để
Để phát triển cho những nghiên cứu buớc đầu từ năm 2007, năm
2011, chúng tôi đã công bố bài viết Vãn bản sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm - hiện trạng và đặc điểm, trên Tạp chí Hán Nôm số 5-2011 [77] Bài viết có nhiều kết quả nghiên cứu mang tính
chuyên sâu về văn bản các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán
và chữ Nôm, bổ sung cho những điểm còn bỏ ngỏ trong bài viết năm
2007 ở trên của chúng tôi Trong đó, chúng tôi có bổ sung phần còn chua đuợc giải quyết triệt để về văn bản An Nam sơ học sử lược trong luận văn
của tác giả Vũ Văn Ngân
Ngoài ra, cũng trong năm này, chúng tôi có bài Sự hình thành và phát biển của sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán, chữ Nôm,
đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 11-2011 [78] Bài viết này đã buớc
đầu thông qua câc tu liệu thực chứng, phác họa nên quá trình hình thành và phát triển của sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm
Từ những cơ sở nhu đã nêu ở trên, chuyên luận Nghiên cíni các sách dạy lịch sử Việt Ncan viết bằng chữ Hán và chữ Nôm đuợc hình thành và
Trang 19được trình bày qua 3 chương Chương 1 và chương 2 là những nghiên cứu chuyên sâu và mở rộng dựa trên kết quả nghiên cứu đã được công bố ương năm 2011 như đã nói ở trên Ngoài ra, chương 3 nghiên cứu các giá trị của sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Qua đó chúng tôi mong muốn có thể có một nghiên cứu mang tính hệ thống, dù chưa thật đầy đủ về các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.
2 Mục tiêu nghiên cửu
- Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm trong bối cảnh chung của loại hình sách giảng dạy thuộc kho tư liệu Hán Nôm
- Khảo cứu các văn bản sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm hiện còn tại các thư viện ở Hà Nội
- Nghiên cứu giá trị của các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, qua đó nêu ra được tầm quan trọng của việc nghiên cứu các sách này đối với khoa học và giáo dục
Đối tượng nghiên cứu của chuyên luận là văn bản các sách Hán Nôm dùng để dạy lịch sử Việt Nam mà chúng tôi sưu tầm được tại các thư viện ở Hà Nội (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia, Viện Văn học, Viện Sử học) Cụ thể là:
- Sách thường thức sơ học có nội dung dạy về lịch sử Việt Nam
- Sách soạn riêng để dạy lịch sử Việt Nam, có tính chất phổ thông, được sử dụng trong các trường lớp công lập và tư thục
Với tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu như vậy, đề tài không nghiên cứu các bộ chính sử mang tính Hàn lâm, các tập thơ vịnh sử ngự chế, các bộ diễn ca lịch sử v ề điểm này, chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn tại
phần giới thuyết về sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm ở chương 1 của cuốn sách
3 Phạm vi tư liệu nghiên cứu
- 20 cuốn sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, với 186 đơn vị ký hiệu Cụ thể xin xem ở mục rv 2 trong phần Tài liệu tham khảo
- Các văn bản Hán Nôm có liên quan như: Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Việt sử kỷ tocm thư, Khăm định Việt sử
Trang 20thông giám cưong mục, châu bản triều Nguyễn, Lịch triều hiến chương ìoại chí Đại Nam đồng văn nhật báo, Đoàn tuần phủ công độc, v.v
- Các cuốn sách chuyên khảo về lịch sử giáo dục
4 K et cấu của chuyên luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần Phụ lục, kết cấu nội dung chính của chuyên luận gồm 3 chương:
C hương 1: Sự hình thành và phát triển của sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán vả chữ Nôm Trong chương 1, chúng tôi tập trung
trình bày những nội dung chủ yếu là: Giới thuyết về sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm; Sự hình thành và phát triển của sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm
C hương 2: Đặc điểm văn bản các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Chương này tiến hành những khảo sát cụ thể
về hiện trạng từng văn bản sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, đưa ra danh mục thiện bản cho các sách có tình trạng văn bản phức tạp Qua kết quả khảo sát, chúng tôi tiến hành phân tích cụ thể các đặc điểm chung về mặt văn bản của sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm bao gồm các đặc điểm về: loại hình văn bản, niên đại, tác giả, thể loại, văn tự, bậc học, hình thức tổ chức biên soạn
C hương 3: Nghiên cứu giá ừ ị của các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Trong chương này, giá trị của các sách
dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm được khai thác trên các khía cạnh: Sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm : Tài liệu thường thức và chuyên sâu về lịch sử Việt Nam; Sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán, chữ Nôm với văn hóa giáo dục giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; Quan điểm giáo dục lịch sử Việt Nam qua các sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm; Phương pháp biên soạn sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán, chữ Nôm và những biến chuyển của nó từ thế kỷ XEX sang thế kỷ XX; Một số vấn đề về ngôn ngữ, văn tự trong sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Cuối cùng, thông qua việc nghiên cứu sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, chúng tôi nêu ra một số suy nghĩ của mình về việc biên soạn sách giáo khoa lịch sử hiện nay
Trang 211.1.1.1 Khái niệm sách giáo khoa
Bàn về khái niệm SGK nói chung, chúng ta có thể điểm qua định nghĩa trong một số cuốn từ điển
Trong Từ điển Hán Việt, học giả Đào Duy Anh giải thích:
“Giáo khoa thư m m sách dùng để dạy học trò (manuel scolaire)” [192, tr.331]
Theo Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo trong Từ điển giáo dục học “Sách giáo khoa là loại sách cung cấp kiến thức,
được biên soạn với mục đích dạy và học Thuật ngữ sách giáo khoa còn được
Trang 22hiểu là một loại sách chuầi cho một ngành học Sách giáo khoa được phân loại dựa theo đối ừxọng sử dụng hoặc chủ đề của sách.” [194, tr.339]
Từ điển văn hóa giáo dục Việt Nam đị nh nghĩa: “Sách giáo khoa:
tài liệu dành cho người học được soạn theo một chương trình học tập về một bộ môn khoa học Sách giáo khoa đưọ'c cấp có thẩm quyền chuẩn y,
là phương tiện học tập quan trọng, không thể thiếu được đối với người học” [1 9 5 ,^2 3 6 ] ^
Với các tiêu chí “sách dùng để dạy học trò”, “sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục đích dạy và học” thì các cuốn sách được đề cập đến trong chuyên luận này có thể gọi là sách giáo khoa Tuy nhiên,
với tiêu chí “ sách chuẩn cho một ngành học”, “được cấp có thẩm quyền chuẩn y” thì chưa thể gọi những cuốn sách mà chúng tôi đề cập đến trong nghiên cứu này là sách giáo khoa Điều đó là do nền giáo dục Nho học
Việt Nam luôn luôn tồn tại một hệ thống giáo dục không chính quy bên cạnh hệ thống giáo dục chính quy; hơn nữa, các sách giáo khoa trong hệ thống giáo dục chính quy về cơ bản chưa được chuẩn hóa và có tính hệ thống cao
Vấn đề sử dụng khái niệm sách giáo khoa hay không đối với loại hình sách dùng giảng dạy trong hệ thống giáo dục Việt Nam trước năm
1945, thậm chí là trước năm 1954 cho đến nay thực sự vẫn chưa được giới giáo dục học đi đến thống nhất Bản thân tác giả Phạm Thị Kim Anh trong luận án tiến sĩ của mình [4] cũng khá dè dặt khi sử dụng khái niệm sách giáo khoa đối với đối tượng sách này:
Phác qua một vài nét về SGK nói chung, SGK lịch sử nói riêng ở nhà trường Việt Nam trước năm 1954, chúng ta có thể kết luận rằng, tài liêu hoc tâp và
SG K ở nước ta đã có một lịch sử khá lâu Ở m ốt V nghĩa nhắt đinh, nó ra đời
từ rất sớm, trong thời kỳ đầu xây dựng nền độc lập dân tộc Nhưng SGK được biên soạn một cách có hệ ứiống, toàn diện, theo quan điểm của Đảng ta lại ra đời khá muộn trong nhà trường phổ thông Việt Nam Phải hơn 10 năm sau, kể
từ khi nước V iệt Nam dân chủ cộng hòa ra đời chúng ta mới có điều kiện để biên soạn SGK [4, tr.29]
Các tác giả Từ điển vãn hóa giáo dục ừong khi định nghĩa về
những cuốn sách liên quan đến đề tài cũng không đi đến một sự thống nhất, khi thì gọi là “sách dạy”, khi thì gọi là “sách giáo khoa” Tuy nhiên, các tác giả có xu hướng khu biệt những loại sách được biên soạn những
Trang 23năm đầu thế kỷ XX với những loại sách biên soạn trước thế kỷ XX Những sách được biên soạn đầu thế kỷ XX được gọi là “giáo khoa thư” hay “sách giáo khoa” Còn các sách biên soạn trước thế kỷ XX thường được gọi là “sách dạy” Riêng trường hợp Bùi gia huấn hài lại gọi là
“sách giáo khoa” Dưới đây là một số trích dẫn:
loại sách sử học ở Trang Quốc Tác giả soạn ứiành văn vần mỗi câu 4 chữ, gồm hai ngàn câu để dạy những điều cốt yếu về thiên nhiên, lịch sử nước ta, cốt để thuận ứieo tính ứè mà dạ}'” [195, tr.231]
Sách giáo khoa thư: Tên dùng clù các cuốn sách soạn cho học sinh tiểu học những năm 20 của thế kỷ trước, ở các lớp Đồng Âu, Dự bị và Sơ đẳng (tương đương với lớp 1, 2 ngày nay) gồm:
Sử kị’ giáo khoa thư
Cách trí giáo khoa thư
Luân lý giáo khoa thư
Ouốc văn giáo khoa thư
Vệ sinh giáo khoa thư
v.v (và nhiều nữa)
Sách do Nha học chính Đông Dương công bố Nhóm biên soạn gồm các ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận [195, tr.237]
em Đây là cuốn sách vỡ lòng có nét đặc sắc riêng của giáo dục Việt Nam Tựa sách đề năm 1853, có Ngô Thế Vinh nhuận sắc, do nhà Linh Sơn tàng bản [195, tr.239]
việc học Sách gồm 270 câu, nhằm dạy những kiến thức bắt đầu cho người mới học, v.v [195, ữ.245]
chép từ đòi Hùng Vương đến thế kỷ XX, có nói cả tình hình Pháp đã áp dụng chính sách bào hộ như thế nào Sách do Ngô Giáp Đậu soạn năm 1911 có lời tựa của Đoàn Triển, Phạm Văn Thụ và Cao Xuân Dục [195, tr.249]
cuốn giáo khoa cho bậc tiểu học, v ề lịch sử Việt Nam từ đời Hùng Vương đến
Trang 24hết triều Lê, có phụ thêm triều Tây Sơn Sách khắc cùng năm 1906, có bài tựa
của Đào Nguyên Phổ [195, tr.250.]
Với tình hình chưa có sự thống nhất và khó phân định rạch ròi về
khái niệm đổi vói loại hình sách giảng dạy trước năm 1945 như vậy, ở
nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn khái niệm sách dạy hay sách giảng
dạy để tránh một số nhầm lẫn với khái niệm sách giáo khoa hiện nay và
để không bỏ sót những sách có tính chất giáo khoa
1.1.1.2 Khái niệm sách dạy lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán
và chữ Nôm
Sách dạy LSVN viết bằng chữ Hán và chữ Nôm nằm trong hệ
thống sách Hán Nôm dùng giảng dạy trong nền giáo dục Nho học Việt
Nam Do Nhà nước phong kiến hầu như không có quy định chặt chẽ về
nội dung giảng dạy cũng như sách giáo khoa; cho nên, một khái niệm
về “sách giáo khoa” với đúng nghĩa của nó, chưa thể áp dụng trong giai
đoạn giáo dục Nho học Tuy nhiên, có giáo dục thì phải có giáo khoa
Các sách có tính chất giáo khoa trong giai đoạn này là chỉ loại sách
được soạn ra để giảng dạy học sinh và để học sinh sử dụng Điều đó
cho thấy, khái niệm “sách dạy” ở đây, về m ặt chữ nghĩa là sự mô tả ý
nghĩa của hai từ “giáo khoa”
Khi sử dụng khái niệm “sách dạy”, chúng tôi bao quát tất cả các
sách có tinh phố thông được dùng để giảng dạy (về lịch sử) tại các trường
công cũng như ở trường lớp tư thục và tư gia1 Đó là những sách:
- Được biên soạn nhằm mục đích giảng dạy cho học trò về LSVN
- Được biên soạn để dạy học trò các kiến thức cơ bản trong đó có
kiến thức về LSVN
- Được Nhà nước chuyên sử dụng cho việc giảng dạy LSVN trong
trường học
công và trường tư Trường công bao gồm trường cấp huyện (đứng đầu là huấn đạo),
trường cấp phủ (đứng đầu là giáo thụ), trường cấp tỉnh (đứng đầu là đốc học) và cao nhất
là trường Quôc tù giám ở kinh đô do quan Tế tửu, Tư nghiệp đứng ra quàn lý Trường tư
do các thầy đồ đứng ra tổ chức, giảng dạy, dạy tại tơ gia, hay tổ chức trường lóp quy mô,
thường làng nào cũng có.
Trang 25Như vậy, khái niệm sách dạy LSVN viết bằng chữ Hán và chữ Nôm trong nghiên cứu này nhấn mạnh đến tính phổ thông, phổ cập trong phạm vi sử dụng và tính chuyên môn, tính chính thống trong mục đích biên soạn Vì thế, các loại sách bao gồm: sách diễn ca lịch sử, các tập thơ vịnh sử và các bộ chính sử lớn như Khâm định Việt sử thông giám cưcmg mục, Quốc triều sử toát yếu (tiền biên và chính biên), v v .mà triều đình
ban cấp cho giám sinh trường Quốc tủ giám để nghiên cứu và học tập không được chúng tôi đề cập đến
Có thể thấy, trong giai đoạn giáo dục Nho học truyền thống, lịch
sử Việt Nam không phải là chủ đề được quan tâm thích đáng2 Việc biên soạn sách dạy LSVN do đó cũng không có những bước tiến đáng kể Muốn tìm hiểu về lịch sử Việt Nam, học trò và các nhà Nho chủ yếu tham khảo các tập diễn ca lịch sử, các bài thơ vịnh sử, các bản tóm tắt lịch sử lưu truyền trong dân gian; một số ít được tiếp cận tài liệu chính sử Tuy nhiên, các sách diễn ca lịch sử, các tập thơ vịnh sử không phải sách chuyên dùng để dạy học trong các trường lớp tư thục và công lập Chúng
là những tác phẩm văn học có nội dung lịch sử, có giá trị về văn học nhiều hơn là sử học và giáo dục học Còn các bộ chính sử bên cạnh tính hàn lâm, đối tượng sử dụng hẹp3 thì tính chuyên môn trong dạy và học lịch sử không cao Giá trị của chúng thiên về khoa học và chính trị hơn là giáo dục Những bộ chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Khăm định Việt sử thông giám cương mục, Quốc tìiều sử toát yến (tiền biên và chính
biên), không chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn có ý nghĩa chính trị4 Mục đích biên soạn của chúng không giống với những bộ sách có tính chất giáo khoa, chúng chủ yếu được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học tập và nghiên cứu trong phạm vi rất hẹp Do vậy, trong nghiên cứu này,
2 Đ iều này sẽ được chứng tôi trình bày kỹ hơn ở mục 1.1.2.
3 Theo nhận xét của tác giả Ch B Maybon thi chúng là những sách “khó kiếm lắm, chẳng có mấy người An-nam được xem, mà cũng chẳng có mấy người được trông thấy sách ấy” [113, tr.i-iii],
W $ ị ỉ Ẳ m ì W - % ế Ì Ẽ % Ì J - ~ - ' ÍV Ì.Ế - Vì sao m àlàm quốc sử?
V ì sử chủ yểu là để ghi chép sự việc Có chính sự một đời tất phải có sử của một đời ” [43, tr.96]
Trang 26chúng tôi tạm thời không xếp các loại sách trên vào danh mục sách dạy
LSVN viết bằng chữ Hán, chữ Nôm5
Những cuốn sách mà chúng tôi đề cập đến là những cuốn sách được
biên soạn theo tiêu chí giáo khoa (dựa vào tên gọi, lời tựa, kết cấu sách), có
nội dung dạy về LSVN và có tính phổ cập Đó là những sách chuyên dạy
LSVN và những sách thường thức sơ học có nội dung dạy về LSVN
Chúng chủ yếu là sách từ thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, khoảng thời
gian nền giáo dục Việt Nam đứng trước những thách thức lớn và có nhiều
biến đổi về chất
Như vậy, đối với nền giáo dục Nho học thời phong kiến độc lập,
chưa có sự phân cấp rõ ràng thỉ những sách mà chúng tôi bàn đến, cũng chỉ
là những sách dạy lịch sử ở cấp học khai tâm mông học Đối với nền giáo
dục thòi Pháp thuộc từ sau cải cách giáo dục lần thứ nhất 1906, khi đã có sự
phân cấp nhất định, thì đó là những sách dạy từ ấu học đến trung học
1.1.2 Sách dạy lịch sử Việt N am viết bằng chữ Hán, ch ữ N ôm
và bối cảnh chung của hệ thống sách H án N ôm dùng giảng dạy trong
nền giáo dục Việt N am trước năm 1945
Sách dạy LSVN viết bằng chữ Hán, chữ Nôm là một nhân tố nội
tại của nền giáo dục Việt Nam trước năm 1945 nói chung và là một bộ
phận của hệ thống sách Hán Nôm dùng giảng dạy trong nền giáo dục này
nói riêng Bởi vậy, trong khi giới thuyết về sách dạy LSVN viết bằng chữ
Hán và chữ Nôm chúng tôi muốn đặt chúng trong bối cảnh chung của hệ
thống sách Hán Nôm dùng giảng dạy trong nền giáo dục Việt Nam trước
năm 1945 Việc phác họa bối cảnh chung của hệ thống sách Hán Nôm
dùng giảng dạy trong nền giáo dục Việt Nam trước năm 1945 không chỉ
bổ sung cho những biện luận của chúng tôi ở trên về khái niệm sách giáo
khoa hay sách dạy LSVN viết bằng chữ Hán và chữ Nôm mà còn cho
thấy rõ vị trí của môn học lịch sử Việt Nam trong nền giáo dục Việt Nam
trước năm 1945 Kết quả nghiên cứu bối cảnh chung của hệ thống sách
Hán Nôm dùng giảng dạy trong nền giáo dục Việt Nam trước năm 1945
Nam bao gồm các bộ chính sử, các bộ sử te nhân vào danh mục sách học trong nền giáo dục
khoa cử Điều này không phù họp với quan niệm của chúng tôi tại chuyên luận này.
Trang 27cũng tạo tiền đề cho việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của sách
dạy LSVN viết bằng chữ Hán và chữ Nôm ở mục sau
Có thể thấy rằng, giáo dục Việt Nam trước năm 1945 gồm ba thời
kỳ: thời kỳ Bắc thuộc, thời kỳ phong kiến độc lập, thời kỳ Pháp thuộc6
Trong đó, thòi kỳ Bắc thuộc giáo dục Việt Nam chưa hình thành một hệ
thống chính thức Thời kỳ phong kiến độc lập, một hệ thống giáo dục nổi
bật chi phối toàn bộ thời kỳ là hệ thống giáo dục Nho học7 Thời kỳ Pháp
thuộc, giáo dục Việt Nam có một cơ cấu khá phức tạp, một mặt vẫn tồn tại
hệ thống giáo dục Nho học truyền thống, một mặt lại xuất hiện hai hệ
thống mói, đó là hệ thống giáo dục Pháp - Việt do Pháp đứng ra chỉ đạo
và dòng giáo dục yêu nước đầu thế kỷ XX do các sĩ phu yêu nước sáng
lập Do tính chất liên quan của đề tài, ỏ' đây chúng tôi chỉ đề cập đến sách
Hán Nôm dùng giảng dạy ở hai thời kỳ: thòi kỳ phong kiến độc lập và
thời kỳ Pháp thuộc (bao gồm sách giảng dạy trong hệ thống giáo dục Nho
học cải lương và SGK chữ Hán của Đông Kinh nghĩa thục)
1.1.2.1 Sách Hán Nôm dùng giảng dạy trong hệ thong giáo dục Nho học truyền thống thời phong kiến độc lập
Thời độc lập dân tộc được tính từ khi vua Ngô Quyền lên ngôi
năm 938 đến khi triều đình Huế ký hiệp ước Patenôtre năm 1884 chính
thức công nhận quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam Sau thời điểm 1884,
chính quyền đô hộ Pháp mới có những động thái mang tính chiến lược
nhằm cải lương giáo dục Nho học (còn gọi là giáo dục chữ Hán) đánh dấu
bước ngoặt của nền giáo dục này Ngoài ra, chúng tôi muốn nhắc đến
sách Hán Nôm dùng giảng dạy trong hệ thống giáo dục Nho học để có
một sự phân biệt nào đó với kinh sách chữ Hán, chữ Nôm trong các
trường chùa của giáo dục Phật giáo
Có thể thấy rằng, hệ thống giáo dục Nho học truyền thống chủ yếu
mô phỏng giáo dục Nho học ở Trung Quốc Nội dung giảng dạy chủ đạo
của giáo dục Nho học là kinh điển Nho giáo, bên cạnh đó là Bắc sử, thi
thơ, v v Đây là nội dung xuyên suốt cả quá trình hình thành, phát triển
6 Một số nhà nghiên cún còn xếp cả giáo dục dân gian hay còn gọi là giáo dục thời
kỳ dựng nước vào trước thời kỳ giáo dục Bắc thuộc như tác già Lê Văn Giạng (2003).
7 Các trường Nho học được tổ chức từ tư gia (địa phương) cho đến kinh đô
(trung ương).
Trang 28cũng như thoái trào của giáo dục Nho học Riêng thời Hồ, nội dung giáo dục có nhiều cải tiến Chữ Nôm8 và các kiến thức toán học, khoa học kỹ thuật được đưa vào trong nội dung học tập Ngoài những kinh điển của Nho gia, học trò còn phải học thêm các kiến thức về toán học, khoa học
Đối với nguồn tư liệu là các sách lịch sử, đặc biệt là chính sử, do việc chuẩn hóa sách giảng dạy trong các trường lớp là vấn đề chưa được triều đình phong kiến quan tâm nên cuộc tìm kiếm này khó có thể thu nhận được một kết quả mỹ mãn Sau khi khảo sát một số bộ sử lớn như là
Đại Việt sử kỷ toàn thư lÈ n S ik ll (ĐVSKTT), Khâm định Việt sử
Nam hội điển sự lệ Ề k /E ỹ k 1 ÌT 4 % V]\ (HĐSL), v.v chúng tôi hiện
chưa tìm được một văn bản nào quy định rõ về hệ thống sách dạy trước thời Nguyễn Các sách dạy thường được nhắc tới trong những chỉ dụ về việc tiến hành khắc in và ban cấp sách vở cho các trường công như Quốc
tử giám và các trường hàng tỉnh, hàng phủ Đa phần sách được ban cấp cho học sinh là sách kinh điển, sử Trung Quốc và thơ phú như Ngũ kinh đại toàn ỈL ỉ Ể l KỂ ĩ , Tứ thư đại toàn HHírìcáÈ:, Chư sử ĩề Ví, Thi lăm ! # # ,
Tự vị N ĩề , v v Việc ban cấp sách vở này đã được tìm thấy trong những
trang sử thời Lê sơ, Lê trung hưng
Sự kiện năm Quang Thuận thứ 8 (1467);
d rĩh v k ììl” [219, A.3/3, Q.12, tr 34a] (Ban cấp bàn in sách Ngũ kinh của Nhà
nước cho Quốc tử giám, theo lời tâu của B í thư giám học sĩ Vũ Vĩnh Trinh).
Trang 29nếềmmmẮm, rnĩtxm XMM%, X m, m 0 o
[219, A 3/3, Q.13, tr.39a] (Ngày 12, định lệnh sách công ban xuống, H iến ty phải kiểm soát Bấy giờ Lễ bộ thượng thư kiêm Tả xuân phường Tả trung doãn Quách Đình Bảo tâu rằng: Truúc đây, hằng năm sách công lĩnh xuống
đường văn phạm, Văn hiến thông khảo, Văn tuyển, Cirơng mục, cùng các loại
để theo đấy mà dạy bảo học ữò, cấm mua sách của Trung Quốc Lại sai bọn
lâm và Tự vị ban hành trong nước.” [138, Ừ.820])
Trong số các sách dạy này, kinh điển luôn được ưu tiên giảng dạy, bởi nó là nội dung chủ yếu của giáo dục Nho học Khảo sát VSCM, HĐSL chúng ta thấy lần lượt những sự kiện chép từ đời Lê trung hưng đến Nguyễn đều nhấn mạnh việc học tập kinh điển Năm 1732, nhận thấy học thuật suy đồi, việc học kinh điển không được gia công, chúa Trịnh Giang ban sức cho học trò phải học thuộc chính văn của kinh sách, còn các sách tập chú, tiểu chú chỉ chọn lấy những chỗ tinh túy để học
fằ , ■ # ệ ỉ # £ n í Ẽ ] 7 » l í t B A W ! Ẽ g r [ 2 2 3 , A l/8 , quyển 37 ừ 2 3 b ]
(Phủ liêu bàn định rằng: Sách vở thánh hiền là ông tổ văn chuông Gần đây theo lối học thuộc lòng, người đọc kinh thi sưu tầm tiểu chú mà đa phần bỏ sót chính văn, người đọc sử thì chăm chú sách ngoài mà quên mất cưong mục Học thuật so sài lỗ mỗ, cần phải gia công chấn chỉnh để thay đổi thói tật của sĩ phu Bèn sức rõ cho các học ữò, tất thảy đều phải thuộc lòi văn trong kinh sách, còn như những phần tập chú, tiểu chú thi chọn lấy những chỗ tinh túy mà đọc, sách
Tả thị, Thông giám cương mục thì phải thuộc kỹ, khiến cho học ừò biết phưong
hướng [mà theo] Nhưng tập tục đã lâu, cuối cùng không sửa đổi được).
Trang 30Những quy định cụ thể về sách dạy đã đưọ'c chúng tôi tìm thấy vào thời Nguyễn, trong các triều đại Gia Long, Minh Mệnh Theo quy định vào thời Gia Long (năm 1803), ở các lớp khai tâm mới chỉ nói học từ
Hiếu kinh Trung kinh iSếM [139, tr.574-575], nhưng trên thực tế
các sách Sơ học vẩn tân í o í Tam tựỉdnh cũng được đưavào giảng dạy Ở các lớp trình độ cao hơn thì học đến các kinh điển của Nho gia bao gồm Tử thư Ị2Ị u , Ngũ kinh ỈLắlr cùng các tác phẩm bách gia
chư tử và sử [139, tr.574-575]
» [218, A 2772/6, Q.22, ứ,18b] (Phép học nliư sau: ữong xã chọn lấy một người có đức hạnh, văn học, cho miễn dao dịch, sai đem sở học của minh ra dạy bảo con em trong ấp Người từ 8 tuổi ừở lên thi vào tiểu học, rồi học đến sách Hiếu kinh, Trung kinh-, 12 tuổi trờ lên,
học cà sách của Chư tử và sử).
Quy định về các môn học này không chỉ áp dụng đối với các trường hàng xã do dân tự tổ chức mà còn với cả giám sinh trong Quốc tử giám, như trong quy định về việc giảng dạy ở Quốc tử giám thời vua Minh Mệnh:
VHv.1570/42, Q.262, tr.la-lb] (Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), chuẩn y lời nghị: Hảng năm các viên Te tửu, Tư nghiệp làm lễ bái vọng tiên sư, lễ xong
chư tử để làm thềm bậc tiến đức tu nghiệp).
Ngoài ra, để phục vụ cho giáo dục khoa cử, triều đình Nguyễn cũng quan tâm đến việc biên soạn các tập bài văn mẫu Sự kiện năm 1804, đời vua Gia Long được ĐNTL ghi lại như sau:
Trang 31Những tên gọi về sách dạy được nhắc đến trong các quy định thời Nguyễn trên đây thực chất là tên môn học, không phải là tên chính xác của các cuốn sách Chúng cũng được nhắc nhiều trong quy chế thi cử từ thời Lê sơ trở về sau Công việc của chúng ta là phải tìm được những tên sách một cách cụ thể thay vì chỉ tổng kết chung chung.
Với mục đích như vậy, chúng tôi đã tìm được trong các ghi chép của HĐSL cũng như trong các châu bản triều Nguyễn được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia n những tên sách được ban cấp cho Quốc tử giám và các trường cấp tỉnh dưới triều Nguyễn như: Ngũ kinh đại toàn 3 Ĩ
ếS/kriL Tứ thư đại toàn Tứ thư nhân vật bị khảo M1Ê
N ị , Thi vận tập yếu l ệ H ậ t i ? , Ngựphê lịch đại thông giám tập lãm ílpílt
Tiểu học thể chú N g ì lãnh thể chú l ĩ l I i Ễ Ì Ì ,
Tứ thư thể chú H l t t i l ì , Minh Mệnh thánh chế thi tập 0^'npM M IệA
[222, V H v.1570/42, Q 161, tr.8b-9a], Tứ ừường văn thể
Khâm định vạn niên Khâm định tập vận trích yếu
H [222, VHv 1570/16, Q.102, tr.lla -1 4 a ], Quốc triều luật lệ toát yếu H ệMỆÍĨÌịỆ-ỉễ, Quốc triều tiền biên toát yếu Quốc triều chỉnh biên toát yếu H ỆihĩEỈÉIỄll, Bản quốc nhất thống chí lirợc
Đại Nam địa dư chỉ ỳzW iM iầẺl, Bản quốc nhất thống chí lược Đại Nam dư địa chí lược biên plvĩ^Milk-ỀBẫ-ếi10, các
mẫu đề thi/thiếp thi về văn sách, kinh nghĩa, thơ phú, v v
10 Tài liệu châu bàn.
Trang 32mềề* iẺ T S ếiraií
lầ iíâ iS Ẻ k M ìíU ^ i À M ii
mmẴo m ứ m m m m m ^ ầ íR m M ''ầ m m m m ũ m iẫ ỊU^ẰH ”
[222, VHv 1570/42, quyển l ố l , tr.Sb-9a] (Minh Mệnh “Năm thứ 16 (1835),
Dụ rằng: “Trẫm nghĩ, muốn chấn hưng văn giáo, ban ơn học trò, đã ban sắc thu
Ngũ lãnh thể chú, Tứ thư thể chú, đều là cần dùng cho người mới học Vậy ban
sách ẩy cho Quốc tử giám mỗi hạng 50 bộ ( ) do quan Quốc tử giám ban cho tôn sinh, ấm sinh và học trò mới học trong nhà giám để truyền tập cho rộng Còn những thiếp thi về văn sách, kinh nglũa, thơ phú mỗi thứ 200 bộ, đều ỉà chương trinh học thi cừ phải học Vậy cho Bộ Lễ tính liệu cấp phát cho Quốc tử giám và học đường các trực tỉnh để học tập được rộng rãi, cốt để cổ vũ văn phong” [137, tr.505]).
Tuy nhiên, nếu xếp tất cả những sách được ban cấp như liệt kê ở trên vào danh mục SGK / sách dạy thì chúng ta sẽ không biết dựa vào đâu
để phân biệt hai khái niệm giáo khoa và thư tịch nói chung Thực tế này cũng cho thấy, cho đến giữa thế kỷ XIX, việc chuẩn hóa SGK vẫn chưa được thực hiện Tiêu chí xác định SGK / sách dạy có lẽ chỉ có thể dựa vào hai yếu tố sau: nội dung liên quan đến giáo dục khoa cử hay không (kinh điển, chú giải kinh điển, sách chư tử, sách Bắc sử, tuyển tập văn m ẫu, ), tiêu đề có cho thấy đó là sách dùng dạy cho học sinh hay không (sách dạy kiến thức thường thức dạng kinh ba chữ, bốn chữ, năm chữ, sách dạy viết chữ, làm toán, v v )
Để mở rộng nghiên cứu, chúng tôi tìm hiểu thêm tên các sách dạy trong những bộ thư mục qua các thời đại Dựa vào kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi bắt đầu việc khảo sát của mình với thiên Nghệ văn chí trong Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn
[50] Đây có thể nói là bộ thư mục cổ xưa nhất hiện còn11 K ết quả thu được vô cùng khiêm tốn, chỉ vỏn vẹn có ba cuốn sách có thể coi là sách giảng dạy: Tứ thiĩ thuyết ước, Kinh nghĩa chư văn tập, Đại thành toán pháp.
yểu [120, tập 1, tr 3] và Nguyễn Tô Lan [87].
Trang 33Sau Nghệ văn chí, chúng ta có Văn tịch chí trong Lịch triều hiển chương loại chí, trong đó cũng có liệt kê một số sách kinh điển Nho học
như: Chu Dịch quốc ăm giai nghĩa, Sách học đề cương chủ, Tính /ý toàn vểu, Thư lánh diễn nghĩa, v v
Dưới triều Nguyễn, khoa học biên mục có nhiều tiến bộ rõ nét, chúng ta có hàng loạt những bộ thư mục quốc gia như: Tàng thư lâu bạ tịch 7 Í S I ĩ l Ì ^ | f A.968, Sử quán thư mục JÈỀít I I A 112 và Đại Nam Quốc sử quản tàng thư mục ; ^ Ễ S lè Ề f Ì S I I r |Ẽ ị SA.HM.2185, Sử quán thủ sách JÍL t t \p # A 1025, Nội các thư mục in l r ỊẼỊ
A l 13/1-2 , Nội các thủ sách A.2644, Tụ Khuê thư viện tổng mục sách lílllE lí l^ỉl® n # A 119/1 - 3 và Tụ Khuê thư viện tổng miic sách - Ouổc thư bản S tlễ llr l^ M Ẽỉ A l l l , Tân thư viện thủ sách f j f A 1 0 2 4 , c ổ học viện thư tịch thủ sách
vPiR} A 2601/1 - 10 Trong đó, có thể thấy c ổ học viện thư tịch thủ sách là bộ thư mục được “biên soạn đầy đủ và khoa học nhất” 12 Khảo
sát những cuốn thư mục này, chúng tôi tìm được chủ yếu là các sách diễn giảng lãnh sách, chuyên luận về Tứ thư, Ngũ kinh, lẻ tẻ cũng có một số sách biên soạn theo vài bộ môn cơ bản, sách thường thức và một
ít sách làm văn mẫu phục vụ cho học trò đi thi Ví dụ như: Dịch kinh diễn nghĩa Ì a M ì lí ít , L ễ kinh diễn nghĩa Í Ễ ẳ l ì l l i l , Luận ngữ tinh hoa I t l p l i r i h Ngũ kinh tiết yếu /EÉỄtpỉc, Ngũ kinh tứ thư đại toàn toàn yếu ỉ ế ề E w ± ± M W : , Xuân thu diễn nghĩa Minh tâm bào giám thích nghĩa PJ] 'ủi1 ‘Ệl i ẵ f Ị ệ | , Nhật dụng thường đàm 0 Khăm định tự loại ỀX/E^ậầ, Toát vận huấn hài M M M ỉầ , Kinh
Công việc của chúng ta là phải tiến hành thống kê cụ thể số sách Hán Nôm dùng giảng dạy được biên chép trong tư liệu chính thống gồm bao nhiêu, là những sách nào Thực hiện mục đích đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn khảo sát những văn bản tiêu biểu thuộc ba nhóm: sách sử, sách thư mục, và tài liệu lưu trữ quốc gia bao gồm các văn bản sau:
1 Đại Việt thông sử (bản dịch)
qua các bộ thư mục quốc gia của triều Nguyên [87].
Trang 342 Lịch ừiều hiến chưong loại chỉ (bản dịch)13
3 Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (chữ Hán,
VHv 1570/1-42)
4 Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục hiên (bản dịch)14
5 Đại Nam thực lục (chữ Hán, A.2772/1-40)
6 Châu bản triều Nguyễn (chữ Hán)
7 Cổ học viện thư mục thủ sách A.2601/9-10 (chữ Hán, mục
Quốc thư sách)
Qua khảo sát các văn bản trên, chúng tôi đã thống kê được tổng cộng 87 sách có thể coi là sách dùng giảng dạy/SGK, cụ thể xin xem bảng Phụ lục 01 Trong số 87 sách này có 9 sách thuộc giai đoạn giáo dục Nho học cải lương ở sau, nhưng do số lượng ít và những mục sách này trùng với thống kê ở mục sách Hán Nôm dùng giảng dạy trong giáo dục Nho học cải lương nên chúng tôi tạm thời không tách khỏi bảng Như vậy, số sách thuộc giai đoạn giáo dục Nho học phong kiến thời độc lập là 78 sách Tổng số sách tạm thời được chúng tôi phân thành 4 loại nhỏ: sách kinh điển (có nội dung liên quan đến kinh điển Nho giáo), sách thường thức (sách dạy các kiến thức bổ trợ xung quanh nội dung giáo dục chính của Nho giáo như dạy về tự nhiên, xã hội, bách gia chư tử,
v v ), sách tập làm văn (tức sách tuyển tập các thể loại văn mẫu dùng trong khoa cử bao gồm các bài văn sách, các bài văn kinh nghĩa, các bài chế, chiếu, biểu, thi, phú, v.v ), sách bộ môn (sách chuyên dạy về các
bộ môn chuyên biệt ngoài kinh điển như sử học, địa chí, văn tự, luật lệ,
v v ) Qua số liệu thống kê và phân loại tại Phụ lục 01, chúng tôi nhận thấy, do nguồn tư liệu thống kê là sách chính thống của Nhà nước, ở bậc học cao, cho nên số sách thuộc loại kinh điển chiếm đa số (47/78, chiếm 60,26% tổng số sách được thống kê), sau đó là các sách thuộc một số bộ môn cơ bản như sách sử, sách tự thư (14/78, chiếm 17,95% tổng số sách được thống kê), sách tập làm văn (các thể loại văn mẫu dùng trong thi cử,
tạp, nên ờ đây chúng tôi cỉù khảo sát trên bản dịch của Tổ phiên dịch Viện Sử học, tái ban năm 2007.
14 Do chưa có điều kiện khảo sát văn bản Hán N ôm của sách này, nên chúng tôi tạm thời thừa hưởng kết quả dịch thuật của người đi trước.
Trang 35có 12/78 sách, chiếm 15,38%), những sách thường thức sơ học ít được sưu tầm và nhắc tới trong các văn bản này (có chỉ có 5/78 sách chiếm 6,41%,) Một điều đáng chú ý là sách dạy về lịch sử Việt Nam xuất hiện trong bảng này hầu hết là sách của giai đoạn sau (giai đoạn giáo dục Nho học cải lương) Ngoài ra, trong nhóm các sách kinh điển, bên cạnh những sách sao tập lại của người Trung Quốc đã có một số sách do người Việt Nam biên soạn như: Chu Dịch quốc âm giải nghĩa ÌrỊ II/ [1]tì/
Ề ặ H (Đặng Thái Phương15), Chu huấn toàn yếu jỊ|D H H lc (Phạm
Nguyễn Du), L ễ kinh diễn nghĩa ÍS IS M I Í (Lê Quý Đôn), Ngũ kinh tiết yếu T ĩ ắ l t p l l (Bùi Huy Bích), Nghĩa ba dịch huấn I t l È iởtlll (Ngô Cao
Lãng), v v Đặc biệt các sách bộ môn phần lớn là sách do người Việt tự biên soạn (xem Phụ lục 01)
Tuy nhiên, bảng Phụ lục 01 cũng chỉ là một bảng thống kê sơ lược về sách dạy được công bố trong những văn bản có tính chất chính thống Những ghi chép về sách dạy trong các văn bản này lại được công bố lẻ tẻ, không có tính hệ thống, không theo chuyên mục Trên thực tế, chúng tôi chưa tìm được văn bản nào quy định rõ ràng về bộ sách dạy trong nhà trường Nho học, ngoại trừ những dòng quy định về các môn học từ “tiểu học” lên các bậc học cao vào thời vua Gia Long như đã nhắc đến ở trên Đó cũng là lý do chúng tôi còn e ngại khi sử dụng khái niệm SGK ở đây Với tính chất m ột nền giáo dục chưa được thể chế hóa, Nhà nước và nhân dân cùng chung tay tổ chức trường lớp, biên soạn sách dạy thì ắt hẳn trong dân gian còn lưu truyền rất nhiều sách dạy Việc khảo sát những sách dạy này một cách quy mô và đầy
đủ không phải là một công việc đơn giản Vì vậy, chúng tôi tạm thời kế thừa những thành quả sưu tập của Viện Viễn Đông bác cổ Pháp, cũng như của nhiều thế hệ Hán Nôm học được thể hiện trong cuốn Di sản Hán Nôm Việt Nam - thư mục đề yếu (gọi tắt là Thư mục đề yếu) [120]
Qua khảo sát bộ thư mục này, chúng tôi đã đưa ra một bảng thống kê các sách giảng dạy viết bằng chữ Hán chữ Nôm hiện tồn trong kho sách Hán Nôm của VNCHN (Phụ lục 02) Có lẽ, sách giảng dạy được liệt kê
đọc truyền thống.
Trang 36trong Phụ lục 02 này là k ế t quả tổng hợp CO' bản tuy chưa đầy đủ16 về các sách giảng dạy được Nhà nước công bố cũng như những cuốn sách lưu hành trong dân gian.
Qua bảng thống kê tại Phụ lục 02, chúng tôi nhận thấy, có đến một nửa số sách chưa xác định được niên đại (108/211 sách), đặc điểm này cũng là đặc điểm chung của kho sách Hán Nôm Trong số các sách xác định được niên đại có đến 90,29% sách được soạn, in và sao chép vào thời Nguyễn (93/103 sách có niên đại), và chỉ có 9,71% sách được soạn,
in và sao chép cuối thời Lê trung hưng (10 cuốn/103 sách có niên đại) Điều đó là do hạn chế về lưu trữ' bảo tồn sách vở cổ từ những đòi trước Hơn nữa, triều Nguyễn trong công cuộc phục hưng nền giáo dục Nho học cũng rất quan tâm đến việc sưu tầm sách vở17
v ề môn loại, có đến 159/211 sách được thống kê (chiếm 75,36%)
là những.sách làm văn mẫu, phục vụ cho việc rèn luyện văn chương khoa
cử theo các thể văn mà khoa trường yêu cầu Trong khi đó, sách kinh điển
và chú giải kinh điển chỉ gồm 20 sách (chiếm 9,48% tổng số sách) Sự chênh lệch về con số giữa hai loại sách này cho chúng ta thấy rõ thực trạng học thuật suy thoái, thực dụng lên ngôi vào khoảng thời gian từ thế
kỷ XVHI đến hết thế kỷ XIX Bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng, sự xuất hiện ngày càng nhiều sách tập làm văn mẫu là hệ quả tất yếu của nền giáo dục khoa cử Những sách tập làm văn không chỉ được soạn tập Vong dân gian mà triều đình cũng đứng ra tổ chức biên soạn [139, tr.571]
Sách dạy về các bộ môn cơ bản xuất hiện nhiều vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, khi giáo dục nước ta chịu ảnh hưởng tú' các cuộc cải
16 Do điều kiện thu thập đầu thế kỷ X X, chúng ta có thể khẳng định, di sản Hán Nôm còn thất thoát nhiều.
17 Tù năm Minh M ệnh 8 (1827) đến năm Tự Đức thứ 2 (1849), triều đinh đã ra
6 chỉ và đạo dụ về vấn để lim mua sách vở Năm Minh M ệnh 20 (1839) vua xuống dụ:
“Nước Đại Nam vốn là được gọi là văn hiến, danh thần chắc cũng có nhiều sách trước thuật Nhưng v ì từ trước đến nay không biên tập lại, đến nỗi mất mát, nay ra lệnh truyền
dụ thượng quan trên các địa phương dò hỏi rộng khắp: phàm quan lại sĩ thứ, nếu có nhà nào tàng trữ các bản trước tác như thơ ca, truyện, ký tùy, phú, không cử là lâu đời hay gần đây, hiện được bao nhiêu đề mục, pho, quyển mà tinh nguyện dâng lên, tất gia ân khen ữtuởng N ếu không muốn đem nộp quan thì chuẩn cho quan địa phương mượn nguyên bản sao chép ra ” [130, ứ 183]
Trang 37cách ỏ' các nước đồng văn cũng như ảnh hưởng của chính sách giáo dục
do chính quyền đô hộ đặt ra Vì vậy, số sách dạy theo bộ môn như sử, địa, toán, lý, v.v còn rất khiêm tốn, chỉ có 13/211 sách (chiếm 6.16% tổng
số sách)
Như vậy, qua những nhận xét về tỷ lệ tòng loại sách ở hai bảng Phụ lục 01 và Phụ lục 02, chúng ta có thể thấy kết quả khảo sát là không tương ứng Điều này được thể hiện rõ qua bảng 1.1 dưới đây:
Bảng 1.1 Số liệu so sánh các loại sách Hán Nôm dùng giảng dạy
trong giáo dục Nho học thòi phong kiến
(75,36%) Điều này cho thấy sự trái ngược giữa tình hình sách được triều đình ban cấp ở các trường công và sách lưu hành rộng rãi trong dân gian Sách được triều đình ban cấp thể hiện rõ xu hưởng Hàn lâm, trọng kinh học (dành nghiên cứu kinh điển), còn sách được lưu hành rộng rãi trong dân gian lại thể hiện rõ xu hướng thực dụng, trọng khoa cử (chuyên phục
vụ thi cử) Ngoài ra, trên thực tế, sách được triều đình ban cấp, đặc biệt là sách kinh điển, bên cạnh những cuốn do người Việt tự biên soạn, phần nhiều là sách nhập từ Trung Quốc Những sách này cũng không có nhiều điều kiện được phổ biến trong dân gian Trong dân gian, thường là lưu
Trang 38hành các cuốn sách do người Việt biên tập, soạn lại, mà không phải cuốn nào trong những cuốn này cũng được dâng tấu lên triều đình, những tuyển tập văn mẫu đi thi trường tư nào cũng có, thầy đồ nào cũng có, lại khó có thể được triều đình biết đến Có lẽ cũng do như vậy nên số quyển trùng nhau trong từng loại sách ở hai bảng Phụ lục 01 và Phụ lục 02 không nhiều (trong số 67 sách kinh điển, chỉ có 2 sách trùng nhau).
Tựu trung lại, chúng ta có thể phác họa sơ bộ về các sách Hán Nôm dùng giảng dạy trong hệ thống giáo dục Nho học thời phong kiến bao gồm các loại như sau:
Loại sách kinh điển như: Chu Dịch quốc âm ca jH J§ [I!ilfíặ; (Đặng
Thái Bàng), Luận ngữ ngu án IỀ InM ÍỈ: (Phạm Lập Trai), Thư kinh tiết yếu IrếMtỉĩ Jc (Bùi Huy Bích), v v Loại sách thường thức như: Bùi gia huấn hài m m m ỉ ằ (Bùi Dương Lịch), Dieơỉĩg tiết diễn nghĩa Pễtííìraệi, Khải đồng thuyết ước (Phạm Vọng), v.v Loại sách bộ mônnhư Cổ ngu chinh ngộ tứngôn thi 1Ẻ7 M ]LIM ỊZ9 's M , TựĐức thánh chế tự
chỉ minh E® (Phạm Gia Kỷ), V V Loại sách tập làm văn (vănmẫu thi cử) như: Đại Nam lịch khoa hội phú tuyển ì ặ M Ĩ4 'Ế? M Ti (Lý
Trần Quán), Kinh nghĩa chư văn tập (Nguyễn Trực), Nam
sử sách lược ỊỆĨlÈSílBía (Đỗ Huy Đê), v v
Trên đây là một số trình bày cũng như nhận xét sơ bộ về sách Hán Nôm dùng giảng dạy trong giáo dục Nho học thời phong kiến độc lập Qua đó, chúng ta có một cái nhìn tương đối khái quát về tình hình SGK nói chung ở thời kỳ này Đồng thời, những kết quả bước đầu này cũng là
cơ sở để chúng ta so sánh và đánh giá những biến đổi ở giai đoạn sau, qua
đó hiểu rõ hơn thực trạng của sách dạy LSVN viết bằng chữ Hán chữ Nôm (giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX)
1.1.2.2 Sách Hán Nôm dùng giảng dạy trong giáo dục Nho học cải lương thời Pháp thuộc
Giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc (từ sau năm 1884) có một diễn biến khá phức tạp mà ở mỗi thời kỳ lại có những thay đổi mang tính
hệ thống Tựu trung, có thể nói giai đoạn này, giáo dục Việt Nam bao chứa trong nó hai hệ thống: giáo dục Pháp - Việt và giáo dục Nho học cải lương Trong đó, hệ thống giáo dục Pháp - Việt là xương sống, qua nhiều giai đoạn phát triển và hoàn thiện Tuy nhiên, do tính chất liên quan, ở
Trang 39đây, chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề sách Hán Nôm dùng giảng dạy trong
hệ thống giáo dục Nho học cải lương, hay còn gọi là các trường chữ Hán
Có thể nói, sự ra đòi của hệ thống giáo dục Nho học cải lương gắn liền vói sự kiện cải cách giáo dục lần thứ nhất năm 1906 Mặc dù những động thái chuẩn bị nhân lực, vật lực cho cải lương giáo dục Nho học đã được thực hiện từ những năm cuối của thế kỷ XIX với việc phát động phong trào biên soạn lại SGK chữ Hán (năm 1898), thành lập Viện Viễn Đông bác cổ tại Đông Dương (1898) sau đổi tên là Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp18, hay ban hành nghị định về thể thức thi chữ Quốc ngữ và chữ Pháp trong các
kỳ thi Hương (của Paul Doumer vào tháng 6 năm 1898), v v ,.19 Nhưng phải đến năm 1906, văn bản chính thức về việc cải cách giáo dục mới được ban hành Dựa theo bản tấu chương ngày mồng 6 tháng 7 năm Thành Thái
18 (1906) của Viện Cơ mật đã được châu phê về việc ban hành học quy, quy thức thi cử mới và biên soạn sách vở, hiện đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia n , tờ 8, tập 95 mà chúng tôi sẽ đính kèm ở phần Phụ lục 03 chuyên luận này, chương trình cải cách giáo dục đã được phê chuẩn chia nền giáo dục cũ ra làm ba bậc học: ấu học, tiểu học và trung học
sự cai quản của quan toàn quyền đồng thời vẫn do Hàn lâm viện Pháp giám sát Điều 2, viện này làm các việc dưới đây: thứ nhất là tim tòi các đền miếu nhà ở cổ xưa, các nghề thủ công làm mộc, các âm tự cổ ở Đông Dương nhằm giúp người ta biết được những sự tích cổ ở Đông Dương và quy cách nhà cửa cùng phương ngôn các vùng, thứ hai là giúp cho người ta thông hiểu học vấn các nước láng giềng ở Đ ông Dương như Ãn Độ, Trung
Trang 40Bậc ấu học: Trường công do các xã thôn tự tồ chức, đồng thời các tinh lỵ cũng thiết lập trường ấu học v ề giáo quy, trường ấu học các xã thôn phải đàm bảo sao cho ừẻ
em nam và nữ từ 6 đến 12 tuổi đều đuực đến trường Cứ 60 đinh thi lập một trường Những xã nhỏ dân ít thì mấy xã lập một trường Thầy giáo do kỳ dịch chức sắc trong xã tự tuyển chọn, đưa lên quan hên duyệt rồi mới được giảng dạy Giáo quy Hán tụ’ thi dạy những chữ Hán thông dụng và các câu danh ngôn yếu lĩnh cổ xua nhu các danh tự luân thường, quốc sử, địa đồ và chính trị An Nam, v v Giáo quy Nam âm thi biên soạn một cuốn sách Quốc ngũ’ dùng để học đọc, gồm những từ thiết yếu về chính trị, phong tục, luân lý, thiên văn Các sách vở đều được hội đồng nghị viện phê duyệt Tốt nghiệp được cấp bằng Tuyển sinh.
Bậc tiếu học: Trường công do Nhà nước đứng ra tổ chức ở các phủ huyện (tức trường của giáo thụ, huấn đạo) thu nhận những người duới 27 tuổi Việc dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngũ' do thầy giáo ở trường Pháp Việt đảm nhiệm Giáo pháp gồm giáo quy Hán tự và giáo quy Nam âm Giáo quy Hán tự dạy luân thường, văn chương, Bắc sử, Nam sử Văn chương, luân thường chủ yếu lấy ỏ'
Tứ thư Hội đồng nghị viện cho phép thầy giáo tự chọn sách để dạy Ngoài ra
với giáo quy này, hội đồng sẽ phê duyệt một quyển sách chữ Hán, một quyển Nam sử, một quyển Bắc sử Giáo quy Nam âm thì trước hết dùng Nam âm dạy
quốc sử ký và Ngũ phương địa dư, Cách tri căn bản, Nam âm căn bản Học
Nam âm thì cốt là ở tập viết, hành văn Thêm đó học dịch Nam âm ra chữ Hán, chữ Hán ra Nam âm Tốt nghiệp lẩy bằng Khóa sinh.
Bậc trung học: Trường trung học thiết lập ở các tỉnh lị (tức trường của quan
Đ ốc học) Giáo quy Hán tự thì do quan Đốc học ở trường đó dạy còn giáo quy Nam tự và Pháp tự thi do thầy giáo ở các trường Pháp V iệt sở tại giảng dạy Giáo pháp ở trường trung học có ba loại, một là giáo quy chữ Hán, hai
là giáo quy Nam âm, ba là giáo quy Pháp ngữ Giáo quy chữ Hán thì dạy về luân thường, văn chương, N am sử và chính trị A n Nam V iệc dạy luân thường, văn chương chủ yếu là dựa vào N gũ kinh và các sách Trung Quốc nổi tiếng, việc dạy N am sử và chính trị A n Nam thì căn cứ ứieo chính văn của sử nước Nam, các triều đại, danh thần, cùng vớ i những điều cốt yếu về luật lệ lục bộ (tức Lục bộ hiến chương) N ộ i dung đều do H ội đồng nghị viện duyệt y Giáo pháp Nam âm thi đọc thuộc sử kí, địa dư các nước và cách trí V iệc dạy sử kí các nước chú ừ ọng ở việc ngoại giao của các nước, việc sáng lập quốc gia các đời V iệc dạy địa dư thì chú trọng ở sàn vật mậu dịch V iệc dạy cách trí thì chú trọng vào toán pháp, bác vật), động thực vật.