1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điển cố với các đặc trưng ngôn ngữ và nội hàm văn hóa của chúng

223 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 19,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điển cố với các đặc trưng ngôn ngữ và nội hàm văn hóa của chúng Điển cố với các đặc trưng ngôn ngữ và nội hàm văn hóa của chúng Điển cố với các đặc trưng ngôn ngữ và nội hàm văn hóa của chúngĐiển cố với các đặc trưng ngôn ngữ và nội hàm văn hóa của chúng Điển cố với các đặc trưng ngôn ngữ và nội hàm văn hóa của chúng

Trang 1

Nguyễn Văn Chiên

N Ộ I HÀM VĂN HÓA CỦA CHỨNG

(Trên cứ liệu điển cô Nga, Anh , Việt)

C h u yên n g à n h : Lí luận ngôn ngữ

s ô: ỹ.04 0 8

LU Ậ N Á N

T IẾ N S Ĩ N G Ữ V Ă N

Người hướng dẫn khoa học:

GS TS NGUYỄN THIÊN GIÁP

Hà Nội - 2002

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.

Tác giả Luận án

Nguyên Văn Chiến

Trang 3

MỌC ụjc

Trang

TRANG PHỤ B ÌA 1

LỜI CAM Đ O AN 2

MỤC L Ụ C 3

MỚ Đ Ầ U 5

0,1 Giới thiệu luận á n 5

0.2 Khái quát về hiện trạng nghiên cứu đề tài 5

0.3 Mục đích của Luận án 10

0.4 ý nghĩa của đề tài 11

0.5 Phạm vi của Luận án 11

0.6 Phương pháp của Luận án 11

0.7 Đ óng góp cùa Luận án 12

0.8 Cấu trúc của Luận án 12

Chương I XÁC ĐỊNH KHÁI NIỆM ĐIÊN c ố 13

1.1 Đinh nghĩa điển c ố 13

1.2 Mối tương quan giữa điển cồ và thành ngữ 28

1.3 Mối tương quan giữa điển cố và tục ngữ 35

1.4 Mối tương quan giữa điển cố với cách ngón và danh naôn 37

1.5 Điển cố trong tiếng Anh 38

1.6 Điển cố trong tiếng Nga 51

1.7 Bảng tổng kết thành ngữ, tục ngữ, điển cô' tiếng Việt về ngữ nghĩa và ngữ pháp 58

1.8 Bảng tổng kết thành ngữ, tục ngữ, điển cố tiếng Nga, tiếng Anh về ngữ nghĩa và ngữ p h á p 63

Tiểu kết 66

Chương II ĐẶC TRUNG NGÔN NGỮCỦA ĐlỂN c ố 69

2.1 Cấu trúc cú pháp của điển cố 70

2.1.1 Điển cố có thành phần từ đơn 70

2.1.2 Điển cố có thành phần từ ghép 78

2.1.3 Điển cố có thành phần từ đơn và từ phức trong tiếng Anh và tiếng Nga 81

2.1.4 Điển cố có thành phần cụm t ừ 87

2.1.5 Điển cố có thành phần câu 110

2.1.5.1 Nhận xét khái quát về câu tiếng Việt 110

2.1.5.2 Điển cô' tiếng Việt có thành phần câu 113

2.1.5.3 Điển cố tiếng Anh, tiếng Nga có thành phần câu 115

Trang 4

Tiểu k ết 138

Chương m NỘI DUNG VÃN HOÁ CỦA ĐlỂN c ố 141

3.1 Khái quát về nội dung văn hoá 141

3.2 Nguồn gốc của điển c ố 142

3.2.1 Nguồn gốc điển cố tiếng Việt xét về mặt ngữ nghĩa: 142

3.2.2 Nguồn gốc điển cố tiếng Anh, tiếng Nga xét về mặt ngữ nghĩa: 146

3.3 Điển cố nguyên gốc 154

3.3.1 Xác định điển cố nguyên gốc 154

3.3.2 Nguồn sinh thành và một số đặc điểm của các điển cố nguyên gốc: 155 3.3.3 Việc khảo sát điển cố nguyên gốc 164

3.4.Xác định khái niệm văn hoá 164

3.5 Điển cố với tư cách một đối tượng khảo sát cúa ngôn ngữ văn hoá học 168 3.6 Ngữ nghĩa của cấu trúc văn hoá khúc xạ qua điển cố 170

3.7 Vai trò của ngôn ngữ và ngổn ngữ điển cố trong văn hoá 183

3.8 Điển cố và ý nghĩa hàm ẩn văn hoá của chúng 188

Tiểu k ết 193

KẾT LUẬN 197

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 203

TÀI LIỆU THAM K H Ả O 205

1 Tiếng Việt 205

2 Tiếng A n h 214

3 Tiếng N g a 217

Trang 5

MỞ Đ ẩ (l

0.1 GIỚI THIỆU LUẬN ÁN

0.1.1 Điển cố được sử dụng không chỉ trong các văn ban Hán văn cổ với tư cách một biện pháp tu từ bên cạnh vần điệu, đối ngẫu mà cả trong các ngôn bản hiện đại Ngày nay điển cố không còn là tài sản riêng của vãn học mà đã được dẫn ra trong các tài liệu chính trị - xã hội, triết học, kinh tế, v.v Ngôn ngữ hàng ngày cũng không xa lạ với điển cố, chẳng hạn “Nỗi oan Thị Kính” , “chúa Chổm”, “Mạnh Thường Quân”,

“Maecenas”, “Harpagon” , “Sợi chì Ariadne”, v.v

0.1,2.Trong khi thành ngữ, tục ngữ, cách ngôn được khảo sát nhiều ở mọi phương diện cấu trúc, ngữ nghĩa, phong cách thì điển cố chi được bàn sơ sài, ngắn gọn trong các chuyên khảo hay sách giáo khoa về từ vựng học Nhu cầu dạy và học ngôn ngữ hiện nay đòi hỏi phải nghiên cứu các đơn vị điển cố ờ các bình diện ngữ nghĩa, cấu trúc nhằm phát hiện những đặc trưng ngôn ngữ cũng như nội dung văn hóa của chúng

0,1.3 Đề tài “Điển cố với các đặc trưng ngôn ngữ nội hàm văn hóa của chúng” (trên cứ liệu điển cố Nga, Anh, Việt) được tiến hành nhằm thực hiện nghiên cứu bước

đầu về điển cố.

0.2 KHÁI QUÁT VẾ HIỆN TRẠNG NGHIÊN cứu ĐÊ TÀI.

0.2.1 Do điển cố có một số đặc điểm chung với thành ngữ về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa nên khi khảo sát thành ngữ, nhiều nhà nghiên cứu đã coi điển cố là một trong những kiểu thành ngữ Tuy nhiên, một sô thành tựu nhất định đã đạt được trons phân tích và tổng hợp những đặc điểm của điển cố cả ở Việt Nam lẫn ớ Nga và Anh Mĩ điều đó đã góp phần nhận diện các đặc trưng riêng biệt cùa điển cố

0.2.2 Do tính hàm súc, cô đọng ở mức độ rất cao, khả nãng kích thích liên tương

mạnh nên điển cố không chỉ được các nhà vãn, nhà thơ, nhà chính luận mà cả các chính khách, nhà hoạt động xã hội, thậm chí nhà kinh tế sư dụng trong các tác phẩm cúa mình

0.2.3 Nếu chiết tự thuật ngữ điển cố (sự kiện trong sách kinh điển được ngươi đời

dùng bám theo và câu chuyện, sự việc đời xưa) so với thuật ngữ N ga “ Kp&LiáTbie

Trang 6

người ta sử dụng rộng rãi; dịch đúng theo cách nói của Homer: Lời nói có cánh), thuật ngữ Anh “Allusions” (lời bóng gió ám chỉ); hoặc định nghĩa khoa học cho thuật ngữ này là hàm chỉ gián tiếp bằng từ hay ngữ tới sự kiện lịch sử, vãn học, thần thoại, Kinh Thánh, hay tới sự kiện trong đời sống con người khi nói hay viết [140, 187], thì thấy có

sự khác biệt trong nhìn nhận điển cố: tiếng Việt nhấn mạnh tới sự cổ kính của cổ nhân trong sáng tạo nên các tác phẩm hay trong đời sống vốn được rút trích ra làm thành điển cố Tiếng Anh và tiếng Nga không xét tới việc đó mà chỉ nói tới tính hàm chỉ của những đơn vị điển cố vốn có nguồn gốc từ văn chưcmg, lịch sử hoặc từ các cấu trúc văn hóa khác

0.2.4 ở phương Tây, nhà ngôn ngữ học người Đức George Biichmann đã biên soạn và cho ấn hành cuốn Từ điển điển cố đầu tiên vào năm 1864 với tiêu đề

“Geílugelte Worte” (Thuật ngữ tiếng Đức này là sao phỏng cụm từ tiếng c ổ Hi Lạp

“epea pteroenta” có nghĩa là những lời có cánh) Công trình này đã được tái bản hàng chục lần và mở đầu một truvền thống nghiên cứu mới trong từ điến học ở nhiêu nước.0.2.5 Nãm 1894, nhà văn, nhà nhân chủng học Nga MaKCHMOB c B xuất ban

cuốn “KpbLiaTbie c.iOBa” trong đó sưu tập những cụm từ ổn định được cô định hóa có

Bên cạnh đó, cần phải kể đến một số cuốn sách khác có giá trị lớn về nghiên círu điển cố:

“Kp&uiáĩtie c/ioBa, HX npHCX0)KzieHHe H 3HaneHHe” (Đ iển cố, nguồn gôc và V

nghĩa của chung) của LUHUiKHHa H n và O hhkchblutshh in năm 1972

Trang 7

T và EopoBCKHỈí JI M in năm 1982.

“ C n O B a p t HHOfl3bIHHbIX Bbipa>KeHHH H CJĨOB, ynOTpe6jlflK)m HXC5ỉ B pyCCKOM

H3L>iKe Ốe3 nepeBO/ia” (Từ điển các thành ngữ và từ tiếng nước ngồi được sử dụng nguyên gốc trong tiếng Nga) của EaÕHHeB A M và IUeHaenoB B B in năm 1966

Cĩ hai cuốn từ điển đã phát huy được truyền thống nghiên cứu và sử dụng được kết quả khảo sát từ nhiều nguồn và thu thập được nhiều đơn vị điển cố thơng dụng và đầy đủ, đổng thời mỗi cuốn đều cĩ một bài dẫn nhập viết rất khoa học và cơng phu về điển cố về nhiều phương diện Đĩ là “Russian - English Dictionary of Winged Words” của Walshe I A và Berkov K p in năm 1984 và “Russisch - Deutsches Wõrterbueh der Gefliigelte Worte” (Từ điển điển cố Nga - Đức) của Afonkin Iu.N

0.2.6 Các tác giả Nga đã dành nhiều tâm sức nghiên cứu các đơn vị điển cố Họ đều thừa nhận đây là một trong những phương tiện tạo ra ngơn ngữ văn học cĩ hình ảnh và mang tính biểu cảm cao Người Đức và người Nga đều dùng cách diễn đạt của Homer trong “Odyssey” và “Iliad” “Lời cĩ cánh” để truyền diễn khái niệm điển cố Trong hai tác phẩm này thường cĩ những câu như “Chàng cất tiếng nĩi lời cĩ cánh sau đây”, “Họ khẽ khàng trao đổi với nhau những lời cĩ cánh ” Homer và các nhà thơ c ổ

Hi Lạp thường tin rằng lời nĩi dường như bay từ miệng người này tới tai người khác.Nhiều nhà nghiên cứu ở Nga và ở các nước khác ở châu Âu cũng đồng ý VỚI định nghĩa của ArnyKHH H c và AuuyKHHa M r về điển cố: “Những trích đoạn ngắn gọn, những ngữ mang hình ảnh, những câu nĩi súc tích của các nhân vật lịch sử, tên tuổi các nhân vật huyền thoại và văn chương vốn đã trở thành danh từ chung, những đặc trưne

cơ đọng mang tính hình tượng của các nhân vật lịch sử (như “Cha đẻ ngành hàng khơng Nga” , “Vầng thái dương của thi ca Nga” vốn cĩ nguồn gốc văn học và được sử dụng trong ngơn ngữ” [183, 3]

Tuy nhiên, khái niệm “KpbUĩaTbie cj70Ba” đơi khi được hiểu ở nghĩa khá rộng

Chẳng hạn cĩ nhiều người coi thuật ngữ này ứng với ngan ngữ hav bất cứ ngữ mang hình tượng nào cĩ nguồn gốc khơng chỉ từ văn học và cả trong đời sống hàng ngày như phong tục, tín ngưỡng, thuật ngữ, từ nghề nghiệp, v.v

Trang 8

dùng thuật ngữ “điển c ố ” cho cả các thuật ngữ “Kpt.iJiaTi.ie cji0 Ba” và “A llusion s” để

tạo được tiền đề nghiên cứu thuận lợi

0.2.7 Trong ngốn ngữ học Anh, Mĩ, thì có lẽ cuốn sách đầu tiến thu thập một cách có hệ thống và khoa học về điển cố là quvển “ Dictionary of Phrase and Fable’' (Từ điển điển cố và điển tích) của E Cobham Brewer ấn hành lần đầu tiên năm 1870 Theo cách lí giải của tác giả thì cuốn sách này “cung cấp biến thể, nguổn gốc hay nguyên bản của những điển cô phổ biến, những từ ngữ có tích truyện để kể” [131, V] Tuy nhiên, bên cạnh những điển cố đích thực, trong từ điển này còn dẫn ra nhiều thành ngữ, nhiều từ khó, từ cổ hay thuật ngữ chuyên môn Đây là cuốn từ điển được đánh giá rất cao không chỉ trong giới khoa hoc mà cả đông đảo công chúng độc giả ở trên thế giới

Vấn để điển cố tiếng Anh được bàn tới trong một số công trình về từ vựng học và ngữ nghĩa học như “Tovvard a Semantic Description of English” (Tiến tới một phép mô

tả tiếng Anh về ngữ nghĩa) của Leech G N in nãm 1969, “A Historv of Foreign Words in EnglishT (Lịch sử các từ nước ngoài trong tiếng Anh) của Sergeantson M in nãm 1935, “Semantic: An Introduction to the Science of Meạning” (Ngữ nghĩa học: Nhập môn khoa học về ý nghĩa) của Wilmann St in nãm 1962

0.2.8 Không chỉ các nhà nghiên cứu Anh, MT mà còn có nhiều nhà Anh ngữ học

ở Nga rất thành công trong việc khảo sát các đơn vị điển cố Anh như Arnold I V trong cuốn “The English Word” (Từ tiếng Anh) in năm 1986, Gaỉperin I R trong cuốn

“Stylistics” (Phong cách học) in năm 1977

0.2.9 Việc nghiên cứu điển cố ở bình diện tu từ cũng đạt nhiều tiến bộ như trong cuốn “Linguistic Stylỉstics” (Phong cách học ngôn ngữ học) của Enkvist K in năm

1973, “Linguistics and Literature” (Ngôn ngữ học và văn học) của Chapman R in năm

1971, “Analogies, Icons and Images in Relation to Semantic Content of Discourses” (Phép loại suy, các hình tượng, hình ảnh liên quan tới nội dung ngữ nghĩa của các diễn ngôn) của Hill A A đãng trong tạp chí “Phong cách” tập 2 sô 3 năm 1968

Các tác giả Cowie A p., Mackin R và McCaig I R trong cuốn “Oxforđ Dictionary of Englishh Idioms” cùng đưa ra những kiến giải lí thú, chính xác về điển

cố 1 uy nhiên, cũng như tác giả Kunin A V trong “English - Russian Phraseological

Trang 9

Phraseologisches Worterbuch” (Từ điển thành ngữ Đức - Nga), các tác giả này đều đưa điển cố vào cùng phạm trù thành ngữ Một nét tích cực và ưu việt của tất cả các tác giả này là sự phân tích và khái quát khoa học về cấu trúc và ngữ nghĩa của điển cố thông qua các khảo sát chung về thành ngữ.

Ngoài ra, ở Anh, đặc biệt là ở Mĩ đều ấn hành nhiều loại từ điển câu văn trích Ví

dụ như “The Oxíord Dictionary of Quotations” do Partington A chủ biên Cuốn này trình bày các đơn vị trích dẫn theo tác giả (Anh, MT và nước ngoài), cuốn “The Home Book of Quotations” do Stevenson B chọn và sấp xếp tỏ ra rất đặc biệt vì có thể tìm thấy ở đây rất nhiều đơn vị mang đầy đu các tiêu chuẩn về cấu trúc và ngữ nghĩa của điển cố Với 2817 trang trình bày các đơn vị trích dẫn theo chủ đề, người đọc có thể cập nhật được một khôi lượng lớn và đa dạng các đơn vị rút ra từ văn học cổ điển và văn học cận, hiện đại,

0.2.10 ở Việt Nam, cuốn “ Hán Việt thành ngữ” của tác giả Bửu Cân xuất ban năm 1932 đã sưu tập một số đơn vị điển cố Năm 1942, Long Điền Nguyễn Vãn Minh

đã cho xuất bản cuốn “Từ điển vãn liệu” Theo Nguyễn Văn Ngọc thì văn liệu ở đây bao gồm “những thành ngữ từ hai đến bốn tiếng Hang hai tiếng nhiều hơn cả Hầu hết những thành ngữ ấy thuộc về phạm vi thơ phú, văn chương, hoặc toàn là Hán văn, hoặc nửa Hán, nửa Nôm, hoặc Hán đã biến ra Nôm Hoặc khi chép rộng thêm những điển tích, nhiều nhất thuộc về sử liệu” [76, 5]

Như vậy, Nguyễn Văn Ngọc coi điển cố là thành ngữ

Còn Trúc Hiên Triệu Hữu Lập, người hiệu đính sách nảy cho rằng khi viết văn thơ thì phải có vãn liệu, tức là phai dùng chữ, dùng điển ở trong Ngũ kinh, Tứ thư, Chư

sử, các chuyện nhằm phụ diễn ra thành vãn, thành thơ [76, 7] Có thế xác nhận đây là

một công trình rất nghiêm túc, có giá trị giúp người đọc hiểu được kho tàng điển cố hay dùng trong vãn thơ cổ

0.2.11 Nãm 1977, công trình khá công phu và khoa học “Điển cố văn học” do Đinh Gia Khánh chủ biên được ấn hành Tiếp thu và phát triển thành tựu nghiên cứu của các học giả đi trước, cuốn sách này tập trung khá đầy đủ các đơn vị điển cố và có tường giải, ví dụ chân xác và đầy đủ

Trang 10

cuốn từ điển thu thập điển cố như “Ngữ liệu văn học” của Đặng Đức Siêu in nãm 1998,

“Từ điển điển cố văn học trong nhà trường” của Nguyễn Ngọc San và Đinh Vãn Thiện

ấn hành năm 1998, “Từ điển từ ngữ tầm nguyên, c ổ văn học Từ ngữ và điển tích” của Bửu Kế in năm 2000, trong số đó đáng kể hơn cả là cuốn “Từ ngữ điển cố văn học” của Nguyễn Thạch Giang và Lữ Huy Nguyên xuất bản năm 1999

0.2.12 Bên cạnh đó còn có những cuốn sách khảo cứu và chú thích các điển cố, điển tích trong Truyện Kiều như “Điển tích trong Truyện Kiều” của Trần Phương Hồ in năm 1996, “Điển tích Truvện Kiều” cua Nguyễn Tử Quang in năm 1998, ‘T ừ điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh xuất bản năm 1974 Tác giá Mộng Binh Sơn biên soạn cuốn “Điển tích chọn lọc” và cho in năm 1989, đây là một tài liệu tham khảo về điển

cố, điển tích khá lí thú

Ngoài ra, còn có nhiều cuốn sách khác đặng giúp người đọc tìm biết nhiều kiến thức về ngữ nghĩa và nội dung văn hóa của điển cố như “Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán” của Viện Ngôn ngữ học in năm 1997, hoặc một số sách lịch sứ Trung Hoa được biên soạn gần đây như “Nhân vật Đông Châu” của Nguyễn Tử Quang in năm 1996

Những công trình nêu trên đều ià từ điển, tuy vậy một số bài dẫn luận viết rất

công phu và đã phác thảo ra nhiều mặt về nguồn gốc, ngữ nghĩa và đặc điểm phong

cách học của điển cố

Song cho tới nay vẩn chưa có công trình nào nghiên cứu về điển cố với tư cách một đơn vị sử dụng với mọi đặc trưng ngôn ngữ và nội dung vãn hóa Trong tình hình như thế, nhu cầu khảo sát và tổng kết một số vấn đề cơ ban về điển cố tiếng Việt, tiếng Nga, tiếng Anh là rất cần thiết cho việc học và dạy ngoại ngữ nói riêng và cho nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung

0.3 MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN ÁN.

Luận án này tập trung phân tích các đặc trưng ngôn nsữ của điển cỗ Bèn cạnh

đó, nội dung văn hóa của điển cố được khao sát trong mối quan hệ tương hỗ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Trang 11

0.4.1 Ý nghĩa thực tiễn.

- Giúp cho người nghiên cứu ngôn ngữ và văn học nhận rõ bản chất của điển cô ở

bình diện ngôn ngữ và văn hóa.

- Cung cấp cho người Việt một định hướng cụ thể về điển cố có nguồn gốc nước ngoài cũng như về điển cố Việt để hiểu và sử dụng đúng và hay

- Làm cơ sở lí luận để biên soạn từ điển tường giải điển cỗ hoặc từ điên điển cố song ngữ

- Góp phần giảng dạv tốt hem phần điển cố trong chương trình ngôn ngữ phong cách, và vãn học ở phổ thông và đại học

0.6 PHƯƠNG PHÁP CỦA LUẬN ÁN.

Phương pháp mô tả là cơ bản nhằm IĨ1Ô tả và phân tích các yếu tô cùng các bộphận trong cấu trúc ngôn ngữ của điển cố Mỗi yếu tố này sẽ được nghiên cứu ở cấp độhình thức và cấp độ ngữ nghĩa

Trang 12

luận, với những đơn vị cụ thể chứng minh cho các luận điểm lí thuyết.

Một số yếu tố của phương pháp định lương, định tính được ứng dụng để góp phần phân tích cấu trúc ngôn ngữ của các đơn vị điển cố về mặt ngữ nghĩa, ngữ pháp

0.7 ĐỒNG GÓP CỦA LUẬN ÁN.

0.7.1 Luận án thực hiện nghiên cứu điển cố về mặt lí luận nhằm phát hiện ra những đặc trưng ngôn ngữ của điển cố ở các bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp Những tiền đề lí thuyết của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, Nga, Anh và Mĩ được áp dung nhằm phân tích cấu trúc ngữ nghĩa, cấu trúc cú pháp của các đơn vị điển cố Việt, Anh

0.8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN.

Luận án gồm phần Mở đầu, phần Kết luận và ba chương với cấu trúc như sau:

Mở đầu

Chương Một: Xác định khái niệm điển cố

Chương Hai: Đặc trưng ngôn ngữ của điển cỏ

Chương Ba: Nội dung văn hóa của điển cố

Kết luận

Trang 13

1.1 ĐỊNH NGHĨA ĐIỂN cô

1.1.1 Sau khi không thắng nổi nước Âu Lạc trong cuộc tấn công năm 210 trước

Công nguyên, Triệu Đà rắp tâm xâm lược một lần nữa Nãm 207 trước CN, y bất ngờ đem binh lính tập kích An Dương Vương và chiếm Âu Lạc rồi sáp nhập vào quận Nam Hải của mình Bắt đầu thời Bắc thuộc, một thời kv lịch sư nước ta bị các thế lực phong kiến Trung Quốc đô hộ Cũng từ thời điểm đó, Nho giáo được truyền bá vào nước ta Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Khấc Thuần [106, 39] có ba lí do khiến Nho giáo có thể được tiếp nhận ở Việt Nam:

a) Việc truyền bá này mang tính chất lơi dung, đổng thời bộc lộ tính áp đặt từ phía chính quyền đô hộ của phong kiến Trung Quốc

b) Nho giáo vào nước ta cũng do các hoạt động mang tính tự phát của nhiều Nho gia thất thế từ Trung quốc bị đày ải hay di cư lánh nạn sang Việt Nam

c) Bản thân Nho giáo, cũng như các hệ tư tưởng khác, luôn luôn vận động ảnh hưởng tới các xứ sở lân cận

1.1.2 Nho giáo vào Việt Nam thông qua tiếng Hán Tuy nhièn hệ thống văn hóa Việt Nam được truyền bá bằng Hán văn cổ và chữ Nỏm Hán văn cổ ở Việt Nam phần nào thể hiện Hán ngữ cổ của các đời Đường, Tống, và có liên hệ chặt chẽ với Hán ngữ trước Tần - Hán, Lê Trí Viễn nhận xét: “Trong tay sử dụng cua người Việt Nam nó (Hán ngữ) không thể không tăng cường từ vựng, linh hoạt cú pháp, sáng tạo thêm những cách diễn đạt mới, trở thành một thể Hán văn Việt Nam rất gấn gũi tiếng Việt” (120, 3]

1.1.3 Từ thế kỷ 10 văn hóa Việt Nam có những bước tiến mới, thành tựu lớn nhất lúc đó là sự xuất hiện chữ Nôm trên cơ sớ vay mượn văn tự Hán Chữ Nôm là một hệ thống văn tự tiếng Việt có quy luật chắc chắn, chãt chẽ, điều này được kháo cứu ti mi trong các công trình của Dương Quang Hàm Trần Văn Giáp Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Bửu Cân, Lê Vãn Quán, Nguyễn Tài cẩn , N Xtankevits, Paul Schneider, Yamamoto Tatsuro, v.v

Trang 14

song có một điều chắc chắn là chữ Nôm phải trải qua nhiều năm tháng để khẳng định được sự tổn tại của mình Theo nhiều nguồn sử liệu thì Hàn Thuyên là nhà thơ đầu tiên viết bằng chữ Nôm vào thế kỷ 13 Nhiều nhà thơ, nhà vãn khác đã sáng tác bàng chữ Nôm như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn

Du, v.v

Từ các thế kỉ 12, 13, chữ Nôm là một loại văn tự được người Việt sử dụng Chữ Nôm được các trí thức phong kiến và bình dân sáng tạo trên cơ sở kiểu văn tự hình khối Hán Chữ Nôm đã có phần đóng góp rất tích cực vào viêc hình thành ngôn ngữ văn hoá dân tộc Các công trình nghiên cứu ngữ âm lịch sử đã cho rằng chữ Nôm thật sự trở thành hệ thống vãn tự chỉ sau thế kỉ 10

Trí Viễn thì cả Hán văn cổ với tiếng Việt đều là những ngôn ngữ không biến dạng, quan hệ ngữ pháp được biểu thị bằng trật tự từ và hư từ, đồng thời phương thức tư duy

có nhiều nét tương tự Nhiều đơn vị từ vựng tiếng Hán đã được gia nhập vào tiêng Việt, trở thành các yếu tố gốc (tức là yếu tố Hán Việt) để cấu tao thêm những từ mới Chính những đặc điểm nói trên suốt hàng ngàn năm được tiến triển theo hướng càng khiến Hán văn cổ được Việt hóa mạnh mẽ và sâu sắc hơn lên [120, 4]

Điểm nổi bật của các văn bản Hán vãn cổ thể hiện ở các tính ngắn gọn súc tích

về ý nghĩa, hài hòa về âm thanh và cân đối ở câu chữ [120 78] Các tác giả thường sử

dụng biện pháp tu từ cơ bản là vẩn điệu, đối ngẫu và điển cố Vần điệu là phương cách cấu thành văn bản dựa vào việc lặp lại các tiếng tại những vị trí xác định của dòng thơ

để tạo nên sự hài hòa nhịp nhàng và liên kết cua các dòng thơ đó [51, 362]

Ví dụ Thiên địa na dung tội ác nhân / Thị hà xá tội hữu hương thần /(Trời đất nào dung tha kẻ ác / Thế thì tại sao lại có ngày lành tha tội) [62, 287]

Nói chung các bài thơ viết bằng Hán vãn ở nước ta trước đâv đểu gieo vần ở cuối dòng thơ, tức là vần chân, trừ các bài thơ theo thể lục bát và song thất lục bát mang vần lưng[120, 79]

Đối ngẫu là sóng đôi và cân xứng, tương xứng với nhau có hai loại: Đối thanh vàđối ý

Trang 15

nước đau lòng con quốc quốc / Thương nhà mỏi miệng cái gia gia (Bà huyện Thanh Quan).

Như trên đã nói, khi sáng tác, các tác giả của các tác phẩm Hán văn cổ rất coi trọng tính chất cô đọng, súc tích, chặt chẽ, lời ít ý nhiều Ngoài vần điệu và đối ngẫu

biện pháp tu từ thứ ba là điển cổ được áp dụng rất phổ biến

1.1.5 Đ iển là sự việc, sự kiện trong sách kinh điển mà người ta dùng bám theo

khi sáng tác văn thơ Còn cố là sự kiện, là câu chuyện ngày xưa

Ví dụ: Điển “Nếm mật nằm gai” hay “Việt Vương nằm củi” hàm nghĩa cantrường chịu gian khổ để mưu tính việc lớn Tích truyện kể vua Việt là Câu Tiễn bị quân Ngô đánh bại ở Phù Tiên và phải cầu hòa Khi về nước Việt Vương Câu Tiễn tự cày bừa, vợ dệt vải, ăn uống kham khổ, chịu khó nhọc với trâm họ Ngày đêm ông lao tâm khổ tứ cùng đổng đội nghĩ mưu đánh Ngô Cuối cùng ôns đã đánh được quân Ngô, trả được mối thù chiến bại

Tích về Chúa Chổm kể: Con vua Lê Chiêu Tông là Duy Ninh tục gọi là Chúa Chổm phải phiêu bạt, vav nợ để lần hồi qua ngày sau khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê Sau này nhờ Nguyễn Kim lâp nên làm vua (Lê Trang Tông), khi ấy người đến gặp vua đòi nợ rất đông

Theo Đặng Đức Siêu thì điển cố là chuyện cũ người xưa đươc rút gọn lại thành đôi ba chữ nhằm dẫn lại trong văn thơ để biến những chuyện xưa người cũ ấy phục vụ cho mục đích, ý đồ của sáng tác [120, 88]

Trong bài thơ “Hàn Tín giảng binh xứ” của Nguyễn Du dẫn nhiều chuyện cũ người xưa:

“Bách vạn tinh huy bắc độ hà / Yên giao địa hạ hữu trần qua / Du du sự hậu nhị thiên tải / Đãng đãng thanh biên nhất phiến xa, / Khoái ngũ vị thành cam lục lục / Quần tiền do tự thiện đa đa / Khả cận thập thế sơn hà tại / Hậu duệ đổ diên Giáng Quán gia ”

Bản dịch của Phạm Khắc Khoan và Lê Thước:

“Phất cờ trăm vạn lính qua sông / Dưới đất Yên Giao có giáo đông/ Việc trước hai ngàn năm vắng vẻ/ Bên thành, một bãi cát mênh mông/ Bạn bè với Khoái lòng còn

Trang 16

Giáng, Quán hưởng vinh phong/ [3, 298].”

Ở đây có thể nêu ra các điển cố Trước hết là “Hàn Tín” Đây là tên một danh tướng nhà Hán Có nhiều giai thoại về ông thuở hàn vi của ông Chẳng hạn bà lão đập vải cho Tín ăn cơm suốt nhiều ngày, hoặc chuyện một gã hàng thịt làm nhục Tín khi yêu cầu ông hoặc đâm gã chết hoặc luồn dưới háng gã, Tín đã bò qua háng gã Song sau này Hàn Tín giúp Hán Vương lập nghiệp và được lập làm Tề Vương, rồi Sở Vương.Điển cố “Hàn Tín” chỉ cái chí lập thân của một người tài Đồng thời còn có hai điển cố khác phái, sinh từ đó là “ Cơm Phiếu vàng Hàn” (Cơm của bà Phiếu mẫu, tức

bà lão đập vải, đem nuôi Hàn Tín, vàng do Hàn Tín biếu đền đáp tạ ơn bà Hàm ý ơn không cần báo đáp, việc đáp trả nghĩa không được quên) và “Tàng cung phanh cẩu” (Cất cung mổ chó), điển cố này chỉ việc các nhà vua dựng nghiệp xong thường giết hại công thần Hàn Tín tuy có công lớn với triều đình nhưng Hán Cao tổ vẫn lo ngại và ghét tài Hàn Tín, vì vậy khi có kẻ tố Hàn Tín mưu phản thì Hán Cao tổ cùng Lữ Hậu lừa Tín vào cung Trường Lạc, sai võ sĩ trói chém ông và tru di tam tộc Điển cố “Tàng cung phanh cẩu” có gốc từ câu của Phạm Lãi “Phi điểu tận, lương cung tàng; giảo thố

tử, tẩu cẩu thanh” (Chim bay hết thì cung tốt bị giấu đi; thỏ nhanh chết thì chó săn bị giết thịt)

Điển cố “Phàn Khoái” chỉ một trong các tướng giỏi của Hán Cao tổ

Cầu thơ “Quân tiền do tư thiện đa đa” có từ điển tích kể Hán Cao tổ đàm đạo với Hàn Tín Đáp câu của Hán Cao tổ hỏi vua có thể chỉ huy bao nhiêu quân, Tín trả lời, bất quá vài vạn là cùng Cao tổ hỏi về Tín thì Tín đáp càng nhiều càng tốt Cao tổ hỏi càng nhiều càng hay thì sao Tín lại để vua bắt được, Tín trả lời rằng Vua không có tài chỉ huy quân nhưng lại có tài chí huy các tướng lĩnh

Câu thơ “ Hậu thê đồ diên Giáng, Quán gia” phản ánh việc trong sỗ các công thần phụng sự Hán Cao tổ thì Trương Lương đi tu tiên, Tiêu Hà bị tống ngục, Hàn Tín bị giêt hại chỉ có Giáng Hầu (Chu Bột) và Quán Anh được hưởng phú quv trọng đãi mà

Như vậy, chỉ một bài thơ ngắn mà có thể khai thác được một sô điển cố vốn có tích truyện liên quan tới số phận một danh tướng từng chịu bao cảnh thăng trầm là Hàn

Trang 17

mực, thì giờ, song sự cô đọng, súc tích của điển cố đã khiến sự liên tưởng và kí ức của người đọc, người nghe hoạt động và thấu hiểu được nhiều lẽ mang ý nghĩa văn chương

và triết lí

1.1.6 Điển cố có mặt trong rất nhiều thể loại vãn học của Hán văn cổ và văn học dân gian Có thể tìm thấy điển cố ở chiếu, biểu, hịch, cáo, kí, tư, bi, minh, ở thơ phú, văn tế; ở kinh nghĩa, văn sách vốn là thế loại của các trường thi thời trước Ngoài những thể loại mang tính văn học rõ ràng ớ trên, các thể loại khác không có liên quan tới văn chương cũng sử dụng điển cố như sớ, tấu, dụ, chỉ, hay chúc thư, bức trướng, bức

hoành, bia, câu đối chữ thờ, hương ước, văn cúng, bản kinh, V V ,

Trong các văn bản Hán Nôm thì luận giữ một vai trò quan trọng Luận tức là nghị luận bao quát một vấn đề, một sự việc, một bài học nhất định cùng những ý kiến, bình luận, bình giải, của tác giả Trong luận trình bày nhiều luận cứ, tuân theo một lô gích xác đáng nhằm chứng minh hay thuyết phục, do đó nội dung cần sắc sảo, súc tích mang tính biểu cảm cao Luận bao gồm các thể loại như tự, bạt, bi, minh, hịch, chiếu, cáo, biểu, v.v

Trong tác phẩm “Thời vụ sách” viết theo thể luận của Nguyễn Lộ Trạch có câu

“thử Triều Thố tước địa chi nghị sở dĩ chuyết ư thân mưu giả” (Ây lời bàn tước bớt đất

của Triều Thố, sở dĩ vụng về ớ chỗ lo toan cho minh là vậy) Trong câu nàv có điển tích về Triều Thố đời Hán, người tàu vua xin cất bớt đất phong của các chư hầu Kết cục là bẩy nước chư hầu nổi giận làm phản, tấn công với cớ diệt triều Thố bởi vậy vua phải vỗ về chư hầu bằng cách giết Triều Thố

Trong bài “ Khai Nghiêm tự bi” (Bia chùa Khai Nghiêm) của Trương Hán Siêu có câu “ Y! Khứ thánh du viễn đạo chi bất minh, nhân sư tướng giả, kí vô Chu, Thiệu dĩ thủ phong hóa ” (Ôi! Cách thánh nhân cáng xa đạo không sáng rõ, kẻ giữ trách nhiêm làm thần, làm quan đã không như ông Chu ông Thiệu để đi đầu phong hóa ) ớ đâv có hai điển tích: Ông Chu, ông Thiệu Chu là Chu công, em của Chu Văn Vương giúp Vũ Vương diệt được nhà Trụ Do kẻ nối ngôi của Vũ Vương còn bé nên Chu công giữ cương vị cai quản lễ nhạc giúp thiên hạ thái bình Còn Thiệu là Thiệu Công con thứ của Văn vương từng cùng Chu Công giúp Thành Vương

Trang 18

có câu “Dư thường văn chí: Kỉ Tín dị thân đại tử nhi thoát Cao đế, Do Vu dĩ bối thụ qua nhi tế Chiêu vương” (Ta thường nghe: Kỉ Tín lấy mình chết thay mà cứu thoát Cao

Đế, Do Vu dùng lưng chịu giáo mà che chở Chiêu vương) Ớ câu này có hai điển tích

về Kỉ Tín và Do Vu Khi Lun Bang bị quân Hạng Vũ đánh vây, Kỉ Tín ngồi xe của Lim Bang chạy ra trá hàng và bị giết nên Lưu Bang (về sau là Cao đế hoặc Hán Cao tổ) thoát hiểm Còn Do Vu là tướng của Sở Chiêu vương, Ông đã giơ lưng đỡ mũi giáo cua

quân Ngô đâm Sở Chiêu vương nên đã cứu Vua thoát chết

Tác phẩm “Lương Ngọc danh sơn phú” (Bài phú Lương Ngọc danh sơn) do Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh và Trần Quí Cáp cùng làm khi giả một thí sinh đi thi ở Bình Định Trong đó có câu: “Khởi yến đường chi khả lạc? Phủ lộc động hề vêu cầu?” (Phải chăng nhà én là đáng vui ? Việc vỗ về động Lộc, sao lại đi tim?), ơ đây có hai điển cố: Yến đường và Lộc động Yến đường nghĩa là nhà có chim én tới làm tổ, ngụ ý nhà cháy mà mẹ con chim én không biết gì, hiểm nguy cận kề mà không hề hay biết Lộc động là động Bạch Lộc nguồn gốc ở tích kể Chu Hi đời Tống dung lớp ơ động Bạch Lộc để dạy học, hàm ý cứ chăm chăm để học để thi cử tron? lúc lầm than cảnh nước mất nhà tan

1.1.7 Tác giả Đặng Chí Huyền nhận xét rằng ở các vãn bia di tích dù chỉ có giá trị

ở môt địa phương nhỏ cũng thường gặp ít nhiều ngòn ngữ văn học [122, 9] Chẳng hạn, trong “Kim Chung tự thạch bi kí” có câu “Sương thanh điện tử” (Sương xanh chớp tía)

chỉ cảnh oai vệ nơi cảnh chùa Câu này là nói chệch đi của điển c ố “Thanh sương, tư

điện” với “Thanh sương” là lưỡi gươm, gốc từ sách Tây kinh tạp kí có câu “Gươm của Cao Đ ế chém rắn trắng cứ mười hai năm mài lại một lần, nên lưỡi sáng lạnh như sương tuyết” “Tử điện” là tên loại gươm quí của nước Ngô do nó sáng rực như chớp

1.1.8 Trong các thần tích có sử dụng nhiều điển cố Ví dụ: ơ Ngọc phả của Chử Đồng Tử và hai vị tiên nữ Tiên Dung và Tây Cung sử dụng một số điển cố như “Đông sàng” (Giường phía đông) chỉ con rể Tích kể nhà họ Tạ đời Tấn sang họ Vương kén rể cho con gái, tất cả các con trai họ Vương đều trang trọng, duy có Vương Hi Chi cứ nằm kềnh trên giường phía đông mà ăn uống chẳng để ý gì hết, ông ta biết vây liền khen “Đó chính là chàng rể hay” và gả con gái cho anh ta

Trang 19

tắc” Xưa kia người ta cúng thần đất (xã) và thần lúa (tắc), dần dà hai vị thần này trở thành tượng trưng cho một nước Xã tắc nghĩa là Quốc gia.

Thậm chí trong văn cúng cũng thấy điển cố Chẳng hạn, trong “văn cúng ông Tơ Hồng, Nguyệt lão trong lễ cưới” có điển “Uyên ương” Vi đây là tên một loại chim nước ở Trung hoa luôn luôn sống từng đôi nên trở thành biếu tượng cho đôi lứa vợ chồng

1.1.9 Các điển cố vừa nêu trên đa phần có xuất xứ từ vãn liệu Trung Hoa vì mòi ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Trung Quốc tới văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, các tác giả người Việt đã vận dụng sáng tạo các đơn vị điển cố đó ở nhiều phương diện, từ ngữ

âm, từ vựng tới tu từ để làm phong phú, sâu sắc cho cách diễn đat phù hợp với sự tri

nhận thẩm mỹ của người Việt

Bên cạnh các đơn vị điển cố Việt Hán còn có những điển cố Việt, tuy sỏ lượng khó có thể so sánh được với khối lượng đồ sộ của điển cố Việt Hân, song chúng đã có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của văn học Việt Nam về mặt từ vựng, phong cách và góp công ghi lại những đặc trưng mang tính bản sắc của văn hóa Việt Nam Chẳng hạn, điến cố “Tú Uyên - Giáng Kiều” mang ý nghĩa cuộc sống hạnh phúc lứa đôi phải vượt qua gian nan trắc trở để đạt được sự viên mãn Điển cố này bắt nguồn từ cốt truyện trong tác phẩm “Bích Câu kì ngộ” của một tác giả vô danh Tên tác phẩm vô danh “Lưu Bình - Dương Lễ” cũng trở thành một điển cố ca ngợi tình bạn keo sơn giúp

đỡ nhau thành đạt trong cuộc đời Tích truyện kể hai người bạn Lưu Binh và Dương Lễ Dương Lễ đỗ đạt trước và làm quan Lưu Bình đến nhờ cậy Song để kích thích chí tiến thủ của bạn, Dương Lễ vờ hắt hủi bạn mình Sau đó, Dương Lễ sai một nàng thiếp tên Châu Long mang tiền đi giúp Lưu Bình Đến khi Lưu Bình hiển đạt về quế báo tin mừng thì Châu Long, người mà chàng từng muốn tỏ tình, không thấy ở nhà Lưu Bình tói Dương Lễ để mỉa mai bạn song tới nơi thì hav rằng Dương Lễ là người dụng công giúp chàng, còn Châu Long là thiếp thứ ba cúa Dương Lễ

1.1.10 Như vậy, trong vãn học quá khứ của dân tộc, không chỉ các tác phẩm viết bằng Hán văn của cả các tác phẩm Nôm đều dùng nhiều điển cố Một ví dụ rất điển hình là “Đoạn trường tân thanh” tức Truyện Thúy Kiều cùa đại thi hào Nguyễn Du Trong một bài tựa Truyện Kiều do Phong Tuyết Chủ Nhân Thập Thanh Thị viết có dẫn

Trang 20

mà làm hại ý, cứ lấy ý đón lấy cái chí của cổ nhân mà hiểu được, thê là được” Cũng như các tác giả vĩ đại khác, Nguyễn Du tuân theo nguyên tắc làm văn làm thơ là “ngôn chí, thuật hoài” (Tỏ rõ chí hướng, bộc bạch tấm lòng, nếm trải) Thơ ông lời ít ý nhiều,

ấy là nhờ tác dụng ngôn từ, trong đó điển cố giúp ông thực hành ý tại ngôn ngoại (ý ở ngoài lời), cô đọng hàm súc Dòng thơ của ông: “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấv mà đau đớn lòng” Điển cố “Bể dâu” có xuất xứ từ sách Thần tiên truyện của người Trung Hoa “Tam thập niên vi nhất, thượng hải biến vi tang điền” (Cứ

ba mươi năm một lần; biển xanh lại hóa thành ruộng dâu), nhiều khi người ta nói vắn tắt “Thương hải tang điền” (Biển xanh nương dâu) “Bể dâu” hàm ý việc vật đổi sao dời trong thiên nhiên và những biến đổi là khôn lường trong đời người Mối liên tưởng giữa điển cố ấy với câu sau tạo nên một cảm giác bùi ngùi nơi độc giả về thân phận con người, về những bước biến chuyển không tiên liệu trước được nơi sự đời người ta Điển

cố “Bể dâu” còn gập ở những câu khác như:

Cơ trời dâu bể đa đoan / Một nhà để chị riêng oan một mình (Kiều)

Sợ khi dương bể mà dâu / Hiếu tình lại dở dang nhau mặc lòng (Truyện hoa tiên)

Đầu ngàn cờ mở mấy lần lau, / Hồ Hán duyên xưa bể biến dâu (Hồng đức quốc

âm thi tập)

Điển cố “Bể dâu” được giải thích rõ hơn nếu tham khảo thêm tích truvện trong sách “Tần Nguyên” kể về ông lão, thọ trăm tuổi nói với con cháu: “Ta đã sống đủ một trăm tuổi Trong đời ta, ta đã thấy biết bao lần có sự đổi thay trong vũ tru, như biển cả

sóng vỗ muôn trùng rồi biến thành nơi đất bổi để người ta đem dâu ra trổng Rồi có nơi

ruộng dâu lại biến thành biển cả, nước xanh sóng vỗ” [57 26]

cũng tìm gặp được nhiều điển cố

Chẳng hạn trong câu ca dao:

Con sắt vật ngã ông Đùng Đắp mười chiếc chiếu không bằng bàn tayTích truyện xưa ông Đùng bà Đà là cặp vợ chổng người khổng lổ vào thời sáng thế, tuy nhiên ông Đùng đã bị ngã khi giật mình do bị con cá săn sắt bé xíu cắn vào

Trang 21

làm cho bàn tay hết rét mà phải ủ tay vào áo mới ngủ được Điển cổ “Ông Đùng” diễn đạt ý lấy yếu thấng thắng mạnh, lấy ít đánh nhiều, vì thậm chí kẻ mạnh cũng vẫn có chỗ hiểm yếu để chịu đòn đánh gục.

Điển cố là thuật ngữ dùng rộng rãi trong nghiên cứu Điển cố có mặt không chi trong các tác phẩm văn học được xuất bản mà cả trong văn học dân gian, vì vậy khái niệm điển cố được xét tới ở đày bao hàm điển cố nói chung

1.1.12 Nhiều nhà nghiên cứu văn học, nghiên cứu ngôn ngữ học đã đưa ra các định nghĩa của mình nhằm xác định khái niệm thuât ngữ điển cố

Lê Huy Tiêu không tách biệt điển cô' ra mà gọi đó là thành ngữ điển cố khi coi đó

là loại thành ngữ có cốt truyện thường có xuất xứ từ truyện lịch sử, cổ tích, ngụ ngôn

hay vãn thơ của các tác giả nổi tiếng Ông cho rằng vì vậy đọc điển cỏ' trở nên lí thú và

hấp dẫn Lời tựa nhà xuất bản trong cuốn “Từ điển thành ngữ điển cố Trung Quốc” của ông là xác đáng khi nhận xét: “Khi đọc một văn bản Hán văn, ta thường gặp không ít thành ngữ, thành ngữ vốn đã súc tích mà thành ngữ điển cố lại càng súc tích hơn và được viết bằng cổ văn rất khó hiểu” [108, 5] Định nghĩa của Lê Huy Tiêu COI điển cố

là thành ngữ có lẽ do hầu hết các đơn vị điển cố Trung Quốc của ông sưu tập và tường

giải đều có hình thức của một đơn vị thành ngữ.

Ví dụ: “Khô mộc phùng xuân” (Cây khô gặp mùa xuân); “ Bạch bích vi hà” (ngọc trắng có tì vết) “ Lạc thiên tại mệnh” (Vui với mệnh trời cho) Quả thực những điển cố này khống khác những thành ngữ gốc Hán khác về mạt hình thức “ Dương chất hổ bì” (Mình dê da cọp); “Thủy trích thạch xuyên” (Nước nhỏ đá mòn) “Nhĩ vãn mục đỗ” (Tai nghe mắt thấy):

1.1.13 Mộng Bình Sơn không phàn biệt điển cố và điển tích mà gọi gộp chung hai khái niệm này là điển tích Ông viết “Điển tích là những câu nói ngán hoặc những câu chuyện trong sách đời trước chứa đựng một nội dung xã hội và văn học sâu sắc được lưu truyền qua sử sách và được các học giả của mọi thời kỳ thừa nhận giá trị điển tích của nó [98, 7] Ông cho rằng do trải qua nhiều giai đoạn phát triển, cách tân mà văn học đã dần loại bỏ nhiều điển tích (theo cách hiểu của Mộng Bình Sơn) Ông lưu ý bạn đọc rằng ngày nay ít thấy điển tích được vận dụng trong các tác phẩm văn chương hiện đại để thể hiện, diễn đạt ý tưởng, tình cảm Tuy nhiên khi ông cho “Điển tích cũng

Trang 22

dạng” có thể hiểu là được nói bằng ngôn ngữ hiện đại hoặc có một cách truyền diễn nội dung mới Song nhận xét tiếp theo của ông là đúng “Văn thơ cổ là một bộ phận của lịch sử văn học dân tộc mà chúng ta không thể tách rời khi nghiên cứu văn học sử vì vậy, việc tìm hiểu điển tích trong thi vãn cổ là chuyện cần thiết [98, 7] ý kiến này chính xác vì xưa kia các bậc cự nho thường rất tinh thông điển tích và họ dùng rất thường xuyên và thâm thúy trong tác phẩm của mình để tạo nên những hiệu quả tham

mỹ, tình cảm mạnh mẽ và sâu sắc Hai tập cuốn sách “Điển tích chọn lọc” của ông tập trung nhiều điển cố và điển tích căn bản của Hán văn cổ như “ Kết cỏ ngậm vành” , “ Nằm gai nếm mật” “ Đằng Vương các” , “ Mạnh Thường Quân” , “ Chức cẩm hổi văn”

“Khổng Minh tọa lầu” , “ Khúc nhạc chiêu quàn” , “Mạt cưa mướp đắng” v.v Bên cạnh những ưu điểm, sách này vẫn chưa đưa ra một điển cố, điển tích thuần Việt nào trong văn học cổ Việt Nam

1.1.14 Trác Hiên Triệu Hữu Lập viết “Mấy lời của người hiệu đính” in trong sách “Từ điển văn liệu” của Long Điền Nguyễn Văn Minh có đề cập đến định nghĩa điển cố “ Người ta làm văn, tất cũng phải có văn liệu, nghĩa là phải dùng chữ, dùng điển ở trong ngũ kinh, tứ thư, chư sử, các chuvện, để phụ diễn ra thành văn, thì lời văn mới hay mới đẹp, lời nói châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.” [76, 7] khi làm sách nàv,

tác giả và những người phụ giúp ấn loát đều nhận thấy m ột tình trạng Hán học suy sút

khi Quốc ngữ phát triển, song vốn học của cha ông cần được gìn giữ và phát huy nên

cần có những sách kê biên, khảo cứu như từ điển, chuyên luận về điển cố, điển tích

Trong cách hiểu về văn liệu ở đây có hai yếu tố là chữ và điển tức là điển cố và điển tích Đặc trưng của chữ và điển là sẵn có vì được trích diễn từ các sách xưa, từ truyện,

từ sử để dùng trong thơ văn

1.1.15 Cũng là một loại từ điển văn liệu, nhung cuốn “Ngữ liệu văn học” của Đặng Đức Siêu có lời giải thích cụ thể hơn Khi tác giả coi ngữ liệu ở đây bao gổm từ

điển cố, từ ngữ, thành ngữ, nhân danh, tên chức quan, danh ngôn vốn mang ý n sh ĩa

biểu trưng cho tới các từ ngữ, từ cổ rút ra từ ca dao ngạn ngữ được các tác giả thơ văn Việt Nam xưa kia dẫn trong tác phẩm dưới hình thức điển cố từ viện dẩn Đổng thời, trong sách còn có một số từ ngữ, điển cố Phật giáo nữa Một ý kiến trong lời nói đầu

có thể coi là một phần trong định nghĩa về điển cố “ Nhiều từ ngữ trong các tác phẩm văn học nổi tiẽng đã trở thành những ngữ liệu quan trọng, góp phần làm phong phú

Trang 23

và định hình trong các tác phẩm văn thơ Hán Nôm tiêu biểu; một phần không nhỏ cũng

đã trở nên thông dụng trong lời nói thường ngày [120, 3] Như vậy, một tính chất

quan trọng của điển cố, điển tích là nguồn gốc từ các tác phẩm nổi tiếng của văn và thơ

và các từ ngữ đó đã được định hình, có tính cố định trong sử dụng; ở trong sáng tác của

các tác giả Việt Nam.Tuy nhiên, định nghĩa này chưa đề cập tới những xuất xứ khác

của điển như lịch sử, các nhân vật nổi tiếng, cuộc sống xã hội, v.v

[95, 3] đã đưa ra môt định nghĩa khá bao quát về điển cố “Điển cô' là viết gọn truyện cũ

lời xưa thành đôi ba chữ để đưa vào văn chương, làm cho câu văn hàm súc, ngắn gọn,

lời ít ý nhiều” , thực ra định nghĩa này cũng tương tự ý kiến của Đặng Đức Siêu về điến

cố' trình bày nãm 1984 [120, 88] Nguyễn Ngọc San cho rằng các tác giả xưa hay dùng

điển cố vì hai nguyên nhân, một là, xuất phát từ quan niệm thẩm mĩ trong quá khứ mà

các tác giả chuộng tập cổ nên hay dẫn nhiều câu vãn cổ, truvện cổ, câu trích dẫn cổ của

Thánh Hiền Hai là, do vãn đối ngẫu bị gò ép về số lượng âm tiết nên hạn chế đó được

khắc phục bằng việc áp dung điển cố Từ đó ông kết luận đó là nguyên do khiến lương

điển cố giữ tỉ lệ rất cao trong phú đời Hán chẳng hạn, đồng thời tác giả cũng đưa kiến

giải của mình về quá trình hình thành điển cố Theo ông điển cố khác với các từ ngữ

khó khác ở khả năng làm cho câu vãn có hàm ý súc tích, ý tại ngôn ngoại Thoạt kỳ

thủy, điển cố chưa phải là điển cố khi chúng là các từ ngữ xuất hiện trong thơ ca cổ vì

chúng chỉ có ý nghĩa biểu đạt bình thường như mọi từ ngữ khác, nghĩa là biểu đạt

những gì hàm ẩn ngay bên trong các từ ngữ ấy Nói một cách khác, chúng biểu đạt cái

nằm trong từ ngữ Sau đó dần dần các từ ngữ ấy gắn bó với các sư tích vốn được coi là

mẫu mực, điển hình buộc với các câu trích dẫn, câu vãn câu thơ hay nổi tiếng được

lặp lại trong sử dụng ở các cảnh huống khác VỚI tình huống ban đầu Lúc này các đơn

vị từ ngữ đó được nhập thêm ý nghĩa mới do “tư duy trừu tượng dẫn xuất ra, tức là

ngoài ý nghĩa hiện thực chúng có thêm một ý nghĩa btểu trưng, ý nghĩa có giá trị phong

cách học” Ông cho rằng ý nghĩa đó nằm bên ngoài từ ngữ và sinh thành bới sự cài xen

giữa “dòng biểu đạt với sự liên tưởng tới một dòng biểu đạt cũ mà từ ngữ mượn điển cố

này tạo ra Từ lúc này, từ ngữ mượn trở thành điển cố” [95, 4]

Định nghĩa nêu trên tuy chưa chuẩn theo cách xác định ý nghĩa về phương diện

ngôn ngữ học, song đã nêu khá xác đáng những khía cạnh của điển cố và các bước

Trang 24

độ nghĩa của điển cố là ý nghĩa từ nguvên và ý nghĩa biểu trưng vốn mang giá trị

phong cách.

Tiếp theo, ông cũng cho biết điển cố trong ván thơ Hán Nôm ớ ta thường được khai thác chủ yếu từ các tích thời Xuân Thu - Chiến Quốc được chép trong các trước tác Tiên Tần và văn thơ đời Đường - Tống Ngoài ra còn có các kinh sứ và thư tịch biên soạn ở các đời khác nữa

Từ các phân tích và khái quát như trên, các tác giả của cuốn từ điên này đã chọn các đơn vị từ ngữ đáp ứng hai cấp độ nghĩa: a) ý nghĩa từ nguyên (tức là tính lịch sử cụ thể); b) ý nghĩa biểu trưng (hay tính biểu trưng, hoặc mang giá trị phong cách học), để đưa vào các mục từ của sách

1.1.17 Mạc dù vậy, phần lí luân như trên không chính xác về mặt ngôn ngữ học

khi khảo sát ý nghĩa của điển cố, đổng thời trong từ điển có các đơn vị chỉ là điển tích

Tuy nhiên, đây cũng là một đóng góp có giã trị cho lí luận và thực tiễn của nghiên cứu điển cố Hán Nôm ở nước ta hiện nay

1.1.18 Đinh gia Khánh cũng phần nào định nghĩa điển cố khi ông giải thích cách thức lựa chọn các đơn vị muc từ trong cuốn “Điển cố văn học” xuất ban nãm 1977 Ông cho biết các điển cô trong sách là thông dụng để xây dựng hình tượng trong vãn học cổ , chúng bao gồm những sự tích (như Gác vàng; cây Hàn Bằng) những nhân vật (như Di Tề; Tô Tần), những thành ngữ (như “Quat nồng ấp lạnh”; “Sửa dép vườn dưa” ) Bên cạnh đó còn có một số từ ngữ Hán học (như Ngũ giới, Lục cực, Hoa đàm) [61, 7]

Từ điển này thu thập các đơn vị điển cố Hán học sử dụng trong vãn thơ Nôm, một số được dùng trong văn học viết bằng chữ Hán thời xưa cũng như trong văn học truyền miệng dân gian Tuy chưa có định nghĩa cô đọng nhưng qua giai thích cũng thấy rõ quan niệm về điển cố là gồm các điển tích (sự tích ), nhân danh, các đơn vị có hình thức giống như thành ngữ Do khuôn lại trên cơ sở cách hiểu như trên nên nhiều đơn vị điển cố khác không được đưa vào từ điển (có lẽ do định hướng của các tác giả khi cho

từ điển này chưa phải là một cuốn từ điển văn liệu hoàn chỉnh.)

1.1.19 Hai tác giả Nguyễn Thạch Giang và Lữ Huy Nguvên khi đưa ra các nhận xét về thư tịch Hán Nôm được dùng để biên soạn cuốn “Từ ngữ điển cô văn học” xuất bản năm 1999 có đề cập đẽn diện mạo của điển cố trong nhận xét rằng mọi mặt sinh

Trang 25

những từ Hán lấy trong các thư tịch cổ Trung Quốc .Nói chung, những điển, những chữ sách này đều được rút ra từ truyện một số nhân vật, một số sự kiện lịch sư nhất định được ghi lại trong nhiều sách khác nhau” [43, 9].

ở đầy dùng ba thuật ngữ “điển” và “chữ sách”, “từ Hán”; để bao quát khái niệm điển cố Trên thực tế, quyển từ điển này đã tường giải các “từ ngữ, thành ngữ, những địa danh, nhân danh có ý nghĩa điển cố” [43, 31] Đày thực sự là một từ điển văn liệu quý giá tuy nhiều đơn vị điển cố thông dụng đã thiếu vắng (chẳng hạn, “ Mạnh Thường Quân” )

1.1.20 Các tác giả biên soạn sách và từ điển điển cố đểu cố gắng xác lập những tiêu chí nhất định nhằm cô lập đơn vị điển cố khỏi trùng lặp với các đơn vị khác trong khối từ vựng Điển cố luôn luôn có tích truyện, tức là có cốt truyện được thu gọn , được

cô đọng lại ở một vài từ Điển cố có xuất xứ từ các tác phẩm vãn học, các tác phẩn dân gian truyền miệng, từ truyện lịch sử.v.v

Nguyễn Văn Tu cho biết một số không lớn thành ngữ tiếng Việt có tính chất điển

cố, điển tích Ông cho rằng những điển đó không được nhớ lại nữa, ngay cả người sử dụng các thành ngữ mang tính điển cố cũng khổng cần biết gốc gác cùa chúng [ l i 1 186]

1.1.21 “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chù biên coi điển cỏ là sự việc, câu chữ trong sách đời trước được dẫn lại trong thơ vân [88, 138] và coi điển tích là câu chuyện trong sách đời trước được dẫn lại cô đúc trong tác phẩm [88, 138] Hai định nghĩa này phản ánh chính xác bản chất của điển cố và điển tích Điên cô bao gôm các

sự kiện , vấn đề, từ ngữ, chữ câu từng được ghi trong các thê loai vãn học thời xưa (bao

gồm các thể loại đã nêu ví dụ ở trên) được dần trích nguyên hay thu gọn lại Tích chính

là chuyện, là sự tích từng được kể trong sách xưa được tóm tắt thật ngắn gon, trong một vài từ Tuy nhiên mối liên hệ giữa điển cố và điển tích chưa được làm rõ Đào Duv Anh [2, 276] xác nhận điển cố là những chuyện chép trong sách vờ xưa, tuy vậv ỏng chưa đưa ra những đặc điểm của điển cố khác chính những chuyện đó như thê nào.1.1.22 Từ những định nghĩa, nhận xét đã dẫn của nhiều học giả, có thê tạm thời đưa ra một định nghĩa mang tính làm việc về điển cố:

Trang 26

tên của các nhân vật văn chương và sự thực lịch sử, là những sự kiện chính trị, chiến tranh, tôn giáo,v.v trong tiến trình phát triển xã hội được viết gọn, cồ đọng hằm súc lời ít ý nhiều.

Điển tích là những cốt truyện, diễn trình của các sự kiện nổi bật trong văn chương, trong lịch sử được dẫn lại cô đọng trong ngôn bản

Như vậy, điển tích có thể được đặt tên, có thể là nội dung của điển cố Do đó điển

cố bao hàm điển tích Chẳng hạn điển cố “Tảo Tần” (hay Tần Tảo) có ý nghĩa: sự đảm đang của người vợ trong gia đình Tích truyện của điển cô rút ra từ bài “Thái tần” trong Kinh Thi: “Vu dĩ thái tần, nam giản chi tân Vu dĩ thái tảo, vu bỉ hàng lạo” (Bèn

đi hái rau tần bên bờ lạch phía nam, bèn đi hái rau tảo bên khe nước đẳng kia) Bài thơ này khen ngợi người đàn bà hiền thục chăm chỉ đi hái rau , rau tần rau tảo về làm giỗ cúng gia tiên nhà chồng

Thực ra khái niệm điển cố gồm hai vế điển và cố Điển là những gì mà trong định nghĩa điển cố đã nêu, còn cố chính là nội dung của điển tích Điển cố nào cũng có xuất

xứ nguồn gốc hoặc trong sách xưa thuộc văn chương, kinh bổn, hoặc các sự kiện từng diễn ra trong lịch sử con người

1.1.23 Xét về mặt ngữ nghĩa, điển cố có những đặc điểm sau

hay ở ngoài đời thực Trong điển c ố có hình tượng Tuy nhiên tính cụ thể đó thường

mang ý nghĩa ẩn dụ hay hoán dụ để truyền diễn một ý khái quát mang tính chất phổ biến Trong bài “Côn sơn ca” của Nguyễn Trãi có câu: “ Hữu bất kiến Bá Di dữ thúc Tề, Thú Dương ngạ tử bất thực túc? (Lại kia trên núi Thái San / Di Tề nhịn đói chẳng màne thóc Chu) Tích của điển cố “Di Tề” kể hai anh em Bá Di, Thúc Tề can ngân Chu Vũ Vương dấy binh đánh Trụ, nhà vua cuối cùng của nhà Thương, tuy vậy nhà Chu vẫn diệt nhà Thương Thấy vậy hai ồng vào núi Thú San ở ẩn không ăn thóc nhà Chu, chỉ

ăn rau vi để sống Sau có người bảo rằng rau vi ấy cũng mọc trên đất nhà Chu, thế là hai ông nhịn đói và qua đời Điển cố này ca ngợi các bậc ẩn sĩ sống thanh bạch

Trong Kiều có câu “Sự lòng ngỏ với băng nhân / Tin sương, đồn đại xa gần xôn xao.” Điển cố '‘Băng nhân” chỉ người làm mối Truyện xưa kể Linh Hổ Sách mộng

Trang 27

việc làm mối, người nên vì ta làm mối vợ, khi băng tan thì xong” [77, 40].

Hai điển cố trên đều trỏ những hình tượng cụ thể: Bá Di, Thúc Tề và Linh Hồ Sách Thời gian trôi qua, ý nghĩa những hình tượng này vượt khuôn khổ cụ thế mà trở nên phổ quát cho tiết tháo cao cả của nhà Nho (Di, Tề) và về người làm mối hôn nhân, (Bâng nhân); Tính cụ thể gắn bó với tình hình tượng của điển cố, bất cứ điển cố nào cũng mang ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm rất rành rẽ Nếu như ớ một từ, ý

nghĩa biểu niệm là cơ bản thì ở điển c ố không thể coi ý nghĩa biểu niệm là quan trọng

hơn vì sự hấp dẫn và sự biểu cảm mạnh mẽ hình thành từ mối liên tưởng từ tính chất cụ thể của hình tượng sang giá trị của ý nghĩa biểu niêm

b, Tính biểu trưng Thông qua hình tượng của ý nghĩa biểu niệm mà tính biểu trưng được xác lập Ý nghĩa biểu vật cụ thể được nâng lên ý nghĩa biểu niệm mang tính trừu tượng, phổ quát Trong Kiều có câu: “Khi tựa gối khi cúi đầu, / Khi vò chín khúc khi chau đôi mày”, hay trong tác phẩm “Hoa Tiên” “Chợt nghe chín khúc tơi bời / Thềm lan lãng đãng ngại dời gót lan”, V V

Điển cố “Chín khúc” hay “Vò chín khúc” do chữ “Cửu hồi trường” (ruột vò chín lần) trong vẫn của Tư Mã Thiên: “Trường nhất nhật nhị cửu hồi” (ruột một ngày vò chín lần), trong thơ Giản Vãn Đế: “Bi dao dạ hề cửu hồi trường” (buồn khi đêm dài dặc, ruột vò chín lần) Tính ấn dụ đã cấp thêm cho điển cố này ý nghĩa biểu trưng là nỗi nôn nao buồn bã trong lòng

Điển cố “Tang bồng” và “Hồ thỉ” xuất xứ từ ngữ “tang bồng hồ thì” (cung bằng dâu tên bãng cỏ bồng) Trong sách “Kinh Lễ” kể xưa kia ờ Trung Hoa trong các gia đình mới sinh con trai, người ta treo cung bầng dâu, tên băng cỏ bổns ở trước cưa để cầu chúc đứa con sẽ đầy khí phách trị quốc bình thiên hạ khi lớn lên Sau đó họ dùng cung tên ấy bắn bốn phát đi bốn hướng, rồi một phát lên trời, một phát nữa xuông đất

Họ làm vậy hàm ý cậu con trai kia sẽ lập chí ở bốn phương và tung hoành khắp thiên

hạ, ý nghĩa hoán dụ ờ đây mang tính biểu trưng về chí nam nhi dọc ngang trời đất giúp dân giúp nước Người ta hay nói “Phỉ chí tang bổng” Trong “ Hoa tiên” viết: “Dạy răng

hồ thỉ chí trai / Tìm thầy hỏi bạn chi hoài bỗng dưng”, còn trong “Lục Vân Tiên” có đoạn: “Bấy lâu đèn sách gia công,/ Con đã nên chữ tang bồns nàv chăng?”

Trang 28

định của con người nhất định, Việc áp dụng điển cố gắn bó chặt chẽ với thái độ, tình cảm, quan niệm, nhận xét, đánh giá như yêu quí, tôn trọng, thương xót, cảm thông, coi thường, khinh bỉ, ghét bỏ, câm hận, v.v khi nhìn nhận hiện tượng, sự việc hay con người mà điển cố được viện dẫn để tỏ ý kiến.

Điển cố “Chim sa cá lận” (dịch câu ‘T rầm ngư lạc nhạn” trong sách “Thông tục biên” khi kể sắc đẹp người con gái khiến cá sợ mà lận đi, chim nhạn sợ mà sa xuống đất) Khi dùng điển cố này người nói hav người viết tỏ sự ngưỡng mộ nét quyến rũ cùa người đàn bà đẹp Trong “Cung oán ngâm khúc” viết: Chìm đáy nước cá lờ đờ lận, / Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa”

Tuy nhiên, tính biểu thái chỉ được bộc lộ ở một sô điển cố hay điển tích có khuynh hướng thể hiện thái độ hav sự đánh giá Hơn nữa, tính biểu thái không bao quát

tất cả các đơn vị điển c ố vì điển c ố mang chức năng thông báo Đ iển cố có tích truyện,

có sự việc, có sự kiện, có diễn trình từ văn sách, từ văn chương, từ lịch sử, từ cuộc đời

các danh nhân hay nhân vật vãn học, nghĩa là điển cố thông báo về một lẽ một V niệm,một nội dung nhất định được cô đúc thành một vài chữ, một ngữ, một câu

Điển cố “Nghê thường” (xiêm áo rực rỡ như sắc cầu vồng) Tích kể vua Đường Minh Hoàng cùng đạo sĩ chơi trên cung trăng, Hằng Nga sai đoàn tiên nữ mặc nghê thường múa hát dưới gốc quế theo một điều nhạc rất du dương Khí về, vua mô phỏng đặt ra khúc nhạc dành cho các cung nữ biếu diễn gọi là “ Khúc Nghê thường” Từ đây, điển cố “Nghê thường” hàm chỉ người đẹp hav tài của ca vũ công Còn điển cố “ Khúc Nghê thường” nghĩa là nhạc nơi bồng lai tiên cảnh, trên tiên giới

1.2 Môì TƯƠNG QUAN GIỮA ĐIÊN cố VÀ THÀNH NGỮ.

1.2.1 Điển cố không phải là đơn vị cấu trúc ngôn ngữ vì điến cô' có thể là từ, là cụm từ và câu Điển cô không trùng với thành ngữ

Nguyễn Du có viết: “Trải bao thỏ lặn ác tà, / Âv mổ vô chú ai mà viếng thăm” Điển cố “ác” chỉ có môt từ Thần thoại Trung Quốc kể trên mặt trời có con quạ (ác) vàng ba chân “Ác” ở đây chi mặt trời Đây là điển cô' có hình thức là từ Điển cố “rốn

bể cửa hầu” (chỉ nhà quyền quí, vào rồi thì khó ra: cửa nhà quan thẳm sâu như rốn bể),

Trang 29

sự việc bị đứt đoạn nửa chừng, điển cố này là một câu.

Điển cố không hiện diện có sẵn trong ngôn ngữ, do vậy chúng chỉ là các đơn vị

sử dụng Trong khối từ vựng của ngôn ngữ đã sẵn có thành ngữ vì chúng là đơn vị cấu trúc ngôn ngữ Để hiểu rõ hơn sự khác biệt giữa thành ngữ và điển cố về mặt cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ pháp cần xác định bản chất của thành ngữ Việc xác nhận những đặc

trưng căn bản của thành ngữ trở nên rất quan trọng để việc so sánh với điển c ố trở nên

có tính thuyết phục bởi có một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam, phương Tây và Nga coi điển cố là thành ngữ [136, XIV1, [220, 108], [234, 230], [108, 5] Thâm chí Ju.Afonkin còn nghĩ rằng cho dù còn có ranh giới nhất định hav có tồn tại sự không hoà nhập của điển cố vào khối thành ngữ nói chung vì còn có những đơn vị điển cố mang hình thức một từ, song những điều đó không thể thay đối được bản chất vấn đề là đặc tính thành ngữ qui định điển cố thuộc về phạm trù từ thành ngữ với tư cách một loại thành ngữ đặc biệt (die der Phraseologie der Sprache als deren besondere Spielart angehoren) [181, 21]

1.2.2 Trước hết cần xét các đặc điểm về mặt ngốn ngữ của thành ngữ Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những cách nhận diện riêng về thành ngữ Đinh TrọngLạc và Nguyễn Thái Hòa cho rằng theo cách hiểu đã là truyền thống thì thành ngữ là những

cụm từ cố định có kết cấu lớn hơn từ nhưng lại giữ chức năng của từ, có hình ảnh và

giàu màu sắc biểu cảm [69, 177] Hai ông cũng nhận xét là thành ngữ khác các từ ngữ tương đương ở chỗ chức năng ngữ pháp không cứng nhắc mà có thế linh hoạt được dùng như chủ ngữ, như vị ngữ hay một bộ phận của câu hay trở thành một câu, tức là phát ngôn Từ đó có thể thấy thành ngữ là những đơn vị có sẵn trong kho từ vựng nhưng ở dạng tiềm năng Chính sự uyển chuyển vốn có trong sử dụng khiến cho việc vạch ranh giới rành rẽ giữa thành ngữ với từ ghép, giữa thành ngữ với tục ngữ không hề

dễ dàng [69,179]

1.2.3 Các tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú và Nguyễn Thái Hòa nêu định nghĩa coi thành ngữ là những kết hợp có sẵn (cụm từ cố định) trong ngôn ngữ, giữ chức năng định danh như từ được dùng để gọi tên sự vật, tính chất hành động [10, 129] Thành ngữ có nội dung súc tích, có hình thức đẹp đẽ [10, 129] Có ba loại thành ngữ: khẩu ngữ, gọt giũa (bác học) và đa phong cách Các tác giả phát hiện thấy về màu sắc

Trang 30

khái quát phổ biến Nguyên tắc cấu tạo chung của thành ngữ là có cấu trúc cụm từ và tuân theo qui tắc chuyển nghĩa (gồm ẩn dụ và hoán dụ) “Lấy những từ biểu thị những hình ảnh, những hiện tượng sinh động, quen thuộc trong cuộc sống làm dấu hiệu đó gọi tên những sự vật mới, những tính chất mới, những hành động mới” [10, 131] Như vậy

thành ngữ có hai lớp nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng, chính nghĩa bóng là cách hiểu về

nội dung thành ngữ Từ đó có thể coi thành ngữ là “tổ hợp từ cố định mang tính ước lệ ngữ nghĩa của tập thể” [10, 131]

1.2.4 Cù Đình Tú cũng dùng định nghĩa coi thành ngữ là các tố hợp từ cố định, giữ chức năng gọi tên sự vật, tính chất, hành động [ 112, 223] Ông nhận thấy cách biểu đạt bằng thành ngữ vừa sâu sắc, vừa hấp dẫn là do thành ngữ dùng các hình ảnh biểu trưng Ví dụ: “Rừng vàng biển bạc”, “Cha căng chú kiết” Nguyên tấc cấu tạo của thành ngữ dựa vào qui luật hài thanh, dựa vào qui tắc ngữ pháp, qui tắc chuyển nghĩa

ẩn dụ và hoán dụ Ví du: “ Chân lấm tay bùn”, “Êch ngồi đáy giếng” Nghĩa đen cúa thành ngữ tạo nên bởi bản thân tổ hợp từ ngữ và có tính cụ thể, sinh động và hình ảnh Còn nghĩa bóng có tính trừu tượng, khái quát đồng thời có sắc thái biểu cảm Do tính linh hoạt, cơ động của nghĩa bóng trừu tượng khái quát mà thành ngữ có thể được dùng như một danh từ, một tính từ hay một động từ [112, 238] Ông cho biết cơ chế nội dung của thành ngữ là thể thống nhất của hai nghĩa: nghĩa đen là phương tiện biểu trưng, nghĩa bóng vừa là nội dung biểu trưng, vừa là mục đích biểu trưng Cơ chế ngữ nghĩa như vậy khiến nghĩa đen tạo nên tính hình tượng, còn nghĩa bóng tải nghĩa khái quát, hàm súc Thành ngữ giúp cho sự diễn đạt trở nên phong phú và đậm nét dân tộc

1.2.5 Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “ Phong cách học tiếng Việt” xác định thành ngữ là những đơn vị định danh biểu thị khái niệm nhất định nào đấy dựa trẽn những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể [ 68, 229] Ông coi tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ, tính hình tượng đó được xác lập trên cơ sở của phương

thức so sánh, và ẩn dụ, hoán dụ, Cách biểu đạt bằng thành ngữ mang tính biểu trưng

Ví dụ “Gan vàng da sắt”, “Nhường cơm xẻ áo” Thành ngữ thích hợp với nhiều phong cách Người ta có thể dùng thành ngữ ở dạng nguyên vẹn hoặc cắt xén và giữ lai vài yếu tố Chẳng hạn trong “Kiều” có câu: “ Phòng khi nước đã đến chân / Dao này thì liệu với thân sau này”

Trang 31

đại” đã gọi thành ngữ là những tổ hợp từ (tức là gồm nhiều từ hợp lại) có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa Thành ngữ dùng để miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đấy [71, 97 ] Chẳng hạn: “Cao chạy xa bay”, “bới lông tìm vết” Định nghĩa này, tác giả không dùng thuật ngữ " nghĩa bóng” là nói ý nghĩa bóng bẩy Thực chất thì trong thành ngữ có hai lớp nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng cùng tồn tại.

1.2.7 Các tác giả cuốn “Thành ngữ tiếng Việt” là Nguyễn Lực và Lương Vãn Đang đã trình bày những ý kiến khá sâu sắc về thành ngữ Theo các ông thì thành ngữ tiếng Việt có ba đặc tính dựa trên nhận định rằng thành ngữ có vị trí ớ bậc trên từ và dưới câu

a) Xét về mặt kết cấu hình thái thì thành ngữ phổ biến có cấu tạo cụm từ cố định Song có thế có tính cố định cao tới mức làm ngữ cố định nhờ cấu trúc vững chắc Ví dụ: “Mèo mù vớ cá rán”, “Bắt chạch đằng đuôi” Một khi thành ngữ bị vi pham về trật

tự, vị trí từ hoặc thay thế từ đồng nghĩa hay một từ loại tưcmg đương thì kết cấu bị phá

vỡ và tư cách thành ngữ không còn nữa

b) Khi xem xét nghĩa thì các tác giả chỉ cho một số thành ngữ có tính đa nghĩa, trong đó nghĩa bóng là quan trọng nhất, nghĩa bóng hàm chỉ các phương thức biểu hiện nghĩa khác nhau như ẩn dụ, hoán dụ, khoa trương, so sánh, hình tượng, v.v Do vậy nghĩa thành ngữ mang tính biểu trưng Cuối cùng các tác giả cho rằng nghĩa bóng là đặc tính bản chất của thành ngữ [43, 8] Tuv nhiên, nhiều thành ngữ vần dùng cả hai nghĩa: đen và bóng Đại đa sô thành ngữ tiếng Việt không có nghĩa từ nguyên

c) Thành ngữ có thể được dùng như một từ, một mệnh đề, một ngữ cú cố định (tức là một cụm từ chủ vị) Thành ngữ tiếng Việt thường được dùng như một đơn vị ngôn ngữ sẵn có Theo sách này thì khi thành ngữ được sử dụng tương đương một từ thì

sẽ có chức năng định danh, còn khi giữ tư cách một mệnh đề, một ngữ cú cố định thì

nó có thể mang chức năng thông báo (có giới hạn) [43 10]

Thành ngữ thường có kết cấu ít nhất là hai từ trở lên thậm chí có kết cấu tới mười

ba từ, song kẽt cấu phổ biên là có hai vế Kết cấu vế càn đối trội hơn kiểu vế khỏna cân đối Xét về mặt âm vận thì một sô thành ngữ có vần, đa số là vần lưng (như “bóc áo tháo cày”, “bé xé ra to”, “trông mặt mà bắt hình dong” ), Tóm lại kiểu kết cấu phổ biến

Trang 32

xen kẽ như “Ản to nói lớn” “Bán vợ đợ con”, “Ra giày vào dép” [43, 14] Bên cạnh đó, thành ngữ Việt có thể gồm trên bốn từ, thậm chí tới mười từ (“Trẻ không tha già không thương”, “Vén tay áo xô đốt nhà táng giấy”) hay mười ba từ: “Đi VỚI bụt mặc áo cà sa,

đi với ma mặc áo giấy”

1.2.8 Các tác gả cũng đề cập tới loại thành ngữ có nghĩa từ nguyên, tuy nhiên, ở đây họ phân vân vì những đơn vị này chính là điển cố và xếp chúng vào thành ngữ với các tiêu chí nhận dạng nói trên thì không ổn, vì vậv họ đặt câu hỏi không biết có nên goi đó là thành ngữ điển cố được hay không

1.2.9 Tác giả Nguyễn Văn Tu trong chuvên khảo “Từ và vốn từ tiếng Việt hiên đại” in năm 1976 nhận định “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải đo nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” [111, 187].Cũng giống như tập thể tác giả Nguyễn Lực và Lương Vãn Đang của cuốn

“Thành ngữ tiếng Việt”, Nguyễn Văn Tu coi điển cố là thành ngữ khi ông nói: “ Một số

ít thành ngữ trong tiếng Việt có tính chất điển cố, điển tích” [111, 186], chẳng hạn:

“Kẻ Tấn người Tần”, “Mưa Sở mây Tần”

1.2.10 Nguyễn Thiện Giáp trong “Từ và nhận diện từ tiếng Việt” xuất bản năm

1996 đưa ra định nghĩa coi thành ngữ là những cụm từ cố định hoàn chinh về nghĩa và

có giá trị gợi tả Đặc trưng cơ bản của thành ngữ là tính hình tượng, tính chất này dưa trên hiện tượng so sánh và ẩn dụ Khái niệm nhất định do thành ngữ biểu thị đươc tạo lâp trên cơ sở những hình ảnh và biểu tượng cụ thể, những hlnh ảnh này tổn tại độc lập

và song song với ý nghĩa của thành ngữ và tạo nên giá tri gợi tả [47, 183] Ý nghĩa cua thành ngữ luôn mang tính cụ thể vì có tính hình tượng, bới vậy thành ngữ không có khả năng ‘ldiễn đạt đổng thời quan hệ chủng và loại, không có diện chung và diện riêng của ý nghĩa như các đơn vị định danh [47, 183] Chẳng hạn: “Ghi xương tạc tủy” chi sự ghi nhớ rất sâu sắc, bền lâu chứ không phải ghi chép nói chung Những mặt nghĩa của

thành ngữ bộc lộ nét đặc trưng văn hóa của dân tộc vốn được thể hiện trong V nghĩa

biêu trưng Ong cũng yêu cầu phân biệt hai phương diện ý nghĩa của thành ngữ là ý

Trang 33

tức là hình thái bên trong, hay là hình ảnh cụ thể của thành ngữ), và ý nghĩa thực tại (hình thành thông qua so sánh và ẩn dụ) [47, 187).

1.2.11 Trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt” Nguyễn Thiện Giáp còn đưa ra hai loai thành ngữ Đó là thành ngữ hợp kết hình thành nhờ “sự kết hợp của một thành tố

biểu thị thuộc tính chung của đối tượng với các thành tố khác biểu thị thuộc tính riêng

của đối tượng” [48, 77] Ví dụ: “Rách như tổ đỉa”, “Anh hùng rơm” Đổng thời cũng

có sự kết hợp hai thành tô' nghĩa thể hiện các mặt riêng của một đối tượng chung hơn cần diễn đạt (Ví dụ: “Ruộng sâu trâu nái” , “Đầu bạc răng long”) Loại thứ hai là thành ngữ hòa kết được hình thành trên cơ sở một sự ẩn dụ toàn bộ (Ví dụ: “Già kén kẹn hom”, “Chó ngáp phải ruổi” ) [48, 78]

1.2.12 Ngoài ra, còn có thể đưa ra một sổ định nghĩa khác nữa, chẳng hạn trong

“Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” do Nguyễn Như Ý chu biên coi thành ngữ

là cụm từ hoặc ngữ cố định có tính nguyên khối về mật ngữ nghĩa, tạo nên một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng sô ý nghĩa của các thành tô cấu thành nó, nghĩa là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu Tuy nhiên, những định nghĩa trên đây do các nhà nghiên cứu ở nhiều ngành của ngôn ngữ học đưa

ra đã bao quát các mặt của thành ngữ Tóm lại, có thể xác nhận thành nsữ ở ba bình diện:

a) Cấu trúc: Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ vì nó sán có trong kho từ vựng và được tái tạo nguyên vẹn khi sử dụng Thành ngữ là những cụm từ cố định có cấu trúc lớn hơn từ nhưng được sử dụng như từ và các đơn vị khác lớn hơn Thành ngữ là các kết hợp sẩn có và vững chắc về cấu tạo, trong đó có hai từ trờ nên Thường thường, thành ngữ tiếng Việt có hai vế, hai vế đó có thể càn đối hoặc không cân đôi, phố biến

có kết cấu bốn từ đơn hay hai từ ghép theo lối liên hơp hoặc xen lẽ Thành ngữ tiếng Việt có lối hài thanh với vần lưng là chủ yếu

b) Ngữ nghĩa: Thành ngữ biểu đạt những khái niệm nhất định trên cơ sở các hình ảnh, biểu tượng cụ thể nhằm gọi tên (định danh) sự vật, tính chất, hành động Ngữ nghĩa của thành ngữ là một khối vững chắc khác với tổng số nghĩa của các thành tố tạo nên Y nghĩa của thành ngữ gồm nghĩa đen và nghĩa bóng, trong đó nghĩa bóng làm nội dung của thành ngữ Nghĩa bóng này mang tính ước lệ, trừu tượng, khái quát, hàm

Trang 34

xuất phát từ tính hình tượng, một đặc trưng cơ bản của thành ngữ vốn được tạo lập do

so sánh, ẩn dụ và hoán dụ Đa số thành ngữ mang nghĩa từ nguyên (hình ảnh cụ thể) nhưng bị lu mờ trong sử dụng, và nghĩa thực tại (nghĩa bóng) được coi là nội dung đích thực

thành ngữ có thể giữ cương vị chủ ngữ, vị ngữ, bộ phận câu hoặc câu (bởi lẽ thành ngữ được dùng như danh từ, tính từ và động từ) Khi được sử dụng như một từ thì chức năng định danh rất rõ ràng Thành ngữ biểu đạt các khái niêm có nội dung trí tuệ và mang sắc thái tình cảm, đánh giá

thành ngữ

a) Thành ngữ là một đơn vị cấu trúc ngôn ngữ vì chúng tồn tại sẩn có trong từ

vựng và được toàn thể cộng đổng sử dụng ngôn ngữ dùng nguvên vẹn trong giao tiếp

Còn điển cố là một đơn vị sử dụng, điển cố có thể là từ là cụm từ hoặc câu, thành ngữ mang chức nâng định danh, còn điển cố có chức nâng thông báo

b) Cấu trúc của điển cố không cố định như thành ngữ vì chúng có thể là một cụm

từ, một câu thâu tóm cả một câu chuyện, một sự kiện, là một từ chỉ nhân danh của nhân vật lịch sử hay nhân vật vãn học, là địa danh hoậc thậm chí cả câu trích dẫn, từ hoăc ngữ trong sách xưa

c) Nếu thành ngữ có nghĩa đen và nghĩa bóng thì điên c ố có V nghĩa từ nguyên

(hay ý nghĩa lịch sử) và ý nghĩa biểu trưng hay là ý nghĩa thực tại Ví dụ: Điển cố “ Đất bằng sấm vang” có nghĩa từ nguyên trong sách c ổ thi “ Vũ môn tam cấp lãng, bình địa nhất lôi thanh 5 (vũ môn ba tầng sóng, đất bằng một tiếng sấm vang) Ý nghĩa biểu trưng chỉ sự thi đỗ và danh vọng lẫy lừng Ngoài ra ờ đây còn có điển cố “Cứa Vũ” Hay “Cửa Võ” có gốc từ “Vũ môrT ý nghĩa từ nguyên trong truyền thuyết kể vua Vũ nhà Hạ khi trị thủy đã đục phá mỏm đá trên thượng lưu sông Hoàng Hà, vì thế chỗ nàv được gọi là Vũ môn (cửa Vua Vũ) Ở đây luôn có sóng dữ cứ vào tháng ba, hàng đàn

cá chép tới đây cố sức vượt qua Vũ môn, con nào qua được thì hóa rồng Ý nghĩa biểu

Trang 35

d) Khác với thành ngữ, điển cố luôn luôn có xuất xứ, nguồn gốc từ sách cổ, kinh

bổn tác phẩm vãn học, sự kiện lịch sử, v.v Điển cố luôn luôn có cốt truyện, có tích

Ý nghĩa biểu trưng của điển cố rút ra từ các tích truyện, sự kiện Vì vậy nội dung điên

cố luôn luôn hàm súc, lời ít ý nhiều

Thành ngữ được lưu giữ trong tâm thức cộng đổng, vì vậy mọi người đều hiếu khi

nói, khí nghe Song điển cố vì có tích truyện nên phải có từ điển hay sách tra cứu sách

vở xưa để tìm hiểu cả nghĩa từ nguyên lẫn nghĩa biểu trưng

e) Thành ngữ được phổ biến cả trong đời sống hàng ngày lẫn sách vở, báo chí

Điển cố có tầm áp dụng chủ vếu trong ngôn ngữ viết, số lượng điển cố phổ cập trong

khẩu ngữ rất ít Trước đây do chuộng bất chước cổ văn mà các tác giả dùng nhiều điển

cố, hơn nữa do văn biền ngẫu bị gò theo lượng âm tiết mà khó diễn đạt nên điển cố' trờ

nên một phương tiện rất hữu ích cho việc chuyển tải nội dung

g) Điển cố tiếng Việt phần lớn có nguồn gốc từ Hán văn cổ nên dùng nhiều từ

Hán Việt Thành ngữ Việt mang bản sắc dân tộc rất rõ ràng do sử dung chủ yếu từ

thuần Việt, Tuy nhiên, các tác giả văn Nôm đã rất tài tình trong sứ dụng điển cố có gốc

gác Hán văn, để tạo nên những áng văn thơ tuyệt đích phù hợp với tâm lí, phong tục và

óc thẩm mỹ của người Việt

1.3 MÔI TƯƠNG QUAN GIỮA ĐIỂN cổ VÀ TỤC NGỮ.

sáng tác như ca dao, dân ca [87, 37] Còn Chu Xuân Diên và các tác giả khác trong

sách “Tục ngữ Việt Nam” (1975) coi thành ngữ phan ánh khái niệm, còn tục ngữ thể

hiện phán đoán [39, 27] Tác giả Nguyễn Văn Tu trong ‘T ừ và vốn từ tiếng Việt hiện

đại’' nhận xét: “Trong tiếng Việt, những tục ngữ, phương ngôn và ngạn ngữ có liên

quan đến những thành ngữ và quán ngữ Chúng khỏna phải là đối tượng của bộ môn từ vựng học mà là đối tượng của vãn học dân gian Nhưng vì chúng là những câu có sẵn

trong ngổn ngữ được dùng đi dùng lại trong khi trao đổi tư tướng cho nên chúng dính

dáng đến vấn đề cụm từ cố định Thực ra chúng là những câu hoàn chỉnh chỉ một nội

dung đầy đủ không cần có những thành phần cú pháp nào khác nữa v ề mặt tổ chức

Trang 36

coi là những đơn vị từ vựng học về một khía cạnh nào đó” [111, 187] Ông nhận xét rằng chức năng của tục ngữ là lưu truyền những kinh nghiệm đời sống xã hội và lịch sử của nhân dàn Nghĩa của các từ trong tục ngữ mớ rộng ra từ hình tượng.

Tác giả Đái Xuân Ninh khi phân biệt thành ngữ và tục ngữ trong quyển “Hoạt động của từ tiếng Việt” cũng cho thành ngữ và tuc ngữ đều là những đơn vị sẵn có trong ngôn ngữ Tuy nhiên, về kết cấu thì tục ngữ thể hiện một thõng báo gọn, là một câu hoàn chỉnh truyền diễn một ý trọn vẹn, về kinh nghiệm sản xuất, nhận định cuộc đời hay lời khuyên Tục ngữ là đối tượng của văn học dân gian Còn thành ngữ mang tính định danh sự vật, trạng thái, hành động và phái hiểu thành ngữ theo nghĩa bóng, nghĩa bóng này xác định do mối tương quan hình ảnh của các thành tố [84, 213],

Các tác giả khác như Cù Đình Tú [112], Hồ Lê [71] cũng đều coi tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, cố định, diễn đạt ý trọn vẹn về kinh nghiệm lao động san xuất hay ứng xử ở đời Ví dụ: “Phép vua thua lệ làng” , “Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng”, “Môi hở răng lạnh” , “Được mùa cau, đau mùa lúa” “Cơm tẻ là mẹ ruột”

1.3.2 Từ những ý kiến nêu trên có thể nhận thấy rằng, về cấu trúc, tục ngữ có cấu tạo câu hoàn chỉnh, về ngữ nghĩa, tục ngữ truyền diễn các phán đoán, và cuối cùng, tục ngữ tải chức năng thông báo

1.3.3 Như vậy, điển cố có một số nét tương đồng với tục ngữ khi điển cố có cấu trúc câu trọn vẹn Điển cố cũng nêu các phán đoán và mang chức năng thông báo Tuy nhiên, tục ngữ là các đơn vị cấu trúc ngôn ngữ vì chúng có sẵn trong từ vựng và được lưu trong kí ức mọi thành viên của cộng đồng Điển cố là đơn vị sử dụng, và do các tác giả trích dẫn ra từ sách, từ các sự kiện lịch sử Tục ngữ tuân theo qui luật hài thanh, nhiều tục ngữ có vần lưng và có tính đối xứng, những tính chất này chỉ xuất hiện lẻ tẻ

trong hệ thống điển cố.

1.3.4 ơ đây cần lưu ý một điều là cấu trúc điển cố tuân theo các quan hệ cú pháp bình thường như tục ngữ vậy c ả điển cô và tục ngữ đều khác thành ngữ vì cấu trúc thành ngữ đã chệch khỏi mô hình cú pháp thông thường mà tác giả Nguyễn Thiện Giáp [47, 215 và 218 - 222] gọi là tính phi cú pháp Tác giả Phan Ngọc cũng có V

kiến tương tự khi ông xác định kiểu cấu trúc vị - vị hầu như là phổ biến cúa thành ngữ

[80, 88] Ví dụ: “Cơm gà cá gỏi”

Trang 37

giả Phan Ngọc đánh giá là yếu tố then chốt để hiểu được tục ngữ [80, 89].

Trong cấu trúc nghĩa cùa tục ngữ nổi bật vai trò của ẩn dụ Những nghĩa ẩn dụ này nhiều khi đạt tới mức biểu trưng, một tính chất vốn đặc thù cho điến cố Ví dụ

“Rau muống sâu xanh, rau dền sâu trắng” , “Ông mất chân giò bà thò chai rượu” Tuy nhiên tính biểu trưng ở tục ngữ không phổ biến vì nghĩa đen vẫn rõ ràng và là nổi trội trong nhiều trường hợp

1.4 MÔI TƯƠNG QUAN GIỮA ĐIÊN cô VỚI CÁCH NGÔN VÀ DANH NGÔN.

1.4.1 Cách ngôn là câu có cấu trúc cố định được dẫn trích từ các thể loại vãn học nghệ thuật dán gian, hoặc được rút ra từ kinh nghiêm sống, cách ngôn thể hiện nội dung ý nghĩa khuyên răn dạy bảo người đời một cách có hình ảnh và được dùng theo lối truyền khẩu trong đông đảo quần chúng nhân dân Định nghĩa này được đưa ra trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” do Nguyễn Như Ý chú biên, ví dụ:

"Thương người như thể thương thân”, “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, ‘'Mười ngón tay có ngón dài ngón ngắn'’ [126, 28]

1.4.2 Về cấu trúc, cách ngôn gần với tục ngữ và thành ngữ (cấu tạo chủ-vị VỊ- vị) Về ngữ nghĩa, nghĩa đen là cơ bản, tuy phần nghĩa bóng dựa vào ẩn dụ cũng bộc lộ phần nào Cách ngôn (cũng như tục ngữ và thành ngữ) không có cốt truyện như điển

cố Có thể coi cách ngôn là đơn vị ngón ngữ nằm trung gian giữa cụm từ tự do và tục ngữ Nhiều câu cách ngôn được tỉnh lược, rút gọn hay mở rộng hợp lí có thể trở thành tục ngữ, ví dụ: “Nhiễu điều phủ lấy giá gươm, người trong một nước phải thương nhau cùng” có thể qui lại một vế “Nhiễu điều phủ lấy giá gương”

Cách ngôn không có hai ý nghĩa như điển cố, đồng thời cách ngôn tồn tại sẩn có

trong từ vựng, vì vậy giữa cách ngôn và điển c ố có m ột điếm dị biệt lớn.

câu nói nổi tiếng của các nhân vật nổi tiếng, xuất chúng Ví dụ: “Không có gì quí hơn độc lập tự do” (Hổ Chí Minh), “Tư do hay là chết” (F Castro), [71, 101] Thâm chí câu

nói của nhàn vật văn học cũng trở thành danh ngôn, chẳng hạn: “Tồn tại hay không tổn

tại”(To be or not to be), câu của Hamlet trong vở bi kịch cùng tên của w Shakespeare

Trang 38

cố Trước hết, danh ngôn đều có nguồn gốc từ sách, từ lịch sử Có những danh ngôn

được hình thành trong những tình huống đặc biệt trở nên tích truyện về mặt cấu trúc thì

danh ngôn có thể là từ, ngữ và câu Những câu nói đó về sau được cấp thêm ý nghĩa biểu trưng, vì vậy trong khối điển cố có thể tìm được nhiều danh ngôn Chẳng hạn điển

cố “Eureka” hàm nghĩa sung sướng, ngạc nhiên trước phát minh sáng chế Theo Vitruvius Polio thì nhà bác học Archimedes đã thốt lên “Eureka” (tìm ra rồi) khi ông phát hiện ra những cách xác định được tỉ lệ kim loại trong vương miện của vua Hiero

1.4.5 Ngoài ra, danh ngôn, cũng như điển cố, đều làm thành phần nhất định nào

đó của câu, song đây là thành phần đặc biệt bởi lẽ chúng được dẫn nguyên vẹn, tức là vẫn giữ hình thức từ, ngữ, câu, ví dụ “Tinh thần chiến đấu “không có gì quí hơn độc lập

tự do” đã là ỉẽ sống của các chiến sĩ thanh niên xung phong ở ngã ba Đổng Lộc” (báo Nhân Dân)

1.5 ĐIỂN CÔ TRONG TIẾNG ANH.

dùng định nghĩa đã nêu trên về điển cố Điều này được giải thích bởi hai lí do:

a) Ngôn ngữ là yếu tố tiên quyết của sáng tác vãn học (bác học và dân gian), các thê loại vãn học gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ đều hiện diện trong mọi nền văn học Do

đó điển cố chắc chắn tổn tại trong tiếng Anh, tiếng Nga cũng như trong tiếng Việt,

b) Tâm thức vãn hóa người Việt mang tính bản địa rất mạnh, bên cạnh đó cũng có phần ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc Hiện tượng điển cố là một minh chứng cho

sự tiếp biến văn hóa ở Việt Nam ở Anh và ở Nga không có thuất ngữ nào tương ứng hoàn toàn với điển cố theo cách hiểu của nhiều nhà nghiên cứu (Nguyễn Vãn Tu Đinh Gia Khánh, Lê Trí Viễn, Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Ngoe San Đặng Đức Siêu ,) Tuy nhiên, khi khảo sát từ vựng tiếng Anh, tiếng Nga có thê tri nhận được nhiều đơn vị ứng với các tiêu chí nhận diện điển cố đã xác định trong luận án này

Quan điểm này có thể thấy trong các công trình nghiên cứu của các tác giả như: A Cowie, R Mackin và I McCaig [136] Trước khi khảo sát cụ thể về điển cố, cần sơ

Trang 39

từ điển có uy tín của Anh và Mỹ.

Cuốn “Cobuild English Leamer s Dictionary” cho biết: “An idiom is a group of words which have a different meaning when used together from the one they would have if you took the meaning of each vvord individually” (Thành ngữ là cụm từ mà khi

sử dụng có ý nghĩa khác với nghĩa của từng từ tách biệt riêng rẽ) [134, 476] Quyển

“Webster’s Seventh New Collegiate Dictionary” trong mục từ “ Idiom” viết: “ An expression in the usage of a language that is peculiar to itself either grammatically or

in having a meaning that cannot be derived from the conjoined meanings of its elements” (Thành ngữ là cụm từ khi sư dụng trong ngôn ngữ thì có tính dị biệt hoặc về ngữ pháp hoặc có ý nghĩa mà không thể rút ra được từ các ý nghĩa tổng thể của các thành phần tạo nên nó)[ 171, 413] Định nghĩa về thành ngữ trong “Oxford Advanced Leamer’s Dictionary” cho biết “Phrase or sentence whose meaning is not clear from the meaning of its individual words and vvhich must be leamt as a whole unit” (Thành ngữ là ngữ hay câu mà ý nghĩa của nó không rõ khi xét từ ý nghĩa của các từ đơn lẻ cua

nó và nó phải được nhận biết với tư cách là một chỉnh thể) [146, 448]

1.5.3 Những định nghĩa nêu trên đều nhấn mạnh một đặc điểm quan trọng nhất

là tính không thể chiết xuất được ý nghĩa của thành ngữ từ nghĩa của từng thành tố tạo

nên cụm từ đó

1.5.4 Tác giả T Arbekova trong “Từ vựng học tiếng Anh" đã xuất phát từ khả năng kết hợp của các thành tố để phân tích thành ngữ Bà cho rằng các đặc điểm tạo thành ngữ về mặt hệ thống cấu trúc (hệ quả của các đặc điểm nàv là khả năng kết hợp của các thành tố là thấp) bao gồm tính định danh han chế của các thành tô và sự chuyển vị ngữ nghĩa của cụm từ [179, 96] Từ đó bà coi thành ngữ là cụm từ mà các từ trong đó có khả nãng kết hợp thấp, khả năng đó do các đặc điểm về mặt hệ thống cấu trúc của các thành tố (hav của một thành tố) hoặc do tính chất đặc biệt trong quan hệ của cụm từ đối với hiện thực, cũng như do sự kết hợp của hai yếu tố đó qui đinh [179 98] Theo T Arbekova có năm cách phân loai thành ngư: 1) Theo phương thức cấu tạo; 2) phân loại theo ngữ nghĩa; 3) phân loại theo phong cách; 4) phân loại theo cấu trúc; 5) phân theo từ nguyên

Trang 40

phân loại của bà Theo cách thứ nhất, bà chia ra hai loại: Thành ngữ kết hợp (thành tô' chính hay thành tố phụ mang nghĩa bóng); thành ngữ cụm ngữ nghĩa (biến đổi toàn bộ nghĩa của cụm từ) Ví dụ: “Family tree” (cây phả hệ) thuộc loại đầu, còn “Dark horse” (người thắng cuộc bất ngờ) thuộc loại sau Cách phân loại theo ngữ nghía nhấn mạnh quan hệ giữa ý nghĩa sự vật của thành ngữ với ý nghĩa sư vật của thành tô' chính, từ đó

có thể phân xuất ra hai nhóm: dẫn xuất về mặt ngữ nghĩa từ ý nghĩa của thành tố chính

và thành ngữ chuyển vị ngữ nghĩa Nhóm thứ hai có thể được chia tiếp thành kiểu ý nghĩa có lí do (Như “read between the lines” : ý tại ngôn ngoại) và kiểu ý nghĩa không

có lí do (như “play gooseberry” : làm sao lãng sự chú ý), Kiểu thứ hai này chính là đối tượng chân thực để khảo sát thành ngữ theo các định nghĩa ở các cuốn từ điển đã nêu lí

do là ý nghĩa của các thành ngữ đó không hề là dẫn xuất từ ý nghĩa của thành tố chính

cũng như từ ý nghĩa tổng thể của toàn bộ cụm từ hợp lại Ví dụ: “A fly on the vvheel”, (Con ruồi trên bánh xe, nhưng nghĩa thực là: Người quá huênh hoang về vai trò của mình) [179, 104] Tác giả cũng có lí khi phàn tích nguvên nhân chuvển vị nghĩa là do mối liên hệ giữa ý nghĩa của cụm từ và thành ngữ biến mất nếu cụm từ xuất phát đó mất nghĩa từ nguyên vì sự thay đổi của hiện thực khách quan [179, 105] Đây cũng chính là nguyên nhân biến đổi nghĩa của điển cố từ một từ, một cụm từ hav càu bình thường trở thành điển cố Sự kiện này được giải thích do những đổi thav trong cuộc sống, trong các phong tục tập quán hay sự quên lãng những yếu tô nhất định gắn bó với

nguồn gốc của thành ngữ hay điển cố.

1.5.4.1 Có một cách phân loại rất quan trọng, đó là phân loại theo cấu trúc Do đạc điểm của thành ngữ Anh mà phân loại theo chức năng cú pháp Theo tính chất của thành tố chính có thể nhận ra các thành ngữ có cấu tạo ngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ trạng từ, ngữ tính từ Bên cạnh đó, thành ngữ có thế giữ các cương vị khác nhau trong câu: chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, trạng ngữ Theo cách phân loại nàv phần lớn các nhà Anh ngữ học ở Mỹ, Anh hay Nga coi quán ngữ là thành ngữ (như “as long as” ,

“generally speaking”)

1.5.4.2 Khi phân loại thành ngữ theo từ nguvên thì bà Arbekova có mấv điểm đáng chú ý như COI nhiều đơn vị từ vựng mang tính thuật ngữ và nghề nghiệp, phương ngữ là thành ngữ Chính ở mục này đã đưa ra những điển cô như tên gọi các sự kiện lịch sử hay huyền thoại như “Cross the Rubicon” (Vượt sông Rubicon), “Cut the

Ngày đăng: 20/06/2019, 23:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w