PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở TỈNH BẾN TRE HIỆN NAY “ĐĐKTDT là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”21, tr.158, đó là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt trong tiến trình cách mạng Việt Nam, nhằm tập hợp mọi lực lượng tạo nên sức mạnh to lớn của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Từ thực tiễn lịch sử trải qua hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã minh chứng rõ điều này. Đếntình hình hiện nay của đất nước cũng đang đặt ra những vấn đề cấp bách cần Đảng, nhà nước và nhân dân ta phải tiếp tục củng cố và mở rộng khối ĐKDT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong cuộc cách mạng mới. Bến Tre mảnh đất thiêng liêng với ngàn lẻ sự tích anh hùng. Bến Tre cái nôi của truyền thống đấu tranh cách mạng từ tay không mà làm nên cuộc Đồng khởi. Cũng như cả nước, nhân dân tỉnh Bến Tre trong suốt chiều dài lịch sử phát triển đã có nhiều đóng góp, hy sinh, gian khổ để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước. Chính quá trình đó đã hình thành một cộng đồng gắn bó, đoàn kết, chủ động và sáng tạo của nhân dân Bến Tre. Bến Tre của hôm nay đã thay da đổi sắc. Trong thời kỳ đổi mới, nhân dân tỉnh Bến Tre đã tiếp tục nêu cao các giá trị truyền thống ĐKDT. Song, truyền thống đoàn kết cộng đồng của nhân dân ở tỉnh Bến Tre vẫn còn tiềm ẩn nhiều phức tạp, ảnh hưởng không tốt đến sự ổn định và phát của tỉnh. Đặc biệt, trong những năm gần đây đã nổi lên hiện tượng ảnh hưởng tiêu cực tới truyền thống ĐKDT ở tỉnh Bến Tre như sự hiểu biết về lịch sử và các giá trị truyền thống ĐĐKDT bị sa sút ở một bộ phận quần chúng, nhất là ở thế hệ trẻ, điều đáng lo là trong đó đã xuất hiện lối sống thờ ơ vô cảm, vị kỉ, hẹp hòi, chia rẽ khối ĐĐKDT... Vì lẽ đó, Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã xác định cơ sở để phát huy khối ĐKDT trong xây dựng ĐSVH là nhân dân, vì thế thực hiện có hiệu quả việc “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”, xây dựng “nếp sống văn hóa”, “GĐVH”, “KDC văn hóa”, các chính sách về tôn giáo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân cũng được quan tâm chú trọng. Với những thắng lợi bước đầu, Đảng bộ tỉnh tiếp tục xây dựng khối ĐĐKTDT ở giai đoạn tiếp sau. Bởi nếu không huy động được lực lượng của khối đoàn kết này, Bến Tre không thể thực hiện được nhiệm vụ trọng điểm của tỉnh lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế xã hội, chống đói nghèo, lạc hậu. Để hoàn thành được nhiệm vụ này, không có con đường nào khác là phải dựa vào sức của dân, phát huy được sức mạnh của toàn dân. ĐKDT hiện nay không chỉ được đưa ra như một lời hiệu triệu chung chung, động viên quần chúng mà nó phải được thể hiện bằng chủ trương, hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước, giải quyết thỏa đáng lợi ích thiết thực của từng thành viên trong cộng đồng xã hội, kết hợp hài hòa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp có như vậy ĐKDT mới vững bền, chắc chắn, lâu dài.
Trang 22 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
5 Giả thuyết khoa học 7
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
7 Phạm vi nghiên cứu 7
8 Phương pháp nghiên cứu 7
9 Cấu trúc luận văn 7
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở TỈNH BẾN TRE HIỆN NAY 9
1.1 Cơ sở lý luận về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng đời sống văn hóa 9
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 9
1.1.2 Các quan điểm về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc 23
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh Bến Tre hiện nay 43
Trang 3đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh Bến Tre hiện nay 45
Tiểu kết chương 1 55 Chương 2: PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG ĐSVH Ở TỈNH BẾN TRE HIỆN NAY
2.2 Một số giải pháp nhằm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh Bến Tre hiện nay 70
2.2.1 Nâng cao sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở 702.2.2 Tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức trong xây dựng phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở tỉnh Bến Tre hiện nay 762.2.3 Nâng cao vai trò của toàn dân trong xây dựng đời sống văn hóa ở
cơ sở 85
Trang 42 Khuyến nghị 93
Trang 5sống văn hóa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam
đã trải qua những cuộc chiến tranh vệ quốc, đánh đuổi tất cả
kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập, chủ quyền cho đất nước
Có được thắng lợi đó là nhờ sự đoàn kết một lòng của toàndân tộc Vì thế, đoàn kết đã trở thành một truyền thống quýbáu, được nhân dân ta gìn giữ và lưu truyền qua bao đời nay
Trong bối cảnh đất nước hiện nay, ĐĐKTDT vẫn là vấn đềchiến lược, là mục tiêu, nhiệm vụ, là tư tưởng nhất quán và làsợi chỉ đỏ xuyên suốt trong mọi đường lối, chính sách củaĐảng và nhà nước ta Chính nhờ sự kiên định xây dựng và tiếptục củng cố phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT mà đất nước ta
đã đạt được những thắng lợi to lớn trên tất cả mọi lĩnh vực.Đặc biệt, trong xây dựng ĐSVH việc phát huy sức mạnh khốiĐĐKTDT đã đem lại những thành tựu nhất định Điều đóchứng minh rằng đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước
là vô cùng đúng đắn và phù hợp với lợi ích và nguyện vọngcủa nhân dân
Bến Tre là tỉnh nằm sát biển thuộc Đồng bằng châu thổsông Cửu Long, còn mang đậm những nét văn hóa truyềnthống và đang tiếp thu những giá trị văn hóa mới nên việcvận dụng đường lối của Đảng vào địa phương mình là hết sứccần thiết Thực tế cho thấy việc phát huy sức mạnh khối
Trang 7ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH đã thực sự đã huy động đượcsức mạnh tổng hợp của mọi người dân vào việc xây dựng địaphương ngày càng văn minh, tạo nên mối quan hệ gắn bócộng đồng ở các khu dân cư, cùng quan tâm giải quyết nhữngvấn đề phát sinh trong cuộc sống, làm cho người dân ngàycàng ý thức và tự giác trong việc đóng góp trách nhiệm, nghĩa
vụ với nhà nước ở địa phương
Từ Đại hội lần VI đến Đại hội XII, Đảng đã có nhiều vănkiện trong việc phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT Trong Hộinghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IXcũng đã đề ra Nghị quyết về phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT
vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh” Ở Đại hội XI cũng đã có Cương lĩnh trình Đại hội cầnphải tập trung làm rõ cả lý luận và thực tiễn để ĐĐKTDT thực
sự tạo nên sức mạnh to lớn hơn Hay trong Đại hội XII củaĐảng vấn đề tăng cường khối ĐĐKTDT được xem là đường lối,
là động lực và nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thông qua việc phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT trongxây dựng ĐSVH đã thực hiện tốt cuộc vận động
“TDĐKXDĐSVH” ở khu dân cư, đồng thời xuất hiện nhiềugương “NTVT”, “NLGM”, “TECN”, “GĐVH”, “cơ quan, đơn vị,doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa” v.v…Tuy nhiên hiện nay,việc phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVHđang có những hạn chế cần khắc phục: một bộ phận ngườidân chưa có ý thức đúng đắn, chưa thật sự đoàn kết với nhau,cũng như cán bộ, đảng viên ở một số nơi chưa thật quan tâm
Trang 8đến vai trò của nhân dân, không đánh giá đúng tầm quantrọng của nhân dân trong xây dựng ĐSVH dẫn đến nhiều giátrị văn hóa và chuẩn mực đạo đức đang dần suy thoái, nhiềuhoạt động văn hóa không còn mang đậm bản sắc văn hóadân tộc, đang mất dần cả lượng và chất.
Vì những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài
“Phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH ở tỉnh Bến Tre hiện nay” để làm luận văn tốt nghiệp
của mình với mong muốn tìm ra giải pháp đóng góp một phầnnhỏ vào vấn đề đang cấp thiết trong việc xây dựng ĐSVH hiệnnay ở địa phương
2 Tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về phát huy sức mạnh khốiĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH hiện nay đã được các nhà khoahọc nghiên cứu, xem xét trên những bình diện khác nhau, đếnnay chúng ta có thể chỉ ra những công trình tiêu biểu theo cácnhóm sau đây:
2.1 Các công trình nghiên cứu về phát huy sức mạnh ĐKDT
- Lê Ngọc Thắng (2005), Hồ Chí Minh với vấn đề đoàn kết
các dân tộc, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Trong tác phẩm,
tác giả đã khái quát cho người đọc hiểu rõ hơn tư tưởng củaChủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết các dân tộc
- Nguyễn Đức Ngọc (chủ biên) (2007), TTHCM về ĐKDT
và sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay, Nxb
Trang 9Quân đội nhân dân, Hà Nội Cuốn sách đã cho thấy quan điểmcủa Đảng và Nhà nước ta về ĐKDT là một trong những cơ sở
lý luận quan trọng trong các chính sách ở nước ta hiện nay
Ngoài ra còn một vài các văn bản quy phạm pháp luật vềphát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH nhưcác văn kiện Đại hội Đảng và các Nghị quyết của Ban Chấphành Trung ương cũng như của Đảng bộ tỉnh Bến Tre qua cácthời kì: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa IX về phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT
vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh” Văn kiện Đại hội XII của Đảng về “ĐĐKTDT là đường lối chiến lược, là động lực và nguồn lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tăng cường khối ĐĐKTDT, trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo” Hay Nghị quyết 02-NQ/TU của Tỉnh
ủy Bến Tre “về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác vận
động quần chúng nhân dân trong tình hình mới”.
2.2 Các công trình nghiên cứu về văn hóa và xây dựng văn hóa, xây dựng ĐSVH
- Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm hiểu về bản sắc văn hóa
Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Trong tác phẩm, tác
giả đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quan về vănhóa Việt Nam Đó là một nền văn hóa vừa đặc trưng vừa đadạng về loại hình Với cách trình bày rõ ràng, mạch lạc, tácgiả giúp chúng ta dễ dàng khái quát về quá trình hình thành
và phát triển của nền văn hóa Việt Nam
Trang 10- Trần Văn Bính (1998), Văn hóa trong quá trình đô thị
hóa ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Trong
tác phẩm, tác giả đã đưa ra một số giải pháp để xây dựng nềnvăn hóa dân tộc trong bối cảnh đất nước đang tiến hành đôthị hóa
- Hoàng Vinh (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây
dựng văn hóa ở nước ta, Viện Văn hóa & Nxb Văn hóa Thông
tin, Hà Nội Tác giả đã cho thấy việc xây dựng ĐSVH ở cơ sở là
vô cùng quan trọng, đồng thời khẳng định đây là nền tảngvững chắc trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến,đậm đàn bản sắc dân tộc Và theo ông đây chính là yếu tốgóp phần đưa văn hóa đi sâu hơn vào cuộc sống thường ngàycủa chúng ta
- Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (2003), Về phát triển văn
hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Tác phẩm đã khái quát
những nội dung cơ bản về TTHCM trong cách nhìn đối với pháttriển văn hóa và xây dựng con người trong thời kỳ mới
- Đinh Xuân Dũng (2015), Mấy vấn đề văn hóa Việt Nam
hiện nay - thực tiễn và lý luận, Nxb Lao động Tác giả đề cập
đến những vấn đề nổi bật mang tính thời sự để từ đó đưa ranhững cách nhìn mới về tầm quan trọng của văn hóa trongphát triển đất nước
- Đàm Ngọc Hùng, Đề xuất giải pháp nâng cao chất
lượng xây dựng ĐSVH trong giai đoạn hiện nay, website: Sở
Trang 11Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre (11/2015) Tác giả
đã đề ra 07 giải pháp để phong trào Toàn dân đoàn kết xâydựng ĐSVH ở tỉnh Bến Tre được nâng cao chất lượng, tiếp tụcphát triển mạnh mẽ, ngày càng có nhiều danh hiệu được côngnhận đúng thực chất Bên cạnh đó, có những giải pháp đểkhắc phục những tồn tại, hạn chế Từ đó, tạo cơ sở, nền tảng
để xây dựng và công nhận các danh hiệu ‘xã đạt chuẩn NTM”, “phường, thị trấn đạt chuẩn VMĐT”, và “ xã NTM” trongthời gian tới
VH Vũ Hải, Các nội dung trọng tâm trong việc thực hiện
phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH giai đoạn 2016-2020, Cổng thông tin điện tử tỉnh Bến Tre (7/2016) Trên
cơ sở kế thừa những thành quả đạt được qua 15 năm thựchiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH” tỉnh BếnTre giai đoạn 2000-2015 Đồng thời, để tiếp tục duy trì, pháttriển, nâng chất phong trào đi vào chiều sâu, chất lượng, bềnvững, mang lại hiệu quả thiết thực
- Bên cạnh đó là những văn bản về phong trào “Toàn dânđoàn kết xây dựng ĐSVH”, cụ thể như: Thông tri 17/TTr-MTTW-BTT ngày 10/10/2011 của Ủy ban Trung ương MTTQ
Việt Nam về “Hướng dẫn tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc
vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở khu dân cư trong giai đoạn mới”; Quyết định số 28/2013/QĐ-UBND ngày
16/8/2013, Quyết định số 28/2014/QĐ-UBND ngày 07/10/2014
về “Ban hành Quy chế công nhận các danh hiệu trong phong
trào Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH tỉnh Bến Tre giai đoạn
Trang 122013-2015”; Quyết định số 42/2016/QĐ-UBND ngày
01/9/2016 về “Ban hành Quy chế công nhận, thu hồi các danh
hiệu trong phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH tỉnh Bến Tre”
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đềcập đến đặc điểm, vai trò của văn hóa, ĐSVH và xây dựngĐSVH cũng như đề cập đến những giải pháp nhằm phát huysức mạnh khối ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH nói chung;mang tầm vĩ mô Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưađưa ra được tính khái quát, hệ thống về sức mạnh khốiĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH ở tỉnh Bến Tre hiện nay; thựctrạng và giải pháp nhằm phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDTtrong xây dựng ĐSVH ở Bến Tre như thế nào?
Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH ở tỉnh Bến Tre hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình.
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát huysức mạnh khối ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH ở tỉnh Bến Trehiện nay, luận văn đưa ra những giải pháp nhằm khắc phụcnhững tồn tại, hạn chế, góp phần phát huy sức mạnh khốiĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH ở tỉnh Bến Tre hiện nay mộtcách có hiệu quả, thiết thực
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Trang 134.1 Khách thể nghiên cứu
Khối ĐĐKTDT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH ởtỉnh Bến Tre hiện nay
5 Giả thuyết khoa học
Nếu tìm ra những giải pháp đúng đắn phát huy sức mạnhkhối ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH ở tỉnh Bến Tre hiện nay sẽtạo cơ sở vững chắc để xây dựng thành công
“PTTDĐKXDĐSVH” tiến tới xây dựng thành công NTM, ĐTVM ởđịa phương
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn phần nào hệ thống lại các lí luận chung về vănhóa, ĐSVH, xây dựng ĐSVH và khối ĐĐKTDT ở tỉnh Bến Trehiện nay
Đánh giá đúng thực trạng việc phát huy sức mạnh khốiĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH ở tỉnh Bến Tre hiện nay
Tìm ra những giải pháp mang tính khách quan, khoa họcnhằm phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH
ở tỉnh Bến Tre hiện nay
7 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả chỉ tập trungnghiên cứu việc phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT trong xây
Trang 14dựng ĐSVH ở tỉnh Bến Tre giai đoạn hiện nay, được khai thácdưới giác độ triết học.
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên chủ nghĩa Mác - Lê nin và TTHCM; chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làmphương pháp luận nghiên cứu
Ngoài ra, luận văn còn phối hợp sử dụng các phươngpháp nghiên cứu: phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử, đốichiếu, so sánh, điều tra, thống kê…
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, phụ lục, nội dung của luận văn bố cục gồm 02 chương,
04 tiết
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1 Những luận điểm cơ bản
Xây dựng ĐSVH là một trong bốn giải pháp lớn để xâydựng, phát triển văn hóa và cụ thể hóa Nghị quyết Trungương 5 (khóa VIII, ngày 16/7/1998) của Ban Chấp hành Trungương Đảng; đồng thời có những tác động tích cực đến nhiềulĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh
Phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT là phương châm, độnglực, là điều kiện tiên quyết để tiếp tục sự nghiệp đổi mới toàndiện đất nước, đảm bảo đủ tiềm lực và sức mạnh để xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Trang 15Phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH ởtỉnh Bến Tre hiện nay là vấn đề cấp thiết, cần được quan tâm,đánh giá đúng với vai trò, vị trí và tầm quan trọng của vấn đề,qua đó khơi dậy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dântộc và phần nào làm hạn chế những biểu hiện kém văn hóa ởđịa phương.
10.2 Những đóng góp mới của luận văn
Về mặt lí luận: Nghiên cứu việc phát huy sức mạnh khối
ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH ở tỉnh Bến Tre hiện nay dướigóc nhìn triết học
Về mặt thực tiễn: Luận văn tìm ra những giải pháp hợp lý
để phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT trong xây dựng ĐSVH ởtỉnh Bến Tre hiện nay cũng đồng thời góp phần nhỏ làm tàiliệu tham khảo, nghiên cứu cho những ai quan tâm đến đề tài
Trang 16a/ Khái niệm“Đoàn kết”
Theo Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Tài Thư thì “Đoàn kết làhiện tượng nhiều người kết hợp với nhau thành cộng đồngthống nhất cùng hoạt động vì một mục đích chung” [102] Ví
dụ như: đoàn kết thì sống, chia rẻ thì chết
Bên cạnh đó “đoàn kết có khi còn được hiểu là: đồng tâmhiệp lực, tề tâm nhất trí, liên hợp, kết hợp” [102] Ví dụ như:chúng ta cùng nhau đoàn kết lại
Đồng quan điểm với ông, dù được hiểu dưới dạng nào thì
“đoàn kết” đều có nghĩa là sự kết hợp thành một khối thốngnhất, chặt chẽ, cùng một mục đích chung “Đoàn kết” khôngphải là sự kéo bè, kết phái, tạo lập vây cánh để bao che cáixấu, đi ngược lại lợi ích chung mà là sự tương trợ, giúp đỡ lẫnnhau tạo nên sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ chung to lớn
hơn “Đoàn kết” chính là nguồn cội tạo nên sức mạnh.
“Where there is unity, there is always vitory – nơi nào có đoàn kết, nơi đó có chiến thắng” (Publilius Syrus).
Điều đó được minh chứng rõ nhất qua “Câu chuyện bó
đũa” - bài học vỡ lòng về sự đoàn kết Khi người cha đưa cho
các con riêng lẻ từng chiếc đũa thì chúng dễ dàng bẻ gãy,nhưng khi ông giao cho chúng cả một bó đũa thì bất kể aitrong các con cũng khó lòng thực hiện được Câu chuyệntưởng chừng như đơn giản nhưng lại chứa đựng bài học vôcùng sâu sắc, đồng thời, khái quát được rất nhiều vấn đề
Trang 17trong cuộc sống Một cá nhân đơn lẻ dù có mạnh đến đâucũng không thể đánh bại được một tập thể nếu biết đoàn kết.
Và chính vì ý nghĩa đó mà nhân dân ta đã biến tinh thần
“đoàn kết” trở thành một truyền thống quý báu của dân tộc.
b/ Định nghĩa “Dân tộc”
“Dân tộc” là một khái niệm xã hội đặc biệt, đã được
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: triết học, dântộc học, nhân chủng học, lịch sử, và ở mỗi lĩnh vực “dântộc” lại được tiếp cận, tìm hiểu theo các hình thức khác nhau
Vì thế mà dân tộc có rất nhiều định nghĩa
Khái niệm “Dân tộc” được hiểu theo hai nghĩa:
- Nghĩa hẹp: dân tộc (tộc người) Chỉ một cộng đồngngười là một bộ phận của một quốc gia Có nghĩa là một cộngđồng người được hình thành và phát triển trong lịch sử có bađặc trưng cơ bản là chung một ngôn ngữ tộc người, một bảnsắc văn hóa tộc ngườivà có ý thức tự giác của tộc người Vídụ: dân tộc Kinh, Thái, Khơme (dân tộc = ethnic)
Ở đây, khái niệm dân tộc là tộc người có mối liên hệthống nhất, ổn định và bền vững; có chung sinh hoạt kinh tế;xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn nhữngnhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc Một tộc người thường trảiqua nhiều thế hệ, kể cả những người đã chết và những ngườichưa sinh ra, đều được tính là người cùng tộc Ngoài ra, cácdân tộc ít người thường gọi là dân tộc thiểu số, họ thường sinh
Trang 18tộc có đông dân số, sống ở vùng đồng bằng thường được gọi
là người miền xuôi Ví dụ: dân tộc Ê đê, H’ mông thường sinhsống ở vùng núi cao, dân tộc Kinh, Hoa thường sống ở đồngbằng Khái niệm theo nghĩa này thường được dùng trong cácngành dân tộc học, nhân chủng học, văn hóa học, xã hội hộc,lịch sử
- Nghĩa rộng: dân tộc (cộng đồng) Ta có thể hiểu dân tộc
ở đây đồng nghĩa với quốc gia, đất nước hay Tổ quốc Với tầngnghĩa này dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người có bốnđặc trưng chung về ngôn ngữ; về lãnh thổ; về kinh tế; về vănhóa, tâm lý, tính cách Nghĩa là, dân tộc được hình thành do
sự phát triển của cộng động người qua quá trình lâu dài tronglịch sử nhân loại Nó phát triển theo tiến trình từ thấp đếncao, từ hình thức sơ khai đến tổ chức có hệ thống Ban đầu làthị tộc, bộ lạc lớn dần thành bộ tộc và phát triển mạnh mẽthành dân tộc Và khi một dân tộc được hình thành gắn vớihình thức tổ chức nhà nước thì sẽ gọi là quốc gia Ví dụ: dântộc (đất nước) Việt Nam có ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế và vănhóa, tâm lý, tính cách khác biệt so với dân tộc (đât nước)Trung Hoa, (dân tộc = nation) Sự hình thành của một quốcgia - cộng đồng dân tộc có thể diễn ra sớm hay muộn, lâu đờihay mới xuất hiện là phụ thuộc vào điều kiện lịch sử pháttriển của từng quốc gia Và thường là các cộng đông dân tộcchâu Á xuất hiện sớm hơn các cộng đồng dân tộc châu Âu, Mĩ,Úc Ví dụ: dân tộc Việt Nam đã trải qua hơn 4000 năm vănhiến
Trang 19Với kiểu nói này, ta có thể hiểu là cộng đồng dân tộc ViệtNam được hình thành từ rất lâu đời, từ thuở Hùng Vương lậpnên một thể chế chính trị - xã hội, một nền văn hóa, một lãnhthổ, một tiếng nói, một ý thức tự giác của từng thành viêntrong cộng đồng đó Tất cả đều thống nhất, một lòng, tựnguyện, gắn kết với nhau trong suốt quá trình lịch sử lâu dàidựng nước và giữ nước của dân tộc.
c/ ĐĐKTDT
Theo quan điểm của CNM-LN thì ĐĐKDT bắt nguồn từ sựliên minh của giai cấp công nông, sự đoàn kết của GCVS vàrồi nhân rộng ra đó là sự đoàn kết của các dân tộc bị áp bức,bốc lột.Mác - Ăngghen đã sớm đề cập đến mối quan hệ gắn
bó mật thiết giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc Vì thế,theo tư tưởng của hai ông ĐKDT là tập hợp lực lượng cáchmạng để thực hiện mục tiêu xóa bỏ chế độ CNTB và xây dựngthành công xã hội mới - xã hội XHCN Bởi áp bức giai cấp lànguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc và áp bứcdân tộc tác động mạnh mẽ trở lại áp bức giai cấp Có giảiquyết tốt vấn đề giai cấp-dân tộc thì mới đem lại sự thắng lợicho công cuộc cách mạng của liên minh công-nông Và điềutất yếu để đưa đến thắng lợi là phải có sự đoàn kết của cácdân tộc bị áp bức
Tuy nhiên, trong thời kì lịch sử của mình Mác chỉ mớinhắc đến vấn đề đoàn kết giai cấp mà chưa trực tiếp nói vềĐKDT Dù vậy, Mác đã chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của GCVS là
Trang 20công cuộc thực hiện cách mạng XHCN vĩ đại Minh chứng cho
điều đó Mác đã từng nói: “Bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào
cũng là một cuộc đấu tranh chính trị” [43, t4, tr.608] Chỉ có
đấu tranh chính trị thì giai cấp áp bức mới giành thắng lợi, lật
đổ sự thống trị của giai cấp bốc lột, giải phóng GCVS, hướngđến xây dựng thành công xã hội mới công bằng, dân chủhơn.Trong Thông báo của Ban tổ chức về việc triệu tập Đại
hội Công nhân XHCN quốc tế, ông viết: “Mục đích của chúng
tôi là thiết lập chế độ XHCN, chế độ sẽ đem lại cho mọi người công ăn việc làm lành mạnh và có ích, sự bảo đảm về vật chất, thời gian nhàn rỗi và tự do đầy đủ thật sự” [44, t7,
tr.85] Vì lẽ đó, Mác khẳng định đoàn kết GCVS và những tầnglớp bị áp bức, bóc lột khác để chống lại giai cấp tư sản vàtầng lớp thống trị là nhu cầu tất yếu, lẽ dĩ nhiên sẽ phải diễn
ra trong sự nghiệp cách mạng XHCN mà trong đó, GCVS làđóng vai trò lãnh đạo đem đến thắng lợi.Nếu không thực hiệnđược sự liên minh công nông thì GCVS chỉ là những con người
lẻ loi, đơn độc Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Mác từng nhắc đến: “Vô sản các nước đoàn kết lại” Bởi, các giai
cấp bị bóc lột có cùng chung kẻ thù và chúng ràng buộc vớinhau bởi những lợi ích, hoàn cảnh thống nhất
Từ đó, vấn đề đoàn kết giai cấp hình thành và thắng lợicủa giai cấp cũng đồng thời mang lại dấu hiệu tích cực chogiải phóng dân tộc.Có thể hiểu, sự thống nhất về lợi ích chính
là tiền đề tạo nên sự thống nhất giữa vấn đề đoàn kết giai cấp
và ĐKDT
Trang 21Và chính tư tưởng này là cơ sở cho Lênin nhận thức đúngđắn tầm quan trọng của vấn đề ĐKDT sau này Thời đại củaLênin đã có những thay đổi to lớn về điều kiện lịch sử Chính
vì thế, Ông đã nhận ra rằng cuộc cách mạng XHCN không đơnthuần chỉ là sự nghiệp của riêng giai cấp công nhân mà nó là
sự gắn kết, hợp lực của tất cả mọi tầng lớp bị áp bức, bóc lột
và nhân dân lao động Cho nên, để sự nghiệp cách mạngthành công thì vấn đề ĐKDT cần phải được đặt lên hàngđầu.Năm 1920, Ông đã kế thừa và phát triển khẩu hiệu của
Mác thành “Vô sản tất cả các nước và dân tộc bị áp bức, đoàn
kết lại” Khẩu hiệu của ông vẫn giữ nguyên giá trị đến ngày
nay vì “đã đánh giá đúng đắn vai trò cách mạng có ý nghĩa
thời đại của các dân tộc bị áp bức, chỉ ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, các dân tộc bị áp bức là nắm ngọn cờ dân tộc để lãnh đạo quần chúng làm cách mạng”[30,tr.511] Đồng
thời, Lênin cũng chỉ rõ muốn đưa phong trào cách mạng tiến
lên thì “phải kết hợp chặt chẽ lợi ích giai cấp và lợi ích dân
tộc, đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc.”[30,tr.511]
Mối quan hệ giữa đấu tranh giai cấp và đấu tranh dântộc có sự tác động qua lại lẫn nhau Bởi dân tộc muốn độc lậpthống nhất thì phải có giai cấp đại diện, giai cấp muốn hoànthành sứ mệnh lịch sử thì phải vì lợi ích chung của dân tộc.Cho nên, sự đoàn kết giai cấp gắn liền với ĐKDT, vì chúng đềudựa trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích quốc gia và lợi ích dântộc, hay lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc
Trang 22Nhìn chung, khối ĐĐKDT là vấn đề liên minh các giai cấp,các dân tộc bị áp bức, tập hợp lực lượng đưa cuộc cách mạng
đi đến thành công Đồng thời, cho thấy sức mạnh của khốiĐĐKDT không chỉ đảm bảo cho thắng lợi bước đầu của GCVStrong giai đoạn giành chính quyền mà nó còn đảm bảo chocác dân tộc trong công cuộc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xãhội mới - xã hội XHCN
1.1.1.2 Văn hóa, ĐSVH, xây dựng ĐSVH
a/ Khái niệm“văn hóa”
Văn hóa xuất hiện cùng với con người và cho đến nay, có
vô số các học giả đưa ra những định nghĩa về văn hóa nhưnghầu hết giữa chúng chưa tìm thấy được sự thống nhất Người
ta đã thống kê hơn 4000 định nghĩa Điều đó cho thấy, sự xác
định khái niệm “văn hóa”không đơn giản Bởi lẽ, trong khoa
học chưa có một khái niệm nào lại mơ hồ như văn hóa, cộngthêm việc mỗi nhà khoa học lại xuất phát từ góc độ riêng,mục đích riêng để tiếp cận, nghiên cứu nó
Định nghĩa “văn hóa” xuất hiện từ rất lâu đời nhưng phải
đến những năm đầu thế kỷ XX - thế kỷ của văn hóa, khi triếtgia người Đức Wilhelm Ostwald sử dụng vào năm 1909 thì nómới thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học thuộc các ngànhkhoa học xã hội và nhân văn trên khắp thế giới Theo ông,
“chúng ta gọi những gì phân biệt con người với động vật là văn hóa” [52, tr.35] Định nghĩa này ra đời đã thôi thúc các
Trang 23học giả bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về văn hóa Từ đó, bắtđầu xuất hiện vô số các định nghĩa.
Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng nhìn
chung khái niệm “văn hóa” đều được hiểu dưới hai góc độ
rộng và hẹp; gồm hai thành phần nội hàm và ngoại diên vàngày càng hoàn thiện
Góc nhìn rộng: văn hóa bao gồm cả đời sống vật chất, xãhội, tinh thần của một cộng đồng người nhất định và có thểhiểu theo nghĩa chung nhất là những gì không phải thiênnhiên thì là văn hóa
Ở góc độ này UNESCO đưa ra định nghĩa được nhiều nhà
khoa học nhất trí: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách
tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn
ra trong hiện đại, qua bao thế kỷ, nó đãcấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”
[52, tr.39]
Góc nhìn hẹp: văn hóa thường được hiểu ở khía cạnh tinhthần nhưng biến đổi hằng ngày theo sự biến động của cuộcsống Theo nghĩa này, văn hóa được giới hạn theo chiều rộng,chiều sâu, không gian hoặc thời gian
Theo nhà Nhân học nổi tiếng người Anh, EB.Tylor trong
tác phẩm “Văn hóa nguyên thủy” vào năm 1871 thì “Văn hóa
là một tổng thể phức tạp bao gổm tri thức, tín ngương, nghệ
Trang 24thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và cả những khả năng
và thói quen khác mà con người đạt được với tư cách là một thành viên của xã hội”[1,tr.15]
Như vậy, theo định nghĩa của Tylor ta có thể thấy ông đã
xác định được bản chất, đặc trưng và nguồn gốc của “Văn
hóa” Tuy nhiên nó vẫn nghiêng về mặt tinh thần mà phủ
nhận những gì thuộc về văn hóa vật chất.Đến năm 1952, dựa
trên các định nghĩa về“Văn hóa”, hai nhà Nhân loại học người
Mỹ là A.Kroeber và C.Kluckhohn đã thống kê và phân loại các
định nghĩa về “Văn hóa” thành các loại cơ bản như: định
nghĩa miêu tả, lịch sử, chuẩn mực, tâm lý học, cấu trúc, biếnsinh và phát sinh
Nhìn chung, “Văn hóa” là một dấu ấn đặc trưng cho xã
hội loài người, khác về cơ bản với tổ chức của xã hội động vật.Mọi thứ văn hóa đều thuộc về con người, được hình thành vàphát triển từ hoạt động sáng tạo của con người trong toàn bộtiến trình lịch sử của các cộng động dân tộc và toàn nhân loại
Các Mác cũng đã gọi “Văn hóa” là “thiên nhiên thứ hai” tức là
thiên nhiên được “nhân hóa”, được con người sáng tạo theo
“quy luật cái đẹp”.[52, tr.41]“Ở nước ta, trong Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học) thì văn hóa có 5 nghĩa:1.Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Ví dụ khi nói: kho tàng văn hóa Việt Nam.2 Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần - nói một cách tổng quát Ví
dụ như: văn hóa văn nghệ.3 Tri thức kiến thức khoa học Ví
Trang 25dụ như: phổ cập văn hóa.4 Trình độ cao trong sinh hoạt văn hóa xã hội, biểu hiện của văn minh Ví dụ như: Cơ quan văn hóa.5 Nền văn hóa của một thời kì lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vậttìm thấy được có những đặc điểm giống nhau Ví dụ như: văn hóa Đông Sơn.”
[52,tr.35-36]
Bên cạnh đó, một trong những người nêu lên định nghĩa
về “Văn hóa” sớm nhất ở nước ta có thể kể đến là Đào DuyAnh Năm 1938, ông cho rằng văn hóa là kiểu sinh tồn của xã
hội Còn theo Hồ Bá Thâm trong “Văn hóa và bản sắc văn hóa
dân tộc” thì “Văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần theo tính chân - thiện - mỹ, do hoạt động của con người sáng tạo ra, thông qua các phương thức sinh tồn của đời sống
xã hội, và ngày càng phát triển Văn hóa là sự phát triển, tiến
bộ và phát triển tiến bộ là văn hóa” [67,tr.21] Trên cơ sở
phân tích các định nghĩa về văn hóa Trần Ngọc Thêm đã đưa
ra khái niệm văn hóa trong cuốn “cơ sở văn hóa Việt Nam” như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [69, tr.14]
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có nhận xét về văn
hóa: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong
phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà nó liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi
Trang 26của sức sông dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản
và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sưc đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh.”[69, tr.14]
Trong lĩnh vực này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đưa rakhái niệm về văn hóa vô cùng gần gũi và dễ hiểu Bác viết:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh
dó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[49, tr.431] Theo Bác, nhu cầu của con
người là cội nguồn văn hóa Trải qua quá trình tồn tại và pháttriển của con người đã tạo tiền đề cho văn hóa xuất hiện Conngười không thể tồn tại mà thiếu sáng tạo, và những sáng tạo
đó chính là văn hóa, đồng thời chính phương thức sáng tạocũng là văn hóa
Đảng ta quan niệm văn hóa đóng vai trò vô cùng to lớntrong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam Văn hóa luôngắn liền với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam Nó
là một mắt xích quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải
Trang 27phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Điều đó đượcthể hiện rất rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BanChấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998) Nghị quyết đã
“phát thảo một chiến lược phát triển văn hóa quan trọng nhằm giữ gìn và phát huy toàn bộ di sản văn hóa thiêng liêng của dân tộc và xác lập mục tiêu hiện thực xây dựng nền văn hóa mới cho thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” [23, tr.43] Đảng đã nêu ra 05
quan điểm chơ bản về xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam:
“Thứ nhất, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội Thứ hai, nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.Thứ ba, nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Thứ tư, xây dựng và phát triển văn hóa
là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng Thứ năm, văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng”.Và 10 nhiệm vụ cụ thể là:“Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới;Xây dựng môi trường văn hóa;Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật;Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa;Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ;Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng;Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số;Mở rộng hợp tác quốc
Trang 28tế về văn hóa;Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa”.[23, tr.43-44]
Tóm lại, qua nhiều quan điểm khác nhau về “văn hóa”,
cá nhân nhận thấy: khái niệm về ‘văn hóa” của Bác gần gũi,
dễ hiểu Đồng thời nếu thực hiện tốt năm quan điểm và mườinhiệm vụ cụ thể về xây dựng văn hóa mà Nghị quyết trungương 5 khóa VIII đã đề xuất sẽ góp phần hoàn thiện nhữngvấn đề văn hóa quan trọng mà thực tiễn cách mạng Việt Namđòi hỏi
b/ “ĐSVH”
“ĐSVH” là cụm từ bắt đầu được sử dụng phổ biến ở nước
ta vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX Ban đầu, cụm từ
này được biết dưới dạng “Đời sống mới”do Chủ tịch Hồ Chí
Minh viết vào tháng 3- 1947 để hướng dẫn việc xây dựng đờisống mới trong các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội.Theo
Bác: “Văn hóa là bộ mặt tinh thần của xã hội, nhưng bộ mặt
tinh thần ấy không phải là cái gì cao siêu, trừu tượng, mà lại được thể hiện ngay ra trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người, rất dễ hiểu, dễ thấy.” [31,tr.443].Từ đó ta thấy, ĐSVH
là tổng thể những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo ra trong các lĩnh vực hoạt động sống gắn vớicác hoạt động xã hội Hay có thể nói, ĐSVH là một phức thểhoạt động văn hóa diễn ra trong thực tiễn, từ văn hóa vậtchất đến văn hóa tinh thần
Trang 29Theo Đoàn Văn Chúc nếu như đời sống xã hội là toàn bộnhững hoạt động nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người
trong một xã hội, thì ĐSVH được hiểu là “một phức hợp những
ứng xử thành nếp, điển hình nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa của các thành viên một xã hội” [14,tr.329]
Và trong cuốn Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa củaĐảng năm 2007 cũng đã chỉ ra: ĐSVH là một bộ phận của đờisống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động vănhóa vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhautrong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóatrong cộng đồng trực tiếp hình thành nhân cách và lối sốngcon người Tuy nhiên, ĐSVH không đồng nhất với văn hóa củamột cộng đồng Bởi, ở ĐSVH ngoài những yếu tố văn hóatruyền thống, ngưòi ta còn bắt gặp cả những yếu tố văn hóamới được hình thành từ những thay đổi trong hoạt động sinhhoạt xã hội của con người.Có thể thấy, ĐSVH chứa đựngnhững yếu tố không thể tách rời các lĩnh vực của đời sống xãhội, bao gồm: Thứ nhất là Văn hóa vật thể và phi vật thể tồntại trong cộng đồng: thiết chế văn hóa, tác phẩm, sản phẩmvăn hóa, phương tiện thông tin đại chúng và truyền bá vănhóa, lễ hội, văn hóa, văn nghệ dân gian…Thứ hai là cảnh quanVăn hóa (do tự nhiên hoặc con người tạo ra): di tích lịch sửvăn hóa, danh lam thắng cảnh, công viên, tượng đài Thứ ba
là yếu tố văn hóa cá nhân: trình độ học vấn, nhu cầu, sở thích
và thị hiếu văn hóa, phong cách sinh hoạt, văn hóa ứng xửgiao tiếp, nếp sống văn hóa…Thứ tư là những yếu tố văn hóa
Trang 30của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng như: gia đình, nhàtrường, cơ quan, công sở, tổ nhóm lao động, học tập
Nhìn chung, ĐSVH được tổng hợp từ sự tích lũy kinhnghiệm và kiến thức lao động qua sáng tạo, đấu tranh, pháttriển để tạo nên lối sống, đạo lý, tâm hồn ngày càng hoànthiện, hướng đến chân - thiện - mỹ Đồng thời cũng tạo ra mốiquan hệ hài hòa giữa con người và môi trường sống
c/ Xây dựng ĐSVH
Xây dựng ĐSVH là một trong những chủ trương lớn củaĐảng, Nhà nước đặt ra từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V(1981) Xây dựng ĐSVH chính là đưa văn hóa thâm nhập vàocuộc sống của nhân dân, làm cho văn hóa ngày càng là yếu
tố gắn liền với mỗi con người trong xã hội Năm 1986, ở Đạihội đổi mới của đất nước thì công cuộc Xây dựng ĐSVH đượctriển khai trên phạm vi toàn quốc Ở Đại hội VIII, Xây dựngĐSVH được xem như là một mục tiêu cơ bản, một nhiệm vụ có
ý nghĩa chiến luọc trong chương trình mục tiêu quốc gia vềvăn hóa Kì Đại hội tiếp theo, Đảng ban hành Nghị quyết trung
ương 5 khóa VIII với việc chỉ rõ “văn hóa thấm sâu vào từng
khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện giá trị mới của con người Việt Nam” [23,tr.208]
Ở những kì Đại hội tiếp theo, Đảng tiếp tục ban hành cácnghị quyết, chủ trương nhằm nhấn mạnh vai trò quan trọngcủa Xây dựng ĐSVH và đề ra những mục tiêu, chiến lược đểnâng cao chất lượng của việc Xây dựng ĐSVH nhằm, thúc đẩy
Trang 31sự phát triển mạnh mẽ nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc
Bác cũng từng chỉ ra cách Xây dựng ĐSVH: Đời sống mớikhông phải cao xa gì, cũng không phải khó khăn gì Nó khôngbảo ai phải hy sinh chút gì Nó chỉ sửa đổi những việc rất cầnthiết, rất phổ thông, trong đời sống của mọi người, tức là sửađổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc Sửađổi được những điều đó thì mọi người đều được hạnh phúc Màchắc sửa đổi được, vì nó không có gì gay go, khó làm
Trong cuốn “Đời sống mới”, Người nêu lên ba nội dung
có quan hệ mật thiết với nhau để xây dựng ĐSVH là: đạo đức
mới, lối sống mới và nếp sống mới Bác cho rằng: “Đời sống
mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ Thí dụ: Ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi.Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu voớ dân hơn khi trước.Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm Thí dụ: ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp”[31,tr.447].
Cho nên, xây dựng ĐSVH không phải là công việc mộtsớm một chiều mà cần phải tiếp tục duy trì, phát triển Tậptrung nâng cao chất lượng phong trào xây dựng ĐSVH gắn vớicuộc vận động toàn dân xây dựng NTM, ĐTVM Đây cũng
Trang 32chính là việc làm thiết thực, là mục tiêu hàng đầu trong sựnghiệp phát triển văn hóa của nước ta hiện nay.
1.1.2 Các quan điểm về phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT
1.1.2.1 Quan điểm lịch sử
Tinh thần đoàn kết đã trở thành một truyền thồng quýbáu của dân tộc Việt Nam ta, được hình thành và phát triểnqua quá trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước Truyềnthống đó đã được kết tinh từ những gì thiêng liêng nhất, caoquý nhất của con người Việt Nam Nhờ tinh sự đoàn kết màdân tộc ta như xích lại gần nhau, yêu thương, gắn bó với nhauhơn trước những khó khăn, thử thách Và cũng chính tinh thần
ấy đã trở thành nguồn cội sức mạnh, là niềm tin, là động lựcvươn đến những chiến thắng vĩ đại cho nhân dân khi đối mặtvới sự tàn phá của thiên nhiên và sự xâm lược của kẻthù.Truyền thống tốt đẹp đó luôn được ông cha ta gìngiữ, bảotồn và lưu truyền cho con cháu ngàn đời sau và nó mãi trườngtồn với lịch sử, cùng thời gian
Phát huy sức mạnh khối ĐĐKTDT đã được ông cha ta ápdụng từ rất lâu trước đây Ngay từ thuở khai thiên lập quốc,Lạc Long Quân đã biết dạy dân đoàn kết đánh đuổi yêu quáiquấy phá dân lành Đến khi giặc Ân xâm lược, nhân dân lạimột lòng đoàn kết cùng nhau thổi cơm nuôi Gióng đánh giặc.Hay như Trưng vương biết tập hợp sức mạnh người tài từ khắpmiền đất nước để chống lại lũ giặc xâm lược Hoặc như cuộckhởi nghĩa của Bà Triệu gặp khó khăn phải lui về ẩn núp ở núi
Trang 33Nưa, bà đã biết vận dụng sự kết đoàn của bà con dân bản đểcùng mưu nghiệp đánh đuổi ngoại bang.
Sức mạnh đó càng được đẩy lên cao hơn khi Ngô Quyền
kêu gọi quân dân cùng nhau tham chiến “kẻ lên rừng chặt gỗ
lim, gỗ táu, người vạt nhọn đầu rồi sau đó bịt sắt lại Tất cả những cây cọc nhọn hoắt ấy, Ngô Quyền đã sai quân lợi dụng lúc thủy triều xuống đem đóng ở cửa sông Bạch Đằng” [60,
t5, tr.14] Để rồi khi ra trận toàn quân lại phối hợp cùng nhau
làm quân thù khiếp sợ: “Trước sức tấn công dữ dội của ta, các
chiến thuyền của giặc phải quay đầu bỏ chạy, nhưng vì nước rút quá nhanh,nên chiến thuyền đã mắc vào cọc sắt Thuyền
bị vỡ và đắm rất nhiều Cùng lúc đó trên bờ sông một lực lượng khác lại dùng tên tẩm thuốc độc bắn như mưa xuống thuyền của quân Nam Hán Quân giặc phần bị giết, phần bị đuối, thiệt hại hơn quá nửa” [60, tr.16] Nhờ tài mưu lược của
ông kết hợp với sự đoàn kết của quân dân, trên dưới một lòngtạo nên một chiến tích oai hùng, mãi lưu truyền trong sử sáchvới Bạch Đằng giang dậy sóng, chôn vùi quân Nam Hán Theo
nhà sử học Ngô Thì Sĩ viết thì: “chiến thắng Bạch Đằng là vũ
công cao cả vang dội đến ngàn thu, không chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ thôi đâu”[60,tr.17] Thật vậy, với chiến thắng kì vĩ
ấy, Ngô Quyền đã đập tan ý chí xâm lược của giặc Tàu, kếtthúc thời kì Bắc thuộc 1000 năm, đất nước không còn là mộtquận của phương Bắc, mở ra thời kì độc lập, tự chủ của dântộc sau hơn mười thế kỷ ngoan cường chống giặc ngoại xâm.Thế mới thấy sức mạnh của sự đoàn kết thật lớn lao
Trang 34Và đỉnh cao nhất của việc phát huy sức mạnh khốiĐĐKTDT trong lịch sử nước Việt Nam ta được thể hiện qua balần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên của vua tôi nhàTrần Vào thế kỷ thứ XIII khi mà đế quốc Mông Cổ dưới sự trị vìcủa Thành Cát Tư Hãn Thiết Mộc Chân đã bành trướng lãnhthổ từ bờ Thái Bình Dương đến bờ Hắc Hải, chiếm toàn bộnước Nga, một số nước Đông Âu, miền Trung Á, Ba Tư và saunày là toàn bộ Trung Quốc Một đất nước có quân đội hùngmạnh đến nổi vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu thì nơi đó ngay cảngọn cỏ cũng không thể mọc Thế nhưng, chúng phải chịuthất bại ba lần liên tiếp trên cùng một đất nước, tuy nhỏ bé vềđịa lý nhưng lại vô cùng lớn mạnh về ý chí và tinh thần Ý chí
đó là sự quyết tâm của mọi tầng lớp mong muốn giữ gìn cuộcsống thanh bình, lạc nghiệp âu ca Tinh thần đó là tinh thầnđoàn kết của toàn dân, một lòng, chung sức đánh đuổi kẻ thùbảo vệ nền độc lập chủ quyền cho Tổ quốc Một đất nước thuakém quân giặc về nhiều mặt, nhưng trái ngược lại hơn kẻ thù
ở những con người vĩ đại Những con người đó là những bậcminh quân như vua Thái Tông, Thánh Tông hay Nhân Tông; lànhững bề tôi mưu lược như Thái sư Trần Thủ Độ, Chiêu MinhVương - Thượng tướng, Thái sư Trần Quang Khải ; là những vịtướng tài ba như Tiết chế Quốc công Hưng Đạo Đại VươngTrần Quốc Tuấn, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, Nhân HuệVương Trần Khánh Dư, ; là những anh hùng bất tử như TrầnBình Trọng, Trần Quốc Toản, Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm NgũLão ; là những tướng lĩnh của dân tộc vùng cao như Hà Bổng,Trịnh Giác Mật; họ có thể là những người đứng đầu quốc gia,
Trang 35quân đội, hay cũng có thể chỉ là những người lính tận trung và
có khi họ còn là những bô lão, thiếu niên, thậm chí ở họ còn
có cả những người con gái chân yếu tay mềm quen sốngtrong nhung lụa vàng son, nhưng khi đất nước cần thì sẵnsàng đứng lên như công chúa An Tư, Linh Từ Quốc Mẫu , vàtrên tất cả họ là những người dân rất đổi bình thường, suốtngày chỉ quen với cái cày, cây cuốc, quanh năm lam lũ ruộngđồng, tuy vậy họ cũng chẳng ngại ngần mà cầm kiếm, cầmthương để chống lại kẻ thù xâm lược
Biểu hiện cụ thể của tinh thần đoàn kết là ở việc Thái sưTrần Thủ Độ trả lời vua Trần Thái Tông khi quân Nguyên xâmlược nước ta lần thứ nhất, năm 1258, vua hỏi ý kiến quần
thần, thì thái sư đã đanh thép tuyên bố: “Đầu tôi chưa rơi
xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” [60, tr.107] Có được sự tự tin
đó là vì Thái sư tin tưởng vào tài cầm quân của những vịtướng tài ba, tin tưởng vào tinh thần đoàn kết một lòng củaquân dân ta Ông tin, quân thù dù mạnh đến đâu cũng khôngthể chiến thắng được một đất nước khi sức mạnh tập thể hợpthành một khối thống nhất Và điều đó đã minh chứng bằngchiến thắng của quân ta ở Đông Bộ Đầu Sự tự tin đó còn đượcthể hiện ở Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - là linh hồncủa cả ba cuộc kháng chiến, ở ông hội đủ đức và tài của mộtnhà quân sự, một bậc tôi trung Khi quân Mông - Nguyên xâmlược nước ta lần thứ hai, năm 1285 Khi vua Trần Nhân Tông
thương lượng cùng ông “Thế giặc hùng hổ như vậy, chống cự
với nó thì muôn vạn sinh linh bị tàn sát hay là trẫm đầu hàng
Trang 36để cứu vớt muôn dân” Nghe vậy, ông đã khẳng khái đáp “ Bệ
hạ nói câu ấy thật là nhân đức, nhưng tôn miếu xã tắc thì sẽ
ra sao? Nếu bệ hạ muốn hàng thì xin hãy chém đầu tôi đi đã, rồi hãy hàng” [60, tr.61] Khi giặc sang ông đã thực hiện kế
“vườn không nhà trống”, tập hợp toàn quân, toàn dân di
chuyển về Thiên Trường, để dụ địch vào tiêu diệt Trải quacuộc chiến oanh liệt, quân dân ta lại tiếp tục giành thắng lợi ở
Hàm Tử, Chương Dương:“Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm hồ
Hàm Tử quan, Thái bình tu trí lực, Vạn cổ cựu giang san” [86,
t1, tr.514]
Mặt khác, trong cuộc chiến này, ta cũng thấy được sựđoàn kết được thể hiện khi cả hai vị vương là cùng bắt tay làmhòa, dẹp mối hiềm khích Sau hội nghị tại bến Bình Than -nhằm tạo sự đoàn kết giữa tầng lớp quý tộc và các tướng lĩnhcao cấp- Chiêu Minh Vương đi thuyền đến gặp Hưng ĐạoVương để cùng đánh cờ, bàn bạc việc quân Tại đây, khi biếtthói quen lười tắm của Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn đãsai lính nấu nước thơm và tự tay cởi áo và lau rửa giúp Cảmđộng trước nghĩa cử của người anh, Thượng tướng đã nói
rằng: “- Tôi được Quốc công tắm cho thì quả thật là chuyện
hiếm có Trần Quốc Tuấn đã vui vẻ đáp lại: - Còn tôi được tắm cho Thượng tướng thì cũng là chuyện hiếm có Rồi cả hai sảng khoái cười vang” [60, tr.58] Việc làm của cả hai đã xóa tan
mối bất hòa Tướng sĩ nhìn vào càng thêm phấn chấn tinhthần vì sự đoàn kết, thân mật của hai vị thống soái tối cao.Tinh thần đoàn kết của dân tộc ta đã được khắc sâu, in đậm
Trang 37từ trong sđu thẫm mỗi con người Chỉ cần đều kiện đủ lă sẵnsăng phât huy Nay, khi đất nước lđm nguy, thđn lă hai ngườiđứng đầu quđn đội thì hâ để tình riíng mă lăm bận việc quốcgia, rối lòng chiến sĩ Đđy chính lă lúc tinh thần đoăn kết phâthuy thănh tinh hoa văn hóa của dđn tộc mă câc thế hệ saucần lưu truyền vă noi theo.
Ngoăi tăi cầm quđn, Hưng Đạo Vương trở nín vĩ đại đượcngười đời ngưỡng mộ như bậc thânh vì ông đê đặt lợi ích của
Tổ quốc lín trín quyền lợi của gia đình khi chủ động củng cốkhối ĐĐK trong nội bộ vă tiếp tục củng cố khối ĐĐK trongtoăn quđnthông quaBinh Thư yếu lược vă Hịch tướng sĩ Ôngviết hai tâc phẩmđể kíu gọi toăn quđn đồng lòng giếtgiặc.Theo ông, khi đất nước bị xđm lăng thì phải biết nhục:
“không những thâi ấp của ta bị tước mă bổng lộc của ngươi cũng bị người khâc chiếm lấy, không những gia thuộc ta bị lùa
mă vợ con câc ngươi cũng bị người khâc bắt mất; không những xê tắc tổ tông bị người khâc giăy xĩo, mă mồ mả cha
mẹ câc ngươi cũng bị người khâc bới đăo; không những đời năy ta bị nhục, dù trăm đời sau, tiếng dơ khôn rửa, tín xấu mêi còn, mă đến gia thanh câc ngươi không khỏi mang câi nhơ lă tướng thua trận” [86,t1 tr.556] Vă kết quả lă tất cả
binh sĩ hừng hực chí cđm thù, nguyện cùng xđm lín người hai
chữ “Sât thât” để thể hiện lòng quyết tđm, sự đoăn kết, thề
đem xương mâu đânh đuổi quđn thù, giănh lại đất nước Quđn
sĩ tin ông như cha, tướng lĩnh xem ông anh em ruột thịt Vẵng cũng đối đêi với họ bằng câi tđm Một lần khi giao chiến
Trang 38với quân Nguyên, Hưng Đạo Vương định rút quân theo đườngnúi, nhưng vì trước đó Yết Kiêu đang giữ thuyền ở Bãi Tân nên
Dã Tượng nói: “Yết Kiêu chưa thấy đại vương, tất không dời đi
chỗ khác.” Thật vậy, khi vương đến Yết Kiêu vẫn neo thuyền ở đấy chờ Vương mừng lắm, nói rằng: “Chim hồng hộc bay cao được là nhờ ở sáu cái lông cánh, nếu không có sáu cái lông cánh ấy thì cũng như chim thường thôi.” [86, t1, tr.504] Ý
vương đã rõ, người tài mấy mà không có sự tương trợ của mọingười thì cũng không thể làm nên đại nghiệp thiên thu Chỉ cósức mạnh của sự đoàn kết mới tạo thành công Đó cũng chính
là nguyên dân dẫn đến những thắng lợi liên tiếp của quân dân
ta trước mọi thế lực thù địch
Thời đại nhà Trần không hổ danh là đỉnh cao của dântộc Khi trên mọi lĩnh vực đều tạo được những dấu ấn mà chođến ngàn sau còn ngưỡng vọng Với một Hội nghị Diên Hồng
mở rộng khối ĐĐK toàn dân tộc: “Trước câu hỏi: Nên hòa hay
nên đánh? Thì cảm động thay các bậc bô lão tóc bạc trắng đều đồng thanh: Quyết đánh!”[60, tr.60] từng tiếng hô vang
thể hiện lòng quyết tâm vạn người như một: “Toàn dân nhất
trí chấp hành mệnh lệnh kháng chiến: Tất cả các quận, huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẫn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng” [60, tr.60] Mệnh lệnh được treo khắp
mọi nơi và người đều thực hiện, toàn dân cùng một ý chí, khíthế ấy,tinh thần ấy như còn sôi sục cho đến tận ngày nay.Hayđến những chính sách, binh pháp thật hữu ích Khi Hưng Đạo
Trang 39Vương lâm bệnh sắp mất, vua Anh Tông đến thăm và hỏi ông
về sách lược lâu dài với phương Bắc, ông trả lời rằng: “Tóm
lại có thu được quân lính một lòng như cha con thì mới dùng được Vả lại, khoan sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ nước vậy” [86,t1,tr.548-549] Tư tưởng
của ông cách cả hàng thế kỷ vẫn không hề mai một Ôngxứng đáng được suy tôn là Đức Thánh Trần
Những con người đã làm nên thời đại Với những chiếncông mang tầm quốc tế Những con người ấy đã hòa linh hồnmình vào đất nước, làm kết tinh cho tinh thần đoàn kết của cảdân tộc Quả thật đáng tự hào về thời đại Hào khí Đông A
Tinh thần của thời đại đó còn được tiếp nối đến thời của
Lê Lợi, Nguyễn Trãi Những con người ngoan cường, khôngmàn gian khổ, nếm mật nằm gai hơn hai mươi năm, kiên trìvượt qua mọi nguy nan thử thách cốt yếu để giành lại độc lậpchủ quyền cho đất nước Chỉ với 18 con người thuở ban đầu ởhội thề Lũng Nhai Họ chung tay cắt máu ăn thề, thề một lòng
với sự nghiệp cứu non sông: “Nhân dân bốn cõi một nhà,
dựng cần trúc ngọn cớ phấp phới Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” [87, t2, tr.118-119].
Binh thư sách lược từ thời Trần của Hưng Đạo Vương đã đượcnghĩa binh Lam Sơn áp dụng thật hiệu quả Họ là binh, làtướng nhưng cũng là “phụ tử” Họ chiến đấu bên nhau, hysinh cùng nhau, họ xem nhau như người thân ruột thịt Tất cảtrên dưới một lòng cùng chia sớt khó khăn Dù phải trải quabao lần thất bại nhưng họ vẫn kiên trì vớiý chí kiên cường,
Trang 40quyết tâm sắc đá Có thể nói cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giànhđược thắng lợi to lớn là nhờ vào lòng dân, nhờ tinh thần đoànkết không chịu khuất phục của Lê Lợi và nghĩa binh Khi hoạnnạn họ nhận được sự chở che của nhân dân, của anh em đồngđội Đó là khi Lê Lợi thua trận chạy ngang cánh đồng đượcgia đình nông dân giúp đỡ Là lúc Lê Lai quên mình, khoác
chiến bào thay vua mở đường máu, nên có câu: “Hăm mốt Lê
Lai, hăm hai Lê Lợi” Lê Lai xả thân cứu chủ, Nguyễn Trãi cũng
hao tâm tổn trí dâng sách lược Bình Ngô để giúp minh quân.Nếu Lê Lai gắn liền với Lê Lợi ở tấm lòng dũng cảm hy sinh thìNguyễn Trãi lại kề vai sát cánh cùng ông ở sự tương trợ, đồng
tâm: “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” Mặt khác, hình ảnh
Lê Thận ba lần nhặt được lưỡi gươm, đem dâng Lê Lợi, kếthợp cùng chui Lê Lợi tìm thấy trên cây, đã tạo nên một thanh
gươm báu “Thuận Thiên” Hình ảnh đó thể hiện rất rõ sự đoàn
kết quân dân trong cuộc khởi nghĩa trường kì ấy Nó cho thấy,nếu chỉ có chuôi gươm - tượng trưng cho Lê Lợi, người đứngđầu nghĩa quân mà không có lưỡi gươm - đại diện cho nghĩabinh, cho nhân dân cả nước, thì cả hai đều vô dụng Do đó,cần có sự kết hợp, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau thì nghiệp lớnmới thành
Truyền thống đó, đến thời Quang Trung Nguyễn Huệ đãnâng lên thành thuật đánh giặc, giữ nước Vua đã kết hợptuyệt vời giữa tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhaucủa dân tộc ta với thuật hành binh trong chiến đấu để làmnên cuộc tiến quân thần tốc từ Phú Xuân ra Thăng Long, vừa