DNA Deoxyribonucleic acidGABA Acid Gama-Amino Butyric HIV Human Immuno Deficiency Virus Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở ngườiIACS The International Alliance for The Control of ScabiesLiê
Trang 2DNA Deoxyribonucleic acid
GABA Acid Gama-Amino Butyric
HIV Human Immuno Deficiency Virus
(Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người)IACS The International Alliance for The
Control of Scabies(Liên minh quốc về phòng chống bệnhghẻ)
IVM Ivermectin
KST Ký sinh trùng
MDA Mass Drug Administration
(Thuốc chỉ định điều trị hàng loạt)NTDs Neglected Tropical Diseases
(Các bệnh nhiệt đới bị lãng quên) TCYTTG Tổ chức Y tế Thế giới
YLDs Years lived with Disability
(Số năm sống với tình trạng tàn tật)
MỤC LỤ
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
Trang 31.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh ghẻ4
1.5 Đặc điểm lâm sàng, các thể và cận lâm sàng11
1.6.1 Chẩn đoán xác định
37
1.6.2 Chẩn đoán phân biệt 371.7 Biến chứng của bệnh ghẻ 38
Trang 41.7.4 Viêm cầu thận cấp 38
1.8 Điều trị bệnh ghẻ 38
1.8.1 Nguyên tắc chung 38
1.8.2 Điều trị cụ thể 39
1.9 Phòng bệnh ghẻ 40
1.10 Chiến lược trong điều trị và kiểm soát bệnh ghẻ 41
1.11 Thuốc Ivermectin trong điều trị bệnh ghẻ 42
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
2.1 Đối tượng nghiên cứu 53
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 53
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 53
2.2 Phương pháp nghiên cứu 54
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 54
2.2.2 Vật liệu, thiết bị, hóa chất 54
2.2.3 Cỡ mẫu: 55 2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 40
2.4 Nhập liệu và phân tích số liệu 40
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 40
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân mắc ghẻ đến khám, điều trị tại Bệnh viện da liễu Trung ương 42
Trang 5CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 62
4.2 Đánh giá hiệu quả điều trị và tính an toàn của thuốc IVM trong điều trị bệnh ghẻ………… 74
KẾT LUẬN 82
KHUYẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI NGHIÊN CỨU 97
PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân mắc ghẻ theo nhóm tuổi 42
Bảng 3 2: Tuổi và thời gian bị bệnh trung bình (n = 126) 43
Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân mắc ghẻ theo khu vực và hoàn cảnh sống 43
Bảng 3.4 Phân bố thời gian mắc bệnh ghẻ theo giới tính của đối tượng nghiên cứu 45
Bảng 3.5 Đặc điểm về nguồn lây của bệnh ghẻ 46
Bảng 3.6 Phân bố hoàn cảnh sống và tình trạng người sống cùng mắc bệnh ghẻ của đối tượng nghiên cứu 46
Bảng 3.7 Vị trí tổn thương bệnh ghẻ 48
Bảng 3.8 Tổn thương cơ bản của bệnh ghẻ 48
Bảng 3.9 Mức độ ngứa của bệnh nhân 50
Bảng 3.10 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng ngứa của bệnh nhân mắc bệnh ghẻ 51
Trang 6tượng nghiên cứu 53Bảng 3 14 So sánh phương pháp soi tươi và soi dermoscopytrong xét nghiệm tìm ký sinh trùng ghẻ 54Bảng 3.15 Thay đổi triệu chứng luống ghẻ, sẩn cục và mụnnước trước và sau điều trị 55Bảng 3.16 Hiệu quả thay đổi triệu chứng ngứa trước và sau điều trị 55Bảng 3.17 Hiệu quả điều trị với triệu chứng mất ngủ trước và sau điều trị 56Bảng 3.18 Một số tác dụng không mong muốn của thuốc sauthời gian điều trị 57Bảng 3.19 Đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân sau điều trị ghẻ bằngIvermectin theo giới tính 59Bảng 3.20 Phân bố tỷ lệ bệnh nhân dùng nhắc lại thuốc theo giới 60Bảng 3.21 Phân bố tỷ lệ bệnh nhân dùng nhắc lại thuốc theo độ tuổi 61
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân mắc ghẻ theo giới tính 43Biểu đồ 3.2 Phân bố bệnh nhân mắc ghẻ theo nghề nghiệp 44Biểu đồ 3.3 Phân bố thời gian mắc bệnh ghẻ của đối tượng nghiên cứu 45Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ điều trị bệnh bằng thuốc của đối tượngnghiên cứu (trước khi vào viện) và kết quả đạt được 47Biểu đồ 3.5 Các thể lâm sàng của bệnh ghẻ 49Biểu đồ 3.6 Một số triệu chứng kèm theo của ngứa ở bệnh nhân mắc ghẻ .50Biểu đồ 3.7: Kết quả đáp đứng sau 2 tuần điều trị bằng thuốc uống Ivermectincủa bệnh nhân mắc ghẻ 58Biểu đồ 3.8 Mức độ hài lòng cả bệnh nhân với kết quả điều trị ghẻ bằng
Trang 8Hình 1.6 Mụn nước trong bệnh ghẻ 12Hình 1.7 Đường hầm ghẻ còn gọi là “luống ghẻ” dài 3-5mm 12Hình 1.8 Sẩn ghẻ số lượng nhiều, đóng vảy tiết, một số sẩn
có vảy da và hang ghẻ ở thân dương vật 13Hình 1.9 Ghẻ giản đơn chỉ có đường hang và mụn nước, ít cótổn thương thứ phát 14Hình 1.10 Ghẻ nhiễm khuẩn có tổn thương của ghẻ, mụn mủ
do bội nhiễm liên cầu, tụ cầu, có thể gặp biến chứng viêm cầuthận cấp 14Hình 1.11 Ghẻ biến chứng viêm da, eczema hoá do chà xátcào gãi lâu ngày 15Hình 1.12 Ghẻ dạng u cục gặp 7-10% trường hợp, đặc biệthay gặp ở trẻ nhỏ, các nốt màu hồng nâu có đường kính 2-20mm, rất ít khi tìm thấy cái ghẻ trong các tổn thương nốt 15Hình 1.13 Ghẻ Nauy 16Hình 1.14 Satoshi Ōmura thu thập mẫu vi khuẩn từ đất 43Hình 1.15 Hình ảnh vi khuẩn Streptomyces avermectinius .43Hình 1.16 Cấu trúc hóa học của Ivermectin 44
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh ghẻ là một bệnh truyền nhiễm ngoài da, do mộtloài trong nhóm ve bét, thuộc ngành chân khớp ký sinh trên
da, có tên khoa học là Sarcoptes scabiei var Hominis Theo
Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), bệnh ghẻ là một trong 17căn bệnh nhiệt đới bị lãng quên (Neglected TropicalDiseases – NTDs) Nguyên do hiện nay, hầu hết các ca bệnhxuất hiện lẻ tẻ mà hoặc chỉ xảy ra trên một nhóm quy mônhỏ, không thành dịch lớn nên bệnh ghẻ thật sự bị lãngquên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và hầu như vắngmặt trong các chương trình y tế toàn cầu Đồng thời gánhnặng bệnh tật trong bệnh ghẻ cũng bị đánh giá khá thấp Tuy nhiên có một thực tế là hiện nay bệnh ghẻ vẫn ngàyngày tiếp tục ảnh hưởng đến hơn 130 triệu người trên thế giớivào bất kỳ thời điểm nào Các tài liệu gần đây chỉ ra rằng, tỷ
lệ mắc ghẻ có sự thay đổi, giao động từ 0,3% đến 46% dân số[1] Bệnh có thể gặp ở tất cả các tầng lớp dân cư trong xãhội, đặc biệt hay gặp ở những nơi tập trung đông đúc, điềukiện vệ sinh kém Biểu hiện của bệnh rất đa dạng với cáctriệu chứng điển hình là luống ghẻ, sẩn cục do ghẻ ở các vị tríđặc hiệu như các nếp kẽ, vùng da mỏng, lòng bàn tay, lòngbàn chân, vùng sinh dục… Ngoài ra, do phản ứng quá mẫncủa cơ thể với kháng nguyên ký sinh trùng (KST) ghẻ, thìbệnh còn có các biểu hiện khác như ban đỏ, dát đỏ, mụnnước, bọng nước… Bệnh ghẻ rất ngứa, nhất là vào ban đêm
Trang 10làm ảnh hưởng đến giấc ngủ và gây giảm sút chất lượngcuộc sống, gây ra sự mặc cảm xã hội cho người bệnh Ngoài
ra, nếu không được điều trị triệt để, bệnh có thể để lại cácbiến chứng nguy hiểm như nhiễm khuẩn da thứ phát, viêm
da mủ, viêm cầu thận do độc tố của vi khuẩn Streptococcus pyogenes, thậm chí là tử vong [2], [3].
Trên thế giới có nhiều phương pháp điều trị ghẻ đã vàđang được áp dụng với các mức độ hiệu quả khác nhau Tạinhững nước phát triển như Mỹ, Úc, Anh… phác đồ đầu tay đểđiều trị bệnh ghẻ là thuốc tại chỗ Permethrin 2,5% hoặc 5%,thuốc uống Ivermectin (IVM) liều duy nhất 200 µg/kg cho hiệuquả cao, tỷ lệ khỏi bệnh dao động từ 70-98% [4]
Ở Việt Nam, thuốc điều trị ghẻ đầu tay được áp dụng bôibằng dung dịch Diethylphthalate (D.E.P) có tác dụng diệt KSTghẻ Tuy nhiên, qua quan sát điều trị cho thấy D.E.P dễ gâykích ứng, nhất là đối với những vùng da mỏng, không có chỉđịnh sử dụng toàn thân nên tồn tại một số hạn chế trong quátrình điều trị
IVM là một thuốc kháng KST phổ rộng Nhiều nghiên cứucủa các tác giả trên thế giới đã cho thấy thuốc có tác dụngtương đối tốt và đặc biệt có ưu điểm là chỉ cần uống một liềuduy nhất trong suốt quá trình điều trị Tuy nhiên cho đến nayIVM chưa được sử dụng rộng rãi trong điều trị tại các bệnhviện chuyên khoa da liễu Qua tìm hiểu sơ bộ chúng tôi chưathấy có nghiên cứu nào ở Việt Nam đánh giá hiệu quả củathuốc IVM trong điều trị bệnh ghẻ Nhằm mang lại lựa chọnđiều trị hiệu quả, an toàn và tối ưu cho bệnh nhân mắc bệnh
Trang 11ghẻ ở Việt Nam, cũng như mục tiêu giảm bớt gánh nặng bệnhtật, kinh tế cho những vùng dân cư đông đúc, có điều kiệnsinh hoạt khó khăn, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu
đề tài “Điều trị bệnh ghẻ bằng uống Ivermectin” với các
mục tiêu sau:
1 Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu
tố liên quan bệnh ghẻ tại Bệnh viện Da liễu Trung Ương.
2 Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh ghẻ bằng thuốc uống
Ivermectin.
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Lịch sử bệnh ghẻ
Dựa trên các bằng chứng khảo cổ học, gồm những bản vẽcủa người Ai Cập mô tả người có triệu chứng giống với bệnhghẻ ngày nay, các nhà khoa học đã cho rằng căn bệnh này cóthể tồn tại cách đây ít nhất hơn 2500 năm về trước, bắt đầu
từ thời La Mã cổ đại (năm 384-322 trước Công nguyên) Vàothời điểm đó, người La Mã sử dụng thuật ngữ bệnh ghẻ để ám
chỉ một bệnh ngoài da gây ngứa Cái tên Sarcoptes scabiei bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: “sarx” (the flesh) có nghĩa là thịt,
“koptein” (to smite or cut) có nghĩa là dập nát hoặc cắt Và từ
“scabere” (to scratch) có nghĩa là xây xước Sau này, bệnh ghẻ
được nhiều nhà khoa học quan tâm tới, như: bác sĩ người Ả rập– Abu el Hasan Ahmed el Tabari (năm 970), Saint Hildegard
Trang 12(năm 1098-1179) và Moorish Avenzoar (năm 1091-1162).Nhưng phải đến tận năm 1687, bác sĩ Giovanni CosimoBonomo phối hợp cùng với Dicanito Cestoni mới tìm ra nguyênnhân gây bệnh và mô tả chính xác đầu tiên về loài côn trùng,
có tên là Sarcoptes scabiei - nguyên nhân của bệnh ghẻ Ngoài
ra, ông còn mô tả được đặc điểm chi tiết về triệu chứng củanhững người mắc ghẻ vào thời điểm đó [5-7]
1.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh ghẻ
1.2.1 Tình hình bệnh ghẻ trên thế giới
Bệnh ghẻ ảnh hưởng đến mọi người dân ở tất cả các quốcgia Bất kỳ ai, dân tộc nào, nam hay nữ, già hay trẻ cũng đều
có thể mắc bệnh ghẻ Tuy nhiên, theo TCYTTG thì nhóm người
dễ bị tổn thương nhất với bệnh là: trẻ nhỏ (với tỷ lệ mắc bệnhtrung bình từ 5 - 10%) và người cao tuổi ở các quốc gia nghèođói Tỷ lệ nhiễm bệnh cao thường xảy ra ở các nước có khíhậu nhiệt đới, nơi tồn tại nhiều mầm bệnh Với tỷ lệ mắc ởkhu vực này có thể trên 25% tổng số ca mắc và đặc biệt tỷ lệmắc có nơi lên đến 50% ở một số cộng đồng khu vực NamThái Bình Dương và phía bắc nước Úc Ở vùng nông thôn có tỷ
lệ mắc ghẻ khoảng 7,6% và thành thị là 5% Chú ý hơn làbệnh thường xảy ra ở những vùng dân cư đông đúc, nhà ởchật hẹp, thiếu vệ sinh, thiếu nước sinh hoạt Bệnh ghẻ lâyqua tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, nằm chung giường, mặcchung quần áo, dùng chung khăn tắm, tổn thương ghẻ thường
ở vùng da mỏng có nhiều nếp nhăn Chính vì vậy, mà bệnhghẻ còn được xếp vào nhóm bệnh lây truyền qua đường tìnhdục… Hầu hết sự lây truyền bệnh ghẻ xảy ra mang tính chất
Trang 13gia đình vì nếu một thành viên trong nhà bị bệnh ghẻ thì khảnăng những người khác trong gia đình sẽ dễ mắc bệnh theo.Bệnh có thể gây ra các biến chứng như: nhiễm trùng huyết,chàm hoá, viêm cầu thận cấp Bệnh hay gặp vào mùa xuân
hè và có thể trở thành dịch lưu hành địa phương hoặc xảy ratại ở các đơn vị tập thể như doanh trại, trại giam, ký túc xá…[8]
Theo TCYTTG, bệnh ghẻ là một trong những bệnh phổbiến nhất trên toàn cầu, chiếm một tỷ lệ đáng kể ở các nướcđang phát triển Vào năm 1995, Orkin M đã thực hiện nghiêncứu ước tính có khoảng 300 triệu người trên toàn thế giới đã
bị nhiễm KST ghẻ [9] Còn hiện nay, bệnh ghẻ ảnh hưởng đếnhơn 130 triệu người trên thế giới vào bất kỳ thời điểm nào.Các tài liệu gần đây chỉ ra rằng, tỷ lệ mắc ghẻ có sự thay đổi,giao động từ 0,3% đến 46% dân số Ở các nước phát triển, sựbùng nổ của bệnh trong các cơ sở y tế và cộng đồng dễ bị tổnthương, là nguyên nhân chính góp phần vào chi phí kinh tếtrong dịch vụ y tế quốc gia Tuy nhiên, ở các khu vực nhiệtđới, nguồn lực còn hạn chế, thì gánh nặng của bệnh ghẻ, cũngnhư các biến chứng của chúng, là một chi phí lớn đối với hệthống chăm sóc sức khoẻ [10] Trong năm 2010, người ta ướctính rằng những ảnh hưởng trực tiếp do sự lây lan của bệnhghẻ đã dẫn đến hơn 1,5 triệu tỷ YLDs (số năm sống với tàntật) và những ảnh hưởng gián tiếp của các biến chứng từ ghẻ,như: nhiễm khuẩn huyết, bệnh tim mạch và bệnh thận mãntính [11]
Theo một nghiên cứu tổng quan hệ thống, người ta nhậnđịnh rằng: tỷ lệ mắc bệnh ghẻ trên toàn thế giới thực sự chưa
Trang 14có kết quả chính xác Nghiên cứu này đã tìm kiếm một số cơ
sở dữ liệu sẵn có và cả những tài liệu chưa được công bố, gồmcác nghiên cứu dựa trên dân số, báo cáo về tỷ lệ mắc ghẻ tạicộng đồng Tất cả các nghiên cứu đã được kiểm định và đánhgiá về chất lượng, với 2409 bài báo có liên quan và 48 nghiêncứu được đưa vào phân tích Dữ liệu tỷ lệ mắc ghẻ luôn có sẵntrên toàn thế giới, tuy nhiên trừ khu vực Bắc Mỹ Kết quả tổngquan cho thấy, tỷ lệ người nhiễm ghẻ trên toàn cầu dao động
từ 0,2% đến 71,4% Tất cả các khu vực ngoại trừ Châu Âu vàTrung Đông, thì đều có tỷ lệ nhiễm ở quần thể luôn cao hơn10% Nhìn chung, tỷ lệ mắc bệnh ghẻ cao nhất ở khu vực TháiBình Dương và Châu Mỹ Latinh; đối tượng nguy cơ cao là thanhthiếu niên và người trưởng thành [12]
Một nghiên cứu tổng quan hệ thống khác được thực hiệnvào năm 2013, nhằm tìm hiểu đặc điểm dịch tễ học của bệnhghẻ ở các nước đang phát triển, cho thấy: tỷ suất nhiễm ghẻ làrất khác nhau, từ 2,71 - 46 người trên 1000 dân [1] Và tỷ lệhiện mắc bệnh ghẻ ở các khu vực nghèo đói chiếm từ 20% dân
số [13]
Số liệu của TCYTTG năm 2005, tổng hợp từ 18 nghiên cứu
về tỷ lệ bệnh về da ở trẻ em thuộc 18 quốc gia đang pháttriển cho thấy: bệnh về da của trẻ em chiếm tỷ lệ rất cao,biến thiên từ 21-87% Trong đó, các bệnh da do nhiễm trùnggặp rất phổ biến, lần lượt là: viêm da mủ (6,9-35%), ghẻ (0,2 -24%), nấm nông ở da (1 -19,7%), bệnh da do virus (0,4-9%)[10]
1.2.2 Tình hình bệnh ghẻ tại Việt Nam
Ở nước ta, bệnh ghẻ vẫn còn lưu hành khắp các vùng
Trang 15trong cả nước Ngay cả những thành phố lớn, bệnh hiện vẫncòn đang tồn tại [8] Hiện nay, chưa có điều tra quốc gia vềdịch tễ học của bệnh ghẻ nên không xác định được tỷ lệ hiệnmắc của căn bệnh này ở người Việt Nam Tuy nhiên, cũng cócác nghiên cứu thực hiện trên quy mô nhỏ và xác định được
tỷ lệ hiện mắc ghẻ trên nhóm đối tượng cụ thể
Theo điều tra cơ cấu bệnh ngoài da của Bộ môn Da liễu,thuộc Học viện Quân Y giai đoạn 1992 - 1994 ở 13 đơn vị,quân binh chủng nhà trường và các mùa trong năm cho thấy:bệnh ghẻ là 1 trong 4 bệnh ngoài da phổ biến nhất trongquân đội, gồm: nấm da, ghẻ, eczema và viêm da mủ, chỉđứng thứ 2 sau bệnh nấm da Cụ thể, trong tổng số 5663quân số khám thì có 2634 bị bệnh ngoài da chiếm 46,51%quân số Nấm da có 983 ca, chiếm 37,31% Bệnh ghẻ là 347
ca mắc, chiếm 13,17% [14]
Khảo sát trên người nghiện ma túy tại Trung tâm Cainghiện ma túy Bình Triệu nhận thấy: có khoảng 90-100%bệnh nhân nhiễm HIV (vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người)
có bệnh da phối hợp Trong đó, bệnh ghẻ chiếm tỷ lệ cao(49,6% ở người nhiễm HIV) Ngày nay, ghẻ Na Uy được xem làdấu hiệu chỉ điểm của nhiễm HIV chuyển qua giai đoạn AIDS(hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) Kế tiếp là nhiễmtrùng da, nấm da, chàm và nhiễm siêu vi [15]
Theo nghiên cứu của Phạm Hoàng Khâm, thì tỷ lệ bệnhghẻ chiếm 3,56% tổng số người mắc bệnh da liễu Tỷ lệ bệnhghẻ đứng hàng thứ 4 trong các bệnh da liễu thường gặptrong quân đội Vị trí tổn thương hay gặp nhất trong bệnhghẻ là kẽ ngón tay, lòng bàn tay (chiếm 92,12%) Tiếp đến
Trang 16vùng sinh dục ngoài (88,67%) Vùng bụng, quanh thắt lưngchiếm 81,28%, đùi và mông lần lượt là 69,96%; 41,87% Đặcbiệt, vùng đầu, mặt, cổ và lưng không có tổn thương Tổnthương cơ bản thường gặp nhất trong bệnh ghẻ là mụn nước,chiếm 100% các trường hợp Đường hang là thương tổn đặchiệu nhưng rất khó tìm thấy (5,91%) Săng ghẻ có ở 22,17%trường hợp và hầu hết ở vùng sinh dục Tất cả bệnh nhânghẻ đều có ngứa ở các mức độ khác nhau Đa số bệnh nhânnhận thấy ngứa nhiều (66,01%) Mức độ vừa chiếm tỷ lệ28,08% Chỉ có 5,91% bệnh nhân thấy ngứa ít Đa số bệnhnhân nhận thấy thời điểm ngứa nhất trong ngày là lúc bệnhnhân đi ngủ, chiếm tỷ lệ 80,3% [16]
Ngoài ra, với kết quả từ nghiên cứu của Lê Bách Quangthì trong 293 bệnh nhân tham gia thì có 36 trường hợp mắcghẻ, chiếm 12,3% [17] Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ ChíMinh đã thống kê được rằng: bệnh ghẻ chiếm tỷ lệ 3,9% tổng
số bệnh nhân đến khám [18]
1.3 Đặc điểm sinh học của cái ghẻ gây bệnh
Bệnh ghẻ là bệnh ngoài da phổ biến, bệnh lây do mộtloại côn trùng ký sinh trên da gây nên, có tên khoa học là
Sarcoptes scabiei, Hominis (cái ghẻ), có nơi còn gọi là con
mạt ngứa (Itch mite)
Trang 17Hình 1.1 Đặc điểm hình thái của cái ghẻ [19]
Phân loại học của ghẻ cụ thể là: thuộc giới động vật, ngành
Arthropoda, lớp Arachnida, bộ Astigmata, họ Sarcoptidae, chi Sarcoptes, loài Sarcoptes scabiei Bệnh chỉ do ghẻ cái gây nên,
ghẻ đực không gây bệnh vì chết sau khi giao hợp Cái ghẻ cóhình bầu dục; kích thước từ 0,3 - 0,5 mm (mắt thường có thểthấy như một điểm trắng di động), có 08 chân: 2 đôi chân trước
có ống giác, 2 đôi chân sau có lông tơ; lưng có gai xiên về phíasau; đầu có vòi hút thức ăn, đồng thời để đào hầm ở [8]
Ghẻ cái sống ký sinh ở lớp sừng của thượng bì, đào hang
về ban đêm, đẻ trứng về ban ngày Mỗi ngày ghẻ cái đẻ 1 - 5trứng và đẻ liên tục trong 4 - 6 tuần liền, sau 3 - 7 ngày trứng
nở thành ấu trùng, ấu trùng lột xác nhiều lần thành ghẻtrưởng thành (chỉ trong vòng 3-4 ngày)
Chỉ khoảng dưới 10% kết quả trứng đậu thành cái ghẻtrưởng thành Sau đó, chúng bò ra khỏi hang, di chuyển lên
bề mặt da và trưởng thành ở đó Tiếp tục quá trình giao hợp
và đào hầm, đẻ trứng mới Ghẻ đực chết ngay sau khi hoànthành nghĩa vụ phối giống và ghẻ cái cũng chết sau khi đã đẻhết số trứng của mình Số lượng trung bình cái ghẻ trên vật
Trang 18chủ thường ít hơn 20 con, trừ trường hợp ghẻ vảy (ghẻ Na Uy)
có thể có tới hàng triệu cái ghẻ Nhìn chung, ghẻ cái sinh sôinảy nở rất nhanh, trong điều kiện thuận lợi một con ghẻ cái,sau 3 tháng có thể có một dòng họ 150 triệu con [8, 20, 21]
1.4 Cơ chế bệnh sinh bệnh ghẻ
Ghẻ cái không thể bay hay nhảy được, chu kỳ toàn bộcuộc sống của chúng kéo dài 30 ngày nếu cư trú ở trong vàtrên lớp thượng bì
Hình 1.2 Chu kỳ vòng đời của cái ghẻ [22]
Cái ghẻ di chuyển qua các lớp trên cùng của da bằngcách tiết enzyme proteases để làm suy giảm tầng lớp sừng.Chúng đào luống ở lớp sừng chỉ trong vòng 20 phút Chúng
ăn các mô bị phân hủy nhưng không ăn máu Cái ghẻ dichuyển thông qua các lớp biểu bì, tạo ra các tổn thương hang
và để lại sau phân của chúng
Ban đêm ghẻ cái bò ra khỏi hang tìm ghẻ đực, đây là thờiđiểm gây ngứa nhất cho bệnh nhân và cũng là lúc dễ lây
Trang 19truyền bệnh nhất Nguyên do bởi bệnh nhân có triệu chứngngứa phải gãi và làm vương vãi cái ghẻ ra quần áo, giườngchiếu Cái ghẻ sẽ chết sau khi rời vật chủ (sống ngoài cơ thể)được 2-3 ngày hoặc chết ở nhiệt độ từ 60oC trở lên [8, 13, 20].Cách lây truyền: bệnh ghẻ lây do nằm chung giường, mặcquần áo chung… Con đường lây bệnh qua tiếp xúc da - da khiquan hệ tình dục nên có thể xếp vào nhóm bệnh lây truyềnqua đường tình dục (STDs).
Bệnh có thể xuất hiện thành ổ dịch ở các đơn vị tập thể, ởcác đơn vị tân binh mới nhập ngũ, vùng dân cư đông đúc, nhà
ở chật hẹp, thiếu vệ sinh, ở trại giam
Khi bị ghẻ, người bệnh có các triệu chứng: ngứa nhiều vềđêm, ngứa tăng khi trời nóng, lao động, thể thao Mụn nước ở
vị trí đặc hiệu, kẽ ngón tay, lằn chỉ cổ tay, nếp gấp bàn tay,vùng thắt lưng, cạp quần, bẹn đùi, sinh dục, nách, núm vú ởphụ nữ Điều đặc biệt là ghẻ không thấy ở mặt, đầu và 1/3trên lưng Đối với trẻ em dưới 2 tuổi, ghẻ có thể bị toàn thân
Có thể dùng kính lúp soi bắt được cái ghẻ nằm ở cuối đườnghầm trong da
1.5 Đặc điểm lâm sàng, các thể và cận lâm sàng
1.5.1 Đặc điểm lâm sàng bệnh ghẻ [14], [23], [24]
Thời kỳ ủ bệnh thay đổi từ 2 - 40 ngày, trung bình từ 10 - 15ngày Tổn thương đặc hiệu của bệnh ghẻ là luống ghẻ và mụnnước (còn gọi là mụn trai và đường hang)
Mụn nước trên nền da lành, rải rác, riêng rẽ, thường ởvùng da mỏng như ở kẽ ngón tay, mặt trước cổ tay, cẳng tay,
vú, quanh thắt lưng, rốn, kẽ mông, mặt trong đùi và bộ phận
Trang 20sinh dục Ở trẻ sơ sinh mụn nước hay gặp ở lòng bàn tay,chân Với tỷ lệ phát hiện ở các cơ quan là: kẽ ngón 90,6%;quanh rốn 67,2%; bộ phận sinh dục 76,6%; nách, đùi 71,9%.
Hình 1.3 Mụn nước trong bệnh ghẻ
Đường hang do cái ghẻ đào ở lớp sừng là 1 đường congngoằn ngoèo hình chữ chi, dài 5mm nhưng có thể lên đến 10
cm, gờ cao hơn mặt da, màu trắng đục hay trắng xám, khôngkhớp với hằn da, ở đầu đường hang có mụn nước 1-2 mmđường kính, chính là nơi cư trú của cái ghẻ Một ghẻ cái
thường đào một hang Phân bố: những khu vực nang có ít
hoặc không có lông, thường là nơi lớp sừng mỏng và mềm, tức
là, kẽ giữa hai ngón tay > cổ tay > thân dương vật > mặttrước khuỷu tay > chân > bộ phận sinh dục > mông > nách >
ở nơi khác Ở trẻ sơ sinh, sự nhiễm ký sinh thường xuất hiệntrên đầu và cổ Đường hầm thường hiếm thấy, nhưng khi thấyđường hầm thì có thể chẩn đoán xác định bệnh ghẻ
Trang 21Hình 1.4 Đường hầm ghẻ còn gọi là “luống ghẻ” dài 3-5mm.
Sẩn cục hay sẩn huyết thanh Các nốt sần hoặc sẩn viêmhang ghẻ đôi khi được phát hiện trên bề mặt của tổn thươngrất sớm Tổn thương dạng sẩn xuất hiện ở 7-10% bệnh nhân
bị ghẻ Sẩn có đường kính 5-20 mm, màu đỏ, hồng, nâu vàng(màu rám nắng), hoặc màu nâu, mịn Có thể rõ hơn sau điềutrị, giống như phát ban dạng eczema Số lượng nốt thường đếmđược Có thể nhìn thấy hang ghẻ ở bề mặt của các sẩn mới xuất
hiện Phân bố: dương vật, bìu, nách, bẹn, thắt lưng, mông,
quầng vú
Hình 1.5 Sẩn ghẻ số lượng nhiều, đóng vảy tiết, một số sẩn
Trang 22có vảy da và hang ghẻ ở thân dương vật.
Tổn thương thứ phát thường do ngứa gãi gây nên, baogồm: vết xước gãi, vết trợt, sẩn, vẩy tiết, mụn nước, mụn mủ,chốc nhọt…, sẹo thâm màu, bạc màu, tạo nên hình ảnh được
ví như bức tranh "khảm xà cừ", "hình hoa gấm" Những tổn
thương thứ phát như nhiễm khuẩn chủ yếu do Streptococcus pyogenes và Staphylococcus aureu, viêm da, eczema hóa
thường che lấp, lu mờ tổn thương đặc hiệu gây khó khăn chochẩn đoán
Triệu chứng cơ năng: ngứa nhiều nhất là về đêm, lúc đingủ do cái ghẻ di chuyển gây kích thích đầu dây thần kinhcảm giác ở da và một phần do độc tố ghẻ cái tiết ra khi đàohang Ngứa gãi gây nhiễm khuẩn và có thể có sốt
Người bị nhiễm KST ghẻ lần đầu tiên trong vòng 02 tuầnđầu hoàn toàn chưa có biểu hiện ngứa Nhưng do có thể mới
bị ghẻ xâm nhập nên chưa có sự phản ứng lại nên chưa thấyngứa, điều đó lý giải tại sao một số bệnh nhân có tổn thươngghẻ thực sự mà hoàn toàn chưa thấy ngứa
Những người bị tái nhiễm ghẻ thì xuất hiện ngứa dữ dộingay từ khi cái ghẻ xâm nhập vào da
Có yếu tố dịch tễ như: gia đình, tâp thể, đơn vị nhiềungười bị ghẻ để giúp xác minh chẩn đoán [8, 15]
1.5.2 Các thể bệnh ghẻ lâm sàng
Trên lâm sàng, bệnh ghẻ chia thành 5 thể như sau :
Trang 23Hình 1.5 Ghẻ giản đơn chỉ có đường hang và mụn nước, ít có tổn
thương thứ phát
Hình 1.6 Ghẻ nhiễm khuẩn có tổn thương của ghẻ, mụn mủ
do bội nhiễm liên cầu, tụ cầu, có thể gặp biến chứng viêm cầu
thận cấp
Hình 1.7 Ghẻ biến chứng viêm da, eczema hoá do chà xát
Trang 24cào gãi lâu ngày
Hình 1.8 Ghẻ dạng u cục gặp 7-10% trường hợp, đặc biệt hay gặp ở trẻ nhỏ, các nốt màu hồng nâu có đường kính 2-20mm,
rất ít khi tìm thấy cái ghẻ trong các tổn thương nốt
Ghẻ Na Uy (Norwrgian) – ghẻ vảy:
Nguyên nhân gây ra ghẻ vảy là điều trị bằngglucocorticoid dài ngày, suy giảm miễn dịch (HIV/AIDS, nhiễmHTLV-I, người được ghép tạng, dùng các thuốc ức chế miễndịch, suy dinh dưỡng, người già ) Người có ghẻ vảy thường
bị hoặc có rối loạn hệ thần kinh như hội chứng Down, bệnhmất trí nhớ, đột quỵ, tổn thương tủy sống, bệnh thần kinh,bệnh phong
Có thể khởi phát như ghẻ bình thường Ở các trường hợpkhác, biểu hiện lâm sàng là eczema mạn tính, viêm da dạngvảy nến, viêm da tiết bã hoặc chứng đỏ có vảy Tổn thươngthường xuất hiện ở dạng sừng hoá và/hoặc đóng vảy Thươngtổn cơ bản là các lớp vẩy chồng lên nhau và lan toả gần nhưtoàn thân (vì vậy còn gọi là ghẻ vảy: crusted scabies) có thểtìm thấy hàng nghìn cái ghẻ trong các vẩy nhỏ này Tại cáckhu vực bị nhiễm ghẻ vảy nặng, các mảng có ranh giới rõ
Trang 25được bao phủ bởi một lớp vảy rất dày Ở tay/chân gây nênbệnh da dạng hạt cơm, với giường móng tăng sừng Phản ứngban đỏ có vảy xuất hiện trên mặt, cổ, da đầu, thân mình.
Sự phân bố: phân bố toàn thể (đầu và cổ ở người lớn)
hoặc phân bố cục bộ từng vùng chủ yếu ở các khu vực hăm(vùng nếp kẽ ) Lớp vảy da/vảy tiết được tìm thấy trên mặtduỗi bàn tay, cổ tay, ngón tay, khớp bàn ngón tay, lòng bàntay, mặt duỗi của khuỷu tay, da đầu, tai, lòng bàn chân vàngón chân
Hình 1.2 Ghẻ Nauy
1.5.3 Đặc điểm cận lâm sàng bệnh ghẻ
1.5.3.1 Soi tìm ký sinh trùng
Soi tìm ký sinh trùng dưới kính hiển vi quang học: Vị
trí soi tìm ở các hang ghẻ điển hình trên kẽ ngón tay, vùnggấp cổ tay, và dương vật Chẩn đoán là bệnh ghẻ nếu thấy 3phát hiện sau: trứng ghẻ, cái ghẻ và phân của chúng (hònphân)
Trang 26- Soi da bằng Dermoscopy:
Dermoscopy là một tiến bộ mới trong chẩn đoán lâmsàng các thương tổn có sắc tố
Trong bệnh ghẻ, do quá trình đào hầm gây tổn thương trên
da và hình ảnh phản xạ của đầu con cái ghẻ trên đèn chiếu tạo
ra hình ảnh đặc trưng trong bệnh ghẻ giúp gợi ý cho các bác sĩlâm sàng chẩn đoán bệnh một cách chính xác đặc biệt trongtrường hợp soi tươi không tìm thấy ký sinh trùng ghẻ Trên hìnhảnh Dermoscopy không chỉ thấy được trực tiếp hình ảnh củaKST ghẻ như cái ghẻ, phân, trứng ghẻ mà còn giúp đánh giáđược các hình ảnh tổn thương da đi kẻm như hình tam giác,luống ghẻ (Hình 2.1; 2.2.; 2.3)
Hình 1.10 Hình tam giác hay hình delta - Đầu con cái ghẻ
[25]
Trang 27Hình 1.11 Luống ghẻ hình chữ "S" [25]
Đoạn trong suốt: thân con ghẻ
Hình 1.12 Luống ghẻ hình chữ "Z” [26]
1.5.3.2 Giải phẫu bệnh:
Hang ghẻ: tổn thương nằm trong lớp sừng; cái ghẻ
nằm ở cuối hang Thân tròn, dài 400 μmm Mụn nước xuất hiệngần cái ghẻ Trứng cũng được nhìn thấy Hạ bì bị xâm nhậpbởi bạch cầu ái toan
Sẩn ghẻ: thâm nhiễm viêm mạn tính dày đặc bạch cầu
ái toan Trong một số trường hợp, phản ứng với ghẻ dai dẳng
Trang 28như u lympho tế bào đơn nhân không điển hình
Bệnh ghẻ vảy: lớp sừng dầy bị làm thủng bởi vô số cái
ghẻ
1.5.3.3 Huyết học: Tăng bạch cầu ái toan trong ghẻ vảy.
1.5.3.4 Nuôi cấy: Tụ cầu vàng và GAS là nguyên nhân gây
nhiễm trùng thứ phát
Các xét nghiệm cận lâm sàng bổ sung chẩn đoán: có thể
sử dụng là xét nghiệm thông qua chỉ số miễn dịch IgE và kỹthuật PCR để khẳng định Ngoài ra, có thể sử dụng phản ứngkhuếch đại chuỗi polymerase, trong đó DNA của KST ghẻ đượctìm ra từ vảy da Tuy nhiên chi phí các phương pháp này khácao nên hiện nay vẫn chưa được áp dụng nhiều tại Việt Nam.Không phải lúc nào xét nghiệm cũng tìm thấy cái ghẻ và trứng
Vì vậy, chẩn đoán dựa vào các đặc điểm lâm sàng và tính chấtdịch tễ là rất quan trọng [8, 27, 28]
- Cận lâm sàng: + Soi tươi dưới kính hiển vi
Chẩn đoán bệnh ghẻ dựa vào tiêu chuẩn vàng là tìm thấycái ghẻ tuy nhiên trên thực tế nhiều trường hợp không tìmthấy cái ghẻ, chẩn đoán chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâmsàng và dịch tễ
1.6.2 Chẩn đoán phân biệt
Ghẻ có những đặc điểm gần giống với các bệnh về da như
Trang 29tổ đỉa, sẩn ngứa, viêm da cơ địa, nấm da, săng giang mai Nên cần phải chẩn đoán phân biệt, cụ thể như sau [8]:
- Tổ đỉa có thương tổn là do các mụn nước nhỏ sâu, tập
trung rìa cụm, không có đường hang, chỉ có ở lòng bàn tay,đầu ngón, mặt dưới ngón, rìa ngón bàn tay chân, tiến triển daidẳng
- Thương tổn do sẩn ngứa là sẩn huyết thanh rải rác
khắp cơ thể, rất ngứa, vị trí hay gặp ở vùng da hở Nguyênnhân do viêm da dị ứng với cây cỏ, lá ngứa, do nước suối, dohoá chất nhưng không có mụn nước ở lòng bàn tay, kẽ tay,quy đầu không có tính chất dịch tễ lây lan người này sangngười khác
- Viêm da cơ địa có đặc điểm là thương tổn dạng sẩn
mụn nước tập trung thành từng đám, chủ yếu ở các chi dưới,rất ngứa, tiến triển dai dẳng
- Nấm da có thương tổn là mảng da đỏ, các mụn nước và
vảy da ở rìa thương tổn, bờ hình vòng cung, có xu hướng lành
ở giữa Ngứa nhiều, xét nghiệm tìm thấy sợi nấm
- Săng giang mai là một vết trợt nông, nền cứng, không
ngứa, không đau, hay gặp ở vùng hậu môn sinh dục Kèmhạch bẹn to, thuờng có hạch chúa Xét nghiệm trực tiếp soitươi tìm thấy xoắn khuẩn giang mai tại thương tổn và hạchvùng, xét nghiệm huyết thanh giang mai dương tính
Ngoài các bệnh kể trên, thì cũng cần lưu ý phân biệt vớinhững bệnh sau: rận mu, bệnh thuỷ đậu, viêm da dạngHerpes, viêm nang lông
1.7 Biến chứng của bệnh ghẻ
1.7.1 Ghẻ chàm hoá
Trang 30Ghẻ chàm hoá là tình trạng có thể nhiễm ghẻ lâu ngàygây ngứa gãi chàm hoá Ngoài các thương tổn ghẻ còn có cácmụn nước tập trung thành đám Hay gặp ở người có cơ địa dịứng, chàm xảy ra ở những khu vực bị trầy da, hay gặp nhất ởbàn tay, kẽ ngón tay, cổ tay, nách, quầng vú, thắt lưng,mông, dương vật và bìu Ở người lớn, da đầu, mặt và lưngthường không bị nhưng ở trẻ nhỏ, da đầu, mặt, lòng bàn tay
-MRSA là nguyên nhân chính gây nhiễm trùng thứ phát ởnhững người bị ghẻ
1.7.3 Lichen hoá: Ngứa nên người bệnh gãi nhiều gây dầy
da, thâm da
1.7.4 Viêm cầu thận cấp: Ở trẻ bị ghẻ bội nhiễm, không
được điều trị hoặc điều trị không khỏi thì gây ra bệnh tái phátnhiều lần [8]
1.8 Điều trị bệnh ghẻ [14], [23], [24]
Có nhiều phương pháp điều trị bệnh ghẻ với các mức độ
Trang 31hiệu quả khác nhau Các yếu tố ảnh hưởng tới việc lựa chọnđiều trị là độ tuổi, giá cả, mức độ nặng của bệnh và tính hiệuquả của các phương pháp điều trị trước đó.
1.8.1 Nguyên tắc chung
Cần phải điều trị cho tất cả những người sống cùng tronggia đình, tập thể hay nhà trẻ nếu phát hiện có trường hợp bịghẻ [8]
Nên tầm soát các bệnh lây qua đường tình dục với nhữngngười bệnh trên 18 tuổi [8]
Các vật dụng như quần áo, chăn màn đệm, vỏ gối, đồdùng… giặt sạch, phơi khô, là kỹ để tránh mắc bệnh ghẻ [8]
1.8.2 Điều trị cụ thể
1.8.2.1 Phương pháp Đông y
Đông y thường sử dụng lá cây ba chạc đen và lá đào đunnước tắm, kèm theo tinh dầu hạt cây máu chó bôi tại chỗ,tắm nước muối hoặc tắm biển khoảng 1 tuần Cách dùng tinhdầu hạt cây máu chó chữa ghẻ là: tắm sạch bằng xà phòng,sau đó bôi thuốc vào vùng thương tổn, ngày một lần vào buổitối Giặt sạch, phơi khô quần áo, chăn màn [8]
1.8.2.2 Phương pháp Tây y
Ở người lớn, các thuốc diệt ghẻ tại chỗ nên sử dụng khắp
bề mặt da, trừ vùng mặt, da đầu và đặc biệt chú ý tới cácvùng nếp kẽ, vùng sinh dục, quanh móng, sau tai Ở trẻ em
và những bệnh nhân ghẻ vảy (ghẻ Na Uy), cần điều trị cảvùng mặt và da đầu Bệnh nhân cần được tư vấn rằng: thậmchí khi đã điều trị đầy đủ, cảm giác dát và ngứa có thể kéo dàisau đó 4 tuần Ngoài ra có thể sử dụng corticoid tại chỗ,
Trang 32kháng histamin để chống viêm và giảm ngứa cho bệnh nhân.Các thuốc diệt ghẻ chủ yếu là loại thuốc bôi tại chỗ hiệnđang được áp dụng [8], bao gồm:
Gamma benzen 1% (tên gọi khác là Kwell, Lindane): xịtthuốc vào toàn bộ da từ cổ xuống chân Sau 8-12 giờ, ngườibệnh tắm rửa thay quần áo, xịt thuốc 2 lần/1 tuần Thuốcchữa ghẻ nhanh nhưng độc với thần kinh nên không dùng chotrẻ nhỏ và phụ nữ có thai
Benzoat benzyl 25% (tên gọi khác là Ascabiol, Scabitox,Zylate) là thuốc rất tốt, có độ an toàn cao Bôi, xịt ngày 2 lần,mỗi lần cách nhau 15 phút Sau 24 giờ, bệnh nhân tắm gội,giặt lại quần áo
D.E.P: là thuốc chống muỗi vắt đốt, nhưng lại có tácdụng diệt cái ghẻ nhanh và rẻ tiền, ít độc tính Bôi ngày 2-3lần Thuốc không nên dùng cho trẻ sơ sinh và không bôi vào
bộ phận sinh dục
Permethrin cream 5% (tên gọi khác Elimite) là thuốcchữa ghẻ ít độc tính, có thể dùng cho cả trẻ em và phụ nữ cóthai
Mỡ lưu huỳnh 5-10%, sử dụng cho trẻ em và người lớn,đặc biệt là trẻ nhỏ dưới 2 tháng tuổi, phụ nữ có thai và chocon bú Thuốc rất an toàn, tuy nhiên nhược điểm có mùi hôi
Crotaminton 10% (tên gọi khác Eurax) là thuốc bôi có tácdụng chống ngứa và diệt cái ghẻ Cứ 6-10 giờ bôi 1 lần, thuốc
an toàn có thể bôi vào bộ phận sinh dục và dùng cho trẻ sơsinh
Trang 33Ngoài sử dụng thuốc bôi, thì trong những trường hợp cụthể, người ta có thể dùng thêm một số loại thuốc kết hợpkhác, như: thuốc kháng sinh, thuốc IVM, kem chứa Corticoid(bôi trong 1-2 tuần); kháng Histamin tổng hợp; vitamin B1 vàC; oxit kẽm; mỡ kháng sinh Salicylé; hồ nước; dung dịch
Milian hoặc Castellani; tím Methyl 1% nếu có bội nhiễm hoặc
chàm hoá tùy từng trường hợp
Ở Việt Nam, các thuốc điều trị ghẻ chủ yếu vẫn là dungdịch D.E.P, kem Crotamiton, thuốc xịt Spregal (có thành phần
là esdepaletrin và piperonyl butoxid) Ngoài thuốc điều trị,vấn đề vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường, cách ly, điều trịcho những người sống gần nguồn bệnh đóng vai trò quantrọng, quyết định kết quả điều trị bệnh ghẻ
1.10 Chiến lược trong điều trị và kiểm soát bệnh ghẻ [29], [30], [31].
Hiện tại quản lý bệnh ghẻ tập trung vào việc xác định vàđiều trị các ca bệnh liên quan đến lây truyền trong hộ giađình, nhưng dữ liệu về vấn đề này rất ít để có thể hỗ trợ Cáchquản lý này được xem như một chiến lược hiệu quả để giảm
tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng Chẩn đoán có thể khó khăn
Trang 34và phụ thuộc vào việc xác định lâm sàng ở hầu hết các khuvực nhiệt đới Phương pháp điều trị tại chỗ có hiệu quả, nhưnghóa chất hiệu quả nhất trong số này là Permethrin, nó tốn kém
và có thể đôi khi không có sẵn ở nhiều vùng với tỷ lệ mắc bệnhcao Phương pháp điều trị thay thế có thể ít hiệu quả, dung nạpkém, hoặc có tác dụng phụ đáng kể Phác đồ điều trị tại chỗ làbất tiện và số người trong hộ gia đình tuân thủ đúng pháp đồđiều trị là thấp, điều này có thể làm giảm hiệu quả điều trị và lànguyên nhân dẫn đến tái nhiễm [32], [33], [34], [35], [36]
Kiểm soát và phòng chống bệnh ghẻ trên quy mô toàncầu có thể đạt được mục tiêu mặc dù gặp một số trở ngại Ưutiên ban đầu bao gồm:
(1)Nâng cao nhận thức về bệnh ghẻ và tranh thủ sự thamgia các cá nhân, tổ chức ủng hộ tài chính thông qua truyềnthông;
(2)Tăng cường nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học đểhiểu rõ hơn về gánh nặng bệnh tật;
(3) Phát triển và thiết lập các chiến lược kiểm soát véc tơhiệu quả Một chương trình nghiên cứu tăng cường và phối hợp
có liên quan đến sự hợp tác tích cực giữa một nhóm các bệnhliên quan là rất quan trọng để củng cố ở tất cả các khu vực.Ngày nay, trên thế giới đã thành lập ra Liên minh quốc tế
về kiểm soát bệnh ghẻ (The International Alliance for theControl of Scabies - IACS) Đó là một tổ chức mới được hìnhthành từ các quốc gia trên toàn cầu, để thúc đẩy chương trìnhkiểm soát bệnh ghẻ Mục tiêu của liên minh là cam kết kiểmsoát bệnh ghẻ tấn công con người và tăng cường sức khỏe,hạnh phúc của tất cả người sống ở những cộng đồng bị ảnhhưởng Thành viên ban đầu bao gồm nhiều chuyên gia đến từ
Trang 35các lĩnh vực khác nhau, như: các bác sĩ đến từ các khu vực có tỷ
lệ mắc bệnh cao, cử nhân y tế công cộng, các nhà hoạch địnhchính sách, các nhà khoa học, nghiên cứu sinh đang học KST vàtiếp tục phát triển với việc mở rộng và tuyển dụng thêm nhiềucộng tác viên hơn nữa [37], [38], [39]
Hội nghị quốc tế đầu tiên của tổ chức này đã được tổ chứcvào tháng 11 năm 2012 Các đại biểu đại diện từ 5 châu lục
đã trao đổi ý kiến về các khu vực ưu tiên vận động, dịch tễhọc, chiến lược kiểm soát, và nghiên cứu sinh học Liên minh
đã phát triển nhóm làm việc và lên kế hoạch hành động đểtiến hành thực hiện các chủ đề này
Có rất nhiều trở ngại trên con đường hướng tới kiểm soátbệnh ghẻ ở người, nhưng những tác động đối với trẻ em, giađình và cộng đồng trên toàn thế giới, đặc biệt là những tácđộng lan truyền bị đánh giá thấp, là một động lực mạnh mẽ
để liên minh bắt tay vào chiến dịch Sự sẵn sàng của cộngđồng quốc tế trong hợp tác và làm việc cùng nhau hướng tớimục tiêu này, đó cũng là lý do để lạc quan và hy vọng rằngIACS có thể tập trung vào các nỗ lực tương lai đối với hầu hếtcác bệnh nhiệt đới bị lãng quên
1.11 Thuốc Ivermectin trong điều trị bệnh ghẻ
1.11.1 Thông tin về thuốc Ivermectin
Trong thập kỷ qua, cộng đồng khoa học trên toàn cầu bắtđầu nhận ra giá trị chưa từng có của một loại thuốc mới –
Ivermectin Lịch sử của thuốc Ivermectin bắt nguồn từ một
con vi khuẩn trong đất ở Nhật Bản Công trình nghiên cứu củaSatoshi Ōmura, Học viện Kitasato, Tokyo đã phát hiện ra vikhuẩn Streptomyces avermectinius đã nhận được giải thưởngGairdner Global Health năm 2014 và giải Nobel về Sinh lý học
Trang 36năm 2015
Hình 1.3 Satoshi Ōmura thu thập mẫu vi khuẩn từ đất [40]
Hình 1.4 Hình ảnh vi khuẩn Streptomyces avermectinius [41]
Và đây là tiền đề có công ty dược phát triển nên thuốc
Ivermectin Ngày nay, Ivermectin tiếp tục gây ngạc nhiên
với các nhà khoa học, hứa hẹn là một thuốc mới cải thiện sứckhoẻ cộng đồng toàn cầu bằng cách điều trị rất nhiều bệnh
khác nhau Ivermectin được biết đến với hiệu quả điều trị
kháng khuẩn, kháng vi rút và chống ung thư, điều trị giun sán
và gần đây là điều trị ghẻ [42]
Dược động học:
Trang 37Ivermectin là dẫn chất bán tổng hợp của một trong số
avermectin, nhóm chất có cấu trúc lacton vòng lớn, phân lập
từ sự lên men Streptomyces avermitilis
Hình 1.5 Cấu trúc hóa học của Ivermectin [43]
Nhóm dược lý: Thuốc trị KST, chống nhiễm khuẩn
Tên biệt dược: Pizar, Stromectol, Mectizan, Ivomec
Dạng bào chế: Viên nén
Thành phần: Ivermectin
Ivermectin có phổ hoạt tính rộng trên các giun tròn và
tiết túc Thuốc lần đầu tiên được dùng cho người vào năm
1981 Ivermectin có hiệu quả trên nhiều loại giun tròn như
giun lươn, giun tóc, giun kim, giun đũa, giun móc và giun chỉWuchereria bancrofti Tuy nhiên, thuốc không có tác dụngtrên sán lá gan và sán dây
Hiện nay, Ivermectin là thuốc được chọn điều trị bệnh
giun chỉ Onchocerca volvulus và là thuốc diệt ấu trùng giunchỉ rất mạnh, nhưng ít tác dụng trên KST trưởng thành Saukhi uống được 2 - 3 ngày, ấu trùng giun chỉ ở da mất đi
Trang 38nhanh; còn ấu trùng ở giác mạc và tiền phòng mắt thì chậmhơn Tác dụng của thuốc có thể kéo dài đến 12 tháng Mộttháng sau khi dùng, ấu trùng tại tử cung giun chỉ trưởngthành không thoát ra được, rồi bị thoái hóa và tiêu đi Tácdụng kéo dài trên ấu trùng rất có ích trong việc ngăn chặncon đường lây lan của bệnh Ðã biết khá rõ cơ chế tác dụng
của Ivermectin đối với giun chỉ Onchocerca Thuốc gây ra
tác dụng độc trực tiếp, làm bất động và thải trừ ấu trùng
qua đường bạch huyết Ivermectin kích thích tiết chất dẫn
truyền thần kinh là acid gama - amino butyric (GABA) Ở cácgiun nhạy cảm, thuốc tác động bằng cách tăng cường sựgiải phóng GABA ở sau synap của khớp thần kinh cơ làm cho
giun bị liệt Ivermectin không dễ dàng gia nhập được vào
hệ thống thần kinh trung ương của các loài động vật có vú,
vì vậy, không ảnh hưởng đến sự dẫn truyền thần kinh phụthuộc GABA của các loài này
Các nghiên cứu dược lý học hiện nay còn chưa biết rõ khảdụng sinh học tuyệt đối của thuốc sau khi uống Nói chung,không thấy có sự khác nhau về nồng độ đỉnh trong huyếttương giữa dạng viên nén và dạng viên nang (46 so với 50 µg/
lít) Tuy nhiên, khi dùng Ivermectin trong một dung dịch
nước có rượu, nồng độ đỉnh tăng gấp đôi và sinh khả dụngtương đối của viên nén chỉ bằng 60% sinh khả dụng của dạngdung dịch Thời gian đạt tới nồng độ đỉnh trong huyết tươngkhoảng 4 giờ và không khác nhau giữa các dạng bào chế
Ivermectin có thể tích phân bố biểu kiến khoảng 48 lít, và độ
thanh thải rất thấp (khoảng 1,2 lít/giờ) Nửa đời thải trừ saukhi uống dạng dung dịch khoảng 28 giờ Khoảng 93% thuốc
Trang 39liên kết với protein huyết tương Chuyển hóa của thuốcchưađược nghiên cứu kỹ, tuy nhiên đã thấy thuốc bị thủy
phân và bị khử methyl ở gan Ivermectin bài tiết qua mật và
thải trừ gần như chỉ qua phân Dưới 1% liều dùng được thảiqua nước tiểu
Cơ chế:
Ivermectin hoạt động bằng cách ràng buộc có chọn lọcvới các thụ thể neurotransmitter cụ thể, có chức năng trongcác khớp thần kinh ngoại biên của ký sinh trùng Nó có tácdụng “endectocidal” (đồng thời chống lại endo vàectoparasites) gây tê liệt của ký sinh trùng, động vật chân đốt
và côn trùng bằng cách ức chế các dẫn truyền xung thần kinhtrong (tế bào thần kinh trung gian) các khớp thần kinh thầnkinh-cơ của động vật chân đốt Cụ thể, Ivermectin khóa cácđường dẫn truền hóa học thông qua synapse thần kinh bằngcách sử dụng các kênh anion glutamate-gated hoặc các kênhclorua acidgated γ-aminobutyric Sự kích thích của γ-aminobutiric axit (GABA) xuất phát từ dây thần kinh trướcsynap và tăng cường sự liên kết với các thụ thể sau synap.Bằng cách này xung động thần kinh dẫn truyền bị chấm dứt
và tê liệt và ký sinh trùng bị chết ngay sau đó [44]
Trang 40Chỉ định: Người lớn: IVM dùng để điều trị bệnh nhiễm các
loại KST, là thuốc được lựa chọn dùng để điều trị các tổnthương cơ quan như: da, phổi, mắt, hệ thần kinh trung ương,gan, cơ tim Kèm theo sự gia tăng Eosin và IgE
Chống chỉ định: Người có mẫn cảm với IVM hoặc một
thành phần nào đó của thuốc Những bệnh có kèm theo rốiloạn hàng rào mạch máu não, bệnh viêm màng não
Thận trọng: Tránh dùng cho trẻ dưới 5 tuổi hoặc trẻ dưới
15 kg; phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú Hiện nay, thuốckhông dùng cho mục đích phòng bệnh
Tác dụng không mong muốn: IVM là thuốc an toàn Hầu
hết các tác dụng không mong muốn của thuốc là do các phảnứng miễn dịch đối với ấu trùng bị chết Mức độ nặng nhẹ củatác dụng này có liên quan đến mật độ ấu trùng trên da Cáctác dụng không mong muốn gồm: sốt, ngứa, hoa mắt, chóngmặt, đau cơ, sưng khớp, hạ huyết áp thế đứng Tác dụngkhông mong muốn thường xảy ra trong 3 ngày đầu sau khiđiều trị và phụ thuộc cơ thể của người dùng
Tương tác thuốc: Hiện chưa thấy thông tin về tương tác
thuốc có hại, nhưng về mặt lý thuyết, thuốc có thể làm tăngtác dụng của các thuốc kích thích thụ thể GABA
Quá liều và xử trí: Các biểu hiện chính do tác dụng phụ
của IVM là: ban da, phù, nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, suynhược, buồn nôn, nôn, ỉa chảy Các tác dụng không mongmuốn khác gồm: xuất hiện cơn động kinh, mất điều hòa, khóthở, đau bụng, dị cảm và mày đay Khi bị tác dụng phụ, cầntruyền dịch và các chất điện giải, trợ hô hấp (oxygen và hôhấp nhân tạo nếu cần) Dùng thuốc tăng huyết áp nếu bị hạ