1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả điều trị bệnh Basedow bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương

6 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 343 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tiến hành nghiên cứu trên 64 bệnh nhân (BN) Basedow điều trị tại Bệnh viện Nội tiết TW từ tháng 9 - 2003 đến 10 - 2013. Tiến hành nội soi toàn bộ với tạo khoang bằng bơm khí CO2. Tất cả BN đều trong tình trạng bình giáp và được chuẩn bị trước mổ bằng uống dung dịch lugol 2 tuần. Kỹ thuật mổ cắt gần toàn bộ với phần tuyến giáp (TG) để lại còn 4 - 6 gam.

Trang 1

139

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH BASEDOW BẰNG PHẪU THUẬT

NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƢƠNG

Trần Ngọc Lương*; Phan Hoàng Hiệp*

TÓM TẮT

Nghiên cứu 64 bệnh nhân (BN) Basedow điều trị tại Bệnh viện Nội tiết TW từ tháng 9 - 2003 đến

10 - 2013 Tiến hành nội soi toàn bộ với tạo khoang bằng bơm khí CO2 Tất cả BN đều trong tình trạng bình giáp và được chuẩn bị trước mổ bằng uống dung dịch lugol 2 tuần Kỹ thuật mổ cắt gần toàn bộ với phần tuyến giáp (TG) để lại còn 4 - 6 gam

Kết quả: 60 nữ (93,8%), 4 nam (6,25%), tuổi trung bình 29,5 (16 - 55 tuổi) Thời gian mổ trung bình 110,0 phút (80 - 280 phút) Trước khi sử dụng dao siêu âm, thời gian mổ trung bình 119 ± 35,5 phút (100 - 280 phút), sau dùng dao siêu âm là 92 ± 8,7 phút (80 - 120 phút) Trong giai đoạn đầu, 3

BN phải chuyển mổ mở vì chảy máu Tê chân tay tạm thời 4 BN (6,25%), nói khàn tạm thời 4 BN (6,25%) Không có trường hợp nào tê tay chân hay khàn tiếng vĩnh viễn Trong 60 BN đến khám lại sau mổ 12 tháng, 58 BN trong tình trạng bình giáp với khối lượng phần nhu mô còn lại trung bình 4,7 gam, 2 BN (3,3%) bị suy giáp phải sử dụng hormon hỗ trợ Kết quả cho thấy phẫu thuật nội soi điều trị bệnh Basedow nên áp dụng với bướu cổ độ I, II Hầu hết BN cắt gần toàn bộ TG đạt bình giáp sau mổ Phương pháp này an toàn và đạt được tính thẩm mỹ cao

* Từ khóa: Bệnh Basedow; Phẫu thuật nội soi

Treatment of Grave’s disease by Endoscopic subtotal thyroidectomy at Hospital of Endocrinology Summary

Data were collected perspectively on 64 patients with Grave’s disease (GD) undergoing thyroidectomy by endoscopic surgery from September, 2003 to November, 2013 This included patients’ demographics, operative time, rate of conversion to open surgery, intra and postoperative complications and thyroid function status Our procedure was purely endoscopic thyroidectomy with carbon dioxide insufflation All of patients were in euthyroidism status and had been prepaied preoperatively by lugol 1% solution

Results: there were 60 women (93.8%) and 4 men (6.25%) with mean age of 29.5 years (16 - 55 years) The mean thyroid volume was 29.6 ± 6.3 ml (16 - 80 ml) The mean operation time was 110.0 minutes (80 - 280) Before using harmonic scalpel, the mean time was 119 ± 35.5 minutes (100 - 280), with harmonic scalpel was 92 ± 8.7 minutes (80 - 120) In the first period, there were 3 cases converted to open surgery because of severe bleeding Postoperative complications: temporary hypoparathyroidism, and horseness were seen in 4 cases (6.25%), and 4 cases respectively There were no cases of permanent recurrent laryngeal palsy Postoperative reexamination for 60 patients (93.8%) who were followed-up at 12 months showed that 58 patients (96.7%) were in euthyroidism with mean thyroid remnant of 4.7g and 2 patients (3.3%) in hypothyroidism requiring lifelong thyroxine Endoscopic thyroidectomy can be performed safety, effectively for Grave’s disease

* Key words: Grave’s disease; Endoscopic thyroidectomy

* Bệnh viện Nội tiết TW

Người phản hồi: (Corresponding): Phan Hoàng Hiệp (hoanghiepbvnt)@gmail.com)

Ngày nhận bài: 25/12/2013; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 20/1/2014

Ngày bài báo được đăng: 22/1/2014

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh Basedow là một bệnh tự miễn với

việc tăng sinh nhiều mạch mỏu ở tổ chức

tuyến Bệnh thường gặp ở lứa tuổi từ 20 - 40, đa

số ở nữ Để đảm bảo cầm mỏu tốt trong khi

mổ (phẫu thuật mở), đường mổ thường phải

dài, điều này gõy tõm lý khụng tốt, thiếu tự tin

cho BN sau mổ, nhất là BN trẻ, cú cơ địa sẹo

lồi Để hạn chế những nhược điểm này và với

kinh nghiệm trong phẫu thuật nội soi điều trị

bướu giỏp nhõn, chỳng tụi tiếp tục nghiờn cứu

ứng dụng kỹ thuật nội soi để điều trị bệnh

Basedow Khú khăn nhất được đặt ra là kỹ

thuật cầm mỏu và lượng nhu mụ tuyến giỏp để

lại như thế nào?

Mục đớch nghiờn cứu: Đỏnh giỏ khả năng của

phẫu thuật nội soi điều trị bệnh Basedow và kết

quả đạt được của phương phỏp

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIấN CỨU

1 Đối tượng nghiờn cứu

64 BN được chẩn đoỏn và phẫu thuật tại

Bệnh viện Nội tiết TW

* Tiờu chuẩn lựa chọn:

- Độ lớn của bướu: độ I - II theo phõn loại

của WHO (1995)

- Tr-ớc đó khụng cú mổ ở TG hay vựng cổ

- BN ở trong tỡnh trạng bỡnh giỏp: T3 từ 1 -

3 nmol/l, FT4 từ 9 - 25 pmol/l, TSH từ 0,3 - 5,5

MIU/ml, BN lờn cõn, mạch < 90 lần/phỳt

* Tiờu chuẩn loại trừ:

- Cú nhõn kốm theo hay nhõn nghi ngờ ung

thư

- Tuyệt lạp bạch cầu hay dị ứng khi sử dụng

cỏc loại thuốc khỏng giỏp trạng tổng hợp

- Trước đú mổ ở vựng cổ

- Có bệnh lý kốm theo khụng đảm bảo gõy

mờ

BN khụng đồng ý lựa chọn phẫu thuật nội

soi

2 Phương phỏp nghiờn cứu

Mụ tả cắt ngang khụng đối chứng, lựa chọn theo một mẫu nghiờn cứu thống nhất Gõy mờ toàn thõn cú đặt nội khớ quản

* Chuẩn bị mổ:

điều trị trước mổ 2 tuần, uống dung dịch lugol 1% từ 6 - 8 ml tựy từng trường hợp, an thần

* Cỏc bước mổ:

- Thỡ 1: đặt trocar:

+ Đặt trocar 10 mm ở nỏch tại đường nỏch giữa gặp đường bờ trờn tuyến vỳ đi vũng xuống

lực 12 mmHg

+ Đặt 2 trocar 5 mm dưới quan sỏt của ống kớnh soi: vị trớ: 1 trocar ở rónh delta-ngực cựng bờn bướu; 1 trocar ở quầng vỳ cựng bờn bướu tại điểm 2 giờ (mổ bờn thựy phải) và 10 giờ (mổ bờn thựy trỏi) Đặt 2 trocar 5 mm dưới quan sỏt của ống kớnh soi sao cho đều vào

cỏch đều trocar 10 mm

- Thỡ 2: tạo khoang phẫu thuật: dựng múc đốt điện để búc tỏch da vào hừm ức, sau đú búc tỏch da lờn trờn tới ngang sụn giỏp, sang hai bờn tới bờ trong cơ ức-đũn-chũm

- Thỡ 3: tỏch cơ vào tuyến giỏp:

+ Tỏch bờ trước cơ ức-đũn-chũm ra ngoài + Tỏch bờ trong cơ vai-múng và gạt lờn trờn + Bổ dọc cơ ức-giỏp vị trớ 1/3 ngoài và 2/3 trong để vào thựy TG

- Thỡ 4: đỏnh giỏ tổn thương, cắt gần toàn

bộ TG:

+ Giải phúng cực trờn, cực dưới, mặt bờn nõng thựy TG lờn

+ Cắt thựy TG từ dưới lờn trờn, từ ngoài vào trong, mặt cắt song song với khớ quản, với kớch thước để lại (dựng khoảng cỏch giữa 2 hàm của dao cắt đốt siờu õm 1,5 cm): 1 cm x 1,5 cm x 1,5 m

+ Cắt eo TG

+ Cầm mỏu nếu cũn chảy mỏu

cỏc lỗ trocar:

+ Kiểm tra lại diện cắt, tuyến TG, rửa sạch

và cầm mỏu kỹ

Trang 3

+ Lấy bệnh phẩm bằng túi nylon qua trocar

10 mm

+ Đặt dẫn lưu

+ Đóng các lỗ trocar

Thùy bên làm tương tự

Đánh giá trong, sau mổ: thời gian mổ,

lượng máu mất trong mổ, số BN chuyển mổ

mở, chảy máu, mổ lại, khó thở, các biểu hiện

tê tay chân, nói khàn tạm thời hay vĩnh viễn và

thời gian nằm viện

KẾT QUẢ NGHIấN CỨU

VÀ BÀN LUẬN

Từ tháng 9 - 2003 đến 10 - 2013, 64 BN bị

bệnh Basedow được mổ bằng phương pháp

nội soi

1 Đặc điểm chung của BN

- Bệnh Basedow nói riêng và các bệnh TG

nói chung thường gặp ở nữ nhiều hơn nam, tỷ

lệ này theo các tác giả có thể 1/7 hay 1/8

Trong nghiên cứu này, chỉ có 4 BN nam

trung bình 29,5 (16 - 55) Tuổi nhỏ nhất chúng

tôi đã mổ 16 tuổi, lớn nhất 55 tuổi Đây là

những BN còn hoạt động xã hội, có mong

muốn không có vết sẹo ở cổ Lứa tuổi nhiều

nhất từ 21 - 40 (96,9%) Đây là lứa tuổi hay

gặp, đồng thời cũng là lứa tuổi có nhu cầu làm

đẹp rất lớn

(16 - 80)

- Thời gian mổ trung bình 110,0 ± 51,0 phút

(80 - 280) Giai đoạn đầu do chưa có dao siêu

âm cắt bướu thời gian mổ 33 BN 119 ± 35,5

phút (100 - 280) Sau dùng dao siêu âm cho 31

ngắn dần nhờ vào kinh nghiệm được tích lũy

và công cụ mổ cải thiện Thời gian đầu, mổ ca

lâu nhất 280 phút, sau này, thời gian mổ chỉ có

80 phút Với 12 BN Basedow, thời gian mổ trung

bình của Yamamoto M là 259,8 phút Nghiên

cứu của chúng tôi kéo dài trong 10 năm, số

lượng BN mổ cắt gần toàn bộ điều trị bệnh

Basedow là 64 BN trong tổng số 2.600 BN đã

mổ nội soi Kỹ thuật mổ ngày càng hoàn thiện,

các ưu nhược điểm của quá trình mổ được

phát huy và khắc phục Vì vậy, thời gian mổ

giữa thời kỳ đầu và giai đoạn về sau khác biệt

lớn Ngoài ra, cũng phải kể đến sự tiến bộ của

công nghệ Thời kỳ đầu, chúng tôi sử dụng dao đốt điện với đầu đốt đơn cực để đốt, cắt

và cầm máu Trong quá trình mổ, nếu có chảy máu hoặc không bóc tách rộng rãi để dụng cụ chạm vào những tổ chức khác rất khó cầm Thời gian mổ trung bình thời gian này là 119 phút (100 - 280) Từ năm 2008, chúng tôi sử dụng dao cắt đốt bằng siêu âm (harmonic scalpel) Trong quá trình đốt và cắt không sinh

ra nhiều khói như dao điện Vì vậy, phẫu trường luôn thoáng, không phải chờ cho khói thoát ra ngoài Dao cắt tổ chức cũng nhanh hơn so với dao điện Do đó, thời gian mổ trung bình chỉ còn 92 phút (80 - 120) Dao này

có lợi thế vẫn hoạt động đươc trong môi trường nước Như vậy, nếu có chảy máu dao vẫn tiếp tục cắt hay đốt bình thường Chính vì thế, lượng máu mất cũng giảm Lượng máu mất thời gian đầu có ca lên đến 200 ml, về sau, có trường hợp hầu như không máu mất, chỉ độ khoảng vài ml

200 ml, trung bình 23,3 ± 36,7 ml

- Thời gian nằm viện trung bình 5,8 ± 1,4 ngày (3 - 8)

2 Biến chứng

Chuyển mổ mở: 3 BN (4,7%); tê tay chân tạm thời: 4 BN (6,25%); nói khàn tạm thời: 4

BN (6,25%); nói khàn vĩnh viễn: 0 BN; tê tay chân vĩnh viễn: 0 BN Trong 64 BN, thời kỳ đầu có 3 BN phải chuyển sang mổ mở do chảy máu nhiều Đây là những BN chưa được chuẩn bị kỹ trước mổ BN uống lugol không đều, không tuân theo các quy định điều trị Khi

mổ, mạch máu còn rất nhiều và rất mảnh, nhu

mô mủn chảy máu khó cầm Thời kỳ này, chúng tôi chưa sử dụng dao siêu âm, vì vậy để đảm bảo an toàn đã chuyển sang mổ mở Sau này, chúng tôi lựa chọn và kiểm soát BN chặt chẽ hơn trong quá trình điều trị trước mổ Đặc biệt, đánh giá hiệu quả của quá trình điều trị bằng siêu âm Doppler mạch máu Chỉ khi số

những năm sau không có BN nào phải chuyển sang mổ mở

Số lượng BN tê tay chân hay nói khàn tạm thời cũng rất thấp: 7,4% mỗi loại Hiện tượng này đều trở về bình thường sau nhiều nhất 2 tháng, đều gặp ở BN cắt toàn bộ TG Không

Trang 4

có BN nào bị tê tay chân hay nói khàn vĩnh

viễn

* Theo dõi sau 12 tháng về chức năng TG

(n = 60): bình giáp: 3 BN (5%); suy giáp: 2 BN

(3,33%); cường giáp: 0 BN Akira Sasaki

nghiên cứu 42 BN Basedow trong tổng số 100

BN mổ từ 1998 - 2008, qua theo dõi chỉ có 5

BN bình giáp, 34 BN suy giáp và 3 BN cường

giáp tái phát 60/64 BN trong nghiên cứu được

theo dõi sau mổ 12 tháng Lượng nhu mô

tuyến giáp để lại trung bình 4,7 gam, trong đó,

nhỏ nhất 2,9 gam và lớn nhất 8,4 gam Chỉ có

2 BN bị suy giáp cần bổ sung thyroxin, số còn

lại bình giáp Như vậy, sử dụng khoảng cách

giữa 2 hàm của dao siêu âm để tính lượng TG

để lại là hợp lý Tuy nhiên, số lượng mổ còn ít,

thời gian theo dõi sau mổ ngắn, cần phải tiếp

tục nghiên cứu thêm

* Lượng nhu mô giáp còn lại trên siêu âm: ít

Trong phẫu thuật cắt gần hoàn toàn TG

điều trị bệnh Basedow, việc khó nhất là xác

định lượng nhu mô TG cần để lại là bao

nhiêu? Michie, Soreide J.A nhận thấy: 19% BN bị

suy giáp khi lượng nhu mô tuyến để lại 10

gam Các phẫu thuật viên khác cho rằng nên

để lại khoảng 10% kích thước của TG ban

đầu Tuy nhiên, nếu để lại nhiều như vậy dễ

dần đến tình trạng cường giáp tái phát Farnell

đưa ra nhận xét rất khó xác định để lại bao

nhiêu là vừa vì với một phần TG rất nhỏ có thể

đưa đến cường giáp tái phát, trong khi phần

lớn lại suy giáp

Tuy nhiên, D.Houlbert nhận thấy: không có

sự tương quan giữa trọng lượng TG để lại,

trọng lượng TG lấy đi và trọng lượng của toàn

bộ TG với tình trạng suy giáp sau mổ Do đó,

hiện tượng suy giáp sau mổ không phải là yếu

tố để đánh giá kết quả phẫu thuật, nó còn là

biểu hiện của tình trạng kháng thể kháng giáp

trong bệnh lý Basedow Nghiên cứu về kháng

thể kháng giáp trong bệnh Basedow, Nguyễn

Thy Khuê cho rằng: nếu trước khi mổ bướu

Basedow, hiệu giá kháng thể kháng giáp cao

thì khả năng suy giáp sau mổ sẽ gia tăng rõ

rệt, tác giả đề nghị nên ngăn ngừa biến chứng

này bằng việc sử dụng corticoid trước mổ

Ðặng Ngọc Hùng [2] cho rằng: nên để lại từ

này, phần TG để lại ở mỗi thùy phải có kích thước dày 0,4 - 0,5 cm, rộng 2,5 - 3 cm và dài

4 - 5 cm, tương ứng với thể tích khoảng 3 - 5

Lê Nữ Hoà Hiệp [4] tại Bệnh viện Bình Dân cho rằng khối lượng TG để lại khoảng 10 gam

là tốt nhất, tác giả trích dẫn ý kiến của Sabiston và Mellière: với khối lượng như trên của nhu mô TG, BN có một cuộc sống bình thường sau mổ, đảm bảo sinh lý của TG, không có tình trạng nhược giáp hay cường giáp tái phát Với phần nhu mô TG vừa cắt, tác giả xẻ thành hình khối hình chữ nhật và đem cân thử thấy: trọng lượng của khối hình chữ nhật có kích thước 4 cm x 1,5 cm x 1,5 cm =

10 gam Nên để lại mỗi bên 5 gam, tương ứng với một lớp nhu mô mỏng dài 4 cm, ngang 1,5

cm và dày 0,8 cm

Phẫu thuật mà chúng tôi lựa chọn là cắt gần toàn bộ với lượng nhu mô để lại từ 4 - 6 gam để đảm bảo chức năng của TG sau mổ Lượng nhu mô TG để lại trong nội soi được xác định nhờ vào khoảng cách giữa 2 hàm của dao cắt đốt siêu âm Khoảng cách này bằng 1,5 cm Thường mỏm cắt để lại với kích thước 1,5 x 1,5 x 1 cm Sau khi giải phóng xong cực trên và cực dưới, nâng thùy tuyến lên và hướng vào trong Xác định và đánh dấu đường cắt, sau đó cắt thùy từ ngoài vào trong,

từ dưới lên trên Mặt cắt bao giờ cũng phải song song với khí quản Trong quá trình cắt,

để tránh chảy máu, luôn để hàm hoạt động tịnh tiến về phía hàm đối diện, bằng cách này nhu mô tuyến sẽ được cắt sau khi đã đốt cầm máu các mạch máu nằm trong nhu mô tuyến Phần TG còn để lại là mặt sau của mỗi thùy, vì

nó bảo đảm tốt các điều kiện sau: an toàn cho

4 tuyến cận giáp, tránh được biến chứng hạ canxi huyết sau mổ, tránh được tổn thương dây thần kinh quặt ngược nằm ngay sau TG dọc bờ dưới ngoài của khí quản Phần nhu mô

để lại đều hai bên làm cho cổ BN cân đối và có thẩm mỹ hơn là để một bên

2 Kỹ thuật tạo khoang làm việc

Trong mổ nội soi, việc tạo khoang là bắt buộc, vì TG nằm ở cổ không có khoang sẵn Kích thước và độ lớn của khoang rất quan

Trang 5

trọng, nó quyết định đến sự thành công của

phẫu thuật Nếu khoang tạo ra nhỏ, khi bộc lộ

bướu và tách tuyến giáp ra khỏi giường của

tuyến rất khó khăn Chính vì vậy, việc bóc tách

rất khó, điều này gây chảy máu và làm mất hết

các mốc giải phẫu, do đó quá trình mổ khó

khăn thêm Độ lớn của khoang làm việc

thường phụ thuộc vào độ lớn của bướu Các

tác giả khác cho rằng khoang làm việc phải

rộng ít nhất gấp 1,5 lần thể tích tuyến Bướu

lớn nhất chúng tôi đã mổ trong nghiên cứu này

phải bóc tách tạo khoang phía trên phải quá

sụn giáp, 2 bên phải quá bờ ngoài cơ ức đòn

chũm

3 Kỹ thuật cắt gần toàn bộ TG

Theo Nikolayev, phương pháp cắt gần hoàn

toàn TG trong bao tuy thu được nhiều kết quả

tốt (Ðặng Ngọc Hùng qua 315 BN Basedow

được mổ tại Bệnh viện 103 từ 1959 - 1987),

nhưng vẫn có một số hạn chế về kỹ thuật như:

phải bóc tách và cắt ngang nhiều lớp cân, cơ

vùng cổ Do đó, kéo dài thời gian mổ, làm ảnh

hưởng đến thẩm mỹ và chức năng của vùng

cổ Việc khâu cầm máu trước ở chân bướu

gây khó khăn cho xác định chính xác và chủ

động lượng nhu mô tuyến giáp để lại Xẻ dọc

eo TG trước khi cắt bướu thường gây chảy

máu nhiều, dễ làm tổn thương khí quản Phẫu

thuật này cũng để lại nhiều vết chỉ khâu tại

vùng mổ, kèm với ứ đọng dịch, dễ gây nhiễm

trùng sau mổ

Trên cơ sở đó Bệnh viện Nội tiết TW đã

thực hiện kỹ thuật đi vào đường bên với ưu

điểm: không phải cắt ngang cơ mà chỉ tách

các cơ theo giải phẫu (đường bên) để vào

bướu giáp với một số lợi điểm: giảm tổn

thương về chức năng và thẩm mỹ của vùng cổ

sau mổ Rút ngắn thời gian mổ, nhờ đó giảm

rối loạn toàn thân và tiết dịch nhiều tại chỗ

Cầm máu diện cắt chủ động bằng dao đốt cắt

siêu âm mà không cần khâu vòng cầm máu,

do đó xác định được phần nhu mô tuyến để lại

một cách chủ động và chính xác hơn

Tất cả BN đều được dẫn lưu sau phẫu

thuật và rút sau 24 giờ Nên tiến hành dẫn lưu

những máu mà còn có cả dịch rỉ viêm, dịch tiết

ra từ phần nhu mô tuyến còn lại, giúp rút ngắn

thời gian nằm viện Nếu không dẫn lưu hoặc dẫn lưu không hiệu quả sẽ gây tụ dịch trong vết mổ, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng Mặc

dù Telboul cho rằng tỷ lệ biến chứng tương đương giữa hai nhóm dẫn lưu và không dẫn lưu…, còn Văn Tần cho rằng không nhất thiết phải dẫn lưu thường quy, chỉ dẫn lưu trong những trường hợp bướu cổ to, cầm máu chưa bảo đảm

KẾT LUẬN

Phẫu thuật cắt gần toàn bộ TG bằng nội soi

an toàn và hiệu quả trong ®iÒu trÞ bệnh Basedow Việc lựa chọn BN và điều trị trước mổ rất quan trọng để đảm bảo kết quả phẫu thuật Phẫu thuật viên cần có kinh nghiệm trong mổ

mở bệnh Basedow và thành thục kỹ thuật nội soi

TÀL LIỆU THAM KHẢO

1 Đặng Ngọc Hùng, Ngô Văn Hoàng Linh Bàn

về kỹ thuật mổ cắt gần hoàn toàn TG trong bệnh bướu giáp lan tỏa nhiễm độc Tạp chí Y học thực hành 1995, số 5, tr.13-14

2 Đặng Ngọc Hùng Kết quả điều trị ngoại khoa

bệnh Basedow tại Bệnh viện 103 từ 1959 -

1990

3 Đặng Ngọc Hùng, Ngô Văn Hoàng Linh Ðiểm

lại kỹ thuật mổ trong điều trị phẫu thuật bệnh Basedow Ngoại khoa 1996, số 4, tr.23-26

cường giáp luận án Tiến sỹ Y học TP Hồ Chí Minh 2000, tr.49-54

5 Nguyễn Hoài Nam Nghiên cứu chỉ định phẫu

thuật bệnh Basedow bằng phẫu thuật dựa trên đặc điểm lâm sàng và sinh học tại Bệnh viện Chợ Rẫy Luận án Tiến sỹ Y học TP Hồ Chí Minh 1999, tr.45-52

6 Trần Ngọc Lương, Trần Đoàn Kết Phẫu thuật

nội soi cắt gần toàn bộ TG điều trị bệnh Basedow

7 Akira Sasaki et al Endoscopic subtotal

thyroidectomy: the procedure of choice for Graves’ disease World Journal of Surgery 2008, Vol 33, No

1, pp.67-71

8 Masahide Yamamoto et al Endoscopic

subtotal thyroidectomy for patient with Graves’ disease Surgery Today 2000, Vol 31, No 1, pp.1-4

9 Pablo Moreno et al Subtotal thyroidectomy: a

reliable method to achieve euthyroidisim in Graves’

Trang 6

disease Pronostic factors World Journal of Surgey

2002, Vol 30, No 11, pp.1950-1956

10 Shun- Yu Chi et al A prospective randomised

comparison of bilateral subtotal thyroidectomy

versus unilateral total and contralateral subtotal

thyroidectomy for Graves’ disease 2002, Vol 29,

No 2, pp.160-163

11 Zhi Yu Li et al Endoscopic thyroidectomy via

breast approach for patients with Graves’ disease

World Journal of Surgery 2009, Vol 34, No 9,

pp.2228- 2232

Ngày đăng: 22/01/2020, 11:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w