AIDS Acquired Immuno Deficiency Syndrome Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phảiD.E.P DNA DiethylphthalateDeoxyribonucleic acid GABA Acid Gama-Amino Butyric HIV Human Immuno Deficiency Vir
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HÀ MINH
ĐIỀU TRỊ BỆNH GHẺ BẰNG UỐNG IVERMECTIN
Trang 2AIDS Acquired Immuno Deficiency Syndrome
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)D.E.P
DNA DiethylphthalateDeoxyribonucleic acid
GABA Acid Gama-Amino Butyric
HIV Human Immuno Deficiency Virus
(Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người)IACS The International Alliance for The Control of
Scabies(Liên minh quốc về phòng chống bệnh ghẻ)
KST Ký sinh trùng
MDA Mass Drug Administration
(Thuốc chỉ định điều trị hàng loạt)NTDs Neglected Tropical Diseases
(Các bệnh nhiệt đới bị lãng quên) TCYTTG Tổ chức Y tế Thế giới
YLDs Years lived with Disability
(Số năm sống với tình trạng tàn tật)
MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Trang 31.2.1 Tình hình bệnh ghẻ trên thế giới 3
1.2.2 Tình hình bệnh ghẻ tại Việt Nam 5
1.3 Đặc điểm sinh học của cái ghẻ gây bệnh 6
1.4 Cơ chế bệnh sinh bệnh ghẻ 7
1.5 Đặc điểm lâm sàng, các thể và cận lâm sàng 8
1.5.1 Đặc điểm lâm sàng bệnh ghẻ 8
1.5.2 Các thể bệnh ghẻ lâm sàng 11
1.5.3 Đặc điểm cận lâm sàng bệnh ghẻ 13
1.6 Chẩn đoán bệnh ghẻ 16
1.6.1 Chẩn đoán xác định 16
1.6.2 Chẩn đoán phân biệt 16
1.7 Biến chứng của bệnh ghẻ 17
1.7.1 Ghẻ chàm hoá: 17
1.7.2 Bội nhiễm: 17
1.7.3 Lichen hoá 17
1.7.4 Viêm cầu thận cấp 17
1.8 Điều trị bệnh ghẻ 18
1.8.1 Nguyên tắc chung 18
1.8.2 Điều trị cụ thể 18
1.9 Phòng bệnh ghẻ 19
1.10 Chiến lược trong điều trị và kiểm soát bệnh ghẻ 20
1.11 Thuốc Ivermectin trong điều trị bệnh ghẻ 21
1.11.1 Thông tin về thuốc Ivermectin 21
1.11.2 Một số nghiên cứu về điều trị ghẻ với Ivermectin 26
Trang 42.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 30
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ (áp dụng cho mục tiêu 2) 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 31
2.2.2 Vật liệu, thiết bị, hóa chất 31
2.2.3Cỡ mẫu: 32
2.2.4.1 Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh ghẻ 32
2.2.4.2 Đánh giá hiệu quả điều trị ghẻ bằng Invermectin được áp dụng theo tác giả Reena Sharma 34
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 37
2.4 Nhập liệu và phân tích số liệu 37
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 37
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân mắc ghẻ đến khám, điều trị tại Bệnh viện da liễu Trung ương 39
3.2 Đánh giá hiệu quả điều trị và tính an toàn của thuốc IVM trong điều trị bệnh ghẻ 52
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 59
4.1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân mắc ghẻ đến khám, điều trị tại Bệnh viện da liễu Trung ương .59 4.1.1 Phân bố bệnh ghẻ theo một số đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 59
4.1.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh ghẻ của đối tượng nghiên cứu 62 4.1.3 Một số đặc điểm lâm sàng bệnh ghẻ của đối tượng nghiên cứu 66
Trang 5nghiên cứu 71
4.2 Đánh giá hiệu quả điều trị và tính an toàn của thuốc IVM trong điều trị bệnh ghẻ 73
HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 81
KẾT LUẬN 82
KHUYẾN NGHỊ 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Trang 6nghiên cứu 42
Bảng 3.4 Đặc điểm về nguồn lây của bệnh ghẻ 43
Bảng 3.5 Phân bố hoàn cảnh sống và tình trạng người sống cùng mắc bệnh ghẻ của đối tượng nghiên cứu 43
Bảng 3.6 Vị trí tổn thương bệnh ghẻ 45
Bảng 3.7 Tổn thương cơ bản của bệnh ghẻ 45
Bảng 3.8 Phân bố theo các dạng bệnh 46
Bảng 3.9 Mức độ ngứa của bệnh nhân 46
Bảng 3.10 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng ngứa của bệnh nhân mắc bệnh ghẻ 48
Bảng 3.11 Thời điểm ngứa trong ngày 49
Bảng 3.12 Đánh giá chung mức độ bệnh ghẻ của đối tượng nghiên cứu 49
Bảng 3.13 Phân loại mức độ bệnh ghẻ theo giới tính và nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 50
Bảng 3.14 Thay đổi triệu chứng lâm sàng trước và sau điều trị .52
Bảng 3.15 Hiệu quả thay đổi triệu chứng ngứa trước và sau điều trị 53
Bảng 3.16 Hiệu quả điều trị với triệu chứng mất ngủ trước và sau điều trị 53
Bảng 3.17 Một số tác dụng không mong muốn của thuốc sau thời gian điều trị 54
Bảng 3.18 Đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân sau điều trị ghẻ bằng Ivermectin theo giới tính 56
Bảng 3.19 Phân bố tỷ lệ bệnh nhân dùng nhắc lại thuốc theo giới 57
Bảng 3.20 Phân bố tỷ lệ bệnh nhân dùng nhắc lại thuốc theo độ tuổi 58
Trang 8Biểu đồ 3.2 Phân bố bệnh nhân mắc ghẻ theo nghề nghiệp 41Biểu đồ 3.3 Phân bố thời gian mắc bệnh ghẻ của đối tượng nghiên cứu 42Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ điều trị bệnh bằng thuốc của đối tượng
nghiên cứu (trước khi nghiên cứu) và kết quả đạtđược 44Biểu đồ 3.5 Một số triệu chứng kèm theo của ngứa ở bệnh nhân mắc ghẻ .47Biểu đồ 3.6 So sánh phương pháp soi tươi và soi dermoscopy
trong xét nghiệm tìm ký sinh trùng ghẻ 51Biểu đồ 3.7: Kết quả đáp đứng sau 2 tuần điều trị bằng thuốc uống Ivermectin
của bệnh nhân mắc ghẻ 55Biểu đồ 3.8 Mức độ hài lòng cả bệnh nhân với kết quả điều trị ghẻ bằng
Ivermectin 56Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ bệnh nhân phải dùng nhắc lại thuốc sau hai tuần điều trị 57
Trang 9Hình 1.2 Chu kỳ vòng đời của cái ghẻ 7
Hình 1.3 Mụn nước trong bệnh ghẻ 8
Hình 1.4 Đường hầm ghẻ còn gọi là “luống ghẻ” dài 3-5mm 9
Hình 1.5 Sẩn ghẻ số lượng nhiều, đóng vảy tiết, một số sẩn có vảy da và hang ghẻ ở thân dương vật 10
Hình 1.6 Ghẻ giản đơn chỉ có đường hang và mụn nước, ít có tổn thương thứ phát 11
Hình 1.7 Ghẻ nhiễm khuẩn có tổn thương của ghẻ, mụn mủ do bội nhiễm liên cầu, tụ cầu, có thể gặp biến chứng viêm cầu thận cấp 11
Hình 1.8 Ghẻ biến chứng viêm da, eczema hoá do chà xát cào gãi lâu ngày 12 Hình 1.9 Sẩn cục gặp 7-10% trường hợp 12
Hình 1.10 Ghẻ Nauy 13
Hình 1.11 Hình tam giác hay hình delta - Đầu con cái ghẻ 14
Hình 1.12 Luống ghẻ hình chữ "S" 14
Hình 1.13 Luống ghẻ hình chữ "Z” Giải phẫu bệnh: 15
Hình 1.14 Satoshi Ōmura thu thập mẫu vi khuẩn từ đất 21
Hình 1.15 Hình ảnh vi khuẩn Streptomyces avermectinius 22
Hình 1.16 Cấu trúc hóa học của Ivermectin 22
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh ghẻ là một bệnh lây nhiễm ngoài da, do một loàitrong nhóm ve bét, thuộc ngành chân khớp ký sinh trên da,
có tên khoa học là Sarcoptes scabiei var Hominis Theo Tổ
chức Y tế thế giới (TCYTTG), bệnh ghẻ là một trong 17 cănbệnh nhiệt đới bị lãng quên (Neglected Tropical Diseases –NTDs) Nguyên do hiện nay, hầu hết các ca bệnh xuất hiện lẻ
tẻ hoặc chỉ xảy ra trên một nhóm quy mô nhỏ, không thànhdịch lớn nên bệnh ghẻ thật sự bị lãng quên ở hầu hết cácquốc gia trên thế giới và hầu như vắng mặt trong các chươngtrình y tế toàn cầu
Tuy nhiên hiện nay bệnh ghẻ vẫn gặp ở nhiều nước trênthế giới, ước tính có hơn 130 triệu ngừoi lây nhiễm hàng năm.Các tài liệu gần đây chỉ ra rằng, tỷ lệ mắc ghẻ có sự thay đổi,giao động từ 0,3% đến 46% dân số [1] Bệnh có thể gặp ở tất
cả các tầng lớp dân cư trong xã hội, đặc biệt hay gặp ở nhữngnơi tập trung đông đúc, điều kiện vệ sinh kém Biểu hiện củabệnh rất đa dạng với các triệu chứng điển hình là mụn nước,luống ghẻ, sẩn cục do ghẻ ở các vị trí đặc hiệu như các nếp
kẽ, vùng da mỏng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng sinhdục… Ngoài ra, do phản ứng quá mẫn của cơ thể với khángnguyên ký sinh trùng (KST) ghẻ, bệnh còn có các biểu hiệnkhác như ban đỏ, dát đỏ, mụn nước, vảy tiết… Bệnh ghẻ rấtngứa, nhất là vào ban đêm làm ảnh hưởng đến giấc ngủ vàgây giảm sút chất lượng cuộc sống, gây ra sự mặc cảm xã
Trang 12hội cho người bệnh Nếu không được điều trị, bệnh có thể đểlại các biến chứng như nhiễm khuẩn da thứ phát, viêm da
mủ, viêm cầu thận do độc tố của vi khuẩn Streptococcus pyogenes, thậm chí là tử vong [2], [3].
Trên thế giới có nhiều phương pháp điều trị ghẻ đã vàđang được áp dụng với các mức độ hiệu quả khác nhau Tạinhững nước phát triển như Mỹ, Úc, Anh… phác đồ đầu tay đểđiều trị bệnh ghẻ là thuốc tại chỗ Permethrin 2,5% hoặc 5%,thuốc uống Ivermectin (IVM) liều duy nhất 200 µg/kg cho hiệuquả cao, tỷ lệ khỏi bệnh dao động từ 70-98% [4]
Ở Việt Nam, thuốc điều trị ghẻ đầu tay được áp dụng bôibằng dung dịch Diethylphthalate (D.E.P) có tác dụng diệt KSTghẻ Tuy nhiên, qua quan sát điều trị cho thấy D.E.P dễ gâykích ứng, nhất là đối với những vùng da mỏng, không có chỉđịnh sử dụng toàn thân nên tồn tại một số hạn chế trong quátrình điều trị
IVM là một thuốc kháng KST phổ rộng Kết quả nghiêncứu của các tác giả trên thế giới cho thấy thuốc có tác dụngđiều trị bệnh ghẻ và đặc biệt có ưu điểm là chỉ cần uống mộtliều duy nhất Tuy nhiên, cho đến nay IVM chưa được sử dụngrộng rãi tại các bệnh viện chuyên khoa da liễu Qua tìm hiểu
sơ bộ chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào có ở Việt Nam đánhgiá hiệu quả của thuốc IVM uống điều trị bệnh ghẻ Nhằmmang lại lựa chọn điều trị hiệu quả, an toàn cho bệnh nhânbịbệnh ghẻ ở Việt Nam, cũng như mục tiêu giảm bớt gánh nặngbệnh tật, kinh tế cho những vùng dân cư đông đúc, có điều
Trang 13kiện sinh hoạt khó khăn, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên
cứu đề tài “Điều trị bệnh ghẻ bằng uống Ivermectin” với
các mục tiêu sau:
1 Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu
tố liên quan bệnh ghẻ tại Bệnh viện Da liễu Trung Ương.
2 Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh ghẻ bằng thuốc uống
Ivermectin.
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Lịch sử bệnh ghẻ
Dựa trên các bằng chứng khảo cổ học, gồm những bản
vẽ của người Ai Cập mô tả người có triệu chứng giống vớibệnh ghẻ ngày nay, các nhà khoa học đã cho rằng căn bệnhnày có thể tồn tại cách đây ít nhất hơn 2500 năm về trước,bắt đầu từ thời La Mã cổ đại (năm 384-322 trước Côngnguyên) Vào thời điểm đó, người La Mã sử dụng thuật ngữbệnh ghẻ để ám chỉ một bệnh ngoài da gây ngứa Cái tên
Sarcoptes scabiei bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: “sarx” (the flesh)
có nghĩa là thịt, “koptein” (to smite or cut) có nghĩa là dập nát hoặc cắt Và từ “scabere” (to scratch) có nghĩa là xây xước Sau
này, bệnh ghẻ được nhiều nhà khoa học quan tâm tới, như: bác
sĩ người Ả rập – Abu el Hasan Ahmed el Tabari (năm 970), SaintHildegard (năm 1098-1179) và Moorish Avenzoar (năm 1091-
Trang 141162) Nhưng phải đến tận năm 1687, bác sĩ Giovanni CosimoBonomo phối hợp cùng với Dicanito Cestoni mới tìm ra nguyênnhân gây bệnh và mô tả chính xác đầu tiên về loài côn trùng,
có tên là Sarcoptes scabiei - nguyên nhân của bệnh ghẻ Ngoài
ra, ông còn mô tả được đặc điểm chi tiết về triệu chứng củanhững người mắc ghẻ vào thời điểm đó [5-7]
1.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh ghẻ
1.2.1 Tình hình bệnh ghẻ trên thế giới
Bệnh ghẻ ảnh hưởng đến mọi người dân ở tất cả cácquốc gia, mọi dân tộc, mọi lứa tuổi cả nam và nữ Tuy nhiên,theo TCYTTG thì nhóm người dễ bị tổn thương nhất với bệnhlà: trẻ nhỏ (với tỷ lệ mắc bệnh trung bình từ 5 - 10%) và ngườicao tuổi ở các quốc gia nghèo đói Tỷ lệ nhiễm bệnh caothường xảy ra ở các nước có khí hậu nhiệt đới, nơi tồn tạinhiều mầm bệnh, những vùng dân cư đông đúc, nhà ở chậthẹp, thiếu vệ sinh, thiếu nước sinh hoạt Tỷ lệ này khoảng25% tổng số ca và đặc biệt có nơi lên đến 50% ở một số cộngđồng khu vực Nam Thái Bình Dương và phía bắc nước Úc Ởvùng nông thôn tỷ lệ bị ghẻ khoảng 7,6% và thành thị là 5%.Bệnh ghẻ lây qua tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, nằmchung giường, mặc chung quần áo, dùng chung khăn tắm, tổnthương ghẻ thường ở vùng da mỏng có nhiều nếp nhăn Hầuhết sự lây truyền bệnh ghẻ xảy ra mang tính chất gia đình,tập thể Bệnh hay gặp vào mùa xuân hè và có thể trở thànhdịch lưu hành địa phương hoặc xảy ra tại ở các đơn vị tập thểnhư doanh trại, trại giam, ký túc xá… [8]
Trang 15Theo TCYTTG, bệnh ghẻ là một trong những bệnh phổbiến nhất trên toàn cầu, nhất là ở các nước đang phát triển.Vào năm 1995, Orkin M đã ước tính có khoảng 300 triệungười trên toàn thế giới đã bị nhiễm KST ghẻ [9] Hiện nay,ước tính có hơn 130 triệu người trên thế giới lây nhiễm hàngnăm Các tài liệu gần đây chỉ ra rằng, tỷ lệ nhiễm ghẻ có sựthay đổi từ 0,3% đến 46% dân số Ở các khu vực nhiệt đới,nguồn lực còn hạn chế, thì gánh nặng của bệnh ghẻ, cũngnhư các biến chứng của chúng, là một chi phí lớn đối với hệthống chăm sóc sức khoẻ [10] Trong năm 2010, ước tínhnhững ảnh hưởng trực tiếp do sự lây lan của bệnh ghẻ đã dẫnđến hơn 1,5 triệu tỷ YLDs (số năm sống với tàn tật) và nhữngảnh hưởng gián tiếp của các biến chứng từ ghẻ, như: nhiễmkhuẩn huyết, bệnh tim mạch và bệnh thận mãn tính [11].
Theo một nghiên cứu tổng quan hệ thống, tỷ lệ mắcbệnh ghẻ trên toàn thế giới thực sự chưa có kết quả chínhxác Tỷ lệ người nhiễm ghẻ trên toàn cầu dao động từ 0,2%đến 71,4% Tất cả các khu vực ngoại trừ Châu Âu và TrungĐông, thì đều có tỷ lệ nhiễm ở quần thể luôn cao hơn 10% Nhìnchung, tỷ lệ mắc bệnh ghẻ cao nhất ở khu vực Thái Bình Dương
và Châu Mỹ Latinh; đối tượng nguy cơ cao là thanh thiếu niên
và người trưởng thành [12]
Một nghiên cứu tổng quan hệ thống khác được thực hiệnvào năm 2013, tìm hiểu đặc điểm dịch tễ học của bệnh ghẻ ởcác nước đang phát triển, cho thấy: tỷ suất nhiễm ghẻ là rấtkhác nhau, từ 2,71 - 46 người trên 1000 dân [1] Và tỷ lệ hiện
Trang 16mắc bệnh ghẻ ở các khu vực nghèo đói chiếm từ 20% dân số[13].
Số liệu của TCYTTG năm 2005, tổng hợp từ 18 nghiêncứu về tỷ lệ bệnh về da ở trẻ em thuộc 18 quốc gia đang pháttriển cho thấy: bệnh về da của trẻ em chiếm tỷ lệ rất cao, từ21-87% Trong đó, các bệnh da do nhiễm trùng gặp rất phổbiến, lần lượt là: viêm da mủ (6,9-35%), ghẻ (0,2 - 24%), nấmnông ở da (1 -19,7%), bệnh da do virus (0,4-9%) [10]
1.2.2 Tình hình bệnh ghẻ tại Việt Nam
Ở nước ta, bệnh ghẻ vẫn còn lưu hành khắp các vùngtrong cả nước Ngay cả những thành phố lớn, bệnh hiện vẫncòn đang tồn tại [8]
Theo điều tra cơ cấu bệnh ngoài da của Bộ môn Da liễu,thuộc Học viện Quân Y giai đoạn 1992 - 1994 ở 13 đơn vịthấy: bệnh ghẻ là 1 trong 4 bệnh ngoài da phổ biến nhấttrong quân đội, gồm: nấm da, ghẻ, eczema và viêm da mủ,chỉ đứng thứ 2 sau bệnh nấm da [14]
Khảo sát trên người nghiện ma túy tại Trung tâm Cainghiện ma túy Bình Triệu nhận thấy: có khoảng 90-100%bệnh nhân nhiễm HIV (vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người)
có bệnh da phối hợp Trong đó, bệnh ghẻ chiếm tỷ lệ cao(49,6% ở người nhiễm HIV) Ngày nay, ghẻ Na Uy được xem làdấu hiệu chỉ điểm của nhiễm HIV chuyển qua giai đoạn AIDS(hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) [15]
Trang 17Theo nghiên cứu của Phạm Hoàng Khâm, tỷ lệ bệnh ghẻchiếm 3,56% tổng số người mắc bệnh da liễu, đứng hàng thứ
4 trong các bệnh da liễu thường gặp trong quân đội [16]
Ngoài ra, với kết quả từ nghiên cứu của Lê Bách Quangthì trong 293 bệnh nhân tham gia thì có 36 trường hợp mắcghẻ, chiếm 12,3% [17] Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ ChíMinh đã thống kê được rằng: bệnh ghẻ chiếm tỷ lệ 3,9% tổng
số bệnh nhân đến khám [18]
1.3 Đặc điểm sinh học của cái ghẻ gây bệnh
Bệnh ghẻ do một loại côn trùng ký sinh trên da gây nên,
có tên khoa học là Sarcoptes scabiei, Hominis (cái ghẻ), có
nơi còn gọi là con mạt ngứa (Itch mite)
Hình 1.1 Đặc điểm hình thái của cái ghẻ [19]
Phân loại học của ghẻ cụ thể là: thuộc giới động vật, ngành
Arthropoda, lớp Arachnida, bộ Astigmata, họ Sarcoptidae, chi Sarcoptes, loài Sarcoptes scabiei Bệnh chỉ do ghẻ cái gây nên,
ghẻ đực không gây bệnh vì chết sau khi giao hợp Cái ghẻ có
Trang 18hình bầu dục; kích thước từ 0,3 - 0,5 mm (mắt thường có thểthấy như một điểm trắng di động), có 08 chân: 2 đôi chân trước
có ống giác, 2 đôi chân sau có lông tơ; lưng có gai xiên về phíasau; đầu có vòi hút thức ăn, đồng thời để đào hầm ở [8]
Ghẻ cái sống ký sinh ở lớp sừng của thượng bì, đào hang
về ban đêm, đẻ trứng về ban ngày Mỗi ngày ghẻ cái đẻ 1 - 5trứng và đẻ liên tục trong 4 - 6 tuần liền, sau 3 - 7 ngày trứng
nở thành ấu trùng, ấu trùng lột xác nhiều lần thành ghẻ trưởngthành (chỉ trong vòng 3-4 ngày) Khoảng dưới 10% kết quảtrứng đậu thành cái ghẻ trưởng thành Sau đó, chúng bò ra khỏihang, di chuyển lên bề mặt da và trưởng thành ở đó Tiếp tụcquá trình giao hợp và đào hầm, đẻ trứng mới Ghẻ đực chếtngay sau khi giao hợp và ghẻ cái cũng chết sau khi đã đẻ hết sốtrứng của mình Số lượng trung bình cái ghẻ trên vật chủthường ít hơn 20 con, trừ trường hợp ghẻ vảy (ghẻ Na Uy) cóthể có tới hàng triệu cái ghẻ Nhìn chung, ghẻ cái sinh sôi nảy
nở rất nhanh, trong điều kiện thuận lợi một con ghẻ cái, sau 3tháng có thể lên tới 150 triệu con [8, 20, 21]
1.4 Cơ chế bệnh sinh bệnh ghẻ
Ghẻ cái không thể bay hay nhảy được, chu kỳ toàn bộcuộc sống của chúng kéo dài 30 ngày nếu cư trú ở trong vàtrên lớp thượng bì
Trang 19Hình 1.2 Chu kỳ vòng đời của cái ghẻ [22]
Cái ghẻ di chuyển qua các lớp trên cùng của da bằngcách tiết enzyme proteases để làm suy giảm tầng lớp sừng.Chúng đào luống ở lớp sừng chỉ trong vòng 20 phút, ăn các
mô bị phân hủy nhưng không ăn máu Cái ghẻ di chuyểnthông qua các lớp biểu bì, tạo ra các tổn thương hang và đểlại sau phân của chúng
Ban đêm ghẻ cái bò ra khỏi hang tìm ghẻ đực, đây làthời điểm gây ngứa nhất cho bệnh nhân và cũng là lúc dễ lâytruyền bệnh nhất, bởi bệnh nhân có triệu chứng ngứa phải gãi
và làm vương vãi cái ghẻ ra quần áo, giường chiếu Cái ghẻ
sẽ chết sau khi rời vật chủ (sống ngoài cơ thể) được 2-3 ngàyhoặc chết ở nhiệt độ từ 60oC trở lên [8, 13, 20]
Cách lây truyền: nằm chung giường, mặc quần áochung… Con đường lây bệnh qua tiếp xúc da - da khi quan hệtình dục nên có thể xếp vào nhóm bệnh lây truyền qua đườngtình dục (STDs)
1.5 Đặc điểm lâm sàng, các thể và cận lâm sàng
Trang 201.5.1 Đặc điểm lâm sàng bệnh ghẻ [14], [23], [24]
Thời kỳ ủ bệnh thay đổi từ 2 40 ngày, trung bình từ 10
-15 ngày Tổn thương đặc hiệu của bệnh ghẻ là luống ghẻ vàmụn nước (còn gọi là mụn trai và đường hang)
Mụn nước trên nền da lành, rải rác, riêng rẽ, thường ởvùng da mỏng như ở kẽ ngón tay, mặt trước cổ tay, cẳng tay,
vú, quanh thắt lưng, rốn, kẽ mông, mặt trong đùi và bộ phậnsinh dục Ở trẻ sơ sinh mụn nước hay gặp ở lòng bàn tay,chân Với tỷ lệ phát hiện ở các cơ quan là: kẽ ngón 90,6%;quanh rốn 67,2%; bộ phận sinh dục 76,6%; nách, đùi 71,9%
Hình 1.3 Mụn nước trong bệnh ghẻ
Đường hang do cái ghẻ đào ở lớp sừng là 1 đường congngoằn ngoèo hình chữ chi, dài 5mm-10 cm, gờ cao hơn mặt
da, màu trắng đục hay trắng xám, không khớp với hằn da, ởđầu đường hang có mụn nước 1-2 mm đường kính, chính lànơi cư trú của cái ghẻ Một ghẻ cái thường đào một hang
Phân bố: những khu vực nang có ít hoặc không có lông,
thường là nơi lớp sừng mỏng và mềm, tức là, kẽ giữa hai ngóntay > cổ tay > thân dương vật > mặt trước khuỷu tay > chân
> bộ phận sinh dục > mông > nách > ở nơi khác Ở trẻ sơ
Trang 21sinh, sự nhiễm ký sinh thường xuất hiện trên đầu và cổ.Đường hầm thường hiếm thấy, nhưng khi thấy đường hầm thì
có thể chẩn đoán xác định bệnh ghẻ
Hình 1.4 Đường hầm ghẻ còn gọi là “luống ghẻ” dài 3-5mm.
Sẩn cục hay sẩn huyết thanh Các nốt sần hoặc sẩn viêmhang ghẻ đôi khi được phát hiện trên bề mặt của tổn thươngrất sớm Tổn thương dạng sẩn xuất hiện ở 7-10% bệnh nhân
bị ghẻ Sẩn có đường kính 5-20 mm, màu đỏ, hồng, nâu vàng(màu rám nắng), hoặc màu nâu, mịn Có thể rõ hơn sau điềutrị, giống như phát ban dạng eczema Số lượng nốt thường đếmđược Có thể nhìn thấy hang ghẻ ở bề mặt của các sẩn mới xuất
hiện Phân bố: dương vật, bìu, nách, bẹn, thắt lưng, mông,
quầng vú
Trang 22Hình 1.5 Sẩn ghẻ số lượng nhiều, đóng vảy tiết, một số sẩn
có vảy da và hang ghẻ ở thân dương vật.
Tổn thương thứ phát thường do ngứa gãi gây nên, baogồm: vết xước gãi, vết trợt, sẩn, vẩy tiết, mụn nước, mụn mủ,chốc nhọt…, sẹo thâm màu, bạc màu, tạo nên hình ảnh được
ví như bức tranh "khảm xà cừ", "hình hoa gấm" Những tổn
thương thứ phát như nhiễm khuẩn chủ yếu do Streptococcus pyogenes và Staphylococcus aureu, viêm da, eczema hóa
thường che lấp, lu mờ tổn thương đặc hiệu gây khó khăn chochẩn đoán
Triệu chứng cơ năng: ngứa nhiều nhất là về đêm Ngứagãi gây nhiễm khuẩn và có thể có sốt
Người bị nhiễm KST ghẻ lần đầu tiên trong vòng 02 tuầnđầu hoàn toàn chưa có biểu hiện ngứa Nhưng do có thể mới
bị ghẻ xâm nhập nên chưa có sự phản ứng lại nên chưa thấyngứa, điều đó lý giải tại sao một số bệnh nhân có tổn thươngghẻ thực sự mà hoàn toàn chưa thấy ngứa
Những người bị tái nhiễm ghẻ thì xuất hiện ngứa dữ dộingay từ khi cái ghẻ xâm nhập vào da
Trang 23Có yếu tố dịch tễ như: gia đình, tâp thể, đơn vị nhiều người bịghẻ để giúp xác minh chẩn đoán [8, 15].
1.5.2 Các thể bệnh ghẻ lâm sàng
Trên lâm sàng, bệnh ghẻ chia thành 5 thể như sau :
Hình 1.6 Ghẻ giản đơn chỉ có đường hang và mụn nước, ít có
tổn thương thứ phát
Hình 1.7 Ghẻ nhiễm khuẩn có tổn thương của ghẻ, mụn mủ
do bội nhiễm liên cầu, tụ cầu, có thể gặp biến chứng viêm
cầu thận cấp
Trang 24Hình 1.8 Ghẻ biến chứng viêm da, eczema hoá do chà xát
cào gãi lâu ngày
bị hoặc có rối loạn hệ thần kinh như hội chứng Down, bệnhmất trí nhớ, đột quỵ, tổn thương tủy sống, bệnh thần kinh,bệnh phong
Trang 25Có thể khởi phát như ghẻ bình thường Ở các trường hợpkhác, biểu hiện lâm sàng là eczema mạn tính, viêm da dạngvảy nến, viêm da tiết bã hoặc chứng đỏ có vảy Tổn thươngthường xuất hiện ở dạng sừng hoá và/hoặc đóng vảy Thươngtổn cơ bản là các lớp vẩy chồng lên nhau và lan toả gần nhưtoàn thân (vì vậy còn gọi là ghẻ vảy: crusted scabies) có thểtìm thấy hàng nghìn cái ghẻ trong các vẩy nhỏ này Tại cáckhu vực bị nhiễm ghẻ vảy nặng, các mảng có ranh giới rõđược bao phủ bởi một lớp vảy rất dày Ở tay/chân gây nênbệnh da dạng hạt cơm, với giường móng tăng sừng Phản ứngban đỏ có vảy xuất hiện trên mặt, cổ, da đầu, thân mình.
Sự phân bố: toàn thể (đầu và cổ ở người lớn) hoặc cục bộ
từng vùng chủ yếu ở các khu vực hăm (vùng nếp kẽ ) Lớpvảy da/vảy tiết được tìm thấy trên mặt duỗi bàn tay, cổ tay,ngón tay, khớp bàn ngón tay, lòng bàn tay, mặt duỗi củakhuỷu tay, da đầu, tai, lòng bàn chân và ngón chân
Hình 1.10 Ghẻ Nauy
Trang 261.5.3 Đặc điểm cận lâm sàng bệnh ghẻ
1.5.3.1 Soi tìm ký sinh trùng
- Soi tìm ký sinh trùng dưới kính hiển vi quang học:
Vị trí: kẽ ngón tay, vùng gấp cổ tay, và dương vật.Chẩn đoán là bệnh ghẻ nếu thấy 3 phát hiện sau: trứngghẻ, cái ghẻ và phân của chúng (hòn phân)
Trang 27Hình 1.12 Luống ghẻ hình chữ "S" [25]
Đoạn trong suốt: thân con ghẻ
Hình 1.13 Luống ghẻ hình chữ "Z” [26] Giải phẫu bệnh:
- Hang ghẻ: tổn thương nằm trong lớp sừng; cái ghẻ
nằm ở cuối hang Thân tròn, dài 400 μmm Mụn nướcxuất hiện gần cái ghẻ Trứng cũng được nhìn thấy Hạ
bì bị xâm nhập bởi bạch cầu ái toan
Trang 28- Sẩn ghẻ: thâm nhiễm viêm mạn tính dày đặc bạch cầu ái
toan Trong một số trường hợp, phản ứng với ghẻ dai dẳngnhư u lympho tế bào đơn nhân không điển hình
- Bệnh ghẻ vảy: lớp sừng dầy bị làm thủng bởi vô số
cái ghẻ
Huyết học: Tăng bạch cầu ái toan trong ghẻ vảy.
Nuôi cấy: Tụ cầu vàng và GAS là nguyên nhân gây nhiễm trùng thứ phát.
Các xét nghiệm cận lâm sàng bổ sung chẩn đoán: miễndịch IgE và kỹ thuật PCR để khẳng định Tuy nhiên chi phí cácphương pháp này khá cao nên hiện nay vẫn chưa được ápdụng nhiều tại Việt Nam Không phải lúc nào xét nghiệm cũngtìm thấy cái ghẻ và trứng Vì vậy, chẩn đoán dựa vào các đặcđiểm lâm sàng và tính chất dịch tễ là rất quan trọng [8, 27,28]
Trang 291.6.2 Chẩn đoán phân biệt
Ghẻ có những đặc điểm gần giống với các bệnh về danhư tổ đỉa, sẩn ngứa, viêm da cơ địa, nấm da, săng giangmai Nên cần phải chẩn đoán phân biệt, cụ thể như sau [8]:
- Tổ đỉa có thương tổn là do các mụn nước nhỏ sâu, tập
trung rìa cụm, không có đường hang, chỉ có ở lòng bàn tay,đầu ngón, mặt dưới ngón, rìa ngón bàn tay chân, tiến triển daidẳng
- Thương tổn do sẩn ngứa là sẩn huyết thanh rải rác
khắp cơ thể, rất ngứa, vị trí hay gặp ở vùng da hở Nguyên nhân
do viêm da dị ứng với cây cỏ, lá ngứa, do nước suối, do hoáchất nhưng không có mụn nước ở lòng bàn tay, kẽ tay, quyđầu không có tính chất dịch tễ lây lan người này sang ngườikhác
- Viêm da cơ địa có đặc điểm là thương tổn dạng sẩn
mụn nước tập trung thành từng đám, chủ yếu ở các chi dưới,rất ngứa, tiến triển dai dẳng
- Nấm da có thương tổn là mảng da đỏ, các mụn nước
và vảy da ở rìa thương tổn, bờ hình vòng cung, có xu hướnglành ở giữa Ngứa nhiều, xét nghiệm tìm thấy sợi nấm
- Săng giang mai là một vết trợt nông, nền cứng,
không ngứa, không đau, hay gặp ở vùng hậu môn sinh dục.Kèm hạch bẹn to, thuờng có hạch chúa Xét nghiệm trực tiếpsoi tươi tìm thấy xoắn khuẩn giang mai tại thương tổn và hạchvùng, xét nghiệm huyết thanh giang mai dương tính
Trang 30Ngoài các bệnh kể trên, thì cũng cần lưu ý phân biệt vớinhững bệnh sau: rận mu, bệnh thuỷ đậu, viêm da dạngHerpes, viêm nang lông.
1.7 Biến chứng của bệnh ghẻ
1.7.1 Ghẻ chàm hoá:
Ghẻ chàm hoá là tình trạng có thể nhiễm ghẻ lâu ngàygây ngứa gãi chàm hoá Ngoài các thương tổn ghẻ còn có cácmụn nước tập trung thành đám Hay gặp ở người có cơ địa dịứng, chàm xảy ra ở những khu vực bị trầy da, hay gặp nhất ởbàn tay, kẽ ngón tay, cổ tay, nách, quầng vú, thắt lưng,mông, dương vật và bìu Ở người lớn, da đầu, mặt và lưngthường không bị nhưng ở trẻ nhỏ, da đầu, mặt, lòng bàn tay
-MRSA là nguyên nhân chính gây nhiễm trùng thứ phát ởnhững người bị ghẻ
1.7.3 Lichen hoá: ngứa nên người bệnh gãi nhiều gây dầy
da, thâm da
Trang 311.7.4 Viêm cầu thận cấp: ở trẻ bị ghẻ bội nhiễm, không
được điều trị hoặc điều trị không khỏi thì gây ra bệnh tái phát
nhiều lần [8].
Trang 321.8 Điều trị bệnh ghẻ [14], [23], [24]
1.8.1 Nguyên tắc chung
Cần phải điều trị cho tất cả những người sống cùng tronggia đình, tập thể hay nhà trẻ nếu phát hiện có trường hợp bịghẻ [8]
Nên tầm soát các bệnh lây qua đường tình dục với nhữngngười bệnh trên 18 tuổi [8]
Các vật dụng như quần áo, chăn màn đệm, vỏ gối, đồdùng… giặt sạch, phơi khô, là kỹ để tránh mắc bệnh ghẻ [8]
1.8.2 Điều trị cụ thể
1.8.2.1 Phương pháp Đông y
Sử dụng lá cây ba chạc đen và lá đào đun nước tắm,kèm theo tinh dầu hạt cây máu chó bôi tại chỗ ngày một lầnvào buổi tối, kèm tắm nước muối hoặc tắm biển khoảng 1tuần Giặt sạch, phơi khô quần áo, chăn màn [8]
sử dụng corticoid tại chỗ, kháng histamin để chống viêm vàgiảm ngứa cho bệnh nhân
Các thuốc diệt ghẻ chủ yếu là loại thuốc bôi tại chỗ hiệnđang được áp dụng [8], bao gồm:
Trang 33 Gamma benzen 1% (tên gọi khác là Kwell, Lindane): xịtthuốc vào toàn bộ da từ cổ xuống chân Sau 8-12 giờ,người bệnh tắm rửa thay quần áo, xịt thuốc 2 lần/1tuần Thuốc chữa ghẻ nhanh nhưng độc với thần kinhnên không dùng cho trẻ nhỏ và phụ nữ có thai.
Benzoat benzyl 25% (tên gọi khác là Ascabiol, Scabitox,Zylate) là thuốc rất tốt, có độ an toàn cao Bôi, xịt ngày
2 lần, mỗi lần cách nhau 15 phút Sau 24 giờ, bệnhnhân tắm gội, giặt lại quần áo
D.E.P: là thuốc chống muỗi vắt đốt, nhưng lại có tácdụng diệt cái ghẻ nhanh và rẻ tiền, ít độc tính Bôi ngày2-3 lần Thuốc không nên dùng cho trẻ sơ sinh vàkhông bôi vào bộ phận sinh dục
Permethrin cream 5% (tên gọi khác Elimite) là thuốcchữa ghẻ ít độc tính, có thể dùng cho cả trẻ em và phụ
nữ có thai
Mỡ lưu huỳnh 5-10%, sử dụng cho trẻ em và người lớn,đặc biệt là trẻ nhỏ dưới 2 tháng tuổi, phụ nữ có thai vàcho con bú Thuốc rất an toàn, tuy nhiên nhược điểm
có mùi hôi
Crotaminton 10% (tên gọi khác Eurax) là thuốc bôi cótác dụng chống ngứa và diệt cái ghẻ Cứ 6-10 giờ bôi 1lần, thuốc an toàn có thể bôi vào bộ phận sinh dục vàdùng cho trẻ sơ sinh
Ngoài sử dụng thuốc bôi, thì trong những trường hợp cụthể, người ta có thể dùng thêm một số loại thuốc kết hợpkhác, như: thuốc kháng sinh, thuốc IVM, kem chứa Corticoid
Trang 34(bôi trong 1-2 tuần); kháng Histamin tổng hợp; vitamin B1 vàC; oxit kẽm; mỡ kháng sinh Salicylé; hồ nước; dung dịch
Milian hoặc Castellani; tím Methyl 1% nếu có bội nhiễm hoặc
chàm hoá tùy từng trường hợp
Ở Việt Nam, các thuốc điều trị ghẻ chủ yếu vẫn là dungdịch D.E.P, kem Crotamiton, thuốc xịt chưa permethrin Ngoàithuốc điều trị, vấn đề vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường,cách ly, điều trị cho những người sống gần nguồn bệnh đóngvai trò quan trọng, quyết định kết quả điều trị bệnh ghẻ
1.10 Chiến lược trong điều trị và kiểm soát bệnh ghẻ [29], [30], [31].
Hiện tại quản lý bệnh ghẻ tập trung vào việc xác định vàđiều trị các ca bệnh liên quan đến lây truyền trong hộ giađình, nhưng dữ liệu về vấn đề này rất ít để có thể hỗ trợ Cáchquản lý này được xem như một chiến lược hiệu quả để giảm
tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng Chẩn đoán có thể khó khăn
và phụ thuộc vào việc xác định lâm sàng ở hầu hết các khuvực nhiệt đới Phương pháp điều trị tại chỗ có hiệu quả, nhưnghóa chất hiệu quả nhất trong số này là Permethrin, nó tốn kém
và có thể đôi khi không có sẵn ở nhiều vùng với tỷ lệ mắc bệnhcao Phương pháp điều trị thay thế có thể ít hiệu quả, dung nạp
Trang 35kém, hoặc có tác dụng phụ đáng kể Phác đồ điều trị tại chỗ làbất tiện và số người trong hộ gia đình tuân thủ đúng pháp đồđiều trị là thấp, điều này có thể làm giảm hiệu quả điều trị và lànguyên nhân dẫn đến tái nhiễm [32], [33], [34], [35], [36].
Kiểm soát và phòng chống bệnh ghẻ trên quy mô toàncầu có thể đạt được mục tiêu mặc dù gặp một số trở ngại Ưutiên ban đầu bao gồm:
(1) Nâng cao nhận thức về bệnh ghẻ và tranh thủ sự thamgia các cá nhân, tổ chức ủng hộ tài chính thông qua truyềnthông;
(2) Tăng cường nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học để hiểu
rõ hơn về gánh nặng bệnh tật;
(3) Phát triển và thiết lập các chiến lược kiểm soát véc tơ hiệuquả Một chương trình nghiên cứu tăng cường và phối hợp cóliên quan đến sự hợp tác tích cực giữa một nhóm các bệnhliên quan là rất quan trọng để củng cố ở tất cả các khu vực.Ngày nay, trên thế giới đã thành lập ra Liên minh quốc tế
về kiểm soát bệnh ghẻ (The International Alliance for theControl of Scabies - IACS) Đó là một tổ chức mới được hìnhthành từ các quốc gia trên toàn cầu, để thúc đẩy chương trìnhkiểm soát bệnh ghẻ Mục tiêu của liên minh là cam kết kiểmsoát bệnh ghẻ tấn công con người và tăng cường sức khỏe,hạnh phúc của tất cả người sống ở những cộng đồng bị ảnhhưởng [37], [38], [39]
1.11 Thuốc Ivermectin trong điều trị bệnh ghẻ
1.11.1 Thông tin về thuốc Ivermectin
Trang 36Trong thập kỷ qua, cộng đồng khoa học trên toàn cầubắt đầu nhận ra giá trị chưa từng có của một loại thuốc mới –Ivermectin Lịch sử của thuốc ivermectin bắt nguồn từ mộtcon vi khuẩn trong đất ở Nhật Bản Ivermectin được tìm thấylần đầu trong những năm 1970 trên môi trường nuôi cấy của
một loài nấm actinomycete là Streptomyces avermitilis IVM
có cấu trúc tương tự như kháng sinh nhóm macrolid nhưngkhông có hoạt tính kháng khuẩn [40] Công trình nghiên cứucủa Satoshi Ōmura, Học viện Kitasato, Tokyo đã phát hiện ra
vi khuẩn Streptomyces avermectinius đã nhận được giảithưởng Gairdner Global Health năm 2014 và giải Nobel vềSinh lý học năm 2015
Hình 1.14 Satoshi Ōmura thu thập mẫu vi khuẩn từ đất [41]
Trang 37Hình 1.15 Hình ảnh vi khuẩn Streptomyces avermectinius [42]
Ivermectin được biết đến với hiệu quả điều trị khángkhuẩn, kháng vi rút và chống ung thư, điều trị giun sán và gầnđây là điều trị ghẻ [43]
Dược động học:
Ivermectin là dẫn chất bán tổng hợp của một trong sốavermectin, nhóm chất có cấu trúc lacton vòng lớn, phân lập
từ sự lên men Streptomyces avermitilis
Hình 1.16 Cấu trúc hóa học của Ivermectin [44]
Trang 38Nhóm dược lý: Thuốc trị KST, chống nhiễm khuẩn
Tên biệt dược: Pizar, Stromectol, Mectizan, Ivomec
Hiện nay, Ivermectin là thuốc được chọn điều trị bệnhgiun chỉ Onchocerca volvulus và là thuốc diệt ấu trùng giunchỉ rất mạnh, nhưng ít tác dụng trên KST trưởng thành Tácdụng của thuốc có thể kéo dài đến 12 tháng Một tháng saukhi dùng, ấu trùng tại tử cung giun chỉ trưởng thành khôngthoát ra được, rồi bị thoái hóa và tiêu đi Tác dụng kéo dàitrên ấu trùng rất có ích trong việc ngăn chặn con đường lâylan của bệnh Ivermectin không dễ dàng gia nhập được vào
hệ thống thần kinh trung ương của các loài động vật có vú, vìvậy, không ảnh hưởng đến sự dẫn truyền thần kinh phụ thuộcGABA của các loài này
Các nghiên cứu dược lý học hiện nay còn chưa biết rõkhả dụng sinh học tuyệt đối của thuốc sau khi uống Nóichung, không thấy có sự khác nhau về nồng độ đỉnh tronghuyết tương giữa dạng viên nén và dạng viên nang (46 so với
50 µg/lít) Tuy nhiên, khi dùng Ivermectin trong một dung dịch
Trang 39nước có rượu, nồng độ đỉnh tăng gấp đôi và sinh khả dụngtương đối của viên nén chỉ bằng 60% sinh khả dụng của dạngdung dịch Thời gian đạt tới nồng độ đỉnh trong huyết tươngkhoảng 4 giờ và không khác nhau giữa các dạng bào chế.Ivermectin có thể tích phân bố biểu kiến khoảng 48 lít, và độthanh thải rất thấp (khoảng 1,2 lít/giờ) Thời gian bán thải saukhi uống dạng dung dịch khoảng 28 giờ Khoảng 93% thuốcliên kết với protein huyết tương Chuyển hóa của thuốc chưađược nghiên cứu kỹ, tuy nhiên đã thấy thuốc bị thủy phân và
bị khử methyl ở gan Ivermectin bài tiết qua mật và thải trừgần như chỉ qua phân Dưới 1% liều dùng được thải qua nướctiểu
Cơ chế:
Ivermectin có ái lực cao với các ion chlorid ở hệ thầnkinh ngoại vi của động vật không xương sống, chặn các kênhdẫn truyền qua synap thần kinh [45] Ivermectin hoạt độngbằng cách ràng buộc có chọn lọc với các thụ thểneurotransmitter cụ thể, có chức năng trong các khớp thầnkinh ngoại biên của ký sinh trùng Nó có tác dụng
“endectocidal” (đồng thời chống lại endo và ectoparasites)gây tê liệt của ký sinh trùng, động vật chân đốt và côn trùngbằng cách ức chế các dẫn truyền xung thần kinh trong (tế bàothần kinh trung gian) các khớp thần kinh thần kinh-cơ củađộng vật chân đốt Cụ thể, Ivermectin khóa các đường dẫntruyền hóa học thông qua synapse thần kinh bằng cách sửdụng các kênh anion glutamate-gated hoặc các kênh clorua
Trang 40acidgated γ-aminobutyric Sự kích thích của γ-aminobutiricaxit (GABA) xuất phát từ dây thần kinh trước synap và tăngcường sự liên kết với các thụ thể sau synap Bằng cách nàyxung động thần kinh dẫn truyền bị chấm dứt và tê liệt và kýsinh trùng bị chết ngay sau đó [46].
Chỉ định: Người lớn: IVM dùng để điều trị bệnh nhiễm các
loại KST, là thuốc được lựa chọn dùng để điều trị các tổnthương cơ quan như: da, phổi, mắt, hệ thần kinh trung ương,gan, cơ tim Kèm theo sự gia tăng Eosin và IgE
Chống chỉ định: Người có mẫn cảm với IVM hoặc một
thành phần nào đó của thuốc Những bệnh có kèm theo rốiloạn hàng rào mạch máu não, bệnh viêm màng não
Thận trọng: Tránh dùng cho trẻ dưới 5 tuổi hoặc trẻ dưới
15 kg; phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú Hiện nay, thuốckhông dùng cho mục đích phòng bệnh
Tác dụng không mong muốn: IVM là thuốc an toàn Hầu
hết các tác dụng không mong muốn của thuốc là do các phảnứng miễn dịch đối với ấu trùng bị chết Mức độ nặng nhẹ của