1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LO âu của BỆNH NHÂN UNG THƯ điều TRỊ tại TRUNG tâm y học hạt NHÂN và UNG bướu –BỆNH VIỆN BẠCH MAI và một số yếu tố LIÊN QUAN

58 142 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 167,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRỊNH PHƯƠNG THẢOLO ÂU CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y HỌC HẠT NHÂN VÀ UNG BƯỚU – BỆNH VIỆN BẠCH MAI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Chuyên ngành: Quản lý bệnh viện Mã số: 60

Trang 1

TRỊNH PHƯƠNG THẢO

LO ÂU CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y HỌC HẠT NHÂN VÀ UNG BƯỚU – BỆNH VIỆN BẠCH MAI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ

LIÊN QUAN

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

TRỊNH PHƯƠNG THẢO

LO ÂU CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y HỌC HẠT NHÂN VÀ UNG BƯỚU – BỆNH VIỆN BẠCH MAI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ

LIÊN QUAN

Chuyên ngành: Quản lý bệnh viện

Mã số: 60720701

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS TRƯƠNG VIỆT DŨNG

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

Số năm sống điều chỉnh theo bệnh tật

Tổ chức đánh giá gánh nặng bệnh tật toàn cầuHADS Thang đánh giá lo âu và trầm cảm tại bệnh việnICD – 10 Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Bệnh ung thư 3

1.1.1 Những khái niệm cơ bản về bệnh ung thư 3

1.1.2 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh ung thư 4

1.1.3 Các nguyên tắc và phương pháp điều trị ung thư 5

1.1.4 Dịch tễ học và gánh nặng của bệnh ung thư 6

1.2 Rối loạn lo âu 8

1.2.1 Một số khái niệm về lo âu 8

1.2.2 Phân loại các rối loạn lo âu 9

1.2.3 Biểu hiện lâm sàng của rối loạn lo âu 9

1.3 Rối loạn lo âu trên bệnh nhân ung thư 10

1.3.1 Tâm lý của bệnh nhân ung thư 10

1.3.2 Một số nghiên cứu về lo âu trên bệnh nhân ung thư 10

1.3.3 Các thang đo đánh giá tình trạng lo âu ở bệnh nhân ung thư 14

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17

2.2 Thiết kế nghiên cứu 17

2.3 Đối tượng nghiên cứu 17

2.3.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 17

2.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ 17

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu 17

2.4.1 Cỡ mẫu 17

2.4.2 Kỹ thuật chọn mẫu 18

2.5 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin 18

2.5.1 Công cụ thu thập thông tin 18

2.5.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 19

2.6 Biến số và chỉ số nghiên cứu 19

Trang 5

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 22

CHƯƠNG 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ 23

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 23

3.2 Tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu 27

3.2.1 Điểm lo âu của đối tượng nghiên cứu 27

3.2.2 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu 28

3.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của người bệnh 33

CHƯƠNG 4 DỰ KIẾN BÀN LUẬN 37

4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 37

4.2 Tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu 37

4.2.1.Tỷ lệ lo âu theo thang HADS 37

4.2.2 Tỷ lệ lo âu theo thang SAS 37

4.2.3 Tỷ lệ lo âu chung 37

4.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của bệnh nhân 37

4.4 Hạn chế của nghiên cứu 37

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 38

DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Y

DANH MỤC BẢNG

Trang 6

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 23

Bảng 3.2 Thông tin chung về tình trạng bệnh của đối tượng nghiên cứu 25

Bảng 3.3 Thông tin chung về môi trường bệnh viện 26

Bảng 3.4 Tỉ lệ các mức độ lo âu của bệnh nhân theo thang SAS 27

Bảng 3.5 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm thông tin cá nhân 28

Bảng 3.6 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm bệnh 30

Bảng 3.7 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm môi trường bệnh viện 32

Bảng 3.8 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu 33

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, bệnh ung thư đang là một trong những nguyên nhân gây tử vonghàng đầu trên toàn thế giới với một tốc độ gia tăng đáng báo động [1] Theo như lờikêu gọi Hành động toàn cầu chống ung thư của Tổ chức y tế thế giới (WHO) vàHiệp hội phòng chống ung thư quốc tế (UICC), năm 2000 đã có 22,4 triệu ngườiđang sống với ung thư trong đó có 10,1 triệu ca mới mắc Căn bệnh này cũng đã lấy

đi mạng sống của 6,2 triệu người chiếm 12,6% nguyên nhân của tất cả các trườnghợp tử vong và con số này thậm chí còn nhiều hơn so với tỷ lệ tử vong gây ra bởiHIV/AIDS, lao và sốt rét cộng lại [2] Đến năm 2002, số người chết vì ung thư đãtăng lên là 6,7 triệu người và sau hai năm số bệnh nhân tử vong do ung thư đã là 7,4triệu chiếm hơn 13% nguyên nhân gây ra tất cả các trường hợp tử vong [3], [4] Mớiđây, theo nghiên cứu về gánh nặng ung thư toàn thế giới của Tổ chức đánh giá gánhnặng bệnh tật toàn cầu (GBD), năm 2013 có 14,9 triệu ca mới mắc, 8,2 triệu ngườichết vì ung thư chiếm 15% nguyên nhân trong tất cả các trường hợp tử vong [5].Trên đà gia tăng ngày càng nhanh, người ta dự đoán rằng sau 2 thập kỉ nữa, sẽ cókhoảng 20 triệu người mới mắc ung thư và hơn 10 triệu người chết vì căn bệnh nàymỗi năm [6]

Tại Việt Nam, theo báo cáo chung tổng quan ngành Y tế 2014 của Bộ Y tế vànhóm đối tác, mỗi năm ước tính có 125.000 trường hợp mới mắc và hơn 80.000người chết vì ung thư Cũng theo báo cáo trên, tại Việt Nam, tỉ lệ mắc bệnh ung thưtăng nhanh cùng với việc hơn 70% số bệnh nhân đến khám và chữa trị đều đã ở giaiđoạn III hoặc IV dẫn đến những tổn thất rất nặng nề đối với toàn xã hội [7]

Ngày nay, nền y học và khoa học kĩ thuật phát triển hiện đại với nhữngphương pháp điều trị tiên tiến, hiệu quả đã mang thêm niềm hi vọng cho bệnh nhânung thư nhưng những gánh nặng mà họ phải chịu đựng vẫn là rất lớn [8] Bên cạnhviệc đối mặt với các vấn đề về kinh tế như trang trải viện phí hay đau đớn về thểxác, suy giảm sức khỏe thì những tổn thương về tinh thần, lo lắng, căng thẳng cũng

là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư

Trang 8

Theo như nghiên cứu của tiến sĩ Bottomley A (1998) thì những triệu chứng lo âu rấtphổ biến trên bệnh nhân ung thư nhưng lại thường ít được chẩn đoán và điều trị dẫnđến nhiều trường hợp người bệnh không tuân theo sự chăm sóc y tế tốt nhất để cóthể phát huy tối đa hiệu quả phục hồi [9] Một nghiên cứu khác của A Malekian vàcộng sự (2008) cho thấy lo âu, trầm cảm có thể mang đến những tác động tiêu cựcsâu sắc với người bệnh ung thư về cả tình trạng chức năng, chất lượng cuộc sống,thời gian nằm viện và hiệu quả điều trị do đó việc đánh giá đúng mức và điều trịnhững rối loạn này là rất quan trọng [10].

Như vậy có thể thấy bên cạnh việc điều trị về thể chất thì người bệnh ung thưrất cần được quan tâm chăm sóc về mặt tinh thần Những cảm xúc tiêu cực, lo âu,buồn phiền mà bệnh nhân ung thư đang trải qua hàng ngày cần phải được chú ý pháthiện, tìm hiểu và có những giải pháp chăm sóc phù hợp nhằm mang đến hiệu quảđiều trị tốt nhất và nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy vậy việc nghiên cứu các vấn

đề này tại Việt Nam vẫn còn hạn chế Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu –Bệnh viện Bạch Mai được thành lập từ tháng 12 năm 2008 và đã có những thànhtựu to lớn trong chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư với những kỹ thuật tiên tiến,hiện đại ngang tầm các nước trong khu vực và thế giới Hiện nay, chưa có nghiêncứu nào về vấn đề lo âu của bệnh nhân ung thư được điều trị tại đây, do đó chúng

tôi thực hiện đề tài “Lo âu của bệnh nhân ung thư điều trị tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai và một số yếu tố liên quan” với

hai mục tiêu sau:

1 Mô tả tình trạng lo âu của bệnh nhân ung thư điều trị tại Trung tâm Y họchạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của bệnh nhân ung thưđiều trị tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Bệnh ung thư

1.1.1 Những khái niệm cơ bản về bệnh ung thư

Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích của các tác nhân sinhung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chếkiểm soát về phát triển của cơ thể [11]

Đa số bệnh ung thư hình thành các khối u Khác với khối u lành tính chỉ pháttriển tại chỗ, thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh, khối u ác tính giống như hình

“con cua” với các càng cua bám vào các tổ chức lành trong cơ thể hoặc giống như

rễ cây lan trong đất Các tế bào của khối u ác tính có khả năng di căn tới các hạchbạch huyết hoặc các tạng ở xa hình thành các khối u mới và cuối cùng dẫn tới tửvong Cùng với di căn xa, tính chất của bệnh ung thư hay tái phát đã làm cho điềutrị bệnh khó khăn và ảnh hưởng xấu đến tiên lượng bệnh [11]

Bảng 1.1 Phân biệt u lành và u ác theo đặc tính sinh học [12]

Tế bào biệt hóa cao Ít biệt hóa

Hiếm có phân bào Luôn có gián phân

Phát triển chậm Phát triển nhanh

Không xâm lấn Xâm lấn lan rộng

Không có hoại tử Hay có hoại tử trung tâm

Có vỏ bọc Không có vỏ hoặc ranh giới

Rất ít tái phát Luôn tái phát

Không di căn Di căn

Ít ảnh hưởng tới cơ thể Ảnh hưởng nặng tới cơ thể

Hiện nay, người ta biết có đến hơn 200 loại ung thư trên cơ thể người, nhữngloại ung thư này có đặc điểm giống nhau về bản chất nhưng có nhiều điểm khácnhau về nguyên nhân gây bệnh, tiến triển của bệnh, về phương pháp điều trị và vềtiên lượng bệnh [11]

1.1.2 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh ung thư [11]

1 Triệu chứng báo hiệu ung thư

Trang 10

Là những dấu hiệu lâm sàng xuất hiện tương đối sớm có thể giúp chẩn đoánsớm được một số bệnh ung thư Các dấu hiệu này thường nghèo nàn, ít đặc hiệu, ítảnh hưởng tới người bệnh nên dễ bị bỏ qua Một số triệu chứng sớm cần chú ý như:

ho kéo dài, xuất huyết tiết dịch bất thường, thay đổi thói quen đại tiểu tiện, rối loạntiêu hóa kéo dài, đau đầu, ù tai một bên, nói khó, nuốt khó, nổi u, hạch, cục cứngbất thường và xuất hiện các vết loét dai dẳng, khó liền v v

- Triệu chứng xâm lấn và chèn ép: do tổ chức ung thư xâm lấn, chèn ép vào cơquan lân cận, ung thư phế quản chèn ép vào tĩnh mạch chủ trên gây phù áo khoác.Khối u vòm mũi họng chèn ép vào các dây thần kinh sọ gây liệt dây thần kinh sọ.Ung thư cổ tử cung chèn ép niệu quản gây phù, vô niệu, ure huyết cao…

- Triệu chứng di căn: theo đường bạch mạch di căn hạch, theo đường máu gây

di căn các tạng gan phổi, di căn phúc mạc gây cổ trướng, di căn xương gây gãyxương bệnh lý…

1.1.2.2 Hội chứng cận ung thư

Là một nhóm các triệu chứng lâm sàng và sinh học do hoạt động mang

tính chất nội tiết của một số ung thư.Một số hội chứng cận ung thư thường

gặp như : hội chứng Cushing (là hội chứng thường gặp nhất), hội chứngSchwartz – Bartter, hội chứng cường calci huyết, hội chứng cường giáptrạng, các biểu hiện thần kinh cơ, biểu hiện xương khớp, biểu hiện bệnh lý

da v…v

1.1.3 Các nguyên tắc và phương pháp điều trị ung thư [11]

Trang 11

Ung thư là bệnh rất đa dạng về chủng loại, khác nhau về nguyên nhân, sựphát triển, vị trí tổn thương, giai đoạn và tiên lượng bệnh, do đó để điều trịđạt hiệu quả cần áp dụng nhiều phương pháp điều trị khác nhau và chỉ địnhtrên từng trường hợp cụ thể theo các nguyên tắc:

- Nguyên tắc phối hợp

- Xác định rõ mục đích điều trị

- Lập kế hoạch điều trị

- Bổ sung kế hoạch điều trị

- Theo dõi sau điều trị

Một số phương pháp điều trị ung thư thường áp dụng :

- Phẫu thuật: là phương pháp điều trị cơ bản, nó cho phép loại bỏ phần lớn tổ chứcung thư song nó chỉ thực hiện triệt để được khi bệnh ở giai đoạn sớm, tổ chứckhối u còn khu trú Với giai đoạn muộn hơn, phẫu thuật không lấy hết đượcnhững tổ chức ung thư đã xâm lấn rộng ra xung quanh (trên vi thể), do vậy việctái phát tại chỗ kèm theo di căn xa là không thể tránh khỏi nếu người bệnh chỉđược điều trị bằng phẫu thuật đơn độc

- Xạ trị: là phương pháp điều trị được chỉ định khá rộng rãi, nó tiêu diệt được các

tế bào ung thư đã xâm lấn rộng ra các vùng xung quanh khối u nguyên phát, lànơi phẫu thuật không thể với tới được Song khi điều trị sẽ gây tổn thương các tổchức lành và không điều trị được khi tế bào ung thư đã di căn xa hoặc với nhữngloại ung thư biểu hiện toàn thân (bệnh bạch cầu, bệnh u lympho ác tính…)

- Hóa trị liệu: là phương pháp điều trị toàn thân bằng cách đưa các loại thuốc hóachất vào cơ thể (uống, tiêm, truyền, tĩnh mạch, truyền động mạch…) nhằm mụcđích tiêu diệt tất cả các tế bào ung thư đã và đang lưu hành trong cơ thể ngườibệnh Tuy nhiên hóa chất tiêu diệt tế bào ung thư cũng gây hủy hoại tế bào lành,

và có nhiều tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân, vì vậy liều lượnghóa chất đưa vào cơ thể bị hạn chế, có nhiều bệnh bản thân hóa chất không điềutrị triệt để được mà phải phối hợp với các phương pháp điều trị khác

Trang 12

- Nội tiết, miễn dịch…là những phương pháp điều trị hỗ trợ các phương phápkhác, bản thân nó không có tác dụng điều trị triệt để căn bệnh ung thư.

Như vậy có thể thấy mỗi phương pháp chỉ giải quyết được một khâu trong quátrình điều trị, do đó theo như nguyên tắc phối hợp, các phương pháp này sẽ bổ sungcho nhau tạo thành một quá trình điều trị hoàn chỉnh mang lại hiệu quả tốt nhất chongười bệnh Và việc phối hợp các phương pháp điều trị cũng là chỉ định bắt buộcđối với nhiều loại ung thư

1.1.4 Dịch tễ học và gánh nặng của bệnh ung thư

1.1.4.1.Trên thế giới:

Ung thư đang là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tửvong trên toàn thế giới, với khoảng 14 triệu người mới mắc và 8,2 triệu ca tử vongvào năm 2012 [1] Số lượng các trường hợp mới mắc dự kiến sẽ tăng khoảng 70%trong 2 thập kỷ tớivà hiện nay hơn 60% tổng số các trường hợp mới mắc hàng nămcủa thế giới xảy ra ở châu Phi, châu Á, Trung và Nam Mỹ Các vùng này cũngchiếm đến 70% các ca tử vong do ung thư trên toàn thế giới [1], [13]

Số liệu thống kê năm 2012 cho thấy 5 loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới

là ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại trực tràng, ung thư dạ dày vàung thư gan Đối với nữ giới là ung thư vú, ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ungthư cổ tử cung và ung thư dạ dày [13]

Sử dụng thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với bệnh ung thư,gây

ra khoảng 20% các ca tử vong do ung thư và 70% các ca tử vong vì ung thư phổitrên toàn cầu [13] Ung thư do nhiễm virus như HBV / HCV và HPV chiếm tơi 20%các ca tử vong do ung thư ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp [14]

Theo báo cáo về Ung thư toàn cầu năm 2008, gánh nặng ung thư đã tăng gấpđôi trong ba mươi năm cuối cùng của thế kỷ XX, và người ta ước tính rằng điều này

sẽ tăng gấp đôi một lần nữa từ năm 2000 đến năm 2020 và gần gấp ba vào năm

2030 trên toàn thế giới [8] Mỗi năm, ước tính nền kinh tế toàn cầu phải chi 1,16nghìn tỷ đô la Mỹ dành cho phòng chống và điều trị ung thư còn những tổn hại vềkinh tế toàn cầu do ung thư gây ra cho các cá nhân, gia đình và xã hội ước tính

Trang 13

khoảng 2,5 nghìn tỷ đô la Mỹ [15] Bên cạnh những thiệt hại về kinh tế, theo nghiêncứu của Tổ chức GBD năm 2013 đã có 14,9 triệu ca mắc ung thư, 8,2 triệu ca tửvong và 196,3 triệu DALYs (số năm sống bị mất đi do bệnh, tàn tật hay chết sớm).Trong đó, 56% DALYs đến từ các ca mới mắc phải, 62% do tử vong và 70%DALY thuộc về các nước đang phát triển Tỉ lệ các ca tử vong do ung thư trongtổng số các ca tử vong tăng từ 12% (năm 1990) lên 15% (năm 2013) và gánh nặngbệnh tật tăng nhiều nhất ở các nước đang phát triển [5]

Có thể thấy, trước đây ung thư được coi là một căn bệnh của phương Tây và cácnước phát triển thì ngày nay, phần lớn gánh nặng ung thư được tìm thấy ở các nướcthu nhập trung bình và thấp [8]

1.1.4.2 Tại Việt Nam:

Theo thống kê của Bộ Y tế, có khoảng 125.000 trường hợp mới mắc và hơn80.000 ca tử vong do ung thư mỗi năm Dự báo vào năm 2020 sẽ có ít nhất 189 344 caung thư mới mắc [7] Trong tổng số ca ung thư, nữ chiếm 43% và nam giới 57% Bốnloại ung thư phổ biến nhất ở nam giới là ung thư gan, phổi, dạ dầy và đại trực tràng,chiếm 66% tổng số ca ung thư mới mắc ở nam giới Ở nữ giới, bốn loại phổ biến nhất

là ung thư vú, phổi, gan, cổ tử cung, chiếm gần 50% tổng số ca ung thư mới mắc ở nữ[16] Tỷ lệ bệnh nhân ung thư đến khám và điều trị sớm còn thấp, năm 2009 mộtnghiên cứu tại 5 bệnh viện ung thư cho thấy có 28,6% bệnh nhân đến khám trong giaiđoạn I và II của tất cả các loại ung thư, đối với ung thư vú có 50,5% đến sớm, ung thư

cổ tử cung 46,0% đến sớm và ung thư đại trực tràng 32,2% đến sớm [17]

Thống kê năm 2010, tổng số năm mất đi do tử vong sớm của bệnh nhân ungthư tại Việt Nam là 2.319.533 YLLs, chiếm 19,2 % tổng số YLLs của tất cả các loạibệnh Về gánh nặng bệnh tật tính theo DALY, năm 2010 có 2.357.549 DALYs doung thư, chiếm 11% DALYs của tất cả các loại bệnh Nhìn vào con số trên có thểthấy ở nước ta, tỉ lệ bệnh nhân tử vong do ung thư cao, bệnh nặng mới đi khámchữa nên thường tử vong nhanh, số năm sống tàn tật thấp [7]

1.2 Rối loạn lo âu

1.2.1 Một số khái niệm về lo âu

Trang 14

1.2.1.1 Lo âu bình thường

Lo âu là một hiện tượng cảm xúc tất yếu của con người trước những khó khăn,thử thách của tự nhiên, xã hội Lo âu cũng là tín hiệu cảnh báo trước những mối đedọa đột ngột, trực tiếp do đó giúp con người tồn tại và thích nghi [18].Lo âu bìnhthường có chủ đề rõ ràng trong cuộc sống như công việc, học tập… và mang tínhchất nhất thời Khi những sự kiện trong đời sống ảnh hưởng đến tâm lý chủ thể hếttác động thì lo âu cũng không còn hoặc còn lại rất ít triệu chứng [19]

1.2.1.2 Lo âu bệnh lý

Khác với lo âu bình thường, lo âu bệnh lý có thể xuất hiện không có liên quantới một mối đe dọa rõ ràng nào hoặc các sự kiện tác động đã chấm dứt nhưng vẫncòn lo âu, mức độ lo âu cũng không tương xứng với bất kì một đe dọa nào để có thểtồn tại hoặc kéo dài Khi mức độ lo âu gây trở ngại rõ rệt các hoạt động, lúc đó đượcgọi là lo âu bệnh lý [20]

Lo âu bệnh lý thường kéo dài và lặp đi lặp lại với các triệu chứng như: mạchnhanh, thở gấp, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi, lạnh chân tay, run rẩy, bất an Lo

âu bệnh lý cũng là lo âu không phù hợp với hoàn cảnh, không có chủ đề rõ ràng,mang tính chất mơ hồ, vô lý [21], [22]

Theo Andrew R Getzfeld (2006), sự phân biệt giữa lo âu bình thường và lo âubệnh lý là ở mức độ khó khăn trong kiểm soát hoặc loại bỏ lo âu [23]

Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý [24]

Lo âu bình thường Lo âu bệnh lý

- Lo âu không làm ảnh hưởng đến

công việc, hoạt động hàng ngày

- Lo âu gây mất ổn định các hoạt động,ảnh hưởng đến nghề nghiệp, cuộcsống xã hội

- Lo âu có thể kiểm soát được - Lo âu không thể kiểm soát được

- Lo âu gây khó chịu đôi chút, không

nặng nề

- Lo âu hết sức khó chịu, bồn chồn,căng thẳng

- Lo âu giới hạn trong một số tình

huống có thật, hoàn cảnh đặc trưng,

cụ thể

- Lo âu trong mọi tình huống bất kỳ,luôn có xu hướng chờ đợi những kếtcục xấu

- Lo âu chỉ tồn tại trong một thời điểm

nhất định

- Lo âu kéo dài ngày này qua ngày kháctrong khoảng thời gian ít nhất 6 tháng

1.2.2 Phân loại các rối loạn lo âu [25]

Phân loại theo ICD-10

Trang 15

- Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ gồm: lo âu ám ảnh sợ khoảng trống, lo âu ám ảnh

sợ xã hội, lo âu ám ảnh sợ đặc hiệu, các rối loạn lo âu ám ảnh sợ khác, lo âu ámảnh sợ không biệt định

- Các rối loạn lo âu khác gồm : rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạnhỗn hợp lo âu và trầm cảm, các rối loạn lo âu hỗn hợp khác, các rối loạn lo âukhông biệt định khác, rối loạn lo âu không biệt định

Phân loại theo DSM – IV

- Rối loạn lo âu không biệt định bao gồm rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm

- Rối loạn hoảng sợ không bao gồm ám ảnh sợ đám đông

- Rối loạn lo âu lan tỏa

- Rối loạn hoảng sợ bao gồm ám ảnh sợ đám đông

- Ám ảnh sợ đám đông không có tiền sử rối loạn hoảng sợ

- Ám ảnh sợ xã hội

- Ám ảnh sợ đặc hiệu

- Rối loạn ám ảnh nghi thức

- Rối loạn stress cấp

- Rối loạn stress sau sang chấn

1.2.3 Biểu hiện lâm sàng của rối loạn lo âu

Những người bị rối loạn lo âu thường cảm thấy rất sợ hãi, không chắcchắn cùng với những biểu hiện đa dạng và phức tạp Họ thường xuyên lolắng và không thể kiểm soát sự lo lắng, không thể thư giãn, khó tập trung,khó ngủ và duy trì giấc ngủ, hay bất chợt giật mình, bồn chồn và cáu gắt.Ngoài ra các triệu chứng cơ thể thường gặp là: mệt mỏi, nhức đầu, chóngmặt, căng thẳng, đau nhức cơ bắp, run rẩy, co giật, ra mồ hôi nhiều, hồihộp, khó thở, cảm giác như hết hơi, buồn nôn…[26], [27]

1.3 Rối loạn lo âu trên bệnh nhân ung thư

1.3.1 Tâm lý của bệnh nhân ung thư.

Trang 16

Mặc dù ngày nay với những tiến bộ không ngừng trong y học đã giúpphát hiện sớm và kéo dài số năm sống cho bệnh nhân ung thư nhưng khi đốimặt với căn bệnh này, người bệnh không chỉ lo lắng về sự sống và cái chết

mà còn rất nhiều những vấn đề khác bao gồm sự đau đớn trong cơ thể,những tác dụng phụ gây ra bởi các phương pháp điều trị, những thương tậtvĩnh viễn hoặc suy giảm chức năng các cơ quan, quan hệ xã hội, khả năngchi trả… tác động đến tâm lý của họ [28], [29] Sự cẳng thẳng tâm lý nàydiễn ra hàng ngày không chỉ với bệnh nhân ung thư mà còn ảnh hưởng đếngia đình bệnh nhân và những người chăm sóc khác Những tổn thương về

cả thể chất và tâm thần này có thể gây ra tình trạng mất khả năng lao độnghoặc thực hiện các vai trò xã hội của người bệnh [30] Bên cạnh đó, nhữngrối loạn tâm lý tiến triển hàng ngày mà không được chú ý đến có thể ảnhhưởng lớn đến việc điều trị ung thư và gây tử vong sớm Do đó cần cónhững can thiệp để cải thiện đời sống tinh thần sẽ có thể mang đến nhữnghiệu quả điều trị tốt hơn cho người bệnh ung thư [29]

1.3.2 Một số nghiên cứu về lo âu trên bệnh nhân ung thư

Năm 2001, Zabora J, BrintzenhofeSzoc K, Curbow B, Hooker C và

Piantadosi S đã tiến hành một nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ căng thẳngtâm lý của các bệnh nhân ung thư với cỡ mẫu rất lớn gần 4500 người (n =4496) Kết quả cho thấy tỷ lệ lo âu, căng thẳng và đau khổ về tâm lý trungbình là 35,1% và số điểm trung bình cao nhất đối với các triệu chứng lo âu,trầm cảm thuộc về nhóm bệnh nhân ung thư tuyến tụy [31]

Nhằm đánh giá ảnh hưởng của lo âu, trầm cảm đến chất lượng cuộc sốngcủa bệnh nhân ung thư, Smith EM, Gomm SA và Dickens CM (2003) đã sửdụng công cụ Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS) tiến hànhnghiên cứu trên 68 bệnh nhân gồm 33 nam và 35 nữ Kết quả cho thấy có

25% bệnh nhân lo âu ( điểm số lo âu ≥ 11), 22% bệnh nhân trầm cảm và

những rối loạn này có liên quan đến sự suy giảm chất lượng cuộc sống [32].Cùng cho kết luận rối loạn lo âu làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh

Trang 17

nhân ung thư là nghiên cứu của Stark D, Kiely M và Smith A (2002) với cỡmẫu n=178 cho kết quả 48% bệnh nhân có triệu chứng lo âu và 18% lo âuthực sự Nghiên cứu này sử dụng thang đo HADS và S-TAI (State-TraitAnxiety Inventory) [33] Một nghiên cứu của Teunissen SC và cộng sự năm

2007 cũng sử dụng thang đo HADS cho thấy tỉ lệ lo âu trên bệnh nhân ungthư là 34% (n=79) [34]

Nhằm mục tiêu xác định tỉ lệ lo âu và những mối liên quan trên bệnh nhân ungthư, Ryan Spencer và cộng sự năm 2010 đã tiến hành nghiên cứu trên 635 ngườicho thấy có 7,6% bị rối loạn lo âu, phụ nữ, những bệnh nhân bị suy giảm thể chấtnặng và bệnh nhân trẻ tuổi xuất hiện nhiều dấu hiệu lo âu hơn Bên cạnh đó, nhữngbệnh nhân bị rối loạn lo âu có biểu hiện ít tin tưởng vào bác sĩ hơn, họ cảm thấykhông thoải mái khi đặt câu hỏi về sức khỏe của mình và thường ít có khả năng hiểuđược các thông tin lâm sàng mà bác sĩ nói Họ cũng có nhiều biểu hiện nghi ngờnhững phương pháp điều trị mà bác sĩ đưa ra cũng như nghĩ rằng sự điều trị đókhông thể kiểm soát đầy đủ những triệu chứng của họ [35] Một nghiên cứu kháccủa N AassS.D Fosså, A.A Dahl và T.J Aloe (1997) tiến hành với 716 bệnhnhân ung thư đo được tỉ lệ lo âu là 13% theo thang HADS Những bệnh nhân nội trú

có nguy cơ bị các rối loạn tâm thần cao gấp hai lần những bệnh nhân ở phòng khámngoại trú Nghiên cứu cũng cho thấy các triệu chứng lo âu xuất hiện ở nữ giới nhiềuhơn nam, sự suy giảm chức năng cơ thể, mệt mỏi, đau đớn cùng với việc hạn chếkhả năng lao động có ảnh hưởng đến sự lo âu của người bệnh [36]

Một nghiên cứu khác đã được thực hiện bởi Patricia A, ParkerWalter, F Baile,Carl de Moorvà Lorenzo Cohen (2002) với mục tiêu xác định những triệu chứngrối loạn tâm lý và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư.Nghiên cứu được tiến hành với 351 bệnh nhân và các kết quả phân tích chỉ ra rằngnhững người bệnh lớn tuổi có sự hỗ trợ xã hội tốt hơn sẽ bớt lo âu hơn (p <0,001),nam giới có ung thư không tái phát và những người không phải điều trị tích cựccũng cho báo cáo chất lượng cuộc sống tốt hơn về sức khỏe thể chất (p <0,05).Những người bệnh lớn tuổi, có gia đình, có học vấn, có hỗ trợ xã hội tốt cũng có

Trang 18

chất lượng cuộc sống tốt hơn về sức khỏe tâm thần (p <0,05) Những bệnh nhân có

sự hỗ trợ nhiều hơn sẽ bớt lo lắng và có kết quả chất lượng cuộc sống tốt hơn, do đóviệc đánh giá tình trạng hỗ trợ xã hội đối với bệnh nhân ung thư có thể giúp xácđịnh những nguy cơ rối loạn tâm lý [37]

Như vậy có thể thấy, những biểu hiện rối loạn lo âu là thường gặp trênbệnh nhân ung thư [38], và để đánh giá tình trạng lo âu ở những bệnh nhânung thư giai đoạn cuối, một nghiên cứu của Elissa Kolva và cộng sự (2011)với 194 bệnh nhân cho kết quả 18,6% có các triệu chứng lo âu và 12,4% lo

âu thực sự [39] Một nghiên cứu khác của Stark D và cộng sự (2004) lại xemxét tình trạng lo âu của bệnh nhân ung thư khi đã được điều trị thuyên giảm.Nghiên cứu này sử dụng bảng câu hỏi đo sự lo lắng với 95 bệnh nhân ungthư đã được điều trị thuyên giảm và kết quả là hơn 1/3 trường hợp có cáctriệu chứng lo âu, sau đó các bác sĩ sử dụng các liệu pháp trấn an tinh thầnnhưng sự lo âu không vì thế mà giảm đi, như vậy lo âu vẫn có thể là một vấn

đề kể cả sau khi bệnh nhân ung thư đã được điều trị [40]

Xạ trị hiện nay đang là một phương pháp điều trị được chỉ định rộng rãivới nhiều loại ung thư [11], để đánh giá những căng thẳng tâm lý của ngườibệnh ung thư đang xạ trị ở Sydney - Australia, Mackenzie và cộng sự (2013)

đã tiến hành nghiên cứu trên 454 bệnh nhân bằng thang đo HADS cho kết quả15% (HADS-A ≥11) [41] Một nghiên cứu khác cũng về vấn đề lo âu củangười bệnh ung thư đang xạ trị do E Frick và cộng sự (2007) dùng thang đoHADS cho 63 bệnh nhân được kết quả tỉ lệ lo âu là 28,6% [42], [43] Bêncạnh đó, trong một nghiên cứu của K.A Neilson và cộng sự (2010) cho thấy

có một sự thay đổi đáng kể về tỉ lệ lo âu của những bệnh nhân ung thư vùngđầu và cổ trước và sau xạ trị Tỉ lệ lo âu trước khi xạ trị là 30% và đã giảm còn17% sau khi xạ trị, những bệnh nhân là nam giới có các triệu chứng lo âunhiều hơn do sự lo lắng về khả năng quan hệ tình dục sau này của họ [44].Ung thư vú hiện đang là loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới [13],trong một nghiên cứu trên 354 bệnh nhân ung thư vú do Maggie Watson và

Trang 19

cộng sự (1991) thực hiện nhằm đánh những phản ứng tâm lý của người bệnhcho thấy có 16% lo âu và các dấu hiệu kiểm soát sự tức giận cùng thái độ bấtlực có mối liên quan với bệnh tật [45] Ngoài ra, Diane Bodurka-Beversvàcộng sự (2000) thực hiện một nghiên cứu cũng về vấn đề căng thẳng tâm lýnhưng trên các bệnh nhân ung thư buồng trứng có kết quả 29% lo âu (n=246)[46].

Ung thư đường tiêu hóa đang là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đốivới các bệnh nhân ung thư ở IRAN và cũng là loại ung thư phổ biến trêntoàn thế giới Một nghiên cứu đã được tiến hành bởi Azadeh Tavoli và cộng

sự (2007) nhằm xem xét những rối loạn lo âu trên nhóm bệnh nhân này vàliệu việc biết về chẩn đoán bệnh có ảnh hưởng đến tâm lý của họ haykhông Nghiên cứu sử dụng thang đo HADS với 142 bệnh nhân ung thưđường tiêu hóa ( 29% ung thư thực quản, 30% ung thư dạ dày, 3% ung thưruột non, 22% ung thư đại tràng và 16% ung thư trực tràng), tuổi trung bìnhcủa bệnh nhân là 54,1 (SD = 14,8), 56% nam giới, 52% biết về chẩn đoánung thư của họ và 48% không biết Kết quả điểm số lo âu trung bình là 7,6(SD = 4,5), có tới 47,2% bệnh nhân có các triệu chứng rối loạn lo âu, khôngkhác biệt đáng kể giữa giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân với tỉ

lệ lo âu Về tuổi tác thì nhóm 30-39 tuổi có biểu hiện lo âu hơn hẳn nhữngnhóm tuổi khác (p=0,005) Bên cạnh đó, điểm số giữa những người biết vềchẩn đoán ung thư của mình là 9,1 (SD = 4,2) lại cao hơn đáng kể giữa sovới những bệnh nhân không biết là 6,3 (SD = 4,4) Ở các nước Trung Đông,việc nhận được chẩn đoán mắc ung thư đối với họ gần như là cầm chắc cáichết do đó người nhà thường yêu cầu bác sĩ không nói với bệnh nhân tìnhtrạng bệnh của họ Điều này có thể làm cho những người bệnh trong nhómkhông biết chẩn đoán của mình có thêm nhiều hi vọng hơn do đó có thể dẫnđến điểm số về lo âu cũng thấp hơn [47] Ngoài ra, một nghiên cứu kháccủa Nordin K và cộng sự (1996) trên 141 bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa

Trang 20

cho kết quả 15% bị rối loạn lo âu theo thang đo HADS [48], trong năm

1997 Nordin K và cộng sự tiếp tục làm một nghiên cứu khác cũng đo theothang HADS trên các bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa (n=139) thì tỉ lệ lo

âu là 17% [49] Môt nghiên cứu khác tại Trung Quốc năm 2004 trên 108bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa của Ke-Jun Nan và cộng sự đã sử dụngthang đo SAS (Zung self-rating anxiety scale) cho kết quả tới 46,3% bệnhnhân bị lo âu ( tổng điểm >50%) [50]

Như vậy có rất nhiều nghiên cứu cho thấy các triệu chứng lo âu trênbệnh nhân ung thư là thường gặp, tuy nhiên việc ước tính tỉ lệ lo âu của ngườibệnh ung thư lại rất khác nhau, có báo cáo đã cho thấy tỉ lệ này dao động trongkhoảng từ 1,5% đến gần 50% [51] Tại Việt Nam, những nghiên cứu về lo âutrên bệnh nhân ung thư là rất hạn chế Năm 2014, Trương Thị Phương đãnghiên cứu về tỉ lệ lo âu trầm cảm trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện K(n=290) sử dụng thang đo HADS cho kết quả 27,2% có triệu chứng lo âutrong đó tỉ lệ lo âu thực sự là 11,4% Điểm lo âu trung bình là 5,7± 3,8(min=0, max=19), tỉ lệ lo âu nữ (19,7%) cao hơn so với nam (4,4%) Loại ungthư vú và cổ tử cung cho tỷ lệ lo âu cao nhất 26,3% và 19,6% [43]

1.3.3 Các thang đo đánh giá tình trạng lo âu ở bệnh nhân ung thư

Có nhiều thang điểm trắc nghiệm để đánh giá các mức độ rối loạn tâm lý ở bệnhnhân, trong đó có thang đo lo âu Zung, thang tự đánh giá mức độ lo âu S-TAI (State-Trait Anxiety Inventory), thang đánh giá lo âu Hamilton (Hamilton anxiety rating scale– HARS), thang đánh giá lo âu và trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện (HADS)…

- Thang tự đánh giá lo âu của Zung (Self - Rating Anxiety Scale):do W.W.

Zung (1971) đề xuất là một phương pháp xác định mức độ lo lắng ở những bệnhnhân có các triệu chứng lo âu chủ yếu tập trung vào những rối loạn phổ biến nhất,những vấn đề căng thẳng thường gây ra lo lắng [52] Test này được Tổ chức Y tếThế giới (WHO) thừa nhận là một test đánh giá trạng thái lo âu bao gồm 20 câu hỏitrong đó 15 câu hỏi về gia tăng sự lo lắng và 5 câu giảm Có hai dạng đánh giá là tự

Trang 21

đánh giá và đánh giá lâm sàng Các câu hỏi được tính điểm theo 4 mức tần suất xuấthiện triệu chứng:

+ 1 điểm: không có hoặc ít thời gian

+ 2 điểm: đôi khi

+ 3 điểm: phần lớn thời gian

+ 4 điểm: hầu hết hoặc tất cả thời gian

Kết quả được đánh giá :

T < 50% : Không có lo âu bệnh lý

T > 50% : Có lo âu bệnh lý [43], [52]

- Thang tự đánh giá mức độ lo âu S-TAI (State-Trait Anxiety Inventory):

Để đo lường sự hiện diện và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng lo âu hiệntại Có hai loại phiên bản cho cả người lớn và trẻ em Công cụ này là 2 bảng tự đánhgiá gồm tổng số 40 câu hỏi, mỗi bảng là 20 câu, người bệnh sẽ tự đánh giá theo cácmức độ và được quy ra điểm: 1 điểm, 2 điểm, 3 điểm và 4 điểm Ở mỗi bảng, sốđiểm nằm trong khoảng 20-80 điểm, điểm càng cao thì càng cho thấy sự lo lắngnhiều hơn Với người lớn, thời gian yêu cầu để hoàn thành bảng đo là 10 phút Đây

là một phương pháp đánh giá nhanh chóng, đơn giản, dễ dàng và rất phổ biến trênthế giới, được dịch ra nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, tuy nhiên khi muốn tìm sựthay đổi về tâm lý trong một khoảng thời gian ngắn thì thang đo này vẫn còn hạnchế do mục đích tìm các dấu hiệu lo âu đã tồn tại trong thời gian dài [53]

- Thang đánh giá lo âu Hamilton (Hamilton anxiety rating scale – HARS) : Đây là thang đo được sử dụng rất rộng rãi trên lâm sàng đặc biệt là trong

các nghiên cứu hiệu quả điều trị lo âu [54], [55] Thang đo này bao gồm 14 nhómcâu hỏi cho các triệu chứng và tương đối chi tiết, thường được sử dụng đánh giá cáctriệu chứng lo âu trong rối loạn lo âu lan tỏa [24]

- Thang đánh giá lo âu và trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện HADS :

Đây là công cụ có giá trị và đáng tin cậy để sàng lọc, đánh giá các triệu chứng lo âu

và trầm cảm của bệnh nhân tại bệnh viện [56], [57] Thang đo này rất đơn giản, dễhiểu và dễ dàng hoàn thành trong khoảng thời gian chưa đến 5 phút, gồm 14 câu hỏi

Trang 22

tự trả lời về những triệu chứng của chính người bệnh trong thời gian tuần kế trước,bao gồm 7 câu đánh giá lo âu (HADS – A) và 7 câu cho trầm cảm (HADS – D).Mỗi câu hỏi có 4 lựa chọn theo các mức độ tương ứng với các số điểm từ 0 đến 3.Sau khi tính tổng điểm cho mỗi phần, từ 11 điểm trở lên là rối loạn lo âu hay trầmcảm thực sự, từ 8 đến 10 điểm là có thể có triệu chứng của lo âu hay trầm cảm, từ 0đến 7 điểm là bình thường [53], [58], [59].

Nhìn chung HADS là công cụ đáng tin cậy, ngắn gọn, dễ sử dụng và có độnhạy cao với sự thay đổi [52] Bên cạnh đó, thang đo này rất dễ thực hiện để pháthiện một tỉ lệ lớn những rối loạn lo âu thường gặp ở bệnh nhân ung thư [60], [61].Tại Việt Nam, thang đo này đã được mua bản quyền và dịch sang tiếng Việt bởiKhoa nghiên cứu y học hành vi thuộc Trường Đại học New South Well, Úc [43]

Trang 23

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnhviện Bạch Mai từ 01/09/2015 đến 31/03/2016

2.2 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3 Đối tượng nghiên cứu

2.3.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

Bệnh nhân có đầy đủ các điều kiện dưới đây:

- Bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định bất kỳ loại ung thư nào và không phảigiai đoạn cuối

- Còn khả năng giao tiếp và sẵn sàng trả lời câu hỏi

- Từ 18 tuổi trở lên

- Đang điều trị xạ trị tại trung tâm Y học hạt nhân và Ung Bướu – Bệnh viên BạchMai, bệnh nhân điều trị xạ trị từ lần thứ 2 trở lên

- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

2.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân điều trị tại Đơn vị điều trị chống đau và chăm sóc giảm nhẹ

- Được xác định không đủ thể lực và tinh thần để hoàn thành nghiên cứu hoặcphỏng vấn bởi điều tra viên (mê sảng, mất trí nhớ, đã được chẩn đoán bệnh lýtâm thần)

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho việc ước lượng một tỷ

lệ trong quần thể, với α=0,05; ε = 0,2; p = 0,27 [43]:

Trang 24

Trong đó:

- n: cỡ mẫu tối thiểu cần thiết

- α: mức ý nghĩa thống kê (Chọn α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95%, thay vào bảng

ta được Z(1 – α/2) = 1,96)

- p: tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng lo âu trong nghiên cứu của Trương Thị Phương(2014)

- ε: sai số mong muốn giữa mẫu và quần thể (sai số tương đối)

Như vậy cỡ mẫu tối thiểu cần thiết trong nghiên cứu là 260 Xem xét tỷ lệ loạitrừ là 10%, vậy cỡ mẫu cần thiết là 286 bệnh nhân

2.4.2 Kỹ thuật chọn mẫu

Chọn mẫu bằng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện

2.5 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin

2.5.1 Công cụ thu thập thông tin

Thông tin thu thập qua bộ câu hỏi có sẵn được thiết kế dựa trên nhóm biến sốchỉ số và thang đo lường về sự lo âu và trầm cảm tại bệnh viện (Hospital Anxietyand Depression – HADS) và thang tự đánh giá lo âu Zung Self - Rating AnxietyScale

Về thang HADS trong nghiên cứu này chỉ sử dụng 7 câu hỏi nằm trong phần

đo lo âu (HAS) Mỗi câu có 4 mức độ trả lời tương ứng với điểm 0,1,2,3

Kết quả được phân tích theo tổng điểm các câu hỏi theo các mức độ:

 Từ 0 đến 7 điểm: bình thường

 Từ 8 đến 10 điểm: có thể có triệu chứng của lo âu

 Từ 11 đến 21 điểm: lo âu thực sự

Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng điểm cắt 8

Với thang đo lo âu của Zung có 20 câu hỏi, mỗi câu có 4 mức độ trả lời tương ứng điểm số 1,2,3,4 Tổng điểm 80 điểm

* Không lo âu : ≤ 40 điểm:

* Lo âu mức độ nhẹ : 41 - 50 điểm

* Lo âu mức độ vừa : 51 - 60 điểm

Trang 25

* Lo âu mức độ nặng : 61 - 70 điểm

* Lo âu mức độ rất nặng : 71 - 80 điểm

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá người bệnh bị lo âu với tổng điểm Zung Self - Rating Anxiety Scale ≥ 40 đồng thời tổng điểm HADS ≥ 8

2.5.2 Kỹ thuật thu thập thông tin

Thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn bệnh nhân theo bộ câu hỏi

2.6 Biến số và chỉ số nghiên cứu

Tuổi Tỷ lệ %: tỷ lệ BN từng nhóm tuổi trên tổng

số BN tham gia NC

Tình trạng hônnhân

Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng loại tình trạnghôn nhân trên tổng số BN tham gia NC

Số năm học hoànthành

Kinh tế gia đình Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng nhóm kinh tế gia

đình trên tổng số BN tham gia nghiên NC.Chi phí điều trị

người bệnh chitrả/tháng

Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng nhóm chi phí

Khả năng chi trả Tỉ lệ %: tỷ lệ BN theo từng nhóm khả năng

chi trả trên tổng số BN tham gia nghiên cứuThông

tin về

tình

Loại ung thư + Tỷ lệ % : tỷ lệ mỗi loại hoặc nhóm bệnh

ung thư trên tổng số BN tham gia NC

+ Tỷ lệ % theo giới: tỷ lệ mỗi loại hoặc nhóm

Trang 26

bệnh

bệnh ung thư theo giới nam/nữ trên tổng số

BN nam/nữ tham gia NC

+ Tỷ lệ % theo nhóm tuổi: tỷ lệ mỗi loại hoặcnhóm bệnh ung thư theo nhóm tuổi của BNtrên tổng số BN ở mỗi nhóm tuổi ấy

Giai đoạn bệnh

Tỷ lệ %: tỷ lệ BN thuộc các nhóm giai đoạnbệnh khác nhau trên tổng số BN tham giaNC

Thời gian được

chẩn đoán bệnh

Tỷ lệ %: tỷ lệ các nhóm khoảng thời gianchẩn đoán bệnh của các BN trên tổng số BNtham gia NC

Tiến triển bệnh Tỷ lệ %: tỷ lệ BN thuộc các nhóm tiến triển

khác nhau trên tổng số BN tham gia NCTác dụng phụ

khi điều trị

Tỷ lệ %: tỷ lệ các nhóm mức độ tác dụng phụkhi điều trị ở BN trên tổng số BN tham giaNC

số BN tham gia nghiên cứu

Cơ sở vật chất

bệnh viện

Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo các nhóm trả lời về cơ

sở vật chất bệnh viện trên tổng số BN thamgia nghiên cứu

Thái độ phục vụ

của nhân viên y

tế

Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo các nhóm trả lời vềthái độ phục vụ của nhân viên y tế trên tổng

số BN tham gia nghiên cứuNiềm tin vào

thầy thuốc

Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo các nhóm mức độ tintưởng với thầy thuốc trên tổng số BN thamgia nghiên cứu

Trang 27

2.7 Khống chế sai số trong nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu được hỏi về các triệu chứng lo âucủa họ trong tuần

kế trước theo thang tự đánh giá HADS, do đó dễ mắc phải sai số nhớ lại

- Các biện pháp khống chế sai số được áp dụng bao gồm xin ý kiến chuyêngia, chuẩn hoá bộ câu hỏi thông qua điều tra thử, tập huấn điều tra viên một cách kỹlưỡng và giám sát chặt chẽ quá trình điều tra

- Trong quá trình nhập số liệu, bộ số liệu được nhập lại 10% số phiếunhằm kiểm tra thông tin nhập một cách kỹ lưỡng nhất, hạn chế sai số một cáchtối đa

2.8 Xử lý và phân tích số liệu

- Số liệu sau khi được làm sạch sẽ được nhập vào máy tính và quản lý bằngphần mềm Epidata 3.1

- Các số liệu được xử lý và phân tích sử dụng phần mềm Stata 10.0

- Trong quá trình xử lý, các số liệu bị thiếu, vô lý, ngoại lai được kiểm tra vàkhắc phục

- Các thông kê mô tả và thống kê suy luận thực hiện thông qua tính toán giátrị trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn cho các biến định lượng và tỷ số, tỷ lệ cho cácbiến định tính

- Phân tích được thực hiện thông qua các test thống kê thích hợp

- Mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 được áp dụng

Trang 28

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Trước khi tham gia nghiên cứu, tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được cungcấp thông tin rõ ràng liên quan đến mục tiêu và nội dung nghiên cứu Đối tượngđược thông báo là tự nguyện quyết định tham gia vào nghiên cứu hay không

- Việc phỏng vấn phải được tiến hành vào thời điểm thuận tiện cho người bệnh

- Các thông tin thu thập được từ các đối tượng chỉ phục vụ cho mục đíchnghiên cứu, hoàn toàn được giữ bí mật

- Đối tượng được quyền dừng sự tham gia hoặc rút khỏi nghiên cứu bất cứlúc nào

Trang 29

CHƯƠNG 3

DỰ KIẾN KẾT QUẢ

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu n % Giới tính

Ngày đăng: 24/07/2019, 20:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Union for International Cancer Control (2014). The Economics of Cancer Prevention &amp; Control Data Digest 2014, Union for Inernational Cancer Control, Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Economics of CancerPrevention & Control Data Digest 2014
Tác giả: Union for International Cancer Control
Năm: 2014
16. International Agency for Research on Cancer (2014). Estimated cancer incidence mortality and prevalence worldwide in 2012: Population Fact Sheet for Vietnam . GLOBOCAN 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimated cancerincidence mortality and prevalence worldwide in 2012: Population Fact Sheetfor Vietnam
Tác giả: International Agency for Research on Cancer
Năm: 2014
17. Trần Văn Thuấn (2014). Báo cáo thực trạng các Chương trình mục tiêu về bệnh không lây nhiễm - Bệnh ung thư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng các Chương trình mục tiêu vềbệnh không lây nhiễm - Bệnh ung thư, Hà Nộ
Tác giả: Trần Văn Thuấn
Năm: 2014
18. Nguyễn Viết Thiêm (2000). Bài giảng chuyên đề tâm thần, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chuyên đề tâm thần
Tác giả: Nguyễn Viết Thiêm
Nhà XB: Nhà xuất bản Yhọc
Năm: 2000
19. Đinh Đăng Hòe (2000). Bài giảng chuyên đề tâm thần, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chuyên đề tâm thần
Tác giả: Đinh Đăng Hòe
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2000
20. Burows G, Judd F (1999). Anxiety disorder. Foundation of Clinical Psychiatry Australia, 128-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foundation of ClinicalPsychiatry Australia
Tác giả: Burows G, Judd F
Năm: 1999
21. Trần Đình Xiêm (1995). Các rối loạn khí sắc và rối loạn lo âu. Tâm thần học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm thần học
Tác giả: Trần Đình Xiêm
Năm: 1995
22. Nguyễn Kim Việt (2009). Lâm sàng và điều trị các rối loạn lo âu, Bộ Môn Tâm Thần - Đại học Y Hà Nội. 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sàng và điều trị các rối loạn lo âu
Tác giả: Nguyễn Kim Việt
Năm: 2009
23. Andrew R. Getzfeld (2006). Essentials of Abnormal Psychology. John Wiley&amp; Son, Inc. Hoboken, New Jersey Sách, tạp chí
Tiêu đề: Essentials of Abnormal Psychology
Tác giả: Andrew R. Getzfeld
Năm: 2006
24. Nguyễn Thị Phước Bình (2010). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của rối loạn lo âu lan tỏa, Luận văn Bác sỹ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của rối loạnlo âu lan tỏa, Luậ"n văn B"ác sỹ chuyên khoa cấp II
Tác giả: Nguyễn Thị Phước Bình
Năm: 2010
25. La Đức Cương (năm). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân điều trị nội trú, Luận văn Bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn hỗn hợp lo âuvà trầm cảm ở bệnh nhân điều trị nội trú
27. National Institute of Mental Health - U.S (2013). Generalized Anxiety Disorder, Department of Health and Human Services Sách, tạp chí
Tiêu đề: Generalized AnxietyDisorder
Tác giả: National Institute of Mental Health - U.S
Năm: 2013
28. Oeffinger KC, Hudson MM (2004). Long-term complications following childhood and adolescent cancer: Foundations for providing risk-based health care for survivors. A Cancer Journal for Clinicians, 54(4), 208–236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Cancer Journal for Clinicians
Tác giả: Oeffinger KC, Hudson MM
Năm: 2004
29. Aziz NM, Rowland JH (2003). Trends and advances in cancer survivorship research: Challenge and opportunity. Seminars in Radiation Oncology, 13(3), 248–266 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seminars in Radiation Oncology
Tác giả: Aziz NM, Rowland JH
Năm: 2003
30. Institute of Medicine Committee on Psychosocial Services to Cancer Patients/Families in a Community Setting (2008). Cancer Care for the Whole Patient: Meeting Psychosocial Health, National Academies Press, Washington Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cancer Care for the WholePatient: Meeting Psychosocial Health
Tác giả: Institute of Medicine Committee on Psychosocial Services to Cancer Patients/Families in a Community Setting
Năm: 2008
31. Zabora J, Brintzenhofeszoc K, Curbow B, Hooker C, Piantadosi S (2001).The prevalence of psychological distress by cancer site. Psycho-Oncology, 10(1), 19–28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psycho-Oncology
Tác giả: Zabora J, Brintzenhofeszoc K, Curbow B, Hooker C, Piantadosi S
Năm: 2001
32. Smith EM, Gomm SA, Dickens CM (2003). Assessing the independent contribution to quality of life from anxiety anddepression in patients with advanced cancer. Palliat Med, 17(6), 509-513 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Palliat Med
Tác giả: Smith EM, Gomm SA, Dickens CM
Năm: 2003
35. Spencer R, Nilsson M, Wright A, Pirl W, Prigerson H (2010). Anxiety disorders in advanced cancer patients: correlates and predictors of end-of-life outcomes.Cancer, 116(7), 1810-1819 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cancer
Tác giả: Spencer R, Nilsson M, Wright A, Pirl W, Prigerson H
Năm: 2010
37. Patricia A, ParkerWalter, F. Baile, Carl de Moorand Lorenzo Cohen (2003).Psychosocial and demographic predictors of quality of life in a large sample of cancer patients. Psycho-Oncology, 12(2), 183-193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psycho-Oncology
Tác giả: Patricia A, ParkerWalter, F. Baile, Carl de Moorand Lorenzo Cohen
Năm: 2003
38. Stark DPH, House A (2000). Anxiety in cancer patients. Br J Cancer, 83,1261-1267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Br J Cancer
Tác giả: Stark DPH, House A
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w