Young 1993, thí dụ, là tư liệu về sự chuyển đổi một trại nuôi cá nhỏ ở Malta bằng các minh hoạ sinh động tới một mức mà du lịch phát triển, thông qua đó sự phát triển của hệ thống phương
Trang 2Mục Lục Page Chương 1 : Bản chất của du lịch 6Định nghĩa về du lịch 6
Du lịch đại chúng và các hình thức thay thế: các màu sắc cạnh tranh 11
khu bảo tồn 64
Sự khai thác thế giới tự nhiên. 65Tài nguyên thiên nhiên 65
Trang 3Giới hạn của trái
đất 68
Nghiên cứu thực tiễn 69
Vườn quốc gia và các khu bảo vệ thiên nhiên 75
Nghiên cứu điển hình 3.2 82
Khu vực bảo tồn: một cái nhìn tổng thể 85
Các khu dự trữ tư nhân 90
Nghiên cứu điển hình 3.3 92
SỰ QUẢN LÝ HỆ SINH THÁI VÀ NHỮNG VÙNG ĐƯỢC BẢO VỆ 95
KẾTLUẬN 100
Chương 4 : Những ảnh hưởng mang tính xã hội và sinh thái của du lịch 101
Tác động xã hội của du lịch 101
Tác động sinh thái 104
Khái niệm về sức chứa 110
Nghiên cứu thực tiễn 4.1 .122
Đánh giá những tác động của hệ sinh thái 130
Nghiên cứu thực tiễn 4.2 131
KẾT LUẬN 133
Trang 4Chương 5 : Kinh tế học, quảng bá và quản lý du lịch
sinh thái 134
KINH TẾ HỌC CỦA DU LỊCH SINH THÁI 134
Dòng chảy của tiền bạc địa phương 135
Doanh thu và các vườn quốc gia .136
Giá trị của đất đai 141
Sự quảng bá 146
Các yếu tố quản lý trong du lịch sinh thái 156
Sự tư nhân hoá 156
Các tổ chức phi lợi nhuận và các tổ chức phi chính phủ 160
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 5.1 162
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 5.2 163
KẾT LUẬN 166
Câu hỏi ôn tập 167
Chương 6 :Chính sách đến trình độ nghiệp vụ 168
CHÍNH SÁCH DU LỊCH 168
DU LỊCH SINH THÁI VÀ CHÍNH SÁCH 173
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 6.1 174
QUY ĐỊNH 187
CÁC ĐẠI LÝ DU LỊCH VÀ CÁC NHÀ ĐIỀU HÀNH 190
NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÀ ĐIỀU HÀNH CÓ LIÊN QUAN 192
Trang 5TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN 195
SỰ CÔNG NHẬN VÀ CHỨNG NHẬN 197
Kết luận 213
Câu hỏi ôn tập 214
Chương 7 : Xây dựng chương trình du lịch sinh thái: tập trung vào sự trải nghiệm 215
Tại sao chúng ta nên hòa nhịp vào thị trường kinh doanh? 216
Kế hoạch thực hiện chương trình 221
Triết lý, vấn đề và mục tiêu khách quan 222
Nhu cầu và tài sản có trong tay 224
Những tiêu chí đánh giá 224
Những điểm thu hút và nguồn tài nguyên 225
Cấu trúc thiết kế chương trình 229
Thiết kế chương trình: vấn đề hậu cần 231
Lí do chúng ta phải cẩn trọng 232
Thiết kế chương trình: rủi ro và cách lãnh đạo 234
Sự rủi ro có thể xảy ra trong quá trình quản lí 234
Thực hiện chương trình 237
Đánh giá 239
Đánh giá định hình và tổng kết 240
Cách đánh giá 240
Nghiên cứu thực tiễn 7.1 242
Trang 6Kết
luận 243
Câu hỏi ôn tập 244
Chương 8 : Phát triển du lịch: quốc tế, cộng đồng và triển vọng vùng du lịch 244
Vấn đề quốc tế 244
Lý thuyết phát triển 244
Du lịch tại các nước chưa phát triển 247
Khái niệm tiền ngoại biên .249
Phát triển cộng đồng 253
Sự hợp tác 262
Nghiên cứu thực tế 8.1 264
Nghiên cứu thực tiễn 8.2 268
Phát triển điểm đến 274
Thiết kế bền vững và nhà nghỉ sinh thái 275
Nghiên cứu thực tiễn 8.3 279
Nghiên cứu về khu nghỉ dưỡng sinh thái 281
Kết luận 283
Câu hỏi ôn tập 284
Chương 9 : Vai trò của các nguyên tắc đạo đức trong du lịch sinh thái 285
Nguyên tắc đạo đức 286
Nguyên tắc đạo đức và du lịch 289
Nghiên cứu thực tiễn 9.1 290
Thiếu các nghiên cứu 293
Trang 7Vai trò của đạo đức học trong du lịch sinh thái 299
Nghiêncứu thực tế 9.2 299
Bên ngoài những quy tắc đạo đức học 303
Kết luận 309
Câu hỏi ôn tập 310
Kết luận 312
Phụ lục 324
CHƯƠNG 1 Bản chất của du lịch
Trang 8Trong chương này hệ thống ngành du lịch sẽ được đề cập tới, bao gồm những định nghĩa
về du lịch và các nhân tốthành tố ngành có liên quan Các điểm đến được quan tâm đáng
kể với tư cách là những thành tốnhân tố cơ bản của hoạt động du lịch Những mô hình du lịch đại chúng và du lịch mang tính thay thế được giới thiệu với tư cách là phương thức tiếp cận phù hợp với sự phát triển của du lịch ngày nay Cuối cùng, phần lớn chương này dành đề cập tớicho sự phát triển bền vững và du lịch bền vững cùng những biểu hiện của
du lịch bền vững; với mục đích chứng minh sự hợp lý của hình thức phát triển này cho tương lai của ngành du lịch Những lập luận này sẽ cung cấp thông tin cơ bản nhằm tìm hiểuphân tích du lịch sinh thái Thông tin, sẽ được nêu ra đầy đủđề cập cụ thể ở chương 2
xã luận năm 1991 của The economist:
Không có định nghĩa nào đầy đủ về du lịch, bất cứ định nghĩa nào đưa ra đều có thể dẫn tới nguy cơ ngành này được đánh giá quá cao hoặc quá thấp Có thể nói định nghĩa đơn giản nhất của du lịch là đưa con người tới một nơi khác không phải nơi ở của mình (và ngược lại) , nơi này sẽ cung cấp phòng dịch vụ lưu trú và thực phẩm cho họ khi đi trong thời gian họ xa nhà Song cũng không phải các mọi trường hợp đều gắn với việc di chuyển GiảGỉa dụ như việc kinh doanh của các nhà hàng cũng được tính trong du lịch và
lữ hành, và con số này sẽ được thổi phồng lên do việc kinh doanhbán hàng cho cư dân của các địa phương Điều này không bao gồm tất cả doanh thu của nhà hàng mà đó là sự lầm lẫnNhưng nếu loại bỏ tất cả các doanh thu của nhà hàng sẽ dẫn tới sự nhầm lẫn
Trang 9Theo Clawson and Knetsch (1966) and Mitchell (1984), cChính sự hòa nhập phức tạp trong hệ thống kinh tế xã hội (thiếu sự tập trung cần thiết) đã khiến những nỗ lực định nghĩa về du lịch trở nên khó khăn Việc nghiên cứu về du lịch thường được đặt ở những thái cực khác nhau về phương pháp mang tính thừa nhậntiếp cận, định hướng phương pháp luận và ý nghĩa của việc nghiên cứu Sự phong phú của các định nghĩa du lịch, mà mỗi định nghĩa mang những đặc điểm chặt chẽ, phản ánh những quan điểm nghiên cứu thống nhất với các lĩnh vực khác nhau Gỉa dụ Ví dụ như, du lịch chia sẻ những đặc điểm cơ bản đặc trưng và những nền tảng mang tính lý thuyết về tương tự như sự nghiên cứu về sự giải trí và nghỉ dưỡng được nghiên cứu Theo Jansen- Verbeke and Dietvort (1987) thì những khái niệm về “giải trí”, “nghỉ dưỡng” và “du lịch” thể hiện sự thống nhất hài hòa, không rõ rệt dựa trên các nét đặc trưng, các hoạt động và dựa trên kinh nghiệm nhờ vậy có thể thấy được sự khác nhau của các thuật ngữ trên Nói cách khác, các định nghĩa có tính kinh tế hoặc tính chuyên môn/ thống kê thường bỏ qua yếu tố trải nghiệm của con người trong các khái niệm, thay vào đó lại ưa thích sự tiếp cận khi dùng phương pháp dựa trên hoạt động của con người vượt qua những rào cản về chính trị và số lượng tiền có được từ hoạt động này.
Đó còn là mối liên hệ với các môn học khác nhau như tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học, địa lý, kinh tế góp phần giúp định nghĩacho sự phức tạp của du lịch Tuy nhiên, mặc
dù có mối liên hệ gần gũi giữa các môn học đó, một số người bao gồm Leiper (1981) ủng
hộ môn du lịch thuần túy Theo ông phương pháp tiếp cận môn du lịch này cần phải xây dựng xoay quanh cấu trúc của ngành công nghiệp mà ông cho là một hệ thống mở của 5 thành tố tương tác với môi trường rộng lớn hơn: (1) nhân tố con người hoạt độngyếu tố năng động của con người, (2) vùng phát sinh, (3) vùng chuyển tiếp, (4) địa điểm và (5) ngành du lịch Định nghĩa này khá giống so với định nghĩa được đưa ra bởi Mathieson và Wall (1982) những người luôn cho rằng du lịch gồm 3 thành tố cơ bản: (1) nhân tố hoạt động liên quayếu tố năng động,n liên quan tới việc di chuyển tới địa điểm được lựa chọn, (2) nhân tốyếu tố không đổi (tĩnh) có liên quan tới việc lưu lại địa điểm đã chọn và (3) nhân tố kết quả từ hai nhân tố trên, quan tâm tới những ảnh hưởng lên các hệ thống phụ về kinh tế, xã hội và vật chất mà qua đó du lịch chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
Trang 10thống của các phần liên quan Hệ thống này giống như mạng nhện- khi chạm vào một phần của nó thì những ảnh hưởng dội lại sẽ đựợc cảm nhận ở khắp nơi (Mill và Morrison 1985: xix) Bao gồm trong hệ thống du lịch này là 4 bộ phận cấu thành: Thị trường (vươn tới thương trường), Đi du lịchLữ hành (mua các sản phẩm du lịch), Điểm đến (hình thành nhu cầu đi du lịch) và Quảng báTiếp thị (bán sản phẩm du lịch).
Nhận thức được vấn đề khó khăn trong việc định nghĩa du lịch, Smith (1990s) thấy rằng nên chấp nhận sự tồn tại những định nghĩa khác nhau về du lịch, mỗi định nghĩa đều phục
vụ cho những mục đích nhất định Đây có thể coi là phương pháp hiệu quả nhất Trong cuốn sách này, du lịch được định nghĩa là hệ thống có liên quan tới nhau bao gồm khách
du lịch và các dịch vụ đi kèm được cung cấp và sử dụng (cơ sở vật chất, điểm du lịch, việc chuyên chở và chỗ ởnơi lưu trú) để hỗ trợ hoạt động khách du lịch Tổ chức Ddu lịch thế giới (UNWTO) định nghĩa về khách du lịch với tư cách là người đi du lịch để nghỉ ngơi với khoảng thời gian ít nhất là một đêm, nhưng không được nhiều hơn một năm đối với khách du lịch quốc tế và 6 tháng đối với khách du lịch đi du lịch trong nước của họ với
Mmục đích chính là đi du lịch chứ không liên quan tới các hoạt độngviệc làm có trả côngcó nhận thù lao tại những nơi khách đến
Những điểm du lịch
Ngành du lịch bao gồm nhiều thành tố quan trọng; mà du khách dựa vào nhằm đạt được những nhu cầu, mục đích rõ ràng và nói chungchung và cụ thể của mình ở địa điểm du lịch Phân loại một cách chung nhất, chúng gồm có cơ sở vật chất, chỗ ởnơi lưu trú, việc chuyên chở và điểm du lịch hấp dẫn) Mặc dù việc phân tích sâu về những nhân thành tố trên nằm ngoài phạm vi của cuốn sách này, nhưng cần nói thêm về tầm quan trọng của những nơi thu hút khách du lịch với tư cách là nhân tốthành tố căn bản của hoạt động du lịchsự trải nghiệm của du khách Theo Goeld và các cộng sự (2000) thì những nhân tốthành
tố này có thể được chia thành Văn hóa (bảo tàng, địa điểm lịch sử…) Thiên nhiên (vườn quốc gia, thực vật, động vật…) Sự kiện (lễ hội, sự kiện tôn giáo…) Thư giãn (chơi golf, đi bộ…) Giải trí (rạp chiếu phim, công viên giải tríchủ đề…) Các nghiên cứu về du lịch trước đây thường dựa vào sự am hiểu về các điểm hấp dẫn du lịch và ảnh hưởng của chúng
Trang 11tới du khách thế nào nhiều hơn những thành tố khác trong ngành này Gunn cho là những điểm du lịch chỉ ra những lý do quan trọng nhất cho việc du lịch tới các nơi đó (1972:24)
MacCannell miêu tả những điểm thu hút khách du lịchdu lịch hấp dẫn như là những mối quan hệ thực tế trên kinh nghiệmlâu bền giữa khách du lịch, địa điểm và người tạo ra (1989:41) Khách du lịch đại diện cho thành tố con người, địa điểm du lịch bao gồm nơi đến thật sự hay thực thể tồn tại và người tạo ra thể hiện sự hình thành thông tin, mà khách
du lịch sử dụng để định ra và mang lại ý nghĩa cho điểm du lịch đó Tuy nhiên, Lew (1987)
có một quan điểm hoàn toàn khác, ông cho rằng trong những hoàn cảnh của khách du lịch- địa điểm-người tạo ra thì bất cứ điều gì cũng có thể trở thành một điểm thu hút khách du lịch bao gồm các dịch vụ và cơ sở vật chất Lew đã nhấn mạnh những đặc điểm chủ quan cũng như khách quan của các điểm thu hút khách du lịch và cho rằng những nhà nghiên cứu nên chú tâm vào 3 mảng chính của một nơi du lịch:
Tính đặc trưng: nêu lên đặc tính duy nhất cụ thểvốn có của một địa điểm Những địa điểm này được nhận ra bằng tên và thường có liên quan tới những vùng nhỏ Đây là hình thái thường xuyên nhất của điểm du lịch được nghiên cứu trong nghiên cứu du lịch
Tính tổ chức: trọng tâm không nhằm vào bản thân của các điểm du lịch mà tập
trung vào sức chứa đựng của không gian và bản chất của thời gian Mức tiếp diễn phụ thuộc vào kích cỡ của vùng mà điểm du lịch sở hữu
Tính nhận thức: một nơi có thể thúc đẩy cảm giác được là khách du lịch Điểm du lịchĐiểm hấp dẫn là những nơi gợi cảm giác có liên quan tới những thuật ngữ đưa
ra bởi Relph (1976) “người trong cuộc” và “ người ngoài cuộc” và tính xác thực của những khoảng trước và sau của MacCannell (1989)
Leiper (1990:381) đã góp thêm vào cuộc bàn luận bằng cách tiếp nhận kiểu mẫu của MacCannel thành một định nghĩa mang tính hệ thống Ông viết rằng:
Trang 12Điểm thu hút khách du lịch là sự sắp xếp một cách có hệ thống của 3 thành tố: con người với nhu cầu du lịch, một điểm trung tâm (mang đặc điểm của một nơi du khách đến thăm)
và ít nhất có đ iểmỉêm chỉ thị (thông tin về đỉêm điểm trung tâm đó).
Cách tiếp cận này của Leiper cũng được phản ánh qua những nỗ lực của Gunn (1972); người đã viết rất cụ thể về tầm quan trọng của các điểm du lịch trong nghiên cứu về du lịch Gunn đã đưa ra kiểu mẫu về nơi thu hút khách du lịch bao gồm 3 vùng: (1) những vùng trung tâm, (2) đai không bị xâm phạm, là khoảng không gian cần thiết xung quanh các khu vực trung tâm trong bối cảnh cụ thể và (3) vùng được khám phá, bao gồm cơ sở hạ tầng thiết yếu dành cho hoạt động du lịch như khu vệ sinh và thông tin Gunn lập luận rằng một nơi thu hút khách du lịch mà thiếu một trong 3 vùng trên thì sẽ không đầy đủ và khó quản lý
Một vài tác giả, gồm có Pearce (1982), Gunn (1988) và Leiper (1990) đă đưa ra kết luận rằng những điểm du lịchyếu tố tạo điểm hấp dẫn nằm có ở các thứ bậc khác nhau, từ những thứ cụ thể và nhỏ trong một địa điểm cho tới toàn bộ cácnối liền các nước và các lục địa Tính chất hay biến đổi về mức độ này khiến những phân tích về nơi thu hút du lịch cả
về địa điểm và vùng miền trở nên phức tạp Vì vậy, có sự tồn tại hàng loạt về cấu trúc bên trong và ngoài của điểm du lịch trong những vùng khác nhau và giữa các vùng với nhau và quan điểm về những kiểu khách du lịch khác nhau khi đến các nơi này Về mặt không gian cùng với sự ảnh hưởng của thời gian, số lượng và loại hình các nơi thu hút du lịch được khách du lịch hay những nhóm khách du lịch tới thăm có thể tạo nên một địa điểm thích hợp Những hình thái cụ thể khác sẽ chiếm giữ một địa điểm du lịch nhất địnhloại khách có vai trò khác nhau sẽ có những vị trí khác nhau ở điểm đến du lịch Thông qua phân tích về thời gian, không gian và những nhân tố khác thuộc về hành vi, khách du lịch có thể phù hợp được phân loại dựa trên trong hệ thống các kiểu hình dựa trên khả năng tận dụng và chuyển dịch của họ giữa các điểm du lịch họ lựa chọn Một người khác có thể đưa ra giả định rằng những nhóm khách du lịch khác nhau dựa trên nền tảng của loại hình du lịch họ chọn và khoảng thời gian họ ở những nơi đó (Fenell, 1996) Những ẩn ýhàm ý này trong ngành du lịch đưa ra một hình thức những trải nghiệm của khách du lịch ở những mảng khác nhau của một vùng Gỉa Ví dụ như trong một vùng du lịch cụ thể có thể nhận ra tầm
Trang 13quan trọng của việc cung cấp sự hòa trộn những cơ hội du lịch có tínhtổng hợp,có được từ những trải nghiệm rất cụ thể và đến những sở thích chung của khách du lịch khi tìm kiếm những trải nghiệm về văn hóa và thiên nhiên ở những môi trường như thành thị, nông thôn
và vùng ít ngườihẻo lánh (những vùng đệm được định nghĩa ở trang 34)
Những điểm thu hút khách du lịch cũng được đề cập ở những công trình nghiên cứu trước đây cũ như những thực thể tĩnh và động của hình thái văn hóa và thiên nhiên (Gunn 1988) Trong hình thái thiên nhiên của chúng, những nơi thu hút khách du lịch hình thành nên nền tảng cho những loại hình du lịch đặc trưng, dựa chủ yếu trên những khía cạnh của thế giới
tự nhiên dễ nhận thấy nhất như du lịch hoang dã (tham khảo Reynolds và Braithwaite 2001) và du lịch sinh thái (tham khảo Page và Dowing 2002) Gỉa Ví dụ như, đối với những người tìm hiểu về các loài chim bằng quan sát thì những loài đơn lẻ là loài có sức quyến rũ một cách cụ thể và và được săn lùng nhiều nhất Một trường hợp thực tế là sự trở lại mang tính chu kỳ hàng năm của loài hải âu lớn sống đơn lẻ ở khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia Hermaness ở Unst, Shetland, Scotland Việc hiện diện của loài này đã thu hút những khách du lịch thích được tìm hiểu loài chim qua quan sát lập tức thay đổi kết hoạch của họ và hướng tới Hermaness Loài hải âu lớn đã trở thành điểm nhấn hấp dẫn những du khách thích quan sát chim, và Hermaness, trong một bối cảnh rộng hơn, hoạt động như là một cầu nối (trung tâm hấp dẫn) để giới thiệu sự hấp dẫn (loài chim) tới du khách Sức hút
về thiên nhiên có thể biến đổi theo thời gian và không gian và thời gian có thể đo lường bằng các hình thái cụ thể như giây, phút, giờ, ngày, tuần, tháng, và năm Đối với khách du lịch đi du lịch với mục đích chính là trải nghiệm những sự biến đổi của các điểm hấp dẫn,
sự di chuyển của họ là nguồn của sự thách thức và sự thất bại
Du lịch đại chúng và các hình thức thay thế: các màu sắc cạnh tranhNhững
mô hình cạnh tranh
Du lịch là một ngành được nhiều người tán thành nhưng cũng không ít người phản đối vì
Trang 14vựccủa lĩnh vực nàysang một hình thức khác Thủa xưaỞ vế thứ nhất, du lịch được xem nhìn nhận như một động lực cho sự phát triển lâu dài, sau nàyở vế sau sự nhiễum loạn sinh thái và xã hội tại một số khu vực bị biến đổi đã làm thay đổi các vùng miềntrở nên tràn ngập.Trong khi hầu hết những tài liệu trước đõycó được về những đã nêu ra những ảnh hưởng xấu tiêu cực đến của du lịch là từ các nước đang phát triển, thìtrên con đường phát triển của thế giới, thì một thế giới đã các nước phát triển không thể bỏ qua đượccũng không là ngoại lệ Young (1993), thí dụ, là tư liệu về sự chuyển đổi một trại nuôi cá nhỏ ở Malta bằng các minh hoạ sinh động tới một mức mà du lịch phát triển, thông qua đó sự phát triển của hệ thống phương tiện giao thông, sự phát triển của những khu nghỉ đại chúng, và nhận thức của con người, tất cả khu vực nàycũng đều biến đổi theo thời gian.
Ngày nay, chúng ta dễ dàngthiên về việc làm giảm giá trị của du lịch quần đại chúng, coi
nó như một con quái quỏi vật, một thứ thật khác lạ với rất íớt những đền bùự về mặt chất
lượng cho điểm đến tham quan, người dân bản địa và những nguồn tài nguyên thiênự
nhiên Do đó, du lịch quần chúngdu lịch đại chúng bị phê phán bởi sự thật rằng nó có ảnh hưởng lớn đến ngành du lịch trong lĩnh vực thuộc về những phương hướng phát triển
không phải của vì người dân địa phương, và sự thật là chúng ta việc đầu tư một khoản tiền rất nhỏ vào các điểm tham quan du lịch đó mà lẽ ra là , nơi lưu giữ và sẽ làm tthu về ăng khoảnnguồn thu nhập cho chúng ta Khách sạn và những khu nghỉ dưỡng sang trọng là những nơi tiêu biểu cho sự ảnh hưởng của du lịch quần chúngdu lịch đại chúng đến du lịch nói chung, nơi mà thường được lập nên bằng việc sử dụng những sản phẩm không thuộc của địa phương, áp dụngcó những đòi hỏi tối thiểu về việc một phần những luật lệ của việc sản xuất thức ăn địa phương, và hơn thế nữa đáp ứng được thị hiếu của người dân thủ đôđược sở hữu bằng sở thích của các ông chủ giàu có Việc quảng bá khách sạn dựa trên
cơ sở của số lượng lớn, thu hút sốcàng đông du khách càng tốt đông khách, đặc biệt vào mùa vụ Ngụ ý của mùa vụ là tất cả người dân địa phương vào thời điểm đó sẽ làm việc trong các vị trí được trả công mà dựa vào đơn thuần chỉ là số lượng khách đến thăm quan
Sự phát triển đó tồn tại như một điều kiện mà tập trung chủ yếu vào con người trong một mật độ dày đặc, là sự chuyển đổi của người dân địa phương từ lối sống tự cấp, từ túc
truyền thống (như được chỉ ra bởi Young, 1983) phụ thuộc tới một lối sống khác, lối sống phụ thuộc Cuối cùng, sự hấp dẫn mà được chấp nhận trong và xung quanh sự phát triển
Trang 15mạnh phổ biến (đại chúng) được sáng tạo và chuyển đổi để có thể đáp ứng được những nhu cầu của khách Sự chú trọng vào Tthương mại hoá các nguồn tự nhiên và văn hoá là rất quan trọng và và kết quả là xuất hiện một lối sống giả tạosự tuyên bố ra một thiết kế và,
ví dụ như một sự đề tài về văn hoáchủ điểm văn hóa hoặc một sự kiện, bị làm mất đi hình ảnh đẹp về một quá khứ xa xăm
Phải thừa nhận rằng, hình ảnh của du lịch quần chúngdu lịch đại chúng được vẽ ra ở trên là những đường nét minh hoạ cho nhận định là nền công nghiệp du lịch không phải lúc nào cũng kết hợp những mong muốn sở thích của nguời dân địa phương với nguồn tài nguyên
dựatrên cơ sở là con ngườimong muốn Đó là đĐiểm nối rõ ràng nhất thông qua rất nhiều những nghiên cứu về du lịch mà nổi bật vào những năm 1980, thảo luận về cái mới, đan xen xã hội hóa và sinh thái hóa tốt hơn thay thế đến sựcho sự phát triển du lịch quần chúngdu lịch đại chúng Theo như Krippendorf (1982), một nhà triết học triết lý ẩn chứa
đằng sau của du lịch thay thế, một dạng của du lịch, loại hình mà có chủ trương đối lập với loại hình du lịch quần chúngdu lịch đại chúng, chắc rằng những điều lệ trong là để bảo đảm rằng các chính sách du lịch không chỉ đơn thuần tập trung vào kinh tế và những yếu
tố kỹ thuật sự cần thiết theo quy tắc, nhưng mà hơn thế nữa phải chú trọngtập trung vào nhu cầu của thị trường về môi trường ở những điểm chưa bị khai thác và coi trọng nhu cầu
và của người dân địa phương Thuật ngữCách tiếp cận “mềm hơn” này thay thế cho nhữngchú trọng đặt nguồn tự nhiên và văn hoá nằm ở vị trí hàng đầu trong quy hoạch và phát triển, thay cho chú trọng khi đã quá muộn hàng đầu của dự án và phát triển Cũng như vậy, như một chức năng vốn có, loại hình du lịch thay thế mang lại nhiều nguồn lợi cho đất nước để loại ra những ảnh hưởng xấu bên ngoài, để tự đánh giáphê chuẩn bản thân các dự
án và thúc đẩy sự phát triển, thực chất, để phát triển mạnh hơn quyết định những vấn đề liên quan hơn là thừa nhận những con người không liên quan và nơi làm việc của họgiành lại quyền quyết định những vấn đề mấu chốt hơn là nhường sự quyết định cho các tổ chức
và cá nhân bên ngoài
AT Du lịch thay thế (Alternative tourism) là một thuật ngữ chung chỉ bao gồm toàn bộ
những thuật ngữ liên quan tới chiến lược những chiến lược phát triển du lịch (ví dụ: cá
Trang 16xanh, qui mô nhỏ,nhà tranh, và du lịch xanh nhà dân) Tất cả thuật ngữ trên hàm ý đưa ra môt sự lựa chọn thay thế trên là nội dung tạo cơ hội lựa chọn đối vớicho du lịch đại chúng
truyền thống quần chúngtại mỗi loại điểm du lịch nhất định trong những loại điểm tham quan (Báo cáo hội nghị 1990, trích dẫn trong Weaver 1991), Dernoi (1981) giải thíchdiễn giảinăm 5 thuận lợi của AT như sau:
1 Có những những điểm lợi ích cho cá nhân hoặc gia đình: nơi ở sẽ ở trong nhà dân,
sẽ chuyển doanh thu trực tiếp tới gia đình đólưu trú dựa trên cơ sở là nhà dân sẽ giúp doanh thu trực tiếp chuyển tới gia đình Những gia đình này cũng sẽ có những phương pháp quản lí riờngVà gia đình cũng đòi hỏi phải có những kỹ năng quản lý
2 Toàn thể nhân dân ở Cộng đồng địa phương cũng sẽ có lợiđược hưởng lợi: AT sẽ sinh ra những khoản doanh thu trực tiếp cho từng thành viên trong toàn thể nhân dâncác thành viên của cộng đồng địa phương, hơn nữa, việc tu sửanâng cấp lại nơi
ở thường xuyên giúp , giảm thiểu được các chi phí lớn cho các giảm chi phí thiết bịcơ sở hạ tầng công cộng
3 Đối với đất nước được đến thăm, AT sẽ làm giảm những kẽ hởgiúp làm giảm sự
“rò rỉ” của doanh thu từ du lịch ra ngoài đất nướcứơc AT cũng làm tránh sự những
căng thẳng xã hội và bảo tồn nền văn hoá truyền thốngnhững giá trị truyền thống địa phương
4 Với những nước công nghiệp hoá, AT là một loại hình du lịch rất lí tưởng với những người khách du lịch muốn có mối quan hệ gần gũi với người dân địa phương
5 Có những điểm lợi cho mối quan hệ quốc tế: AT đẳy mạnh sự hiểu biết lẫn nhau giữa liên khu và văn hoá lai căngthúc đẩy mối quan hệ quốc tế-liên khu vực và sự giao lưu, hiểu biết văn hóa
Cụ thể hơn, Waver (1993) đã phân tích tiềm lựclợi ích tiềm năng phát triển của một thiết
kế AT từ luật cách tiếp cận xa gần về nơi lưu trúchỗ ở, điểm hấp dẫn khách, thị trường, ảnh hưởng của kinh tế, và những điều lệ (bảng 1.1) Cách tiếp cận nhạy cảm này về Ssự phát triển du lịch cố gắng làm hài lòngthỏa mãn nhu cầu của người dân địa phương, khách
Trang 17du lịch, và tăng nnguồn tài nguyên bổ sung hơn là cách tiếp cận cạnh tranh về cư xử, hành động.
Tuy nhiên, vài nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, như một phần sự lựa chọn của du lịch quần chúngdu lịch đại chúng, du lịch lựa chọn dù có hoàn thiện đến đâu cũng không thể thay thế loại hình du lịch theo lối cổ truyền thống, dù đơn giản bởi tính đa dạng và đa chiều của du lịch đại chúng luôn đi kèm với cácvì du lịch quần chúng luôn biến đổi theo hiện tượng (Cohen, 1987) Thay vào đó, sẽ là hiện thực hơn nếu tập trung sự cố gắng vào sửa đổi những tình huống xuất nhất nổi lên loại hình này cũng rất hiện thực để tập trung sự cố gắng nếu trong trường hợp xấu nhất, chứ không phải sự phát triển của những du lịch sự lựa chọn Bulter (1990) cho rằng du lịch quần chúngdu lịch đại chúng không bị hoàn toàn loại
bỏ được hoàn toàn chấp nhận do hai nguyên nhân
Nguyên nhân đầu tiên đó là kinh tế, trong nền kinh tế nó giúp cung cấp một lượng đáng kể ngoại tệ đáng kể hàng hoá nước ngoài cho đất các nước Nguyên nhân thứ hai là tâm lí xã hội và nó liên quan tới , một sự thật là,yếu tố là
Rất nnhiều người dường như muốn thú vị với việc trở thành một khách du lịch đại chúng Họ thực sự thích không phải tự sắp xếp điểm chương trình du lịch cho mình, không phải tìm nơi ởcơ sở lưu trú khi họ đến nơi tham quanđiểm du lịch, có thể dùng hàng hoá và dịch vụ mà không cần biết đến ngoại ngữ, có thể ở với một lí do chính đánglưu trú với cơ sở phù hợp, trong vài nơi thoải máithậm chí là tương đối cao cấp trong một vài trường hợp, có thể được ăn những món ăn quen thuộc, và không phải tiêu tốn một khoản tiền khổng lồ hoặc thời gian để có được những niềm vui thú
Bảng 1.1: Những điểm lợilợi ích tiềm năng có từ chiến lược du lịch lựa chọn
Nơi ở:
- Không phải ở đông đúcKhông xuất hiện tràn ngập ở các địa phương
- Những điểm lợi (công việc,sự tiêu dùng) thậm chí được phân bổ công bằng
- íIt sự cạnh tranh giữa nhà ở và kinh doanh cho việc sử dụng các thiết bị
Trang 18- Cơ hội tốt cho những doanh nhân địa phương tham gia vào trong lĩnh vực du lịch
- Người dân có thể đạt được lợi nhuận từ sự khó khăntồn tại của các điểm hấp dẫn
thậm chí nếu khách du lịch không có thậtcả khi du khách không đến thăm
Thị trường
- Du khách không đông đúc,Khách du lịch không nhiều hơn cư dân địa phương về mặt số lượng do đó tránh được stresssức ép
- Hạn hán và những trận lụt lội được tránh, sự cân bằng ngày càng phát triển
- Tăng thêm sự mong muốn của khách du lịchkhách du lịch mong muốn
- Giảm thiểu sự tổn thương và sự sự phá vỡ trong một thị trường thông thườngchủ yếu đơn lẻ
Ảnh hưởng đến kinh tế
- Sự đa dạng kinh tế được thúc đẩy phát triển để tránh khu vựcsự lệ thuộc vào một lĩnh vực kinh tế đơn lẻ
- Những khu lĩnh vực lại có nhữngcó liên hệ và nhân tố ảnh hưởng lẫn nhau
- Tổng doanh thu tương ứng cao hơn, tiền được lưu hành rộng rãi trong cộng đồng
- Nhiều công việc và hoạt động kinh tế phát triển
Điều lệ
- Toàn thể cCộng đồng đưa ra các quyết định thúc đẩy sự phát triển các quyết định
và chiến lượcchiến lược và chính sách phát triển chủ yếu
- Có Kkế hoạch để phù hợp với khả năng về sinh thái, xã hội và kinh tếđáp ứng các khả năng tải về kinh tế, xã hội và sinh thái
Trang 19- Sự tiếp cận chính thểchính thống nhấn mạnh vào thể thống nhất và lợi ích cộng đồng dài lâu
- Phương pháp tiếp cận lâu dài chú ý đến sự phồn thịnh của những thế hệ mai sau
- Toàn bộ tài sản cơ bản được bảo đảm
- Khả năng đảo ngược được giảm thiểu
Sự phát triển bền vững và du lịch
Việc xác định sự phát triển (thí dụ: những tiến bộ về kinh tế xã hội trong giai đoạn phát triển kinh tế của một quốc gia) thường được quy ước thông qua một số chỉ tiêu kinh tế quan trọng Trong số các chỉ tiêu, bên cạnh những chỉ tiêu khác bao gồm các chỉ tiêu có thể thay đổi như lượng protein thu nạp, điều kiện tiếp cậnân với nước sạch, chất lượng không khí, nhiên liệu, chăm sóc y tế, giáo dục, nghề nghiệp, GDP và GNP Do đó cái gọi là một thế giới phát triển (bao gồm các nước như: Úc, Mĩ, Canada và các nước Tây Âu)
khôộng ngoài sự xác lập của những điều kiện kinh tế xã hội này, nhờ đó những nước có điều kiện tốt hơn được xem là phát triển ở mức cao hơn (chương 8 lý thuyết phát triển) Hơn nữa, mức độ phát triển của một đất nước cho dù nhìn nhận khách quan hay chủ quan đều được xem ngang hàng với giai đoạn nhận thức về “sự văn minh”, trên cơ sở đó sự tiến
bộ (thường là về kinh tế) là chìa khoá mở ra mối liên hệ giữa những người văn minh và những người khác Từ điển tiếng Anh Oxford định nghĩa sự văn minh là giai đoạn đi lêntân tiến của lịch sử xã hội phát triển và khai hoá là thoát khỏi đời sống mọi rợ, là khai sáng Trong khi đó nhận thức của chúng ta về cái gì đã phát triển cái gì chưa, cái gì là văn minh cái gì chưa còn là một vấn đề tranh cãi, thêm vào đó một vài cách tiếp cận của chúng ta trong thời gian gần đây về sự phát triển vẫn cần đượựoc lưu tâm nhiều hơn Một thí dụ được đưa ra là có đến 80 % tài nguyên của thế giới bị khai thác và phục vụ cho mục đích phát triển chỉ bởi 20% dân số ở các nước phát triển (chủ yếu ở phương Tây) Nếu như mục tiêu của chúng ta là phát triển thế giới theo đúng như khuôn mẫu của phương Tây thì điều
đó cũng có nghĩa là hành tinh của chúng ta đang bị đe doạ nghiêm trọng Có lẽ trong 100 hay 200 năm nữa Homosaphiens (loài người) sẽ nhìn lại nền văn minh phương Tây và coi
đó như thời kì khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại
Trang 20Deming (1996) đưa ra ý kiến rằng, nhân loại cần có một cái nhìn sâu xa hơn về văn minh Tác giả đồng thời cũng chỉ ra rằng con người ta luôn trong một cơn đói không bao giờ được thoả mãn là biết được càng nhiều về hành tinh này và tiếp cận gần hơn nữa với vẻ đẹp tự nhiên của nó Trong du lịch chính các du khách đã tạo ra ranh giới giữa những người đồng thuận và chưa đồng thuận trong sự tác động vào môi trường hoang dã Đơn cử như việc hàng năm vào mùa chim di cư có hang ngàn người săn chim tập trung tại vườn quốc gia Point Pelee tại Ontario, Canada làm xáo trôn đời sống của các loài động vật Bỏ qua những lời cảnh báo khách du lịch vẫn tiếp tục mạo hiểm săn ảnh các loài động vật theo cách riêng của họ Deming đặt ra câu hỏi “Vậy thì các gì gọi là văn minh khi trái đất đang nóng lên, môi trường sống suy giảm và tuyệt chủng xảy ra trên quy mô rộng?” Đồng thời
đó cũng là một lời lí giải cho những hạn chế về cả về mặt sinh thái và xã hội:
Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, Pogo đã chỉ ra rằng “Kẻ thù không phải ai khác chính là chúng ta” Chúng ta vừa là những kẻ xâm chiếm man rợ vừa là những kẻ duy nhất mang vai trò người bảo vệ Chúng ta đang tồn tại giữa một thế giới văn minh đồng thời cũng đang đứng trên chính ranh giới của nó.
(Deming, 1996: 32)
Milgrath (1989) lại nói về các tiêu chuẩn coi đó như là những quy tắc cơ bản cho mọi thứ chúng ta làm (xem thêm Forman 1990) Ông ta cho rằng loài người đóng vai trò trung tâm trong việc bảo vệ chính cuộc sống của mình.Một cách tự nhiên điều này mở ra mối quan tâm cho những người khác và trở thành tiêu chuẩn mang tính xã hội Milgrath cũng kiến nghị rằng nâng cao vai trò trong việc bảo vệ cuộc sống của mỗi người để cho nó trở thành một mối quan tâm chung là không thích hợp bởi mọi người đều chết đi và việc duy trì trên quy mô toàn xã hội có thể không bao giờ được hiểu thấu đáo Thay vì điều đó chúng ta nên đặt việc bảo vệ hệ sinh thái trên phạm vi toàn xã hội, vượt khỏi những giá trị hướng tới xã hội Milgrath cũng nói thêm rằng loài người đã dành những ưu ái tốt nhất cho phát triển kinh tế và kết quả là ngay chính xã hội của chúng ta cũng khó duy trì trong khoảng thời gian lâu dài
Trang 21Sự tập trung vào các tiêu chuẩn làm công cụ đưa chúng ta ra khỏi viễn cảnh rằng, không thực thể, không người nào xuất hiện gía trị trong bản thân nó và tồn tại dưới quyền của chính nó Triển vọng mang tính quy luật của thiên nhiên này là nội tại (Wearing, Neil 1999).
Sự phát triển bền vững được xem như một phương cách mang lợi ích khi tạo ra sự thúc đẩy cho sự thay đổi về cấu trúc trong xã hội, một mặt mạo hiểm thoát khỏi sự tập trung nghiêm ngặt về kinh tế xã hội tới chỗ sự phát triển đạt được những mục tiêu hiện thời mà không làm mất đi cơ hội cho thế hệ tương lai (Cam kết thế giới về môi trường và phát triển 1987:43) Những nguyên tắc về sinh thái rất hệ trọng với quá trình phát triển kinh tế (Redclift 1987); với mục đích nâng cao đời sống vật chất cho những người sống ở mức nghèo khổ trên thế giới Thậm chí hi vọng về sự phát triển kinh tế sẽ nâng cao các giágía
trị tinh thần cho con người cũng được hướng tới, một cách tự nhiên vượt ra khỏi các lĩnh vực của kinh tế vốn đã rất quan trọng cho sự tồn tại của chúng ta Tầm quan trọng của du lịch trong việc thúc đẩy kinh tế và các tiềm năng của chính nó cho thấy sự cần thiết cho sự phát triển bền vững Trên cơ sở đó hình thành khá nhiều tài liệu liên quan trực tiếp đến tính bền vững của du lịch tuy nhiên được định nghĩa rộng hơn
Một trong những chiến lược hành động về du lịch và sự phát triển bền vững đã xuất hiện trong Hội nghị 90 tại British Colombia, Canada
Tại đây những người đại diện cho chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, những nhà hoạt động du lịch, các nhà nghiên cứu chuyên sâu đã thảo luận về tầm quan trọng của môi trường trong du lịch và sự phát triển không hoạch định kém đã ăn mòn môi trường tự nhiên
và của con người như thế nào Các đạị biểu trong hội nghị cũng đã vạch ra mục tiêu của phát triển du lịch bền vững là:
1 Nâng cao nhận thức và hiểu biết về những đóng góp của du lịch đối với môi trường
và kinh tế
2 Thúc Đđẩy mạnh sự công bằng và phát triển cân bằng
Trang 224 Cung cấp tốt hơn cho khách du lịch các hiểu biết và kiến thức
5 Đảm bảo những điều kiện tốt nhất về môi trường cho những mục tiêu đã đề cập ở trên
Mặc dù những định nghĩa này về phát triển du lịch bền vững vẫn phần nào còn hơi xa
vờivơì (khi vừa thoả mãn nhu cầu của du khách và các ban ngành liên quankhu vực ở thời điểm hiện tại lại vừa bảo đảm và duy trì cho cơ hội sự phát triển trong tương lai) vẫn có khá nhiều kiến nghị được đóng góp cho chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, những người làm du lịch, du khách và các tổ chức quốc tế Thí dụ như mảng chính sách đã có tới 15 kiến nghị về việc làm thế nào thúc đẩy sự phát triển của
du lịch, thêm vào đó là một loạt những gợi ý cho các vùng miền trong từng khoảng thời gian và không gian nhất định Một trong những kiến nghị đã đề cập rằng “du lịch bền vững đòi hỏi phải đưa ra đến việc cần những hướng dẫn cụ thể về mức độ và loại hình phát triển nhưng không loại bỏ những điều kiện thuận lợi và kinh nghiệm” (Globe 1990: 6)
Từ những triển vọng về sự phát triển thịnh vượng đã xuất hiện một lí do căn bản cho tính bền vững như McCool (1995:3) đã xác nhận: “một khi các cộng đồng làm mất đi những nét đặc trưng hấp dẫn khách du lịch họ sẽ tự làm mất đi khả năng cạnh tranh nguồn thu từ khách du lịch trong bối cảnh thị trường cạnh tranh và phát triển ở mức toàn cầu McCool cũng trích dẫn lời của Fallon cho rằng sự bền vững bao gồm cả việc đạt được mục tiêu và xem xét cả về quá trình đạt được mục tiêu Đó không còn chỉ là việc đánh giá sự phát triển
về yếu tố vật chất hay kinh tế, nó yêu cầu một sự xem xét về trật tự xã hội và công bằng (Hall 1992, Vary 1992) ) McCool cho rằng, Ddo đó để đạt được thành công trong phát triển du lịch bền vững mọi ngườichúng ta cần xem xét các yếu tố sau đây:
1 Khách du lịch đánh giá và sử dụng tham gia vào môi truờng tự nhiên như thế nào
2 Du lịch đã nâng cao vị thế các vùng miền như thế nào
3 Nhận thức về các tác động sinh thái và xã hội của du lịch
4 Việc quản lí những tác động này
Trang 23Theo đó một sốnhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức hợp tác đã bắt đầu xác định và theo dõi những tác động này Như đã nói ở trên, Globe’ 90 là một trong những lực lượng tiên phong nối liền du lịch và sự phát triển bền vững, Đđược tiếp nối bởitrong Globe’ 92 (Hawkes, Willliams 1993) với việc đưa vào thực hiện các nguyên tắc theo dõi sự phát triển bền vững trong du lịch Thậm chí Hội nghị còn đi đến kết luận cho rằng có một lượng lớn công việc cần làm để đưa những nguyên tắc du lịch bền vững vào thực tế Điều này cũng đựợc Roy nhấn mạnh (Sadler: ix)
Du lịch bền vững là sự mở rộng trong khuynh hướng mới về phát triển bền vững nhưng cả hai vẫn chỉ là khái niệm Tôi chưa tìm ra được sự xuất hiện của cả hai tại Ấn
Độ, địa điểm du lịch gần nhất là Bhutan, với một sự kiểm soát du khách khắt khe (2000 người / năm) để bảo tồn những nét đặc trưng độc đáo về văn hoá xã hội môi trường Thậm chí ở đó , thám hiểm ở những nơi rất cao chúng ta vẫn có thể tìm thấy “rác thải” của nền văn minh nhân loại.
Mặc dù đã có một vài ví dụ trong các tài liệu về du lịch và phát triển bền vững (Nelson chủ biên 1993) có rất ít các dự án du lịch bền vững đã tồn tại được qua thời gian Dự án phát triển du lịch bền vững ở Bali hợp tác với trường đại học Wateralloo, Canada và đại học Gadjahmada, Indonesia (Wwall 1993, Mitchel 1994) đã bước đầu được ghi lại
và ứng dụng vào các ngành khác cho nên du lịch đã trở thành một ngành chi phối đời sống kinh tế của người dân Bali Wall (1999) sau khi nghiên cứu dự án này đã đưa ra một số kết luận:
1 Chú ý đến các yếu tố văn hoá nhạy cảm trong việc phát triển các chiến lược
cho du lịch bền vững
2 Làm việc trong một khung định sẵn tránh tạo ra những cái quá mới lạ
3 Các hoạch định đa ngành là cần thiết với chiến lược phát triển bền vững và
đưa ra các biện pháp cho phép các bên liên quan tham gia vào việc đưa ra quyết định (xem thêm tài liệu của Cooper- 1995 về các hòn đảo ngoài khơi
ở AnhMĩ và tài liệu do Aglward chủ biên về Sự bền vững của Khuviệc
bbảo tồn rừng mây Monteverde-1996 ở Costa Rica do Aglward chủ
Trang 24Bảng 1.2 Những dấu hiệu trọng yếu của du lịch bền vững
Bảo tồn thiên nhiên
Phân loại bảo tồn thiên nhiên dựa trên tiêu chí của
Hhiệp hội Bbảo tồn Tthiên nhiên Qquốc tế ( IUCN)Sức ép du lịch Số lượng khách đến thăm (từng năm/ tháng cao điểm)Cường độ khai thác Cường độ khai thác trong thời kỳ cao điểm (người/ha)Tác động xã hội Tỉ số lệ du khách với người dân địa phương ( thời kì
cao điểm và ngày thường)
Kiểm soát sự phát triển
Quá trình phân tích môi trường hoặc những điều chỉnh cho sự phát triển vùng du lịch và mật độ khai thác
Quản lý rác thải
Tỉ lệ rác thải trong quá trình khai thác du lịch tạo ra (những dấu hiệu bổ sung có thể bao gồm những hạn chế
khác về mặt cấu trúc các vùng du lịch khácsức chứa của
cơ sở hạ tầng của điểm du lịch , ví dụ như nguồn cung cấp nước)
Quá trình hoạch định Kế hoạch tổ chức của vùng du lịch (bao gồm các thành
phần du lịch)
Hệ sinh thái cấp tính Số lượng những loài quí hiếm hoặc có nguy cơ tuyệt
chủng
Sự hài lòng của du khách Mức độ hài lòng của du khách (theo kết quả điều tra)
Sự hài lòng của người dân
địa phương
Mức độ hài lòng của người dân địa phương (theo kết quả điều tra)
Đóng góp của ngành du lịch
đối với kinh tế địa phương
Những hoạt động đem lại lợi nhuận cho nền kinh tế vùng du lịch
Trang 25Nguồn: Nghiên cứu và đánh giá của Canada (1995).
Costa Rica là một điển hình của du lịch bền vững
Sự gắn kết chặt chẽ trong việc sử dụng đất với ngành du lịch cũng đã được Butler nêu ra (1993: 221), ông nhận thấy sự gắn kết là “những hoạt động tại vùng du lịch diễn ra dựa trên sự đồng thuận cơ bản của các hoạt động khác và điều kiện bên trong nhằm tạo nên thành công cho sự phát triển bền vững và lâu dài” Butler cho rằng hỗ trợ, hoà hợp, cạnh tranh là các yếu tố phải được ưu tiên hàng đầu trong việc sử dụng đất trong đó; hỗ trợ làm tăng mức độ gắn kết và, cạnh tranh hình thành những nét riêng biệt cho các hoạt động sử dụng đất khác
Các hình tháimô hình khác có tính chất đơn ngành hơn ở cách tiếp cận tới điểm du lịch trong một khu vực du lịchnhằm mục đích thiết lập những địa điểm du lịch Những hình tháimô hình này có khả năngxu hướngxác nhận một phạm vi các dấu hiệu nhằm nhận biết cách tiếp cận bền vững hay không bền vững tới các điểm cấp phát du lịchđánh giá cấp độ của những dấu hiệu, trong đó sự bền vững hay không bền vững được coi như là sự chuyển giao trong du lịch Những dẫn chứng của Canova (1994) về hình thức mà làm thế nào để
du khách có thể phải chịu trách nhiệm đối với môi trường và dân cư địa phương; khái quát của Forsyth (1995) về du lịch bền vững và những điều luật (1995); cuốn sách do Moscardo chủ biên (1996) hướng vào những dạng sinh thái bền vững của cơ sở lưu trú vùng du lịch
(1996) ; những nghiên cứu và thống kê về hướng dẫn của Canada (1995) hướng dẫn về sự phát triển của những dấu hiệu du lịch bền vững ở các khu vực nghiêm ngặt và khu vực cụ thểvề sự thay đổi trong những dấu hiệu chủ yếu trong du lịch bền vững (xem thêm Manning 1996) Bảng 1.2 nêu ra những dấu hiệu đã được nói đến trong bài (như bảo tồn thiên nhiên, sức ép du lịch, cường độ khai thác, quản lý rác thải, ), theo đó chúng phải được áp dụng với những vùng du lịch cụ thể Báo cáo này chỉ rõ 2 nhóm dấu hiệu quan trọng gần đây là: (1) những dấu hiệu về hệ sinh thái bổ sung (áp dụng cho sinh vật học, đất, nước); (2) những dấu hiệu phù hợp cho từng vùng du lịch Bảng 1.3 đưa ra một cái nhìn tổng quan về những dấu hiệu của hệ sinh thái “phụ”
Trang 26Hệ sinh thái Những dấu hiệu
Vùng ven biển
-Sự xuống cấp (phần bãi biển bị xuống cấp, xói mòn)
-Mức độ khai thác (người/m của những bãi biển có thể tiếp cận được)
-Chất lượng nước (chất hữu cơ và tỉ lệ kim loại rắn đo được)
Vùng núi
-Sự xói mòn (phần diện tích bề mặt bị xói mòn)
-Đa dạng thực vật (tổng số các loài quí hiếm được tính)
-Thăm quan những vùng du lịch trọng điểm (thời gian chờ)
Khu vực quản lý thú hoang
dã
-Sức khoẻ loài (tái sản sinh thành công, đa dạng loài)
-Mức độ khai thác (tỉ lệ du khách với số lượng thú)
-Sự xâm lấn (ảnh hưởng của những hoạt động trái phép)
Khu sinh thái độc nhất
-Sự xuống cấâp trong hệ sinh thái (số lượng loài, phần diện tích thay đổi qua thời gian)
- Điểm nhấn vùng (số lượng tổ chức khai thác du lịch tại vùng đó)
- Lượng du khách đến thăm những loài quí hiếm (tỉ lệ thành công)
Môi trường đô thị
-An ninh (số lượng tội phạm)
-Lượng rác thải
-Ô nhiễm (ô nhiễm không khí)
Khu du lịch văn hoá (mới
xây)
- Sự xuống cấp (chi phí khôi phục, sửa chữa)
- Cấu trúc xuống cấp (lượng mưa axit, ô nhiễm không khí)
-An ninh (mức độ tội phạm)
Khu du lịch văn hoá
-Những tiềm ẩn về áp lực xã hội (tỉ số thu nhập bình quân của
du khách/dân địa phương)
-Mùa du lịch (số nhà đầu tư bất động sản trong năm)
-Tính đối kháng (quan hệ giữa dân địa phương và du khách)
Trang 27(truyền thống)
Đảo nhỏ
-Thâm hụt tiền tệ (thiếu hụt trong thu nhập từ du lịch)
-Quyền sở hữu (sở hữu nước ngoài trong phát triển du lịch)
-Nguồn nước (chi phí, duy trì nguồn cung cấp)
du lịch bền vững là:
Du lịch và liên kết cơ sở hạ tầng liên quan , ở cả hiện tại và tương lai :, hoạt động trong khả năng tái sinh tự nhiên và năng suất trong tương lai của những tài nguyên thiên nhiên; thừa nhận những đóng góp mà con người và cộng đồng, trang phục và cách sống tạo nên bởi hoạt động du lịch; chia sẻ lợi nhuận từ du lịch một cách công bằng; dựa trên những ước muốn của người dân và chính quyền bản địa.
(1) Khai thác nguồn tài nguyên.
Việc bảo tồn và khai thác dài hạnbền vững nguồn tài nguyên - tự nhiên, xã hội, văn hoá –
là thiết yếu cho việc đầu tư lâu dài
(2) Giảm sự tiêu dùng lãng phí và rác thải.
Việc giảm sự tiêu dung lãng phí và rác thải nhằm tránh được những chi phí phục hồi những
Trang 28(3) Duy trì tính đa dạng.
Duy trì và phát triển tính đa dạng trong tự nhiên, xã hội và văn hoá là cần thiết cho du lịch bền vững dài hạn, nhanh chóng cơ bản thích nghi với nền công nghiệpvà tạo ra khả năng phục hồi của ngành
(4) Du lịch và hoạch địnhlập kế hoạch.
Phát triển du lịch là sự hợp nhất giữa khung hoạch định chiến lược mang tính quốc gia và địa phương, và tiến hành đánh giá về tác động của môi trường, làm tăng tính bền vững trong du lịch
(5) Thúc đẩy kinh tế địa phương.
Du lịch làm tăng qui mô những hoạt động kinh tế của địa phương, đồng thời chú trọng vào
giá trịvấn đề môi trường, bảo vệ nền kinh tế và tránh những thiệt hại môi trường
(6) Thu hút Ccộng đồng địa phương.
Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong ngành du lịch không chỉ mang lại lợi ích cho chính bản thân họ và môi trường sống nói chung, mà còn nâng cao chất lượng cho ngành
du lịch
(7) Những bên liên quan và công chúng.
Sự hỗ trợ giữa du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và các viện nghiên cứu là cần thiết nếu hoạt động cùng nhau và giải quyết những mâu thuẫn tiềm tàng về mặt quyền lợi
Trang 29Quảng bá là cung cấp cho du khách đầy đủ những thông tin xác thực và trách nhiệm nhằm , chú trọngtăng cường sự tôn trọng của du khách với vấn đề môi trường tự nhiên, xã hội của vùng du lịch và, nâng cao sự hài lòng của du khách.
(10) Thực hiện nghiên cứu.
Ngành công nghiệp cần sử dụng và phân tích một cách hiệu quả những dữ liệu, giải quyết những tồn tại và mang lại lợi ích cho vùng du lịch, ngành du lịch và khách hàng
Bảng 1.1 Những nguyên tắc cơ bản của du lịch bền vững
Nguồn: Vấn đề du lịchTourism Concern (1992)
Không được đánh giá nhưng “những luật lệ” được đưa ra nhằm mục đích thúc đẩy hoặc hỗ trợ cho từng quan điểm trên 10 quy tắc địnhg hướng hoàn chỉnh của vấn đề du lịchTourism Concern đã được nêu ra trong bảng 1.1
Hiệp hội công nghiệp d Du lịch Canada (1995) đã tham gia cuộc hội thảo bàn tròn quốc gia
về vấn đề môi trường và kinh tế, đưa ra một dự thảo bao gồm những cam kết và trách nhiệm bảo vệ môi trường thông qua việc hợp tác với các ban ngành, chính quyền các cấp Những định hướng dẫn của họ về du lịch bền vững trên được đưa ra cho du khách, ngành
du lịch, liên minh công nghiệpác ngành, nhà nghỉcơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống, nhà điều hành du lịch, và các bộ du lịch Những phần trên bao gồm hướng dẫn cụ thể về: chính sách
và hoạch định, trải nghiệm du lịch, cộng đồng bản địa, sự phát triển, những nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hoá, lịch sử, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, quảng bá, nghiên cứu và giáo dục, hiểu biết xã hội, hợp tác công nghiệpngành, và toàn cầu hoá
Liên đoàn tự nhiên và vườn quốc gia châu Âu cuối cùng đã đưa ra một ấn phẩm cuối cùng
nói về vấn đề này (1993) Cuốn sách đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về du lịch bền vững ở các khu vực tự nhiên và vườn quốc gia ở Châu Âu Nó cung cấp những sự hiểu biết
Trang 30giớinhững thách thức tiềm ẩn khi sự bền vững xuất hiện ở châu Âu Nhiều khu bảo tồn tại châu Âu được đặt tại các vùng nông thôn như Anh, xứ Wales, Lucxembua phải đối mặt với nhiều loại sức ép trong tương quan so sánh với các khu vực rộng và ít dân sinh sống quanh các khu bảo tồn củatừ những vùng dân cư đông đúc xung quanh ( Úc, Niudilân, Canada, Mĩ) Tuy nhiên, hiện nay châu Âu đã có rất nhiều vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển rộng lớn Trong cả 2 trường hợp (môi trường nông thôn và hoang dã) Nnhững nhà hoạch định chính sách và các ban ngành liên quan có trách nhiệm đưa du lịch bền vững vào các vùng khác nhau Theo thống kê của cácTài liệu của các vườn quốc gia châu Âu
nhận thấy rằng, người dân có khả năng nâng cao chất lượng đời sống, duy trì công việc, tăng thêm thu nhập, tham gia các hoạt động văn hoá, thúc đẩy sự hoà hợp giữa các nền văn hoá Những việc này có thể thực hiên được nếu chú trọng tới Vvấn đề giáo dục môi trường, cần được chú trọng hơn, các chính sách bảo vệ môi trường, bảo vệ những di sản thông qua những dự án trùng tu khôi phục và những sự giúp đỡ trực tiếp khác
Tuy nhiên du lịch bền vững cũng có những mặt trái của nó Hunter (1995) đưa ra nhận định rằng cách tiếp cận hiện tại phát triểnvề du lịch bền vững hiện nay là một sai lầmcó những điểm không hoàn thiện, vì nó bỏ qua những mâu thuẫn trong việc hoạch định và quản lý với hình mẫu phát triển bền vững Cụ thể, Ddu lịch không giải quyết một cách hợp
lí mâu thuẫn giữa vị trí địa lý và sự hợp tác giữa các vùng miềnngành, vấn đề tối quan trọng cho việc phát triển bền vững Macbeth (1994) cũng dẫn ra một thực tế rằng du lịch bền vững có xu hướng đối kháng hơn là tích tiên phongcực trong tự nhiên Macbeth cho rằng “nguồn gốc của tư bản chủ nghĩa chính là ví dụ điển hình cho xu hướng đối kháng hợp nhất vớiơi chủ nghĩa tư bản để duy trì tồn tại, chỉ chú trọng mở rộng hiện trạng khai thác hơn là thay đổi chúng.” Theo Macbeth, xu hướng này sẽ tiếp tục xuất hiện trừ khi chủ nghĩa tư bản hiện nay thay đổi
McKercher (1993a) nhận thấy du lịch có nguy cơ bị mất đi sự bền vững dựa vào 4 lí do Thứ nhất, du lịch không được công nhận là ngành công nghiệp dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiêncó sự độc lập về nguồn tài nguyên tự nhiên; thứ 2, công nghiệp du lịch là vô hình đặc biệt là những vùng đô thị; thứ 3, du lịch không có lợi thế cạnh tranh, nhận được ít
sự trợ giúp từ chính phủ; thứ 4, thiếu tính lãnh đạo cơ bản tạo nên điểm yếu cho những đối
Trang 31tượng khác cạnh tranh trong việc sử dụng đất McKercher trích dẫn về việc sử dụng nguồn tài nguyên ở phía bắc Ontario, vùng này đã bị chi phối chủ yếu bởi ngành công nghiệp khai khoáng mở (ngành lâm nghiệp và khai khoáng) Cấu trúc không thống nhất của ngành du lịch tại miền bắc Ontario trong lĩnh vực cung cấp trang thiết bị, nhà nghỉ đã gây khó khăn trong việc đưa ra những quyết định mang tính pháp tí ở mọi phương diện.đã ngăn cản nó
có được sự ảnh hưởng của những quyết định chính trị
Goodall và Cater đã đưa ra những quan điểm khắt khe về du lịch và bền vững (1996), chỉ
ra rằng khó có thể đạt tới một nền du lịch bền vững bất chấp những nỗ lực bảo vệ môi trường Trong bài viết của Burr (1995) chứng minh phát triển du lịch bền vững sẽ không thể xảy ra trừ khi những người tại vùng du lịch cùng nhauchung tay thực hiện nó Chắc chắn mọi người đều đồng ý rằng bền vững phải được thực hiện ở mọi cấp độ, từ cấp địa phương với hình thái đơn giản rồi mở rộng thành qui mô cấp quốc gia, quốc tế Laarman
và Gregersen đã nghiên cứu về những quan điểm chính sách và sự tham gia của địa phương (1994)
Nghiên cứu thực tiễn 1.1
Du lịch bền vững và các làng du lịch Xanh ở Áo
Nhận thức được mối liên hệ quan trọng giữa phong cảnh và du lịch, Áo đã bắt tay vào
thực hiện một chính sách của du lịch bền vững với mục tiêu bảo tồn và một sự cải thiện toàn bộ trong chất lượng của môi trường tự nhiên Đặc biệt, những tiêu chuẩn sau đã được đề xuất:
1 Làm thẳng đường cầu để tránh đạt đến đỉnh điểm của nhu cầu và gánh nặng
2 Giảm thiểu sự tàn phá không gian dành cho du lịch
3 Bảo tồn những phong cảnh thiên nhiên
4 Liên kết với các ngành khác, cụ thể là ngành nông và lâm nghiệp
Trang 32Một trong những dự án quan trọng của Áo là sự nỗ lựcthực thi của làng du lịch Xanh, đây
là hình thức du lịch được thiết kế nên để cho phép các cộng đồng dân cư cung cấp nơi ăn chốn nghỉ cho nhu cầu du lịch ngày càng tăng lên của du lịchcao một cách bền vững Các
th ịi trấn được khuyến khích kết hợp sử dụng các tấm thu năng lượng mặt trời trong các hoạt động đ ốtổ t nóng, giới hạn các tòa nhà cao không quá 3 tầng, các khu đỗ xe cách xa các tòa nhà tối thiểu là 80 mét để giảm thiểu tiếng ồn và khói bụi, đường cao tốc cũng phải cách làng du lịch Xanh ít nhất 3 kilômét, cấm các phương tiện giao thông đi lại trong làng, định rõ những đoạn đường được đi xe đạp, tái chế, hạn chế việc xây dựng chỉ trong khu vực của thị trấn, giảm thiểu việc trồng trọt đơn vụ trên các khu đất trồng trọt chăn nuôi liền kề, đối xử ưu đãi với thợ thủ công, xây các khách sạn có sử dụng các sản phẩm
từ thiên nhiên, nhấn mạnh rằng những người nông dân có khả năng bán sản phẩm của họ ngay trong địa phương, và sử dụng được các bài thuốc thiên nhiên của địa phương Cách
xử thế này được cho rằng là sẽ mang lại lợi ích cho cộng đồng và cho cả ngành du lịch.
Những quan điểm vềcủa chính sách và sự tham gia của địa phương là một ví dụ được đưa
ra bởi Laarman Gergersen năm 1994, người cho rằng chính sách du lịch thiên nhiên bền vững phải bao gồm những vấn đề sau: (1) sự ủng hộ của nhà nước và hoạch định cấp cao; (2) những chính sách thiết lập giá và thu nhập hợp lý, (3) sự tham gia của địa phương và các phúc lợi
Một vài tác giả đã định nghĩa về các phần thị trường du lịch bền vững duy nhất, gợi ý rằng mỗi phần đều sử dụng môi trường thiên nhiên, thu được những lợi ích lâu dài, bao gồm sự bảo vệ môi trường không ngừng nghỉliên tục, và khuyến khích sự phát triển của cộng đồng địa phương Cho dù mỗi một biến số đã đề cập ở trên có thể được sử dụng để xác định du lịch bền vững, khá quan trọng để nhận ra rằng du lịch thay thế có lẽ không thể bền vững hơn Cancún và vùng đảo Cozumel lân cận không được quản lý thích hợp, và rồi cũng hiếm
có ví dụ được chứng minh rõ ràng là được quản lý một cách hợp lý Do đó nó là khá nguy hiểm để nhìn vào du lịch sinh tháibền vững như một thị trường cụ thể thay vì nhìn từ một địa điểm cụ thể hay những nghiên cứu thực tiễn về vùng miền
Trang 33Hình vẽ 1.2 minh họa rằng sự bền vững không chỉ đơn giản là một mặt của ngành (ví dụ như nơi ăn chốn ởcơ sở lưu trú) làm việc theo một cách bền vững Sự minh họa nhận ra rằng thực chất ngành du lịch trải qua một mức độ khủng khiếp của sự vỡ vụn ra thành từng mảnh bởi sự thật là tính kiên định trong sự bền vững dường như không được tìm thấy ở tất
cả các ban ngành Để rồi mục đích cho sự bền vững được đảm bảo rằng tất cả mọi khía cạnh của ngành đang làm việc một cách hợp tác với nhau Thêm vào đó, số liệu đi cùng với quan điểm của cả con người và các yếu tố thể chất cùng cộng tác ngay trong mỗi một bốn
bộ phận, đó chính là sự thật rằng con người làm việc ở một địa điểm tự nhiên hấp dẫn tuyên bố rất nhiều về mức độ mà ở đó sự bền vững có thể đạt được ở tại khu vực
KHÁI NIỆM HÓA DU LỊCH VÀ SỰ BỀN VỮNG
Trong phần tháo luậnuân trước, du lịch đại chúng, du lịch thay thế, và du lịch bền vững đã được phân tích riêng lẻ Tuy nhiên mối quan hệ mà các loại hình du lịch này cũng chia sẻ
có thể không được đánh giá đầy đủ trong khuôn khổng khái niệm ở hình 1.3 Thông thường, hình minh họa cung cấp một ý niệm khá tốt về mức độ liên hệ giữa du lịch đại chúng và du lịch bền vữngthay thế theo như những vòng tròn tương ứng trong biểu đồ Mặc dù du lịch đại chúng chủ yếu bị cho là thiếu tính bền vững, những phát triển mới và hiện tại trong ngành đã cố gắng để khuyến khích thực hành bền vững hơn thông qua các biện pháp đa dạng, một vài trong số đó bao gồm việc sử dụng điện có kiểm soát, một kế hoạch giặt là luân phiên, và việc loại bỏ rác thải (mũi tên chỉ ra rằng có một sự vận chuyển hướng về phía mức độ tăng dần lên của sự bền vững trong bộ phận này) Mặt khác, hình minh họa cũng chỉ ra hầu hết các dạng thay thế của du lịch đều bền vững đối vớivề mặt
thiên nhiên (theo lý thuyết) Lĩnh vực hoạt động của du lịch thay thế được chỉ ra để bao gồm hai loại hình du lịch, du lịch văn hóa xã hội và du lịch sinh thái Ví dụ loại hình du lịch văn hóa thay thế bao gồm du lịch nông thôn, ở đó một phần lớn của các trải nghiệm du lịch được phát hiện dựa trên môi trường văn hóa, tương ứng với môi trường mà các trang trại đang hoạt động DTuy nhiên du lịch sinh thái, tuy nhiên, liên quan đến một dạng của
du lịch cái mà ít có tính chất văn hóa xã hội trong định hướng của nó, và sự phụ thuộc hơn vào thiên nhiên và các tài nguyên thiên nhiên như sự hợp thành đầu tiên hay nhân tố thúc
Trang 34thay thế (xem chương 2 để có một cái nhìn sâu sắc hơn về các định nghĩa và các nghiên cứu của du lịch sinh thái) Quyển sách chúng ta đang nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các vấn đề nằm ở nửa dưới của vòng tròn phía trongdu lịch thay thế, và có một niềm tin rằng
du lịch sinh thái khác biệt hoàn toàn với du lịch đại chúng và các hình thức đa dạng khác của du lịch thay thế
KẾT LUẬN
Dựa vào khối lượng nghiên cứu dồi dào về du lịch, du lịch thay thế và bền vững, một cái
có thể không hỗ trợ nhưng phản ánh được nơi nào chúng ta đang đứng, nhưng cũng cho biết cái mà nó đang mất đi Các nhà nghiên cứu đã viết vô số báo cáo, các mã quản lý, nguyên tắc chỉ đạo, vật chỉ thị, nhưng rất hiếm những nỗ lực và thành công có thể được nhờrút ra vào để chỉ ra một phương hướng, như đã minh họa trong những phân tích chín chắn của Butler năm 1991 về du lịch, môi trường, và phát triển bền vững Có lẽ nó vẫn còn quá sớm và những thành công có thể thấy trước này sẽ xuất hiện trong giai đoạn tiếp theo của mối quan hệ khá mỏng manh của du lịch với sự bền vững Tuy nhiên, có một sự cần thiết cấp bách để tránh xa khỏi sự khoa trương, khỏi bàn giấy và đi sâu vào thực hành, theo như Leslie đã chỉ ra rằng (1994:35) “du lịch khi xét về việc thực hiệnên ở các quốc gia đang phát triển là một cái gương soi mà chúng ta có thể thấy được những lỗi lầm có thể tồn tại từ trong quá khứ trong sự phát triển trong quá khứ và lối sống bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng hết sức lãng phí của người của các nước phương miền tTây.” Việc này kKhông thể coi nhẹ sự quan trọng của công chúng trong việc hoạt động hóa du lịch thay thế và các chuyến du lịch thực hành bền vững Người ta có quyền lực để đòi hỏi hàng hóa và dịch vụ
cái mà được phát triển và được giới thiệu một cách thân thiện với môi trường sinh thái Công chúng phải yêu cầu tính tin cậy của các sản phẩm du lịch, và các nhà cung cấp dịch
vụ du lịch phải thể hiện sự liền kề với tầm nhìn hợp lý trong việc dành lấy những thành quả đáng khen ngợi trong lĩnh vực phát triển bền vững Để làm được điều này, cần có những người đạt được những mức độ cao quí khác nhau, những người có thể nhận được những lợi ích tài chíinh cuối cùngchót
CÂU HỎI ÔN TẬP
Trang 351 Tại s ao rất khó để định nghĩa du lịch
2 Những cái gì là đặc điểm được sử dụng để xác định những điểm du lịch?
3 Những cái gì là khác biệt cơ bản giữa du lịch đại chúng và du lịch thay thế?
4 Tại sao sư thảo luận về giá trị lại quan trọng để hiểu về phát triển bền vững và du lịch bền vững?
5 Các yếu tố chỉ thị chính của du lịch bền vững khác biệt thế nào với những yếu tố chỉ thị của hệ sinh thái cụ thể?
Trang 36Chương 2:Du lịch sinh thái và khách du lịch sinh thái
Với tư cách là sự mở rộng và phát triểnỉên của ngành du lịch mang tính thay thế, du lịch sinh thái đã phát triển như một kết quả của việc không thỏa mãn với những hình thái du lịch đã có, những hình thái không quan tâm tới những nhân tố xã hội và sinh thái của những vùng khu vực được khai tháckhông liên quan mà thiên về biện pháp tiếp cận tập trung nhiều hơn vào lợi nhuận và lấy con người làm trung tâm với việc đưa ra các sản phẩm du lịch Chương này sẽ giới thiệu những phân tích sâu sắc về du lịch sinh thái từ
triển vọngkhía cạnh lịch sử của nó về lịch sử, định nghĩa và mối liên hệ với các hình thái
du lịch khác có liên quan (du lịch văn hóa và du lịch mạo hiểm…) Một sự bàn luận ngắn gọn về các hình thái du lịch được đưa ra với tư cách là phương tiện để hiểu rõ hơn về những sự khác biệt có thể nhận ra điều mà tồn tại giữa khách du lịch sinh thái và các loại hìnhloại du lịch khách khác
Du lịch sinh thái
Cho đến những năm gần đây, có những sự lúng túngtranh luận xoay quanh từ nguyên họcnguồn gốc hay cũng như sự ra đờitừ gốc của cụm từ du lịch sinh thái đã có rất nhiều bài bàn về vấn đề nàytrong rất nhiều các ấn phẩm viết về chủ đề này Gỉa Ví dụu như, Orams (1995) và Hvenegaard (1994) đã viết rằng, cụm từ du lịch sinh thái chỉ được ra đời khoảng những năm 80 của thế kỉ 19 trong khi đó những người khác (Higgins 1996) cho rằng nó có lẽ được sinh ra vào những năm 70 của thế kỉ 19 qua tác phẩm của Miller (đọc Thompson 1995) về sự phát triển hệ sinh thái Một trong những đề tàiđiểm nhất quán nổi lên trong các nghiên cứu làm sáng tỏ tài liệu ủng hộ thực tế nàycho rằng là Ceballos- Lascuraín là người đầu tiên sáng tạo ra cụm từ này vào đầu những năm 80 của thế kỷ 19 (đọc Thompson 1995) Ông ta đã định nghĩa rằng du lịch sinh thái là “ lữ hành tới những vùng tự nhiên không bị làm ô nhiễm và không bị cam thiệp với mục đích nghiên cứu, chiêm ngưỡng, và thưởng thức cảnh đẹp và các loại động thực vật hoang dã cũng như sự
xuất hiệntồn tại của những biểu thị về nền văn hóa đang tồn tại (cả về hquá khứ cũng như
hiện tại cũng như quá khứ) được tìm thấy trong những khu vực này” (Boo 1990: xiv) Trong một cuộc phỏng vấn (van der Merwe 1996), Ceballos- Lascuraín chỉ ra rằng cụm từ
Trang 37này có được đầu tiên vào năm 1983 trong khi ông đang trong quá trình phát triển PRONATURA, một tổ chức phi chính phủ tại Mexico Tuy nhiên, gần đây thuật ngữ này được tìm ra trong tác phẩm của Hetzer (1965), người trước đây giải thích mối quan hệ phức tạp giữa khách du lịch, môi trường và các nền văn hóa cùng tương tác với nhau Hetzer nhận chỉ ra rằng 4 cột mốc cơ bản và cần thiết phải được tuân theo đối với loại hình
du lịch có trách nhiệm Chúng bao gồm ( 1) giảm thiểu ảnh hưởng tới môi trường, (2) giảm thiểu những tác động tới những văn hóa chung và làm tăng ý sự tôn trọng đối với văn hóa bản địathức đối với chúng,, (3) tăng cường tối đa lợi nhuận kinh tế cho cư dân ở những nước sở tại và (4) tăng tính thỏa mãn về nghỉ ngơi cho du khách Việc phát triển khái niệm
về du lịch sinh thái đã tăng lên theo như Hetzer (Giao tiếp cá nhân-10/1997) với tư cách là đỉnh điểm của việc không hài lòng với chính quyền và tác động tiêu cực của xã hội đối với
sự phát triển đặcăc biệt theo quan điểm về sinh thái học Nelson (1994) cũng đồng ý với điều này và tiếp tục chứng minh rằng ý tưởngquan điểm về du lịch sinh thái thực tế đã có
từ lâu, và nó được biểu thi từ những năm 60 đến 70 của thế kỷ 19 khi các nhà nghiên cứu trở nên quan tâm tới sự sử dụng không thích hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên., Nelson
đã đề nghị gợi ý là rằng cụm từ phát triển sinh thái học nên được giới thiệu như là biện pháp để giảm thiểu những tác động xấu như trên
Trong những nghiên cứu có liên quan khác, Fennell (1998) đã tìm ra bằng chứng về những
chuyến đi chương trình du lịch sinh thái của chính phủ Canada đã được khai thác hoạt động vào giữa những năm 70 của thế kỷ 19 Những chuyến đichương trình du lịch sinh thái này tập trung chủ yếu vào đường cao tốc Trans- Canada và được phát triển dựa trên những vùng sinh thái khác nhau được tìm thấy dọc trên hướng hành trình của đường cao tốc Khó khăn đầu tiên nảy sinh raNhững chương trình đầu tiên được tổ chức vào năm 1976 Dựa trên khái niệm về vùng sinh thái, họ cảm thấy việc tổ chức các chương trình khá là cấp tiến vào khoảng thời gian đó khá gấp gáp cho dù thiếu cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng xấu, tính bền vững, sự phát triển cộng đồng và những hành xử về đạo đức được gắn vớicó liên quan tới du lịch sinh thái vào những năm 1990 Những chuyến du lịch sinh thái được tiến hành cùng lúc khi chính phủ Canada thấy được tầm quan trọng của thấy rằng việc cho phép nhận thức của người dân nước này với khách du lịch nước ngoài cảm nhận được đối với mối
Trang 38rõdiễn giải môi trường thiên nhiên Mặc dù định nghĩa về du lịch sịnh thái không được cung cấp, thế nhưng mỗi một người hướng dẫn viên cần cóluôn có những câu mở đầu sau:
Những chuyến đi du lịch sinh thái được chuẩn bị bởi hạt kiểm lâmNgành Lâm nghiệp
Canada để giúp bạn với tư cách là du khách hiểu vềcảm nhận những đặc điểm của phong cảnh mà bạn xem khi tới thăm đất nước nàybạn hành trình xuyên qua Canada Cả lịch sử
về tự nhiên cũng như con người đều được miêu tả và làm sáng rõ Lịch trình được bao gồm trong những chuyến đichương trình du lịch sinh thái và được chia thành những phần phong cảnh chính hay các khu sinh thái và bản đồ của mỗi khu sinh thái chỉ ra vị trí những đặc đ iểmỉêm hấp dẫn (tìm thấy bởi những số được mã hóa) Trong khi hầu hết các điểm đáng chú ý đều có thể được nhìn từ xe ô tô của bạn, và những chỗ đỗ cũng đựợc yêu cầu ở một vài trong số chúngđược thiết kế ở một vài điểm trong số đó Những khoảng cách giữa những điểm hấp dẫn được tính bằng km Những chuyến đi thêm cũng được miêu tả, khoảng cách được đưa ra đối với con đường nhỏ tách ra từ đường lớncao tốc Bạn sẽ có đựợc giá trị lợi ích tối đa từ chuyến đichương trình du lịch sinh thái này và nếu bạn ghi lại cuộc hành trình của mình và đọc thông tin về mỗi một điểm hấp dẫn khách du lịch trước khi đến đó.
du lịch sinh thái với mối quan hệ với những hình thái du lịch khách liên quan hoặc không
có liên quan (Đối với những tham khảo khác về du lịch sinh thái đọc Mathieson và Wall 1982; Romeril 1985)
Một thực tế thường được chấp nhận rộng rãi là, du lịch sinh thái đã tồn tại từ rất lâu, trước
cả những năm 1980 trừ cách gọi Ví dụ như, Blangy và Nielson (1993) chỉ ra rằng phòng
du lịch của bảo tàng lịch sử thiên nhiên Mỹ đã tiến hành những chuyến đi tìm hiểu về lịch
Trang 39sử thiên nhiên kể từ năm 1953 Có lẽ rằng những ví dụ rõ nhất về sự phát triển của du lịch sinh thái có thể được tìm thấy ở thế giới hoang dã của Châu Phi- những ví dụ dựa trên du lịch phát triển vào những năm đầu thế kỷ 20 và những cuộc du lịch mạo hiểm trong thế giới tự nhiên vào những năm giữa thế kỷ 19 (Wilson 1992) Có một vài ví dụ điển hình đã chứng minh rằng con người ít nhất ở thời La Mã, họ đã đi đến những vùng hoang vu vì bản chất bên trong củaưa thích sự trải nghiệm Nash đã viết, trong thế kỷ 19 rất nhiều người đã
đi đến châu Âu và Bắc Mỹ với mục đích chính là thưởng thức những thứ tồn tại vui ngoài trời, và được chứng minh bằng đoạn văn sau:
Alexis de Tocqueville đã kiên quyết tới những nới hoang vu trong chuyến đi năm 1831 tới Mỹ và ở lãnh thổ của bang Michigan vào tháng 7, người đàn ông Pháp trẻ tuổi này thấy rằng mình cuối cùng đã đến rìa của nền văn minh Nhưng khi anh ta nói với những người ở vùng biên giới về khát vọng đi tìm những niềm vui thích trong khu rừng nguyên sinh , của mình; họ nghĩ rằng anh ta quả là điên rồ Những người Mỹ cần sự tin tưởng nhất định từ Tocqueville để thuyết phục họ rằng những sở thích của ông ta là có thật ngoài việc đầu cơ gỗ và đất đai (Nash1982:23)
Tocqueville theo sau đuổi một cái gì đó mà chúng ta coi là nhân tố tâm lý thiết yếu trong
du lịch: sự mới lạ Nash (1982) tin vào cuộc cách mạng trí tuệ vào thế kỷ 18 và 19 với tư cách là sự thúc đẩy cần thiết mang lại niềm tin rằng môi trường biến đổi của môi trường có thể diễn ra với tư cách là thần dược của tinh thần và tâm lý Nó đòi hỏi sự xuất hiện của nhóm người giàu có và có học thức, những người cư trú rộng rãichủ yếu trong môi trường
đô thị để biện bạch thêm cho sự đánh giá cao này (Jean- Jacques và John Ruskin) Đối với một vài ngườivới những người này, Nash (cùng ở trang 347) viết rằng “vùng đất hoang dã
có thể trở thành một sự mới lạ gây hấp dẫn và thậm chí là nhu cầu tâm lý và tinh thần sâu sắc” Ở Mỹ, quan điểm này vào thời đó không bị ảnh hưởng nhiều như ở Châu Âu, nơi mà
“vào những năm 1870 tất cả những du khách đi tìm hiểu thiên nhiên ở biên giới của Mỹ thì tiếp tục là người ngoại quốc” (trang 348)
Khi những người Mỹ bắt đầu du lịch ở những vùng hoang dã ở đất nước họ thì những người đó thuộc tầng lớp có đặc quyền, nắm trong tay những quyền hành dành riêng Một
Trang 40chuyến đi tới Châu Âu vào thời đó Một điều hiển nhiên rằng những người sinh sống tại thành phố được mang vẻ oai nghiêm của Yellowstone nhưng phong thái của họ được ngưỡng mộ bằng chứng là sự mô tả về những khách du lịch của Rudyard Kliping (trang 56)
Đó không phải là những lời nói thô tục, sự hung hăng của Bessemer việc tự cung cấp đầy
đủ và dốt nát của con người là tôi chán ghét, việc hiện diện của những tiêu chuẩn giống nhau trong giới phụ nữ…Tất cả những người phụ nữ trẻ…nói rằng sự trung thành là thanh tao và đam mê vào việc viết tên mình ở dưới lòng vũng nước nông Thiên nhiên đã giữ lại những sự xúc phạm không thể gột rửa được và nhiều năm sau sẽ thấy rằng Hattie, Sadie, Mamie, Sophie và vân vân đã lấy đi cái kẹp tóc của chúng và vẽ nguệch ngoạc trên bề mặt của sự trung thành
Khái niệm và sự khác nhaunhững biến thái của những định nghĩa về du lịch sinh thái
Với Ssự đa nghĩa vốn có liên quan tới những khởi nguồn lịch sử của du lịch sinh thái, mục đích của phần này là nhận ra những đặc điểm, khái niệm và nguyên lý chính của cụm từ này,; đặc biệt là sự gắn liền giữa du lịch tự nhiên (hay du lịch hướng về thiên nhiên) và du lịch sinh thái Ví dụ như, Laarman và Durst, trong những nghiên cứu đầu tiên của họ về du lịch sinh thái, đã họ đã sớm rút ra kết luận về du lịch sinh thái và định nghĩa nó với tư cách
là du lịch tự nhiên, loại hình mà cái mà“người du kháchlịch bị thu hút tới nhữngmột điểm
du lịch bởi vì sở thích của họ về một hay nhiều đặc điểm về lịch sử tự nhiênnguồn gốc tự nhiên của nơi đó Chuyến viếng thăm này bao gồm sự giáo dục, giải trí và thường kèm theo các yếu tố mạo hiểm” (Laarman và Dust 1987:5) Thêm vào đó, những tác giả này có
lẽ là người đầu tiên đưa ra kết luận về khía cạnh “cứng” và “mềm” của du lịch tự nhiên dựa trên sự gian khổ về mặt thể chất của sự trải nghiệm và mức độ quan tâm về lịch sử tự nhiên (Hình 2.1) Laarman và Durst cho rằng các nhà khoa học dường như cẩn trọng hơn bình thường khi đeo đuổi du lịch sinh thái và một vài kiểu khách du lịch sinh thái sẽ sẵn sàng chịu gian khổ hơn những kiểu khách du lịch khác nhằm bảo toànđạt được sự trải nghiệm của họ Chữ cái B ở hình 2.1 chỉ ra những trải nghiệm về du lịch sinh thái khó