Tài nguyên thiên nhiên, việc bảo tồn và các khu bảo tồnbảo tồn

Một phần của tài liệu Địa lí phổ thông - du lịch sinh thái (Trang 71 - 102)

Chúng ta lạm dụng đất vì chúng ta cho rằng đây là tài sản của chúng ta. Khi chúng ta xem đất là một cộng đồng mà chúng ta thuộc về, chúng ta sẽ bắt đầu sử dụng chúng với tình yêu và sự tôn trọng.

Aldo Leopold

Câu nóiĐoạn trích trên đã đề cập rất đúng tới tình thế của loài người trong cuộc đấu tranh để đạt được sự cân bằng giữa việc tận dụng tài nguyên thiên nhiên với việc bảo tồn chúng.

Trên quy mô toàn cầu, chúng ta đã khá chậm chạp trong việc nhận ra các hoạt động phát triển kinh tế và cung cách tiêu dùng của chúng ta đã thay đổi các nguồn tài nguyên như thế nào. Điều này có thể nhận thấy rất rõ ràng trong xã hộị phương Tây. Tuy nhiên, trong khi các hoạt động kinh tế xã hội của chúng ta bị phản đối một cách mạnh mẽ, thì chúng ta cũng còn đang rất phân vân trong việc tìm ra cách làm dịu đi những hoạt động phát triển này.

Trong chương này, chúng tôi sẽ đưa ra bàn luận về các nguồn tài nguyên, sự bảo tồn, và các khu vườn quốc gia để minh hoạ cho sự phân cực của 2 luồng suy nghĩ về giá trị và vai trò của các nguồn tài nguyên trong xã hội. Mục tiêu của chương này là cung cấp một phông nền mà từ đó có thể tiếp tục đi sâu vào những vấn đề cụ thể hơn của du lịch sinh thái trong mối tương quan với kinh tế, các vườn quốc gia và nhiều lĩnh vực khác nữa. Những cCố gắng của chúng tôi nhằm mục đích làm nổi bật những quan tâm chủ yếu về sự phát triển của lý luận bảo tồn trong mối quan hệ với những áp lực mà con người đã và còn tiếp tục gây ra cho thế giới tự nhiên. Các khu vườn quốc gia và các khu bảo tồn được đề cập tới trong đây có vai trò quan trọng trong việc giữ cân bằng tổng hoà sinh thái ( ecological integrity) và nhu cầu của khách du lịch.

Sự khai thác thế giới tự nhiên

Tài nguyên thiên nhiên

Con người sử dụng tài nguyên để phục vụ cho vô số những hoạt động sinh hoạt và giải trí khác nhau. Tại nơi làm việc, các cá nhân tận dụng nguồn nhân lực từ người khác ( tài nguyên con người) cũng như cơ sở vật chất, các tiện nghi và thiết bị ( tài nguyên vật chất), và trong một vài trường hợp là môi trường tự nhiên ( tài nguyên thiên nhiên) để thực hiện những công việc khác nhau. Trong khi làm những công việc đóĐiều này cũng đúng trong du lịch, nhưng động cơ trọng tâm cảnh báo về người ta đã cố gắng kết hợp sử dụng nhiều nguồn tài nguyên, một cách độc lập hay kết hợp, để phụuc vụ những nhu cầu cá nhân khác nhau với những động lực khác nhau.

Zimmerman (1951:15) lưu ý rằng các nguồn tài nguyên “không phải tự nó mở rộng ra hoặc bị thu hẹp lại, mà chính là phụ thuộc vào những hoạt động của con người”. Những yếu tố cơ bản của thiên nhiên như cây cối, nước, đá... sẽ không trở thành nguồn tài nguyên cho tới khi chúng được phát hiện ra là có khả năng đáp ứng được nhu cầu nào đó của con người.

Zimmerman cũng đề cập tới những vật liệu trong tự nhiên mà không được con người sử dụng là “ vật liệu trung gian”. Loài người càng đào bới thế giới tự nhiên sâu bao nhiêu thì càng có nhiều vật liệu trung gian trở thành tài nguyên. Văn hoá cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc ai sử dụng tài nguyên nào với mức độ nào. Ví như dầu trở thành tài nguyên khi con người có nỗ lực để phát triển những hiểu biết và khả năng khai thác nó, rồi kết hợp với công nghệ cần thiết để sản xuất ra những công cụ phục vụ cho cuộc sống, công việc và nhu cầu giải trí của chúng ta ( xe hơi, các lò nung...). Các nguồn tài nguyên, vì thế, rất sống động cả trong không gian và thời gian và có liên quan mật thiết tới quan niệm của xã hội cũng như của từng cá nhân về giá trị của chúng trong xã hội. Theo như Mitchell (1989:2) :

“ Tài nguyên thiên nhiên được định nghĩa bởi quan niệm, thái độ, ý muốn, kỹ năng công nghệ, pháp luật, sự sắp xếp về tài chính và tổ chức của con người , cũng như hệ thống chính trị...Các nguồn tài nguyên, theo lời của Zimmerman, là do chủ quan, các mối quan hệ với con người và tính năng của chúng quyết định.”

Những nhu cầu về du lịch xuất hiện cùng với những khu vực rộng lớn , trải dài liên tục từ những khu được con người thay đổi theo hướng bền vững hơn tới những môi trường cổ

xưa hầu như chưa bị con người can thiệp tới. Chubb và Chubb (1981) cho rằng việc phân chia ranh giới giữa “ phát triển” và “ chưa phát triển” còn phải phụ thuộc và quan niệm của mỗi người về ý nghĩa của từ” “phát triển” trong mối tương quan với các vùng du lịch. Các nguồn tài nguyên đã phát triển bao gồm đường cao tốc, các tiện nghi, hệ thống xử lý rác, các toà nhà v.v.... những công trình, phương tiện được dùng tại một khu vực cụ thể nào đó.

Ngược lại, tài nguyên chưa phát triển có thể tìm thấy ở cả khu vực thành thị và môi trường hoang dã, nhưng mức đô chúng được nhìn nhận như những cá thể phụ thuộc ( individual dependent) hoặc các trường hợp phụ thuộc ( situation dependent). Các tác giả sẽ nêu ra đây bảy loại hình tài nguyên chưa phát triển có thể sử dụng cho các hoạt động vui chơi ngoài trời ( cũng như cho du lịch). Cho dù đứng độc lập, mỗi yếu tố sau đây cũng cần phaỉ được nhìn nhận lại là có tính chất gắn kết với nhau, vì chúng là sự kết hợp các yếu tố của môi trường tạo nên những trải nghiệm du lịch cho du khách.

Vị trí địa lý: Những tính chất của không gian quyết định hoàn cảnh, trong mối quan hệ với các yếu tố cùng tham gia khác ( như môn trượt tuyết)

Thời tiết và khí hậu: Được quyết định bởi kinh độ, vĩ độ cùng với những địa hình traí đất, địa hình đồi núi đa dạng, dòng chảy của đại dương và độ cao của luồng không khí di chuyển.. Cùng với địa hình, khí hậu cũng là một yếu tố chính quyết định môi trường vật chất, các loại đất, thực vật, động vật và quá trình hình thành những hình thái địa lý như băng và gió.

Địa hình và hình thái đất: Hình dạng chung của bề mặt trái đất (địa hình và kết cấu bề mặt khiến cho một số khu vực địa lý có đặc điểm đặc trưng ( như hình thái đất). Những khu vực hình thái đất là những vùng trên bề mặt trái đất được nhóm vào chung những nhóm có hình thái giống nhau.

Vật chất trên bề mặt: Bản chất của những vật chất cấu tạo nên bề mặt trái đất: đá, cát, xương, khoáng chất, đất v.v...

Nước: loại vật chất này có vai trò quyết định trong việc quyết định những loại hình và mức độ của các hoạt động giải trí du lịch ở trên biển và trong môi trường biển, cũng như các khu vực có nước như hồ, sông, và các khu đầm lầy.

Thực vật: Thực vật bao gồm toàn bộ đời sống của các loài cây cối trong một khu vực. Các hoạt động giải trí rất thường xuyên có liên quan tới đời sống thực vật ,

theo cả cách trực tiếp ( du khách thích chụp ảnh những loài cây lạ và độc đáo) hay gián tiếp ( cây cối đống vai trò vật cản gió cho người trượt tuyết)

Động vật: Động vật đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động giải trí theo cả hai nghĩa: tiêu thụ được và không tiêu thụ được trong tự nhiên. Các dạng thức của giải trí có tiêu thụ các sản phẩm của tự nhiên hoặc hoàn toàn phụ thuộc vào đời sống hoang dã như câu cá, săn bắn v.v.... Những dạng thức không tiêu thụ sản phẩm thì lại có những ảnh hưởng tới thiết lậpít hơn tới của nguồn tài nguyên (ví dụ như xem chim)

Cũng cần phải chú ý thêm rằng những nguồn tài nguyên đó có thể được sử dụng như chất xúc tác kéo khách du lịch tới vùng đó hoặc như mục tiêu chính cho những chuyến thăm thú của du khách. Một trường hợp gần đây là điểm ở Montserrat. Đảo nhỏ này ở vùng Carribean được thiên phú với những đặc trưng thiên nhiên đa dạng và diện tích 102km 2, và những đặc điểm này cũng chính là chất xúc tác kéo du khách tới nơi đây. Nhờ vào những tài nguyên giàu có đó, Montserrat được biết tới như một ví dụ điển hình nơi mà du lịch sinh thái có một viễn cảnh tốt đẹp ( Reynolds 1992; Weaver 1995). Tuy thế, vào năm 1997 công nghiệp du lịch đã làm mọi chuyện trở nên xấu đi khi ngọn núi lửa đã tắt của nơi đây lại phun trào trở lại, khiến cho kinh tế cũng như toàn bộ khu đảo nằm trong tình thế nguy ngậprạng nguy hiểm. Thiên tai như trên không chỉ có những tác hại ngay lập tức mà như Weaver ( 1995:601) dự báo trước về số phận của ngành du lịch Montserrat :”

Những cơn bão và động đất không thể tránh khỏi trong tương lai sẽ dần dần cướp đi tài nguyên của du lịch sinh thái bằng cách phá huỷ không chỉ môi trường vật chất mà cả đường xá, tuyến đường đi bộ, những nơi có thể ngắm cảnh..., những gì mà du lịch sinh thái phải phụ thuộc vào. Hơn thế nữa, sẽ phải có những quãng thời gian kéo dài mà du lịch không hoạt động được ở một vài khu vực do môi trường phải phục hồi lại sau thiên tai. “

Giới hạnSự hào phóng của trái đất

Trong một hiệp ướcluận thuyết có liên quan tới nguồn gốc lịch sử của tình trạng những vấn đề của du lịch sinh thái học hiện đại, White`(1971) đã tranh luận gay gắt cho ý kiến rằng

trong quá khứ, loài người là một phần của thiên nhiên còn trong vòng vài trăm năm trở lại đây, loài người chúng ta trở thành kẻ khai thác thiên nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Sức mạnh đằng sau những tranh luận này bắt nguồn từ Cơ đốc giáo phương Tây và chủ nghĩa tư bản đã định hướng cho loài người rằng “...đó là ý muốn của Chúa rằng con người khai thác thiên nhiên cho những mục đích thoả đáng của họ” (White 1971:12). Lịch sử đã cho thấy nhiều nhà khoa học thời kỳ Trung Đại và Phục Hưng đã không đồng tình với luận thuyết này. Trong giai đoạn cách mạng khoa học những năm 1500 đến 1600, một nhận thức cơ học và tĩnh học ( mechanistic and static) về sự phát triển của thiên nhiên đã được đưa ra thay thế cho những luận thuyết bị động, mơ hồ và đơn giản trước đó. Lực thúc đẩy là về phía một môn khoa học được phát triển để nới rộng giới hạn chiếm lĩnh của con người trong nguồn tri thức vô hạn và kiểm soát chúng nhằm “ thu được năng lực hiểu biết và quyền lực, qua đó hưởng thụ trong khu vườn Êđen” ( Bowler 1993:85)

Một yếu tố quan trọng nữa đóng góp vào quá trình chiếm lĩnh thiên nhiên của loài người là nỗi sợ hãi các thế lực bí ẩn. Cho dù các nhà khoa học thời Trung cổ đã bắt đầu tìm ra manh mối của một vài bí ẩn của thiên nhiên, sự thiếu hiểu biết của họ về tính phức tạp và tính liên kết chặt chẽ của thiên nhiên đã đóng góp vào suy nghĩ rằng các khu vực nằm ngoài giới hạn như khu vực tự nhiên hoang dã là những nơi không nên động đếnnên chinh phục (Short 1991). Qua con mắt của Cơ đốc giáo, thế giới tự nhiên ( rừng, đầm lầy và những nơi tương tự) là nơi của những tà giáo tiến hành những nghi lễ tà đạo. Và để thiết lập lại trật tự của tôn giáo, những khu vực trên phải bị loại bỏ hoặc phải được dọn sạch. Những tưởng tượng phong phú tồn tại trong con người về mối quan hệ của loài người và thế giới tự nhiên cho rằng không có vật liệu nào hoặc không gian nào thực sự là “ hoang dã” “ cả .(

Nash 1982). “”Hoang dã” là một khái niệm gợi nên nhiều cảm nhận và tâm trạng cho con người, và nằm trong dạng tiềm thức của mỗi con người. Một khu vực có thể là hoang dã với người này nhưng chưa hẳn với người kia. Những quan điểm như thế này chiếm ưu thế trong suy nghĩ của người theo Thanh giáo, những người đầu tiên đặt chân lên mảnh đất Bắc Mỹ. Những người đến sau này, theo những cách thức tôn giáo cũng như đạo đức, bị thúc ép làm các công việc sản xuất. Thời gian và các hoạt động giải trí bị cắt bỏ thô bạo và bị quy định chặt chẽ trong các đạo luật tôn giáo. Những điều luật trên về thiên nhiên đã cho

thấy cả thử thách và chướng ngại trong quá trình tiến tới một Châu Âu bền vững trong Tân thế giới.

Những thay đổi lớn lao trong kinh tế xã hội diễn ra tại Anh trong giai đoạn 1750 tới 1850.

Đó là giai đoạn của những biến động lớn lao và của sự phát triển của nền công nghiệp Anh quốc bằng cách sử dụng những công nghệ mới và luân chuyển vốn, những điều này đã không cách nào khác là đóng góp vào những thay đổi mạnh mẽ trong khái niệm nghỉ ngơi thư giãn của các công dân thành thị Anh quốc (sự chuyển biến thành thị- nông thôn, thời gian làm việc dài hơn và bóc lột người lao động). Xảy ra tại Anh và sau này là Bắc Mỹ trong những năm đầu 1800, đây quả thực là giai đoạn của những quan điểm tiến bộ của con người về phát triển, như Short (1991) cho rằng: (I 1) sự tạo ra những nơi có thể sinh sống được và những không gian sử dụng được (nhà cửa, công xưởng); (2) quan niệm khu vực hoang dã là đang bị bỏ phí và bị tàn phá; (3) ý niệm rằng văn minh của xã hội loài người đã thay đổi thế giới; và (4) chinh phục tự nhiên là dấu hiệu cho các thành quả của loài người.

Nghiên cứu thực tiễn

Lịch sử du lịch tự nhiên ở Shetland, Scotland

Butler (1985) viết rằng có tới 1750 cao nguyên và hòn đảo ở Scotland cái gần như là vùng nguyên sơ đối với hầu hết người ở Anh. Những hòn đảo ở Sheland cũng không phải là một trường hợp ngoài lệ. Tuy nhiên, với tư cách là kết quả của một vùng có một không hai, Shetland mang lại sợi dây liên kết giữa địa lý và văn hóa giữa Scandinavia ở phía Đông và nước Anh ở phía Bắc. Flinn (1989) cho là trước 1850 những người đến Shetland là những nghệ sĩ, nhà địa lý, nhà tự nhiên học, nhà vật lý và người lập bản đồ địa hình.

Năm 1814 ngài Walter Scott đã đến thăm vùng Shetland và chọn vùng này dành cho cuốn tiểu thuyết “The Pirate” (Cướp biển) của ông ta. Theo Simpson (1983) chỉ ra, những cuốn tiểu thuyết của Scott tràn ngập tính lãng mạn và kịch tính về vùng đất trong cuốn sách luôn trong tâm trí của người đọc, thúc giục họ đến những nơi như thế này. Năm 1832, một nhà sản xuất gang và cũng là nhà tự nhiên học, G.C Atkinson, đến Shetland có lẽ bởi sự ảnh hưởng của Scott. Ông viết, “Tôi có cảm giác có mối quan tâm đặc biệt tới những sự miêu tả trong cuốn tỉêu thuyết và phong cảnh độc đáo, về dân cư và sản lượng của

thiên nhiên của những vùng ít được biết đến hoặc là sự khó khăn, cản trở của chúng về mặt nhận thức hay sự tồn tại của chúng qua gần” Vào năm 1850, Flinn cho rằng, đặc điểm của du lịch tới vùng Shetland có gì đó hơi khác lạ. Ông viết, “vào năm 1859 Shetland có chuyến tàu chạy từ miền Nam trong những tháng mùa hè và có hệ thống đường chính khiến cho những hòn đảo trở nên dễ tiếp cận hơn đối với khách du lịch người mà sẽ gặp ít khó khăn hơn và trở nên mạnh dạn” (trang: 235). Du lịch có vẻ như đã thay thế những khách du lịch người nhất quyết khám phá và trải qua thử thách thành ít sẵn sàng hơn với việc trải qua những gian khổ trong chuyến đi.

Căn nguyên của việc bảo tồn

Khi sự thay đổi của thế giới tự nhiên diễn ra một cách mạnh mẽ, ở Pháp và Anh rằng việc phá rừng bắt đầu được hiểu là nguyên nhân chính dẫn đến sự sói mòn đất và năng suất kém. Những điều khám phá này thúc đẩy những cố gắng đầu tiên đối với việc bảo tồn ở Anh, và ở Ấn Độ nơi mà những vùng bao phủ bởi rừng bị nhường chỗ dành cho việc đóng tàu. Những vùng như vậy cần phải được sự đồng ý của các ủy ban bảo vệ và cán bộ kiểm lâm chịu trách nhiệm về những vùng trên với tư cách là những nhà bảo tồn (Pinchot 1947).

Hiển nhiên là các chính sách liên quan đến việc tái trồng rừng được thực hiện bởi nước Anh vào thế kỷ 17 (Bowler 1993).

Ở Bắc Mỹ, việc bảo tồn được phát triển thành 3 hướng (Ortolano 1984). Hướng đầu tiên có liên quan đến niềm tin là việc bảo tồn có liên quan tới việc gìn giữ sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, hướng thứ 2 đó là việc bảo tồn có liên quan đến việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên. Hướng cuối cùng đó là bảo tồn và bảo vệ cần phải đạt được một cách hoàn hảo theo quan điểm của tôn giáo và sự duy linh. Quan điểm về sự duy linh về việc bảo tồn đã đưa ra một triết họchọc thuyết cùng với mục đích giữ gìn nguồn tài nguyên khỏi việc sử dụng hơn là gìn giữ chúng để sử dụng (Passmore 1974). Mỗi quan điểm này sẽ được đề cập một cách cụ thể dưới đây.

Tính hài hòa

Một phần của tài liệu Địa lí phổ thông - du lịch sinh thái (Trang 71 - 102)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(341 trang)
w