MÔ TẢ SƠ LƯỢC VỀ KHÁCH DU LỊCH SINH THÁI

Một phần của tài liệu Địa lí phổ thông - du lịch sinh thái (Trang 63 - 69)

Một vài nghiên cứu mới nhất về du lịch sinh thái cố gắng để phân loại du khách sinh thái dựa vào việc thiết lập kinh nghiệm và động lực nhóm. Ví dụ, Kusler (1991) là điển hình cho khách du lịch sinh thái như thuộc về ba nhóm chính, bao gồm:

1. Khách du lịch sinh thái theo phương thức tự thân: bất chấp việc tương đối không rõ ràng tên tuổi, nhóm này gồm một phần lớn các du khách sinh thái. Những cá nhân này nghỉ chân tại nhiều loại hình nhà nghỉ khác nhau, và có tính lưu động để thăm viếng bất kỳ môi trường nào. Do đó kinh nghiệm của họ được đánh dấu bởới mức độ linh hoạt cao.

2. Khách du lịch sinh thái trong các chuyến du lịch: nhóm người này mong đợi một mức độ cao của tổ chức trong mọi chuyến đi của họ, và du lịch đến các địa điểm đẹp lạ kỳ. (Ví dụ vùng Nam Cực)

3. Các nhóm thuộc trường học các nhóm nghiên cứu khoa học: nhóm này thường liên quan đến các nghiên cứu khoa học về một nhóm hay cá nhân, thường nghỉ tại một vùng giống nhau trong một giai đoạn kéo dài, và sẵn sàng chấp nhận những điều kiện khắc nghiệt hơn những khách du lịch sinh thái khác.

Ngược lại Lindberg (1991:3) nhấn mạnh tầm quan trọng của sự cống hiến và thời gian như một chức năng của việc xác định những kiểu khách du lịch sinh thái khác nhau, bao gồm những gì du khách mong muốn được trải nghiệm từ du lịch sinh thái; nơới mà họ muốn được đến, và họ mong mỏi được đi du lịch như thế nào. Lindberg nhận định ra bốn loại cơ bản sau:

1. Du khách gắn với thiên nhiên nền tảng: các nghiên cứu khoa học hoặc các thành viên của cáccs chuyến du lịch được thiết kế một cách cụ thể cho giáo dục, loại bỏ rác thải, hoặc các mục đích tương tự.

2. Du khách cống hiến cho thiên nhiên: những người này tham gia vào các chuyến đi một cách cụ thể để tận mắt thấy những vùng được bảo vệ và là người muốn hiểu thêm về lịch sử tự nhiên và văn hoá của địa phương.

3. Du khách có xu hướng tự nhiên: đây là những người đến Amazon, công viên khỉ Rwandan, hoặc các điểm đến khác chủ yếu là để thực hiện những chuyến du lịch bất thường; và

4. Du khách gắn với thiên nhiên không chủ định: họ trải nghiệm thiên nhiên một cách tình cờ như là một phần của một chuyến đi rộng hơn.

Nhất quán với sự tăng lên về các cơ hội du lịch sinh thái, và hệ thống các loại hình liêen kết của du khách tham gia vào những chuyến đi như thế, đã có một sự tăng lên về số lượng nghiên cứu sẵn có về du khách của du lịch sinh thái, cùng việc nó tập trung nhiều vào việc giới thiệu sơ lược tiểu sử của loại khách du lịch này. Ban đầu các nghiên cứu đã chỉ ra rõ ràang sự thật rằng khách du lịch sinh thái chủ yếu là nam giới, có kiến thức, có khả năng tài chính, và có thể ở lại lâu. Ví dụ như Wilson (1987; 21) có báo cáo sau khi nghiên cứu 62 du khách đang tham quan Ecuador:

Tỉ lệ nam giới và nữ giới là 52% và 48% và tuổi trung bình là 42… 27% có thu nhập gia đình hàng năm khi chưa đóng thuế là giữa khoảng 30 ngàn đô la Mỹ$ và 60 ngàn $. đô la Mỹ. Khoảng một phần tư kiếm được 90 ngàn đô la Mỹ$ một năm. Khoảng 30% có bằng cử nhân, và hơn 10% có bằng tiến sĩ.

Cả Fenell và Smale (1992) và Riengold (1993) cùng báo cáo những kết quả tương tự trong nghiên cứu của họ về du khách sinh thái Canada. Trong nghiên cứu của Fenell và Smale

khách du lịch sinh thái của Canada có tuổi trung bình là 54, với phần lớn là tuổi từ 60-69.

Mẫu nghiên cứu chủ yếu là nam giới (chiếm 545%), có thu nhập trung bình là 60 ngàn đôla Canada, với hầu hết 1/3 có bằng sau đại họcđại học và 2/3 có bằng sau đại học. Theo những tác giả này, nền trình độ giáo dục này có trên mức trung bình quốc gia là khoảng 19% và 4% người dân Canada có bằng cử nhân và được đào tạo sau đại học. Trong nghiên cứu của Reingold, 24% khách du lịch sinh thái của Canada từ 55 đến 64 tuổi, 36% có thu nhập hàng năm trên 70 ngàn đô la Canada$, 65 % có bằng đại học; tuy nhiên, 64% những người trả lời là nữ giới. Số liệu sau ngược lại với nghiên cứu trước, cái mà cho rằng nam giới là điển hình hơn một chút trong nhóm người này. Nghiên cứu về các hoạt động vui chơi ngoài trời nói chung xác nhận một sự thật là hầu hết những người tham gia – hai phần ba thậm chí ba phần tư số đó – là nam giới. (Hendee và đồng nghiệpnhóm tác giả, 1990).

Những nghiên cứu liên quan đến khách du lịch sinh thái đã được nhận định như một tấm gương liên quan đến các nghiên cứu về những người quan sát các loài chim chóc và du khách của đời sống hoang dã. Ví dụ, Applegate và Clark (1987) báo cáo rằng nam giới tham gia vào việc quan sát tập tục của các loài chim hơn nữ giới và rằng họ giàu có sung túc cũng như có học thức rất cao với hơn 50% những người tham gia nghiên cứu đã hoàn thành bốn năm đại học. Những phát hiện của Kellert (1985) chỉ ra rằng những người quan sát nhiệt thành có 73% là nam giới ở độ tuổi trung bình là 42 tuổi. Họ cũng có giáo dục cao hơn rất nhiều (gần hai phần ba đã học đại học/ đã tốt nghiệp trường họcvà sau đại học) và có thu nhập cao hơn cả những người tham gia nghiên cứu không quan sát các loài chim. Du khách tham gia vào các chuyến ngắm gấu Bắc Cực đến vùng Churchill của Manitoba, Canada, được thấy đều là những người tuổi trung niên hoặc đã già, có giáo dục và thành công về mặt tài chính (xem Mackay và Mellraith 1997). Trong những nghiên cứu gần đây về vùng này, Lemenlin và cộng sự (2002) thấy rằng trong những du khách này thì nam giới nhiều hơn một chút, 44.4% tuổi từ 45 đến 64, 40% có thu nhập gia đình hơn $100.,000 đô la Mỹ, và 88% có bằng đại học thứ 2 hoặc có bằng cấp. Khi nhiều nghiên cứu về kiểu tự nhiên này xuất hiện, nó sẽ rất thú vị để xem hồ sơ của những khách du lịch sinh thái thay đổi như thế nào (hay vẫn giữ nguyên) như một chức năng của nhiều biến số, bao gồm các dạng kinh nghiệm và các sản phẩm dành để mới chào với khách du lịch sinh thái, và sự trưởng thành của ngành này.

Hơn cả những phân tích về nhân khẩu xã hội học, Fenell và Smale (1992) đã so sánh trực tiếp lượng trung bình khách du lịch thông thường của Canada với một nhóm khách du lịch sinh thái (dựa vào công việc của Fenell năm 1990). Những nghiên cứu này đã sử dụng kết quả của nghiên cứu của Canada năm 1993 (Nghiên cứu về thái độ và động lực trong du lịch- (CTAMS), đó là nghiên cứu đã phân tích những thái độ và lợi ích chung tìm kiếm bởi một mẫu nghiên cứu gồm 11,501 du khách Canada. Các câu hỏi được dùng trong nghiêm cứu của CTAMS được nhân đôi và ứng dụng và một nhóm khách du lịch sinh thái được nghiên cứu, những người mà gần đây đã quay trở lại với chuyến du lịch sinh thái đến Costarica vào giữa 1988 đến 1989. Trong số 98 bản thăm dò gửi qua thư điện tử đến các khách du lịch sinh thái (du khách được giữ liên lạc bằng cách lấy được danh sách thư điện tử của các nhà tổ chức du lịch sinh thái Canada mời chào các chương trình đến Costa Rica.), 77 bản thăm dò được hồi âm và có thể sử dụng được. Kết quả của nghiên cứu này được thấy ở bảng 2.2.

Nói chung, những phát hiện này cho thấy những lợi ích mà khách du lịch sinh thái tìm kiếm có thể phát hiện được qua những hoạt động mới mẻ, năng động và mạo hiểm và qua những mối quan hệ, trong khi phúc lợi dân số Canada có liên quan chặt chẽ hơn đến hoạt động tĩnh và những cố gắng liên quan đến gia đình. Khách du lịch sinh thái theo đuổi các địa điểm hấp dẫn thuộc về ngoài trời (những vùng hoang dã, các công viên, và những khu vực được bảo vệ, và cả những vùng nông thôn), trong khi những nơi hấp dẫn thuộc về thành thị và các khu nghỉ cao cấp lại quan trọng hơn đối với du khách bình thường của Canada. Những hàm ý trong nghiên cứu là những cái mà họ biểu hiện theo kinh nghiệm thật sự có một sự khác biệt giữa du khách sinh thái và du khách thông thường xét theo nhu cầu và trọng tâm. Kretchman và Eagles (1990) và Williacy và Eagles (1990) đã theo đi theo thiết kế thăm dò đầu tiên của Fenell (1990) khi so sánh khách du lịch sinh thái trong đa dạng các loại sắp đặt khác nhau. Những nghiên cứu này được tập hợp bởi Eagles (1992) dưới một cái nhìn tổng quan dễ hiểu về thúc đẩy du lịch của du khách sinh thái Canada.

Những kết quả của ông này đã chứng minh một cách chung nhất những kết quả của Fenell và Smale (1992), trên đó, trong khi gợi ý rằng khách du lịch sinh thái về căn bản là khác với du khách thông thường trong chính động lực du lịch của họ.

Như đã đề xuất trước đó, một cách hiệu quả để phân biệt giữa các kiểu du khách đi thăm những vùng cụ thể thông qua một cuộc kiểm tra về đa dạng tính cách cá nhân như động cơ ban đầu, những lợi ích tìm kiếm được, … Tuy nhiên, Turnbull (1981) cũng cấp một giả thuyết thú vị chống lại cách tiếp cận như thế. Ông đã đề xuất rằng dù vẻ bề ngoàitrên bề mặt khách du lịch thiên nhiên đến Châu Phi tuyên bốcho là rằng chính là những động vật nơi đây đã khiến họ đến với các khu săn bắn ở Đông Phi, trên cơ sở những quan sát của ông, ông cảm nhận rằng lý do đến với Châu Phi còn sâu xa hơn thế. Là một nhà nhân chủng học, Turnbull tin rằng có lẽ một cách ngấm ngầm mà cả Châu Phi và Kilimanjaro đã mang du khách đến với thiết lậpkhu vực này. Thực chất, ông tin rằng con người muốn chạm đến quá khứ xa xôi của họ khi loài người có một mối quan hệ khăng khít đến thế với động vật, xem chúng như cái gì đó hơn cả những con mồi để săn bắn, và nó là để trải nghiệm những gì thuộc về mối quan hệ của họ cái mà những du khách ngày nay thật sự mong muốn. Ông khẳng định rằng du khách

Mmong chờ một cái toàn thể tự nhiên vô hình tạo ra bởi những nhân tố của loài người và loài vật. Nhưng nếu họ không thường may mắn thì đó không phải là cái mà du khách tìn thấy ở những đoàn săn bắn có tổ chức. Tất cả những cái được xem xét đều là do bàn tay con người tạo nên, các khu săn bắn không có những bầy thú hay những người đi săn, đây là những người đã quen sống ở đó như một phần không thể thiếu của hệ sinh thái.

(Turnbull 1981:34)

Lý thuyết này mang lại cho chúng ta những ý nghĩa khác mà qua đó để khảo sát sâu hơn về sự khác nhau trong các nhóm, cái mà tồn tại giữa các dạng của du lịch (đó là khách du lịch sinh thái và du khách không tham gia vào loại hình sinh thái), nhưng cũng để khảo sát sự khác nhau nội trong các nhóm (ví dụ nhóm khách du lịch sinh thái mềm dẻo và nhóm cứng rắn). Chúng ta không thể mù quáng chấp nhận quan điểm là khách du lịch sinh thái là một nhóm thuần nhất; thay vào đó, như đã đề cập từ trước, họ có thể khác nhau dưa trên một loạt các biến số.

Bảng 2.2 Tầm quan trọng của một số điểm du lịchđiểm hấp dẫn được lựa chọn và lợi ích của những du khách Canađa và du khách sinh tháia

Biến số Dân chúng nói chung Du khách sinh thái của Canada

Giá trị trung s.d.Độ lệch Giá trị trung s.dĐộ lệch

bìnhb chuẩn bình chuẩn Những quyền lợi ích quan trọng đối với khách du lịch sinh tháic

Trải nghiệm những lối sống mới và khác biệt

2.67 1.02 1.95 0.78

Thử món ăn mới 2.85 0.99 2.43 0.82

Năng động về mặt thể chất 2.36 1.03 1.88 0.92

Thăm thú các di tích lịch sử 2.71 1.04 2.35 0.74

Được ngắm cảnh càng nhiều càng tốt

2.01 0.99 1.77 0.81

Dám làm và thử sự mạo hiểm 2.91 0.98 2.62 1.01

Gặp gỡ những người tương đồng về sở thích

2.08 0.94 1.91 0.71

Những lợi ích quan trọng đối với dân chúng

Xem các môn thể thao 3.16 0.96 3.84 0.37

Thăm bạn bè người thân 1.83 1.03 3.25 0.82

Không làm gì cả 2.86 1.00 3.72 0.60

Ở cùng gia đình 1.66 0.98 2.92 1.04

Nhớ lại những thời gian tốt đẹp trong quá khứ

2.46 1.06 3.36 0.79

Thăm lại nơi nguồn gốc gia đình

2.70 1.16 3.45 0.84

Cảm giác như được ở nhà trong khi xa nhà

1.81 0.91 2.64 0.93

Được vui vẻ và giải trí 1.95 0.88 2.72 0.94

Những điểm hấp dẫn quan trọng với khách du lịch sinh thái

Những khu vực hoang dã 2.34 1.09 1.06 0.37

Khu vực vườn quốc gia và khu bảo tồn

2.21 1.01 1.14 0.35

Khu vực nông thôn 2.34 0.94 1.49 0.60

Vùng đồi núi 2.34 1.07 1.50 0.66

Vùng sông hồ 2.05 0.99 1.57 0.59

Công viên và các di tích lịch sử 2.37 1.01 2.05 0.81

Các hoạt động văn hoá 2.66 0.97 2.32 0.87

Cảnh quan ở biển 2.15 1.07 1.97 0.78

Những điểm hấp dẫn quan trọng đối với dân chúng

Thể thao trong nhà 2.98 0.94 3.85 0.35

Các hoạt động giải trí và các khu vui chơicông viên chủ đề

2.74 0.99 3.80 0.54

Giải trí và các hoạt động về 2.72 1.04 3.70 0.56

đêm

Sòng bạc 3.61 0.69 3.96 0.34

Mua sắm 2.45 1.01 3.14 0.74

Các khu nghỉ dưỡng 2.56 1.01 3.26 0.82

Các thành phố lớn 2.94 0.93 3.39 0.69

Các bãi biển để bơi/tắm nắng 2.34 1.10 2.79 0.96

Thời tiết dự báo trước được 2.11 0.97 2.40 0.81

Các chương trình nhà hát và âm nhạc trực tiếp

2.99 1.01 3.21 0.91

Nguồn: Fennell và Smale ( 1992) Ghi chú:

a Sự khác nhau giữa du khách sinh thái và dân chúng thông thường được thống kê trên mức ý nghĩa là 0.05

b Mức độ: 1= Vô cùng quan trọng; 4= không đáng kể

Các điểm hấp dẫn / những lợi ích được xếp từ trên xuống dưới theo tầm quan trọng của từng tiêu chí.

Một phần của tài liệu Địa lí phổ thông - du lịch sinh thái (Trang 63 - 69)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(341 trang)
w