Tổ chức du lịch thế giới cho rằng lượng khách đến thăm các vùng du lịch thế giới sẽ phát triển từ 593 triệu năm 1996 lên 1 tỉ khách năm 2010. Vào cùng thời điểm, thu nhập từ du lịch thế giới được mong chờ sẽ leo từ $423 tỉ năm 1996 lên đến 1.5 nghìn tỉ năm 2010 (Lurman 1997). Đó chính là tầm vóc của ngành du lịch, mà được báo cáo bởi rất nhiều bản kê khai tài chính là ngành lớn nhất thế giới. Với sự phát triểnkhông ngừng ở mức độ đã được nhận định ở trên, xu hướng chung không có vẻ là sút kém đi.
Trong một sự cân nhắc của tài liệu trên tác động kinh tế của ngành du lịch sinh thái toàn cầu, có một cảm giác trong các nhà nghiên cứu là du lịch sinh thái đang mở rộng thậm chí còn nhanh hơn cả toàn ngành du lịch (xem Lindberg 1991; McIntosh 1992; Hawkins ở Giannecchini 1993) với lên đến 20% của thị trường du lịch thế giới là du lịch sinh thái.
(Frangialli 1997). Những người khác tuy nhiên lại hoài nghi hơn (Horneman và Beeston ở
Tisdell 1995) và cảm giác rằng nó hợp lý hơn để quan sát sự lớn mạnh của du lịch sinh thái trong một hoàn cảnh cụ thể tại từng điểm đến hơn là khi quan sát toàn cảnh. Jenner và Smith (dẫn chứng trong Goodwin 1996) đánh giá rằng du lịch sinh thái có giá trị toàn cầu
$4 tỉ vào năm 1980, $5 tỉ vào năm 1985, và $10 tỉ đôla năm 1989. Họ ước tính giá trị của du lịch sinh thái là $25 tỉ năm 1995, và $50 tỉ năm vào năm 2000, trong khi Tibbettes (1995-6) miêu tả rằng $2 triệu tỉ mà du lịch mang lại hàng năm thì 17,5 tỉ đô la là từ du lịch sinh thái. Có lẽ thực tế hơn là tuyên bố gần đây của tổ chức thương mại thế giới (WTO) rằng cấu thành 2-4% của du lịch toàn cầu [diễn đàn trực tuyến quốc tế hàng năm của tổ chức thương mai thế giới về du lịch sinh thái năm 2002 tại New York: http://www. world- t ourism. org/newsroom/Releases/more_releases/january2002/launched ]. Những số liệu trên chỉ ra những quan điểm khác nhau tồn tại trên tác động vào kinh tế của du lịch sinh thái.
Một trong những lý do chính cho sự không nhất quán trong việc xác định số lượng là sự thiếu hụt về một định nghĩa rõ ràng của thuật ngữ (Hawkins ở Giannecchin 1993).
Dòng chảy của tiền bạc địa phương
Trong tâm trí những cơ quan địa phương, vùng miền, quốc gia, những nơi mà có trách nhiệm đối với sự phát triển của du lịch thì điều đầu tiên chính là tầm quan trọng của việc kiếm được lợi nhuận. Tuy nhiên, tất cả những vùng như vậy không được tạo ra công bằng xét về khả năng sinh lời và giữ tiền nội trong nền kinh tế của chúng. Đơn giản mà nói thì dù du lịch sẽ thường xuyên tạo ra một sự xâm nhập của tiền bạc vào nền kinh tế địa phương, khoản tiền mà ở lại với nền kinh tế đó phụ thuộc vào một số nhân tố. Trong việc đánh giá ảnh hưởng của tiền bạc vào kinh tế, các nhà kinh tế phải hiểu được ảnh hưởng là theo cấp số nhân và quan niệm liên quan về sự thâm hụt tiền bạc.
Nói chung, khi dòng tiền mới từ du lịch xâm nhập vào một nền kinh tế địa phương nó qua tay nhiều lần, dẫn đến một tác động kinh tế dồn tích cái mà, nhiều hơn lượng chi tiêu ban đầu của du khách. Cụ thể hơn, nguồn thu nhập trực tiếp hay thu nhập của vòng quay đầu tiên là khoản tiền đã được chi tiêu, nó được giữ lại sau khi đóng thuế, lợi nhuận và tiền lương được trả ngoài vùng và sau khi các giao dịch nhập khẩu được thực hiện (Getz 1990) Khoản tiền còn lại sau khi những sự thâm hụt này được quy vào nguồn thu nhập cấp hai,
cái mà lưu chuyển không ngừng thông qua kinh tế tạo thu nhập trực tiếp và induced income, một lần nữa cùng với nhiều khoản thâm hụt xuất hiện. Cấp số nhân quốc gia có xu hướng cao nhất và, theo như Bull (1991), xếp loại từ 2.5 đến 0.8 ở Bermuda và Bahamas.
Hầu hết những nền kinh tế kém phát triển, đặc biệt là các nền kinh tế đảo, có khuynh hướng thấp hơn vì có độ thâm hụt cao. Theo đó, thậm chí trên thế giới phát triển, cấp số nhân của những thị trấn và hạt nhỏ thấp đặc trưng (cận kề mức 0, 25). Tỉ lệ thâm hụt có thể xác định được bằng cách ước định phần trăm tiền bạc chảy ra khỏi nền kinh tế. (xem hình 5.1)
Rõ ràng, những vùng hay địa phương mà có thể giảm thiểu khoản tiền rời bỏ nền kinh tế của chúng sẽ có nhiều những khoản chi tiêu ban đầu để lại hơn để lưu chuyển thông qua nền kinh tế. Những vùng và địa phương này chỉ dựa vào các nguồn tài nguyên ở bên ngoài vùng và hạt – con người, vật chất và tiền tệ - sẽ chắc chắn phải trả cho dịch vụ của những tài nguyên này.
Mặt trái của nó cũng rất chính xác, đó là những vùng này có thể duy trì một ngành du lịch dựa trên các tài nguyên chúng có trong tay có thể có tiềm năng trở nên thịnh vượng dưới những điều kiện này. Dạng thâm hụt này đươc cho là một sự thay thế nhập khẩu. Nó là một quan niệm quan trọng trong hoàn cảnh của du lịch sinh thái và du lịch bền vững vì có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng du lịch, ví dụ ở các nước kém phát triển (LDCs), bị cản trở bởi thực tế rằng hạn chế quản lý của ngành này phụ thuộc vào những mối quan tâm đa quốc gia và bên ngoài. Khách sạn, các đại lý cho thuê xe ôtô, nhà hàng và các hãng máy bay, tất cả những đại gia kiếm tiền trong ngành du lịch, thường được sở hữu bởi các công ty mà nằm ngoài khu vực du lịch, và khu vực du lịch dựa vào những nơi này để xuất khẩu các sản phẩm thông qua du lịch.
Doanh thu và các vườn quốc gia
Du lịch vốn đã là một hoạt động bộ phận tư nhân mà tận dụng thị trường với mục đích kiếm ra lợi nhuận. Sự xung đột nổi lên khi các doanh nghiệp được thúc đẩy vì lợi nhuận dựa trên sự dự trữ nguồn cung mà không cần thiết phải tán thành cùng những triết lý kinh
doanh. Các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, như những tài sản quốc gia, cung cấp nền tảng cho ngành du lịch sinh thái. Trong nhiều trường hợp, có sự tranh cãi về việc nên chăng các vườn quốc gia cần hoạt động như một doanh nghiệp hơn để đáp lại nguồn vốn công cộng càng ngày càng co hẹp. Thường thì việc quản lý các vườn quốc gia không bị lệ thuộc bởi các nguyên lý và triết lý thị trường như các bộ phận tư nhân. Trong khi du lịch sinh thái trong các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên được chấp nhận một cách rộng rãi là có được lợi ích kinh tế phụ tích cực (như tạo công việc trực tiếp, cả tại khu vực và ngoài khu vực đó, đa dạng hoá nền kinh tế địa phương, nguồn lợi từ ngoại tệ và sự cải tiến các hệ thống giao thông và viễn thông), nó cũng có những tiêu cực liên quan, bao gồm việc thiếu nhu cầu thích đáng cho du lịch sinh thái, mà có thể dẫn tới sự kiệt quệ các nguồn vốn cần thiết, thực tế rằng du lịch sinh thái có thể không tạo ra các cơ hội việc làm tại địa phương, thực tế rằng những kẽ hở như trên có thể là khá cao, khi chúng ở tại các khu vực nhỏ và đang phát triển; và thực tế là đó có thể là không thể chấp nhận về mặt xã hội và kinh tế khi trả phí tại các vườn quốc gia.
Những tranh luận từ trước đã ám chỉ sự thật rằng những vấn đề quan trọng nhất mà các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên phải đối mặt ngày nay là các cách thức để có được nguồn vốn cho các hoạt động của họ - thực tế là nhiều quốc gia, cho sự sống sót của mình. Rất nhiều cơ quan quản lý vườn quốc gia từng phụ thuộc vào các cách thức chính đặc thù trong lịch sử để hỗ trợ vườn quốc gia của họ và các dịch vụ vườn quốc gia đã từng bị xem xét để đa dạng hoá nhằm giữ được các chương trình và cơ sở vật chất có chất lượng tốt. Sherman và Dixon (1991) miêu tả năm cách cơ bản để tìm kiếm nguồn thu từ du lịch tự nhiên, bao gồm:
• Phí người sử dụng: Các phí này thường là sự phản ánh sự sẵn sàng chi trả của cộng đồng và trong những năm gần đây, đã được thay thế thành một hệ thống hai hoặc nhiều tầng với nhiều mức phí khác nhau, chi phí dao động tuỳ theo việc người khách là dân địa phương hay là người nước ngoài.
• Sự giảm giá: Trong điều kiện của chính phủ, mức phí được tính cho các doanh nghiệp tư nhân, những người cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho du khách (dẫn tour, thực phẩm…)
• Tiền bản quyền: Doanh thu từ hàng lưu niệm và áo phông cung cấp cơ sở tốt cho hình thức này của doanh thu, nó sẽ được trao cho các cơ quan theo tỉ lệ phần trăm có từ các vật dụng đó.
• Đánh thuế: Thuế bán hàng, thuế khách sạn và thuế sân bay là ví dụ
• Quyên góp: Du khách có thể được gợi ý để đóng góp tiền bạc với mục đích giải quyết một vấn đề của địa phương (thiếu nguồn lực hoặc tiền bạc cho các loài đang bị đe doạ) và, trong quá trình này, giúp đỡ sự quản lý trong các khu bảo tồn thiên nhiên.
Trong trường hợp Khu dự trữ rừng Monteverde Cloud ở Costa Rica, vấn đề phí vào cửa các vườn quốc gia được bàn luận rộng rãi trong điều kiện có thể tự lập của khu dự trữ này.
Theo Aylward và các cộng sự (1996), đầu những năm 1970, khách du lịch, không phân biệt nguồn gốc, được yêu cầu trả mức phí tương đương 2.3 đôla để vào cửa khu dự trữ.
Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng lượng thăm quan, và nhu cầu đối với khu dự trữ, một cơ cấu tính phí mới được thiết lập. Năm 1995, mức phí được cơ cấu lại như sau: 1 đôla cho sinh viên Costa Rica, 1.5 đôla cho người bản địa, 4 đôla cho sinh viên nước ngoài và 8 đôla cho khách nước ngoài không đi theo các tour trọn gói và 16 đôla cho khách nước ngoài đi theo tour (đã dẫn). Mức phí này là những phương tiện cho phép các khu dự trữ tư nhân trở nên tự độc lập về kinh tế hơn.
Nguyên lý Nguyên nhân căn bản
Mức phí hỗ trợ nhưng không thay thế các nguồn doanh thu thiết yếu
Kể cả tại các khu vực được thăm quan nhiều, mức thu phí hiếm khi đủ cho tổng các chi phí, đặc biệt là chi phí xây dựng. sự phụ thuộc chủ yếu vào tổng mức thu phí giảm mật độ khách thăm và phạm vi của điểm hút khách có thể cung cấp. Biến động hàng năm trong doanh thu bán vé khiến nó trở thành nguồn thu kém ổn định Ít nhất một phần số thu phí phải
được để lại (để riêng) cho các khu vực tạo ra chúng
Trích lợi nhuận tăng thêm động cơ cho người quản lý để lập và thu phí hiệu quả. Khách sẵn sàng trả phí nếu họ biết chúng được sử dụng tại chỗ
Mức phí phải được tạo ra trên cơ sở đặc thù từng nơi
Hướng dẫn quốc gia nêu rõ mục tiêu thu phí và chính sách thu phí, do đó mục tiêu của ban quản lý và xu hướng khách thăm thay đổi tuỳ theo điểm du lịch tự nhiên, yêu cầu tính linh hoạt địa phương
trong định loại và lượng phí Mức phí không thể giống nhau
tại mọi điểm
Thu phí không hiệu quả về giá tại các địa điểm có lượng tham quan thấp và chi phí thu thập cao
Hệ thống phí làm việc tốt nhất khi được hỗ trợ bởi kế toán và quản lý đáng tin cậy
Quyết định quản trị về thu phí đòi hỏi dữ liệu có thể tin tưởng về chi phí và doanh thu của việc cung cấp du lịch dựa trên môi trường tự nhiên cho các điểm và hoạt động khác nhau
Bảng 5.1. Các nguyên lý chỉ đạo cho chính sách thu phí trong du lịch dựa trên tự nhiên
Nguồn: Laarman và Gregersen (1996)
Tisdell, tuy vậy, đề xuất rằng trước đây đã có một số hạn chế trong thực thi việc thu phí nhằm cấp tiền cho phát triển du lịch sinh thái, gồm có khả năng một số người có thể thăm khu vực đó và/hoặc nếu khu vườn quốc gia nếu như những khu này đặt tại các khu vực ngoại biên. Như sự thay thế, người quản lý có thể quyết định khiến cho khách du lịch trả tiền cho cơ quan vườn quốc gia, yêu cầu các nhà điều hành tour trả phí du khách (như trong trường hợp của nhiều điểm đến) hoặc dựng nên các máy bán vé tự động tại bãi đỗ xe ôtô hoặc đầu đường- một phương pháp đã làm việc rất tốt ở vườn quốc gia Pacific Rim, Canada. Laarman và Gregersen (1996) và Steele (1995) đồng tình rằng, định giá có những sức mạnh phi phàm trong việc đưa đến hiệu quả và sự bền vững trong du lịch sinh thái nhưng nó đang bị sao lãng bởi các chính sách công cộng. Các tác giả này định ra mục tiêu giá cả, chiến lược giá cả và các nhóm phí trong khi lập luận rằng nguyên tắc người tiêu dùng trả tiền và việc bãi bỏ quyền xâm nhập tự do đến đất công thật sự logic hiện nay; như một cách để trả phí và hơn thế, làm ra tiền. Trong khi mục đích cùng dùng các khu vực tự nhiên không nhất thiết phải vì “lợi nhuận”, nó lại cần thiết cho các tổ chức điều hành bởi cộng đồng và tất nhiên là các doanh nghiệp tư nhân. Laarman và Gregersen đưa ra một số nguyên tắc hướng dẫn cho chính sách thu phí trong du lịch dựa trên tự nhiên, như trong bảng 5.1.
Laarman và Gregersen lập luận rằng các mục tiêu định giá có thể có nhiều mặt, và người quản lý thường xuyên bị thách thức để định giá phù hợp với điều kiện tài nguyên của khu vườn quốc gia, nhu cầu của nhân viên trong vườn và nhu cầu của khách thăm quan. Trong
bảng 5.1, các nguyên tắc thay đổi và đi từ mối quan hệ của phí thu với nguồn thu chung, phí cho các khu vực nhất định, phí dành riêng cho các khu vực nhất định và việc quản lý và tính toán trong hệ thống thu phí đó. Trong một số hệ thống vườn quốc gia, phí có được từ mỗi vườn quốc gia quay về trong một khoản hoạt động chung. Lợi ích tích cực của nó là khoản tiền thu được giúp cho sự duy trì của các vườn quốc gia khác trong cùng hệ thống.
Yếu tố tiêu cực là những vườn quốc gia làm tốt công việc (cả khi họ có sự quản lý tốt hơn hay đơn giản là có lượng thăm quan nhiều hơn) không có cơ hội để tận dụng khoản tiền kiếm được cho các mục đích riêng. Kiểu suy luận trên về lâu dài sẽ làm giảm bớt động lực cho các vườn trong hệ thống các vườn sinh lợi, do đó họ trở nên kém tận tâm hơn, và khiến những vườn không sinh lợi theo thói quen dựa dẫm vào các khu sinh lợi tại các khu vực khác.
Steele (1995) mô tả một chính sách cho phép sự tiếp cận tự do tới các khu vực du lịch sinh thái dẫn tới thiếu hiệu quả về kinh tế và sinh thái. Thiếu hiệu quả kinh tế xảy ra theo cách những khu vực nào cho phép vào cửa tự do, họ sẽ mất giá trị cho thuê của nguồn tài nguyên. Các cơ quan phải thận trọng với mức cầu vượt mức tại các điểm bỏ không trong một số thời điểm chính trong năm, và cùng với những chi phí liên quan tới việc tắc nghẽn nơi mà du khách tác động đến xung quanh do sự tập trung quá mức (chi phí do sự tắc nghẽn được cho thấy là làm giảm lợi nhuận trên mỗi khách bằng cách giảm nhu cầu khách du lịch và tăng chi phí biên cho nhà cung cấp). Thiếu hiệu quả sinh thái bao gồm việc cân nhắc sức chứa và phân tích dựa trên tổng số khách và những thiệt hại do họ gây ra. Bằng cách phân chia khách một cách thích hợp theo thời gian và không gian, một số khu vực tự nhiên, theo Steele, co khả năng nâng cao con số khu vực tự nhiên và giảm bớt những tác động chung của du khách. Một điều quan trọng khác đối với Steele là sự lựa chọn cho những người quản lý đất đai với sự tôn trọng việc kiểm soát giá cả và số lượng (hạn chế số người sử dụng, thường được dùng nhiều hơn là kiểm soát giá cả). Tác giả này đề xuất việc sử dụng giá biểu thay đổi hoặc giá cả phân tầng là một cách hiệu quả để tăng doanh thu (xem ví dụ về Monteverde), khi mà người nước ngoài phải trả mức phí cao hơn là người địa phương. Một dẫn chứng rất hay được nhắc tới là đảo Galápagos, nơi mà khách nước ngoài phải trả 100 đôla còn dân địa phương thì ít hơn.