1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI THẢO LUẬN 6 DS 1

11 207 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 46,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 2: Nếu di chúc của ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người đã làm chứng di chúc của ông Này có là người làm chứng hợp pháp không?. Những người ở hàng thừa kế sau c

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN 6: QUY ĐỊNH VỀ DI CHÚC

Hình thức của di chúc:

Câu 1: Điều kiện về hình thức để di chúc tự viết tay có giá trị pháp lý? Nêu

cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trả lời:

Di chúc tự viết tay có hiệu lực pháp lý khi:

- Tuân thủ đúng quy định chung của di chúc

+ Thứ nhất : (căn cứ vào Điều 625 BLDS 2015) đối với chủ thể từ đủ 18 tuổi trở lên thì được tự mình lập di chúc Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được lập di chúc nếu đc cha mẹ hoặc người dám hộ đồng ý Bởi đấy là độ tuổi có hành vi năng lực dân sự chưa đầy đủ, có một số tài sản k thể tự mình quản lý đc Còn độ tuổi từ 18 tuổi trở lên thì đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền đối với tài sản của mình và đây cũng là độ tuổi đủ lớn để có thể tự mình định đoạt mọi việc Người lập di chúc tại thời điểm lập thì phải hoàn toàn minh mẫn không bị mất năng lực hành vi dân sự k bị cưỡng ép đe doạ và bản di chúc đó phải được viết dựa trên sự tự nguyện xuất phát từ đúng tâm tư nguyện vọng của người lập

+ Thứ hai: về nội dung Tuân thủ đúng cấu trúc tại Điều 631 BLDS 2015 Nội dung phải rõ ràng không được viết tắt hoặc bằng kí hiệu để đảm bảo nội dung chỉ có một nghĩa một cách hiểu duy nhất, tránh tình trạng tranh chấp hay hành vi cố tình làm sai lệch nội dung của di chúc Nếu có sự tẩy xoá sửa chữa thì người lập phải kí tên vào bên cạnh chỗ tẩy xoá sửa chữa đó để xác nhận mình là người thay đổi chứ không phải

ai khác Nhằm ngăn chặn hành vi trục lợi cá nhân khiến cho ý chí của người quá cố không thực hiện được làm mất đi ý nghĩa vốn có của di chúc

- Căn cứ Điều 633 BLDS 2015 một yếu tố cuối cùng - vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong bản di chúc viết tay là chữ kí của người lập di chúc nhằm để lại dấu ấn riêng biệt của mình và sự khẳng định cuối cùng của mình đối với bản di chúc

Câu 2: Nếu di chúc của ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người đã làm chứng di chúc của ông Này có là người làm chứng hợp pháp không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trả lời: Di chúc của ông Này là di chúc có người làm chứng, những người làm chứng

di chúc của ông Này đều hợp pháp Căn cứ Điều 632 BLDS 2015:

“Điều 632 Người làm chứng cho việc lập di chúc

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

1 Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

Trang 2

2 Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.”

 Chỉ có ông hiếu là người được thừa kế theo di chúc nên đương nhiên ông Hiếu không là người làm chứng hợp pháp Điều 651 BLDS 2015:

“Điều 651 Người thừa kế theo pháp luật

1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột,

em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3 Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

 Theo pháp luật thì anh Hiếu, chị Sinh, chị Sương, chị Rơi, anh Toàn là con ruột của ông Này và cha ruột của ông Này là người thừa kế hàng thứ nhất, cả hàng thừa kế sau không được hưởng quyền thừa kế cụ thể em trai và em gái ông Này là những người thuộc hàng thừa kế thứ hai trong khi đó những người hàng thừa kế thứ nhất vẫn còn sống nên em trai và em gái ông Này theo nhóm thảo luận chưa được xem là người thừa

kế theo pháp luật Trong bản án ở phần nhận thấy: cha ông Này có nói “gia đình hoàn toàn nhất trí theo ý ông Này, chúng tôi không yêu cầu hưởng di sản” có nghĩa là gia đình là tất cả các thành viên trừ bà Trọng không yêu cầu hưởng di sản cho nên theo nhóm thảo luận cha ông Này, em trai, em gái ông Này được xem là người làm chứng hợp pháp vì họ từ chối hưởng di sản nên không ảnh hưởng gì đến di sản nữa, không còn quyền lợi và nghĩa vụ đối với di sản

Trang 3

Câu 3: Di chúc của ông Này có phải do ông Này tự viết tay không? Vì sao?

Trả lời: Di chúc của ông Này không phải di chúc viết tay

Vì Tòa án có nói giấy thừa kế là do ông Này viết khi ông hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép Nhưng bản án không nói rõ ông Này có ký tên hay điểm chỉ vào di chúc hay không

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến hình thức di chúc của ông Này khi đây là di chúc do ông Này tự viết tay.

Trả lời: Hướng giải quyết trên của Tòa án là hợp lý, bởi vì di chúc do ông Này viết có

ba người làm chứng, di chúc theo ý chí của ông Này Di chúc được lập khi ông này còn minh mẫn sáng suốt không hề bị ép buộc hay đe dọa hay bị lừa dối

Câu 5: Di chúc của cụ Hựu đã được lập như thế nào?

Trả lời: Di chúc của cụ Hựu đã được lập như sau: Ngày 25/11/1998 cụ Hựu đọc cho ông Vũ viết, cụ Hựu điểm chỉ, ông Vũ và cụ Đồ Thị Quý (là mẹ của ông Vũ) kí tên làm chứng, sau đó ngày 04/01/1999 bà Lựu mang di chúc đến cho ông Hoàng Văn Thưởng ( là trưởng thôn) và Uỷ ban Nhân dân xã Mai Lâm xác nhận

Câu 6: Cụ Hựu có biết chữ không? Đoạn nào của Quyết định số 874 cho câu trả lời?

Trả lời: Cụ Hựu không biết chữ, "ông Quang xác nhận cụ Hựu là người không biết chữ"

Câu 7: Di chúc của người không biết chữ phải thỏa mãn các điều kiện nào

để có hình thức phù hợp với quy định của pháp luật?

Trả lời: Di chúc của người không biết chữ phải thoả mãn điều kiện như sau:

- Người lập di chúc phải minh mẫn sáng suốt không bị đe doạ cưỡng ép khi lập di chúc Đồng nghĩa với việc di chúc đó phải xuất phát từ sự tự nguyện, thể hiện đúng ý chí của người lập

- Nội dung của di chúc không được trái với quy định của pháp luật và phải tuân thủ đúng hình thức tại Điều 631, đặc biệt là phải có xác nhận của người lập

- Đặc biệt đối với những trường hợp người không biết chữ lập di chúc phải có người làm chứng để chuyển những ý chí của người lập vào một văn bản và có công chứng chứng thực người làm chứng phải là những người không bị cấm tại Điều 632 Đồng thời về mặt đạo đức phải là người trung thực, công tâm, có phẩm chất tốt

Trang 4

Câu 8: Các điều kiện nào nêu trên đã được đáp ứng với di chúc cảu cụ Hựu?

Trả lời: Các điều kiện đã được đáp ứng đối với di chúc của cụ Hựu là: di chúc được lập thành văn bản, có người làm chứng

Câu 9: Các điều kiện nào nêu trên đã không được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu?

Trả lời: Các điều kiện không được đáp ứng đối với di chúc của cụ Hựu là: không chứng thực và chưa xác định được dấu vân tay trên di chúc có thể hiện ý chí của cụ Hựu không vì không thể xác định dấu vân tay vì mờ, không thể hiện rõ các đặc điểm riêng Công chứng chứng thực ở đây là thủ tục công chứng chứng thực theo quy định tại Điều 636 BLDS 2015

Câu 10: Theo anh/chị, di chúc nêu trên có thỏa mãn điều kiện về hình thức không? Vì sao?

Trả lời: Theo nhóm thảo luận, di chúc trên không thỏa mãn điều kiện về hình thức Mặc dù di chúc được lập thành văn bản và có người làm chứng nhưng về yêu cầu có công chứng chứng thực do cụ Hựu là người không biết chữ thì chưa thỏa mãn yêu cầu của Luật Theo điều 636 BLDS 2015:

“Điều 636 Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban

nhân dân cấp xã

Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã phải tuân theo thủ tục sau đây:

1 Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người

có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Công chứng viên hoặc người

có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc.

2 Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải

ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.”

Trang 5

Câu 11: Suy nghĩ của anh/chị về các quy định trong BLDS liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ.

Trả lời: Theo như quy định của BLDS, di chúc của người không biết chữ thì ngoài việc phải tuân thủ những quy định chung về di chúc như điều kiện về chủ thể, nội dung

và hình thức tại Điều 630, 631 của BLDS 2015 thì di chúc do người không biết chữ lập phải có người làm chứng và công chứng, chứng thực theo quy định tại Khoản 3

Điều 630 "Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ

phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.".

Như vậy thì di chúc do người không biết chữ lập phải thỏa mãn hai điều kiện trên thì mới được công nhận:

+ Về người làm chứng thì BLDS 2015 có quy định tại Điều 632 để điều chỉnh Theo

đó người làm chứng phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không gặp khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi và người đó phải là người không được hưởng

di chúc để đảm bảo sự công tâm, khách quan của người làm chứng

+ Về việc công chứng thì BLDS 2015 chỉ quy định là phải công chứng, chứng thực nhưng không quy định công chứng, chứng thực như thế nào (thời gian công chứng là khi nào, thời hạn, thời hiệu ra sao) nên thực tế sẽ có hai trường hợp xảy ra:

- Di chúc được lập ở nhà rồi đem đến cơ quan có thẩm quyền để công chứng, chứng thực

- Di chúc được lập tại cơ quan công chứng hoặc UBND cấp xã với sự có mặt của người lập và người làm chứng Pháp luật chỉ quy định là có công chứng, chứng thực nhưng không quy định một cách cụ thể, rõ ràng Thực tế thì việc lập

di chúc ở nhà rồi mới đem đi chứng thực là chiếm đại đa số

 Vì vậy nhóm thảo luận thấy rằng liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ thì BLDS 2015 đã có quy định nhưng không rõ ràng và cụ thể nên thực tế sẽ

có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau làm cho tòa án khi giải quyết các vụ việc còn lúng túng không nêu ra cơ sở pháp lý

Di chúc tài sản của người khác:

Câu 1: Cụ Hương đã định đoạt tài sản nào? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?

Trả lời:

- Tài sản cụ Hương đã định đoạt: Toàn bộ căn nhà và đất số 302 Nguyễn Thượng Hiền, phường 5, quận Phú Nhuận

Trang 6

- Đoạn trong quyết định nói về tài sản cụ Hương đã định đoạt: “Ngày 06/4/2009

cụ Nguyễn Văn Hương chết, để lại di chúc có nội dung là chia toàn bộ tài sản là căn nhà và đất số 302 Nguyễn Thượng Hiền, phường 5, quận Phú Nhuận cho 5 người con là Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Ngọc Hiếu, Nguyễn Hữu Dũng, Quảng Thị Kiều (vợ Nguyễn Hữu Trí), di chúc đã được công chứng tại phòng công chứng số 4 thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/01/2009

Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy tài sản cụ Hương định đoạt trong di chúc là tài sản chung của vợ chồng cụ Hương?

Trả lời: Đoạn của quyết định cho thấy tài sản của cụ Hương định đoạt trong di chúc là tài sản chung của vợ chồng cụ Hương:

Về tài sản chung : “Công nhận căn nhà số 302 Nguyễn Thượng Hiền, phường 5, quận Phú Nhuận (Số cũ 250/19 Nguyễn Văn Đậu) có diện tích 680,6 m², giá trị tiền xây dựng 433.587.700 đồng là di sản của cụ Hương và cụ Quý”

Bên cạnh đó, phần ba xét thấy, Tòa án cũng khẳng định rằng: “nhà đất trên là tài sản chung của vợ chồng cụ Hương và cụ Quý”

Câu 3: Tòa án đã công nhận phần nào của di chúc? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Trả lời:

- Tòa án chỉ công nhận một phần của di chúc, không phải toàn bộ: ½ nhà đất

- Cụ thể là ở phần xét thấy trong quyết định Tòa án đã tuyên: “Tuy nhiên, về nội dung thì di chúc chỉ có giá trị một phần bởi nhà đất trên là tài sản chung của vợ chồng cụ Hương và cụ Quý Việc cụ Hương lập di chúc cho toàn bộ nhà đất cho

5 người con trong khi không có sự đồng ý của cụ Quý là không đúng”

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.

Trả lời: Theo nhóm thảo luận hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm là hợp lí

- Cụ thể là Tòa án cho rằng phần tài sản của cụ Hương (½ nhà đất) nên được chia cho 5 người con (5 người được hưởng thừa kế theo di chúc) sau khi đã chia cho

cụ Quý 2/3 suất thừa kế theo pháp luật

- Căn cứ và Điểm b Khoản 2 Điều 650 BLDS 2015 về những trường hợp thừa kế theo pháp luật Ở đây, “phần di chúc không có hiệu lực pháp luật” chính là ½ nhà đất còn lại (cụ Hương định đoạt tài sản là toàn bộ nhà đất trong khi tòa chỉ công nhận ½ tài sản thuộc quyền sở hữu của cụ Hương) và ½ nhà đất còn lại

Trang 7

thuộc sở hữu của cụ Quý Vậy Tòa giám đốc thẩm chi nửa căn nhà và đất cho

cụ Quý là hoàn toàn có cơ sở

- Còn về nửa căn nhà di sản của cụ Hương – theo di chúc là chia cho 5 người con Song cụ Quý – vợ cụ Hương vẫn được hưởng ít nhất 2/3 của suất thừa kế theo luật định tính theo hàng thừa kế thứ nhất Vậy ½ di sản của cụ Hương chia làm 6 phần, cụ Quý được hưởng 2/3 trong đó Vậy Tòa giám đốc thẩm khẳng định là có căn cứ

Câu 5: Nếu cụ Quý chết trước cụ Hương, phần nào của di chúc có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trả lời: Nếu cụ Quý chết trước cụ Hương, phần di chúc có giá trị pháp lý là:

- Cụ Quý không nằm trong những đối tượng được hưởng thừa kế của cụ Hương, nếu có thì căn cứ vào Điểm a Khoản 2 Điều 643 BLDS 2015, cụ Quý vẫn sẽ không được hưởng gì

- Trường hợp cụ Quý chết mà không để lại di chúc phần thừa kế của cụ sẽ được chia theo quy dịnh của pháp luật Lúc này, cụ Hương – chồng cụ Quý sẽ được hưởng 2/3 trong ½ căn nhà và đất của cụ Quý

Câu 6: Nếu tài sản được định đoạt trong di chúc chỉ thuộc sở hữu của cụ Hương vào đầu tháng 4/2009 thì di chúc của cụ Hương có giá trị pháp lý không?

Vì sao?

Trả lời: Nếu tài sản được định đoạt trong di chúc chỉ thuộc sở hữu của cụ Hương vào đầu tháng 4/ 2009 thì di chúc của cụ Hương vẫn có giá trị pháp lý Vì di chúc không vi phạm những điều kiện để di chúc hợp pháp, căn cứ vào Điều 630 BLDS 2015 (Tại thời điểm lập di chúc, cụ Hương còn minh mẫn, di chúc không vi phạm điều cấm, điều trái đạo dức , …)

Di chúc chung của vợ chồng:

Câu 1: Đoạn nào của bản án số cho thấy di chúc có tranh chấp là di chúc chung của vợ chồng?

Trả lời: Đoạn cho thấy di chúc có tranh chấp chung của vợ chồng là đoạn thứ 1 của phần nhận định “ông Hoàng Minh X và bà Hoàng thị H là vợ chồng Trong thời kì hôn nhân ông bà tạo dựng khối tài sản chung như trong biên bản thẩm định ngày 21/8/2017 Tháng 01/2016 ông X chết và có để lại 1 bản di chúc chung của vợ chồng viết ngày 10/08/2015 Anh H, anh H2, anh H3 là con đẻ của ông X, bà H không công nhận di chúc trên là hợp pháp Bà H khởi kiện và yêu cầu Tòa án công nhận di chúc chung của vợ chồng bà là hợp pháp Yêu cầu Tòa án công nhận di chúc chung của vợ chồng bà là hợp pháp Yêu cầu khởi kiện của bà H phù hợp với quy định tại chương

Trang 8

XXII của BLDS 2015 về thừa kế theo di chúc và thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện C, tỉnh Phú Thọ ”

Câu 2: Theo Tòa án, di chúc chung của vợ chồng có giá trị pháp lý khi áp dụng BLDS 2015 không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời.

Trả lời: Theo Tòa án thì di chúc chung của vợ chồng có giá trị pháp lý khi áp dụng BLDS 2015 Thể hiện ở đoạn “Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự thừa nhận ông X có tỉnh táo, minh mẫn không nằm viện điều trị cho đến thời điểm trước khi chết Sự thừa nhận trên chứng tỏ vào thời điểm ông X viết bản di chúc còn khỏe mạnh, minh mẫn, không có sự ép buộc nào Nội dung trong bản di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại Điều 630 BLDS năm 2015”

Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án về di chúc chung của vợ chồng trong mối quan hệ với BLDS 2015.

Trả lời: Theo nhóm thảo luận thì hướng giải quyết của Toà án về di chúc chung của vợ chồng trong mối quan hệ với bộ luật dân sự 2015 là hợp tình, hợp lí

- Thứ nhất: Xét tổng thể thì bản di chúc đáp ứng đủ điều kiện về nội dung, hình thức của pháp luật tại Điều 630 BLDS 2015

- Thứ hai: Chủ thể lập di chúc trong trường hợp này là hai người bao gồm cả vợ và chồng Đối với trường hợp này thì BLDS 2015 không có quy định để điều chỉnh, tuy nhiên cũng không có quy định nào cấm việc vợ chồng lập di chúc chung nên việc lập

di chúc này là hoàn toàn hợp pháp và chủ thể lập di chúc cũng được xác nhận là hoàn toàn tự nguyện và đủ nhận thức vào thời điểm lập di chúc Trong vụ việc còn có một tình tiết là bản di chúc này được lập trước tháng 1 năm 2016 trước khi bộ luật dân sự

2015 có hiệu lực vào 01/01/2017 nên có thể căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 những giao dịch dân sự được xác lập trước ngày bộ luật này có hiệu lực thì đối giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung khác với quy định của luật này thì thực hiện theo quy định của bộ luật dân sự 2005 Nếu theo bộ luật dân sự

2005 thì ta hoàn toàn có cơ sở pháp lí vững chắc để công nhận di chúc của vợ chồng là

hợp pháp Theo Điều 668: "di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm người

sau cùng chết hoặc thời điểm mà vợ chồng cùng chết ".

Di sản dùng vào việc thờ cúng:

Câu 1: Trong điều kiện nào di sản dùng vào việc thờ cúng có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trả lời: Di sản được dùng vào việc thờ cúng phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại

Trang 9

“1 Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người

đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.

Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

2 Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa

vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng”.

Câu 2: Đoạn nào của bản án cho thấy di sản có tranh chấp được di chúc dùng vào việc thờ cúng?

Trả lời: Dựa vào đoạn:

“Ngày 08 tháng 07 năm 2004 mẹ anh chị có làm di chúc để lại căn nhà và đất cho 7 anh chị em, anh Được yêu cầu chia di sản thừa kế các anh chị cũng đồng ý, phần di sản thừa kế các anh chị được hưởng, các anh chị để lại cho anh Được được quyền

sở hữu sử dụng, các anh chị xin vắng mặt.”

“Tại tờ di chúc ngày 08 tháng 7 năm 2004 bà Lùng để lại nhà đất cho 7 người con đồng thừa hưởng để thờ cúng cho mẹ, anh Được là người đang quản lý di sản, hiện tại 5/7 anh chị em của anh Được đồng ý chia di sản và giao cho anh được sở hữu di sản là có cơ sở chấp nhận.”

Giải thích: Bởi vì ông Mười và bà Lùng đã giao cho ông Được quản lý nhà đất Tòa

án thừa nhận di sản dùng cho việc thờ cúng tồn tại và việc thừa nhận này không phải trên cơ sở di chúc của người để lại di sản vì người có di sản chết tuy có di chúc nhưng chung chung mà dựa trên cơ sở ý nguyện của người quá cố trước khi họ qua đời Để củng cố theo hướng giải quyết này, Tòa án dân sự còn nêu thêm: “hiện tại 5/7 anh chị

em của anh Được đồng ý chia di sản và giao cho anh được sở hữu di sản” Như vậy, yếu tố để thừa nhận di sản dùng cho việc thờ cúng không phải là di chúc mà dựa vào ý chí của 5/7 thừa kế thống nhất di sản này dùng cho việc thờ cúng và ý nguyện của người quá cố trước khi chết

Ngày 08 tháng 7 năm 2004 bà Lùng để lại nhà đất cho 7 người con đồng thừa hưởng để thờ cúng cho mẹ, anh Được là người đang quản lý di sản, hiện tại 5/7 anh

Trang 10

chị em của anh Được đồng ý chia di sản và giao cho anh được sở hữu di sản là có

cơ sở chấp nhận.”

Câu 3: Các điều kiện để di sản dùng vào việc thờ cúng một cách hợp pháp

có được thỏa mãn trong vụ việc đang nghiên cứu không?

Trả lời: Thỏa mãn

Vì trong vụ việc, bà Lùng để lại di sản cho tất cả 7 người con để dùng vào việc thờ cúng và trong đó có 5/7 người đã đồng ý cử anh Được là người quản lý di sản thờ cúng Theo Khoản 1 Điều 645 BLDS 2015 thì điều này là hoàn toàn thỏa mãn

Câu 4: Ai đồng ý và ai không đồng ý chia di sản dùng vào việc thờ cúng trong vụ tranh chấp này? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

Trả lời: Trong số 7 người con của bà Lùng thì anh Thảo, anh Xuân, anh Được, anh Nhành và chị Hoa là đồng ý, còn anh Tân và chị Hương không đồng ý

Trong phần ở nhận thấy, ở lời khai của anh Được, đoạn: “Ngày 08 tháng 7 năm 2004

mẹ anh lập di chúc để lại nhà đất cho 07 anh chị em, hiện tại anh quản lý nhà đất, năm

2005 năm anh chị em họp lại chia di sản của mẹ anh, nhưng anh Tân và chị Hương không đồng ý”

Câu 5: Cuối cùng Tòa án có chấp nhận chia di sản đã được di chúc dùng vào việc thờ cúng không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

Trả lời: Trong vụ việc trên quyết định của Tòa án không chấp nhận di sản đã được di chúc dùng vào việc thờ cúng Theo quy địn tại Điều 645 BLDS 2015 quy định trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản

lý để thực hiện việc thờ cúng Nhưng theo quyết định của Tòa án thì Tòa án đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn Được và giao cho anh Được được quyền sở hữu, sử dụng căn nhà của bà Lùng để lại đồng thời anh Được phải có trách nhiệm thanh toán giá trị di sản thừa kế cho anh Tân và chị Hương mỗi người sốtiền là 37.424.000 đồng

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về chế định di sản dùng vào việc thờ cúng trong BLDS và giải pháp của Tòa án trong vụ việc đang được nghiên cứu.

Trả lời:Theo nhóm em thì quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng được quy định trong BLDS vẫn còn sơ sài, không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh một quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp như quan hệ thừa kế di sản dùng vào việc thờ cúng

Giải pháp của Tòa án trong vụ việc trên theo nhóm thảo luận là hợp lý vì theo quy định tại Điều 645 BLDS 2015 và Điều 670 BLDS 2005 thì không được để lại di sản thờ cúng trong hai trường hợp là tài sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người

Ngày đăng: 04/03/2019, 22:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w