Nếu di chúc của ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người đã làm chứng di chúc của ông Này có hợp pháp không? Nếu tài sản được định đoạt trong di chúc của cụ vào đầu tháng 42009 thì di chúc của cụ có giá trị pháp lý không? vì sao? Suy nghĩa của anhchị về hướng giải quyết của Tòa án về di chúc chung của vợ chồng.
Trang 1ấn đề 1 : Hình thức của di chúc
Tóm tắt bản án số 83/2009/DSPT ngày 28/12/2009: nguyên đơn ông Hiếu kiện bị đơn là bà Trọng về việc tranh chấp di sản thừa kế Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2009/DSST Tòa tuyên xử chấp nhận yêu cầu của ông Hiếu về việc tranh chấp di sản thừa kế Tại Tòa phúc thẩm, Tòa bác kháng cáo của nguyên đơn ông Hiếu, giữ nguyên như quyết định của bản án sơ thẩm
1.1/ Điều kiện về hình thức để di chúc tự viết tay có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Điều kiện về hình thức để di chúc tự viết tay có giá trị pháp lý được quy định ở Điều
655 BLDS 2005: “Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 653 của
Bộ luật này”
Điều 653 BLDS 2015 quy định :
1 Di chúc phải ghi rõ:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để
cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản;
đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ
2 Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc
1.2/ Nếu di chúc của ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người
đã làm chứng di chúc của ông Này có là người làm chứng hợp pháp không? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời.
Trang 2Nếu di chúc của ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người đã làm chứng di chúc của ông Này không phải là người làm chứng hợp pháp Căn cứ vào Điều 654 BLDS 2005, người làm chứng cho việc lập di chúc Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những trường hợp sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
- Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự
Và Điều 676 BLDS 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật:
1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại
2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau
3 Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản
Mà theo Bản án số 83/2009/DSPT, những người đã làm chứng di chúc cho ông Này
là cha, em gái và em trai ông Này Và ba người này rơi vào trường hợp không được làm chứng di chúc theo Khoản 1 Điều 654 BLDS 2005, họ là những người thừa kế theo pháp
Trang 3luật của ông Này Cha ông Này thuộc hàng thừa kế thứ nhất, em trai và em gái thuộc hàng thừa kế thứ hai, căn cứ theo Điều 676 BLDS 2005
1.3/ Di chúc của ông Này có là di chúc do ông Này tự viết tay không? Vì sao?
Di chúc của ông Này không là di chúc viết tay, vì theo Điều 633 BLDS 2015 quy định về “Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này.” Do bản di chúc của ông Này mặc dù tự tay ông Này viết nhưng không có người làm chứng hợp pháp và trong bản án cũng không nói rõ là có chữ ký của ông trong bản di chúc hay không nên di chúc của ông không được xem là một bản di chúc hợp pháp
1.4/ Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến hình thức di chúc của ông Này khi đây là di chúc do ông Này tự viết.
Tôi không hoàn toàn đồng ý với cách giải quyết trên của Tòa án liên quan đến hình thức di chúc của ông Này vì di chúc tự viết tay không cần phải có người làm chứng mà chỉ cần căn cứ vào hình thức của di chúc và nội dung của di chúc là có thể xác định di chúc hợp pháp hay không Do đó mặc dù kết quả của Tòa án là công nhận di chúc đó hợp pháp nhưng trong quá trình xử lý còn có một vài sai sót như người làm chứng, cần phải có công chứng, chứng thực
Tóm tắt Quyết định số 874/2011/DS-GĐT ngày 22/11/2011: nguyên đơn ông Quang kiện bị đơn là bà Ngâm về việc tranh chấp về thừa kế tài sản Tại bản án dân
sự sơ thẩm, TAND huyện Đồng Anh quyết định: chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Văn Quang về việc mở thừa kế di sản của cụ Hựu để lại Tại bản án dân sự phúc thẩm, Tòa
án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định: bác yêu cầu kháng cáo của ông Quang, giữ nguyên bản án sơ thẩm; bác tất cả các yêu cầu khác của đương sự Tại Tòa giám đốc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy bản án dân sự sơ thẩm và bản án dân sự phúc thẩm về vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản giữa bị đơn ông Quang và bị đơn bà Ngâm
Trang 41.5/ Di chúc của cụ Hựu đã được lập như thế nào?
Di chúc của cụ Hựu đã được lập như sau: “Ngày 25/11/1998, di chúc là do cụ Hựu đọc cho ông Vũ viết, cụ Hựu điểm chỉ, ông Vũ và cụ Đỗ Thị Quy (là mẹ của ông Vũ) ký tên, làm chứng, sau đó ngày 04/01/1999 bà Lựu mang di chúc đến cho ông Hoàng Văn Thưởng (là Trưởng thôn) và Ủy ban nhân dân xã ai Lâm xác nhận”
1.6/ Cụ Hựu có biết chữ không? Đoạn nào của Quyết định số 874 cho câu trả lời?
Cụ Hựu không biết chữ
Đoạn của Quyết định số 874 cho câu trả lời: “Ông Quang xác định cụ Hựu là người không biết chữ”
1.7/ Di chúc của người không biết chữ phải thỏa mãn các điều kiện nào để có hình thức phù hợp với quy định với pháp luật?
Theo Khoản 3 Điều 652: “Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực”
Và Điều 658 BLDS 2005: “Thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:
1 Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người
có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập
di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc;
2 Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng
Trang 5thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng
1.8/ Các điều kiện nào nêu trên đã được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu?
Các điều kiện đã được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu:
- Di chúc được người làm chứng lập thành văn bản
- Di chúc có công chứng, làm chứng ((có 2 người làm chứng là ông Vũ và cụ Quý, có xác nhận của ông Thưởng trưởng thôn và xác nhận của Ủy ban nhân xã Mai Lâm)
1.9/ Các điều kiện nào nêu trên đã không được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu?
Các điều kiện không được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu là việc công chứng, chứng thực, không xác định được chính xác dấu vân tay của cụ Hựu và Ủy ban nhân dân
xã Mai Lâm không xác nhận nội dung di chúc
1.10/ Theo anh/chị, di chúc nêu trên có thỏa mãn về hình thức không? Vì sao?
Theo em di chúc trên không thỏa mãn điều kiện về hình thức Mặc dù di chúc đã được lập thành văn bản và có người làm chứng nhưng về yêu cầu có công chứng, chứng thực
do cụ Hựu là người không biết chữ thì chưa thỏa mãn yêu cầu của Luật Vì theo quy định tại Điều 658 BLDS 2005 “Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc” Nhưng ở đây cụ Hựu chỉ đọc cho ông Vũ viết và bà Lựu mang di chúc đến cho ông Hoàng Văn Thưởng (là Trưởng thôn) và Ủy ban nhân dân xã mai Lâm xác nhận Điều đó không phù hợp với luật Mặt khác theo Quyết định thì cụ Hựu không rơi vào Khoản 2 Điều 658 BLDS 2005 Ta cũng cần phân
Trang 6biệt trường hợp di chúc viết hộ với di chúc được lập bởi người không thể tự lập di chúc
do khiếm khuyết hoặc mù chữ “Trường hợp này cần đặc biệt lưu ý, vì sẽ có người nhầm tưởng quy định này cũng áp dụng đối với mọi cá nhân không thể tự mình viết di chúc… Khi người để lại di sản không thể tự mình viết di chúc (do bị khiếm khuyết thể chất hoặc người mù chữ) thì pháp luật quy định người này phải lập di chúc bằng văn bản theo thủ tục công chứng, chứng thực, đồng thời việc lập, công chứng, chứng thực di chúc phải có người làm chứng thì di chúc mới có hiệu lực”1
1.11/ Suy nghĩ của anh/chị về các quy định trong BLDS liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ.
Quy định trong BLDS liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ vẫn còn rất sơ xài, chưa quy định rõ BLDS quy định về việc công chứng và chứng thực của
di chúc nhưng không nêu rõ người đi công chứng hoặc chứng thực là ai Vì vậy nên bổ sung thêm quy định vào chế định di chúc của người không biết chữ, theo đó người đi công chứng hoặc chứng thực phải là người xác lập di chúc hoặc người thể hiện ý chí của người lập di chúc thành văn bản để đảm bảo sự công bằng, rõ ràng, chính xác của di chúc, để tránh sự thay đổi ý chí của người lập di chúc, từ đó tránh các sự tranh chấp không đáng có Ngoài ra BLDS cũng cần quy định thêm thời hạn công chứng, chứng thực di chúc của người không biết chữ
Vấn đề 2: Tài sản được định đoạt theo di chúc
Tóm tắt Quyết định số 359/2013/DS-GĐT ngày 28/8/2013: nguyên đơn cụ Quý
kiện ông Dũng và ông Lộc về việc tranh chấp thừa kế Tại Bản án dân sự sơ thẩm Tòa
án nhân dân TP Hồ Chí Minh quyết định chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cụ Quý đòi chia tài sản chung và thừa kế Sau đó ông Lộc đã khiếu nại bản án dân sự sơ thẩm Tại Tòa giám đốc thẩm, Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 1162/2010/DS-ST ngày 11/08/2010
1 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế, Nxb Hồng
Đức-Hội Luật gia Việt Nam, Tr 241-242
Trang 72.1/ Cụ Hương đã định đoạt tài sản nào? Đoạn nào của Quyết định số 359 cho câu trả lời?
Cụ Hương đã định đoạt tài sản là cụ Hương đã định đoạt toàn bộ nhà đất tại địa chỉ 25D/19 Nguyễn Văn Đậu (nay là 302 Nguyễn Thượng Hiền, phường 5, Phú Nhuận) Đoạn của Quyết định số 359 cho câu trả lời: “Ngày 16/01/2009, cụ Hương di chúc toàn bộ nhà đất cho các con là Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Ngọc Hiếu, Nguyễn Hữu Dũng, Quảng Thị Kiều (vợ ông Nguyễn Hữu Trí)”
2.2/ Đoạn nào của Quyết định số 359 cho thấy tài sản của cụ Hương định đoạt trong
di chúc là tài sản chung của vợ chồng cụ Hương?
Đó là đoạn: “Tuy nhiên, về nội dung thì di chúc chỉ có giá trị một phần bởi nhà đất trên là tài sản chung của vợ chồng cụ Hương và cụ Quy.”
2.3/ Tòa án đã công nhận phần nào của di chúc? Đoạn nào của Quyết định số 359 cho câu trả lời?
Tòa án đã công nhận hiệu lực đối với một phần tài sản của cụ Hương (1/2 nhà đất) cho 5 người con, sau khi đã chia cho cụ Quý 2/3 suất thừa kế theo pháp luật
Đoạn cho thấy câu trả lời: “Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử di chúc của cụ Nguyễn Văn Hương có hiệu lực một phần đối với phần tài sản của cụ Hương (1/2 nhà đất) nên được chia đều cho 5 người con là các ông bà Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Ngọc Hiếu, Nguyễn Hữu Dũng, Quảng Thị Kiều ( vợ ông Nguyễn Hữu Trí) sau khi đã chia cho cụ Quý 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.”
2.4/ Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.
Theo em hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm là hợp lí và đảm bảo được quyền lợi cho các bên
2.5/ Nếu cụ Quý chết trước cụ Hương, phần nào của di chúc có giá trị pháp lý? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trang 8Nếu cụ Quý chết trước thì phần di chúc có giá trị pháp lý là một phần tài sản của cụ Hương trong phần tài sản chung của cụ Quy và cụ Hương (1/2)
Trong trường hợp cụ Quý để lại di chúc nhưng không chia di sản cho cụ Hương thì phần di chúc của cụ Hương có giá trị pháp lý cộng thêm 2/3 suất thừa kế theo pháp luật
mà cụ Hương được nhận từ cụ Quý do cụ Hương là người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc Căn cứ vào Điều 669 BLDS 2005
Còn nếu cụ Quý để lại di chúc có chia di sản cho cụ Hương thì phần di chúc có giá trị pháp lý của cụ Hương sẽ cộng thêm phần di sản cụ Hương được nhận Căn cứ vào Điều
631 BLDS 2005
Trường hợp cụ Quý không để lại di chúc thì phần di sản của cụ Quý sẽ được chia theo pháp luật (cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm 12 người con và cụ Hương) thì phần di chúc có giá trị pháp lý của cụ Hương sẽ cộng thêm 1/13 di sản cụ Quy để lại Căn cứ vào Điều 675, 676 BLDS 2005
2.6/ Nếu tài sản được định đoạt trong di chúc chỉ thuộc sở hữu của cụ Hương vào đầu tháng 4/2009 thì di chúc của cụ Hương có giá trị pháp lý không? Vì sao?
Nếu tài sản được định đoạt trong di chúc chỉ thuộc sở hữu của cụ Hương vào đầu tháng 4/2009 thì di chúc có giá trị pháp lý hay không bộ luật không có quy định Còn trong thực tiễn xét xử Tòa án giải quyết theo hướng di sản được xác định từ thời điểm lập di chúc Như vậy trong trường hợp này di chúc của cụ Hương được công chứng ngày 16/01/2009 mà đến đầu tháng 4/2009 tài sản mới thuộc sở hữu của cụ Hương thì di chúc của cụ Hương không có giá trị pháp lý
Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 58/2018/DS-GĐT ngày 27-9-2018: nguyên đơn là ông Y kiện bị đơn là Phòng công chứng M tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu Tại bản án dân sự sơ thẩm, Tòa
án đã tuyên bố di chúc vô hiệu Sau đó ông D1 kháng cáo Tại Bản án dân sự phúc thẩm, Tòa án quyết định giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm Sau đó ông D1 lại có
Trang 9đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm Tại tòa giám đốc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy Bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm
2.7/ Quyết định số 58, đoạn nào cho thấy quyền sử dụng đất của cụ C và cụ D đã bị thu hồi trước khi hai cụ chết.
Đó là đoạn: “Ngày 15-01-2011, cụ D lập di chúc tại Phòng công chứng M, tỉnh Vĩnh Phúc với nội dung để lại phần tài sản của mình tại thửa đất nêu trên cho ông D1, khi Nhà nước thu hồi, bồi thường bằng tái định cư (hoặc nhận tiền) và bồi thường tài sản trên đất thì ông D1 được đứng tên và nhận tiền”
2.8/ Đoạn nào của Quyết định sô 58 cho thấy Tòa giám đốc thẩm xác định di sản của
cụ C và cụ D là quyền sử dụng đất? Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định vừa nêu của Tòa giám đốc thẩm?
Đó là đoạn: “Ngoài ra, di sản của cụ D, cụ C để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất
số 38, Tờ bản đồ số 13 đã bị thu hồi theo Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày
21-07-2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên nhưng giá trị quyền sử dụng đất đã bị thu hồi vẫn được pháp luật đảm bảo theo quy định của Luật Đất đai nên hai cụ có quyền lập di chúc định đoạt tài sản trên cho ông D1.”
Theo tôi hướng giải quyết trên của Tòa án là hợp lý và đảm bảo được quyền lợi cho đương sự
2.9/ Đoạn nào của Quyết định số 58 cho thấy Tòa giám đốc thẩm theo hướng cụ C và
cụ D được định đoạt theo di chúc quyền sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi? Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết vừa nêu của Tòa giám đốc thẩm.
Đó là đoạn: “Ngoài ra, di sản của cụ D, cụ C để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất
số 38, Tờ bản đồ số 13 đã bị thu hồi theo Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày
21-07-2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Vĩnh Yên nhưng giá trị quyền sử dụng đất đã bị
Trang 10thu hồi vẫn được pháp luật đảm bảo theo quy định của Luật Đất đai nên hai cụ có quyền lập di chúc định đoạt tài sản trên cho ông D1.”
Theo tôi hướng giải quyết trên của Tòa án là hợp lý và đảm bảo được quyền lợi cho đương sự
Vấn đề 3: Di chúc chung của vợ chồng
Tóm tắt bản án số 14/2017/DSST ngày 28-9-2017: nguyên đơn bà Hoàng Thị H
kiện anh Hoàng Tuyết H về việc tranh chấp thừa kế di sản Tòa án quyết định công nhận di chúc của ông Hoàng Minh X và bà Hoàng Thị H viết ngày 10/8/2015 là hợp pháp; không chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng Tuyết H và anh Hoàng Quốc H2 đòi chia di sản của ông Hoàng Minh X
3.1/ Đoạn nào của bản án số 14 cho thấy di chúc có tranh chấp là di chúc chung của
vợ chồng?
Đó là đoạn: “Ông Hoàng Minh X và bà Hoàng Thị H là vợ chồng Trong thời kỳ hôn nhân ông bà đã tạo dựng được khối tài sản chung như biên bản thẩm định ngày 21/8/2017 Tháng 01/2016 ông X chết và có để lại một bản di chúc chung của vợ chồng viết ngày 10/8/2015”
3.2/ Theo Tòa án, di chúc chung của vợ chồng có giá trị pháp lý khi áp dụng BLDS
2015 không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Theo Tòa án, di chúc chung của vợ chồng có giá trị pháp lý khi áp dụng BLDS 2015 Đoạn của bản án cho câu trả lời: “Áp dụng Điều 627, 630 Bộ luật dân sự 2015; khoản 1, 5 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết: số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lí và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và Điều 26 Luật thi hành
án dân sự
1 Xử: công nhận di chúc chung của ông Hoàng Minh X và bà Hoàng Thị H viết ngày 10/8/2015 là hợp pháp.”