1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI THẢO LUẬN 1 Dân sự 1

16 1,7K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 44,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Theo đó, người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của ngườ

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN 1 : CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ

I) Năng lực hành vi dân sự:

1 Cho biết những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật Dân sự 2005 về quy định mất năng lực hành vi dân sự.

Trả lời:

- Điểm mới 1: Bổ sung trường hợp loại trừ NLHVDS đầy đủ

+ BLDS 2005: chỉ có 2 trường hợp là mất năng lực hành vi dân sự

và hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 22 và điều 23 BLDS 2005)

+ BLDS 2015: bổ sung thêm trường hợp người có khó khăn trong nhận thức , làm chủ hành vi (Điều 23 BLDS 2015)

 Theo đó, người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ Việc quy định này đã giải quyết được trường hợp thực tế những người “lửng lơ” giữa có và mất năng lực hành vi dân sự mà BLDS 2005 đã để lại khoảng trống

- Điểm mới 2: Không còn người không có năng lực hành vi dân sự

+ BLDS 2005: “Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành

vi dân sự Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.” (Điều 21 BLDS 2005).

+ BLDS 2015: Người chưa đủ 6 tuổi được xếp vào chung nhóm người chưa thành niên, và vẫn giữ nguyên quy định về giao dịch dân sự đối với đối tượng này (Khoản 2 Điều 21 BLDS 2015)

 Quy định này là hoàn toàn phù hợp Bởi lẽ, không thể từ khi một đứa trẻ sinh ra cho đến khi chưa đủ sáu tuổi lại không có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự nào đó Bên cạnh đó, quy định này cũng đã khắc phục được bất cập trên thực tế khi áp dụng BLDS

Trang 2

2005, theo đó, đối với những giao dịch của trẻ chưa đủ sáu tuổi nếu không được bố, mẹ đồng ý thì đều bị tuyên là vô hiệu mà không cần phải tính đến lợi ích của đứa trẻ, điều này là chưa phù hợp, vì thực tế có những giao dịch

dù không thuộc trường hợp nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, phù hợp với lứa tuổi, nhưng lại rất cần thiết, cấp thiết đối với lợi ích của đứa trẻ lúc đó thì trường hợp này có thể xem xét để không tuyên giao dịch vô hiệu

- Điểm mới 3: Sửa đổi về quy định giao dịch dân sự đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

+ BLDS 2005: “Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể

tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

(Khoản 2 Điều 20 BLDS 2005)

+ BLDS 2015: “ Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.” (Khoản 4

điều 21 BLDS 2015)

 BLDS 2005 chỉ nêu điều khoản loại trừ một cách chung chung, nhưng theo BLDS 2015 thì việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự của đối tượng này được quy định cụ thể, linh hoạt hơn

- Điểm mới 4: BLDS 2015 thêm các cụm từ “cơ quan, tổ chức hữu quan”, “pháp

y tâm thần” vào quy định mất năng lực hành vi dân sự

+ BLDS 2005: “ Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.”

(Khoản 1 Điều 22 BLDS 2005)

+ BLDS 2015: “ Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án

Trang 3

ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ

sở kết luận giám định pháp y tâm thần.” (Khoản 1 Điều 22 BLDS 2015).

2 Hoàn cảnh của ông P như trong quyết định được bình luận có thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?

Trả lời: Hoàn cảnh của ông P không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự

Vì: Căn cứ Khoản 1 Điều 22 BLDS 2015 “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa

án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 23 BLDS 2015 “Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.”.

 Ông P vẫn có khả năng nhận thức được Theo kết luận của Trung tâm Pháp

y, về mặt y học ông P đã có dấu hiệu thuyên giảm bệnh tình Ngoài ra ông P còn yêu cầu Tòa án chỉ định bà Huỳnh Thị T làm người giám hộ cho mình Nên ông P chưa đến mức mất hoàn toàn khả năng nhận thức nên không thể thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự

3 Nêu những điểm giống nhau và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự và mất năng lực hành vi dân sự.

Trả lời:

* Mất năng lực hành vi dân sự được quy định tại Điều 22 BLDS 2015 như sau:

“1 Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố

Trang 4

người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên

bố mất năng lực hành vi dân sự.

2 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.”

* Hạn chế năng lực hành vi dân sự được quy định tại Điều 24 BLDS 2015:

“1 Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này

là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.

2 Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.

3 Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.”

 Điểm giống nhau:

- Họ là những người từng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

- Việc chủ thể bị hạn chế hay bị mất năng lực hành vi dân sự dựa trên quyết định của Tòa án trên cở sở yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan

Trang 5

- Họ không thể tự mình tham gia tất cả các giao dịch dân sự mà pháp luật cho phép

- Khi không còn căn cứ cho rằng chủ thể bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ có quyền được khôi phục lại năng lực hành vi dân sự của mình

 Điểm khác nhau:

- Về nguyên nhân: người mất năng lực hành vi dân sự là do họ mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì do họ nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích dẫn đến phá tán tài sản của gia đình

- Về hệ quả pháp lí: Người mất năng lực hành vi dân sự sẽ không còn năng lực hành vi dân sự, không thể tham gia bất kì một giao dịch dân sự nào, các giao dịch dân sự của họ sẽ do người đại diện của họ xác lập và thực hiện Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ không bị mất hết năng lực hành vi dân sự mà họ vẫn có thể tự mình tham gia được một số giao dịch dân sự nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của họ

4 Trong Quyết định được bình luận, ông P có thuộc trường hợp người

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?

Trả lời: Ông P không thuộc trường hợp bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Vì: Theo Khoản 1 Điều 24 BLDS 2015 “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự và phạm vi đại diện.”

Ông P theo giám định pháp y tâm thần số: 286/KLGĐTC ngày 22/5/2017 kết luận:

- Về mặt y học: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại thuyên giảm (F13.7)

Trang 6

- Về mặt pháp luật: Khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.

 Không thuộc trường hợp hạn chế năng lực hành vi dân sự

5 Điểm khác nhau cơ bản giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự và người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi.

Trả lời: Căn cứ Điều 23,24 BLDS 2015

Hạn chế năng lực hành vi dân sự Khó khăn trong nhận thức

- Người người thành niên có năng lực

hành vi dân sự nghiện ma túy, nghiện các

chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài

sản của gia đình

- Yêu cầu tuyên bố một người bị hạn chế

năng lực hành vi dân sự chỉ được thực

hiện bởi người có quyền, lợi ích liên quan,

cơ quan, tổ chức hữu quan có mối quan hệ

với người đó, Tòa án có thể ra quyết định

tuyên bố người này là người bị hạn chế

năng lực hành vi dân sự

- Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự

- theo yêu cầu của người này, người có

quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan,

tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ

6 Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có thuyết phục không Vì sao?

Trả lời: Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là thuyết phục

Vì: Trường hợp của ông P đã đủ các yếu tố quy định theo Khoản 1 Điều 23 BLDS 2015 và Tòa án đã kết luận dựa trên bản giám định pháp y của Trung tâm Giám định pháp y Miền Trung là văn bản kết luận có giá trị pháp lý đối với những người bị tâm thần, hạn chế năng lực… Do đó, Tòa án kết luận là vô cùng thuyết phục

7 Việc Tòa án không đề nghị bà H là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?

Trang 7

Trả lời: Việc Tòa án không đề nghị bà H là người giám hộ cho ông P là thuyết phục.

Vì: Sau khi bà H bỏ đi thì bà T là người nuôi dưỡng ông P từ nhỏ đến lớn Mặt khác, bà H đã bỏ đi hơn 20 năm nay, và không về địa phương lần nào, hiện nay không biết bà H đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết Nên không có cơ sở để chỉ định bà

H là người giám hộ cho ông P Vì vậy, Tòa án kết luận là vô cùng thuyết phục

8 Việc Tòa án để bà T là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?

Trả lời: Việc Tòa án để bà T là người giám hộ cho ông P là thuyết phục

Vì: - Theo Điều 53, 57 BLDS 2015 ba chủ thể là vợ ông P (bà Vủ Thị H), cha

mẹ ông P (ông Lê Văn H, bà Lê Thị H) không đủ điều kiện làm người giám hộ cho ông P Cụ thể:

+ Bà Vủ Thị H đã yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án ly hôn với ông P mà Tòa án đã thụ lý, nên không đủ điều kiện làm người giám hộ cho ông P

+ Ông Lê Văn H đã chết năm 2007

+ Bà Lê Thị H đã bỏ đi hơn 20 năm nay, và không về địa phương lần nào, hiện nay không biết bà H đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết Nên không có

cơ sở để chỉ định là người giám hộ cho ông P

- Theo Điều 49 BLDS 2015, bà Huỳnh Thị T đủ điều kiện làm người giám hộ cho ông P Vì bà T có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và là người nuôi dưỡng ông P từ nhỏ đến khi trưởng thành

- Theo Khoản 2 Điều 46 BLDS 2015, ông P yêu cầu Tòa án chỉ định bà T là người giám hộ cho mình

9 Với vai trò của người giám hộ bà T được đại diện ông P trong những giao dịch nào? Vì sao?

Trả lời: Theo Điều 58,59 BLDS 2015, bà T được đại diện cho ông P trong những giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của ông P vì lợi ích của ông P

“a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;

Trang 8

b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;

c) Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp

II) Tư cách pháp nhân và hệ quả pháp lý:

1 Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân (nêu

rõ từng điều kiện).

Trả lời: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 74 BLDS 2015 và Điều 83 BLDS 2015

“1 Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;

b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;

c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.”

“1 Pháp nhân phải có cơ quan điều hành Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.

2 Pháp nhân có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.”

2 Trong Bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi trường có tư cách pháp nhân không? Đoạn nào của Bản án có câu trả lời.

Trả lời: Trong bản án số 1117, Bộ tài nguyên và môi trường đã xem Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi trường là một tổ chức có tư cách pháp nhân Điều này thể hiện trong quyết định số 1364/QD-BTNMT “Cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân,

có con dấu và tải khoản riêng” nhưng là Cơ quan đại diện Bộ phải hạch toán báo cáo

sổ nên cơ quan này có tư cách pháp nhân nhưng là tư cách pháp nhân không đầy đủ

Trang 9

3 Trong Bản án số 1117, vì sao Tòa án xác định Cơ quan đại diện của

Bộ tài nguyên và môi trường không có tư cách pháp nhân?

Trả lời: Căn cứ Điều 92 BLDS 2005

“1 Pháp nhân có thể đặt văn phòng đại diện, chi nhánh ở nơi khác với nơi đặt trụ sở của pháp nhân.

2 Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ đại diện theo

ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và thực hiện việc bảo vệ các lợi ích đó.

3 Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền.

4 Văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là pháp nhân Người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền.

5 Pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện.”

 Tòa án xác định Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi trường không phải là pháp nhân vì các lí do :

Xét theo quyết định số 1364/QĐ-BTNMT ngày 08/7/2008 của Bộ trưởng

Bộ tài nguyên và môi trường quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan đại diện Bộ tài nguyên và môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh thì Cơ quan đại diện là tổ chức của Bộ tài nguyên và môi trường, giúp Bộ trưởng theo dõi, tổng hợp tình tình thực hiện nhiệm vụ về lĩnh vực thuộc phạm vi của Bộ trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở phía Nam, thực hiện một số nhiệm vụ theo chương trình công tác của

Bộ trên địa bàn được giao phụ trách… Phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc

Bộ thực hiện công tác chuyên môn nghiệp vụ được giao Cơ quan đại diện của

Bộ Tài nguyên và môi trường chưa đáp ứng đủ điều kiện có cơ cấu tổ chức chặt chẽ

4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.

Trang 10

Trả lời: Em đồng tình với hướng giải quyết của Tòa án khi chấp nhận yêu cầu bồi thường của ông Nguyễn Ngọc Hùng do cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh đã không rõ ràng trong việc kí kết hợp đồng lao động với ông Nguyễn Ngọc Hùng Vấn đề Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm tai nạn thì cơ quan đại diện

Bộ Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh phải tiếp tục thực hiện để đảm bảo lợi ích về quyền và nghĩa vụ cả người lao động mà trong trường hợp này là ông Hùng Cùng với đó Tòa án đã rất đúng đắn khi phát hiện ra được sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm là xác định không đúng của người tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn trong vụ án, hủy án Sơ thẩm, và yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 1 giải quyết lại vụ án

sơ thẩm

5 Pháp nhân và cá nhân có gì khác nhau về năng lực pháp luật dân sự? Nêu cơ sở khi trả lời (nhất là trên cơ sở BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015).

Trả lời:

Thời điểm

phát sinh

Khi pháp nhân được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; Nếu pháp nhân phải đăng ký hợp đồng thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký

Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 86 Bộ luật Dân sự 2015:

“ Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm

Khi cá nhân sinh ra

Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều

16 Bộ luật Dân sự 2015.

“Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người

đó chết.”

Ngày đăng: 04/03/2019, 22:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w