Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây: a Không có di chúc; b Di chúc không hợp pháp; c Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với n
Trang 1BÀI THẢO LUẬN 7: THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
Xác định vợ/chồng của người để lại di sản:
Câu 1: Điều luật nào của BLDS quy định trường hợp thừa kế theo pháp luật?
Trả lời: Điều 650 BLDS 2015 quy định:
“1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
2 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”
Thừa kế theo pháp luật được hiểu là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tựthừa kế do pháp luật quy định Điều 650 BLDS 2015 quy định thừa kế theo pháp luậtđược áp dụng trong các trường hợp sau đây:
+ Không có di chúc Những trường hợp được coi là không có di chúc gồm:
– Người có di sản thừa kế không lập di chúc hoặc có lập di chúc nhưng chính
họ hủy di chúc bằng hành động hoặc tuyên bố hủy bỏ di chúc đã lập;
– Người chết có để lại di chúc nhưng kể từ thời điểm mở thừa kế di chúc đã bịthất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được ý chí của người lập dichúc
+ Di chúc không hợp pháp Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
Trang 2– Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừadối, đe doạ, cưỡng ép;
– Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức
xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật
+ Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp,nếu có đủ 2 điều kiện trên
+ Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lậpthành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.+ Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải đượcngười làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực
+ Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuốicùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúcmiệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểmchỉ Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ một số trường hợp đượcquy định Điều 632 BLDS, như sau:
– Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
– Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
– Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trongnhận thức, làm chủ hành vi
Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng củamình thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thựcxác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng
Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập
di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thờiđiểm mở thừa kế
Điều đó có nghĩa là tại thời điểm mở thừa kế, cơ quan, tổ chức được chỉ định trong dichúc là được thừa kế di sản của người lập di chúc đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phásản Tuy nhiên, cũng có trường hợp đặc biệt cần lưu ý, trong di chúc, người để lại disản chỉ định để lại toàn bộ di sản cho một pháp nhân, pháp nhân này đã sát nhập vớimột pháp nhân khác, khi đó, pháp nhân cũ không còn tồn tại một cách độc lập nữanhưng pháp nhân mới vẫn tiếp tục được kế nhiệm và được hưởng phần di sản này Nếu chỉ có một hoặc một số người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập
di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng di sản không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa
kế thì chỉ phần di sản liên quan đến họ mới được chia cho những người thừa kế theopháp luật
Trang 3Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng
di sản hoặc từ chối nhận di sản
Những người không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 BLDS gồm:
– Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vingược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh
dự, nhân phẩm của người đó;
– Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
– Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằmhưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
– Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập
di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởngmộ
Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án áp dụng thừa kế theo pháp luật trong vụ việc được nghiên cứu.
Trả lời: Theo nhóm thảo luận thì việc Toà án áp dụng thừa kế theo pháp luật là hợp
tình hợp lí
Vì:
- Căn cứ vào 3 trường hợp chính mà phải chia theo pháp luật tại Điều 650 thì ta thấy
có trường hợp di chúc bị vô hiệu hóa cần phải xem xét Do di chúc này là loại di chúcđặc biệt, không được lập bằng văn bản mà lập bằng miệng
- Nói đến di chúc bằng miệng thì ta phải nói đến việc làm chứng bởi nó là yếu tố rấtquan trọng ảnh hưởng đến tính xác thực của di chúc Về việc người làm chứng thì căn
cứ vào Khoản 1 Điều 632 thì những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật thìkhông được làm chứng Nhưng trong vụ việc trên thì những người làm chứng lại là cáccon của bà Tần
- Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo điểm a khoản 1 Điều 651.Nên bản dichúc này là không hợp pháp và phải chia theo pháp luật để đảm bảo quyền và lợi íchcủa các bên thừa kế và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành
Câu 3: Vợ/chồng của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời: Vợ/chồng của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ nhất
- Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015:
“1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
Trang 4a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”
Câu 4: Cụ Thát và cụ Thứ có đăng kí kết hôn không? Vì sao?
Trả lời: Cụ Thát và cụ Thứ không có đăng kí kết hôn vì thời điểm mà hai cụ chung
sống với nhau như vợ chồng thì cụ Thứ đã có vợ hợp pháp là cụ Nguyễn Thị Tần
Câu 5: Trong trường hợp nào những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn được hưởng thừa kế của nhau? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời: Trường hợp những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng khôngđăng ký kết hôn được hưởng thừa kế của nhau:
+ Những người sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn trướcLuật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thì được coi như là vợ chồng và được hưởngthừa kế của nhau
+ Những người sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn sauLuật Hôn nhân và gia đình năm 1986, trước Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nếu
họ đi đăng ký trong vòng thời hạn 2 năm kể từ ngày đi đăng ký thì được trờ thành vợchồng và được hưởng thừa kế của nhau
- Căn cứ vào Điểm a và b Khoản 3, Nghị Quyết số 03/2000/QH10 ngày 9/6/2000 quyđịnh:
“ Việc áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 11 của Luật này được thực hiện như sau: a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987, ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ
lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
b) Nam và nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 2 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 để giải quyết Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.”
Trang 5Câu 6: Ngoài việc sống với cụ Thứ, cụ Thát còn sống với người phụ nữ nào? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Trả lời: Ngoài việc sống chung với cụ Thứ, cụ Thát còn sống chung với vợ là bà
Nguyễn Thị Tần Trong phần xét thấy có đoạn "Các đương sự đều thống nhất là cụThát mất 1961 có vợ là cụ Tần mất năm 1995 "
Câu 7: Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ bắt đầu sống với nhau như vợ chồng vào cuối năm 1960 thì cụ Thứ có là người thừa kế của cụ Thát không? Nêu cơ sở pháp
lý khi trả lời.
Trả lời: Nếu cụ Thứ và cụ Thát bắt đầu sống chung với nhau như vợ chồng vào cuối
năm 1960 thì cụ Thứ không là người thừa kế theo pháp luật của cụ Thát bởi lúc đó hônnhân giữa hai cụ đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng của Luật hôn nhân vàgia đình 1959 (có hiệu lực từ 13/01/1960 ở miền Bắc) Cụ thể là Điều có quy định
nguyên tắc chung trong hôn nhân là: "Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ
hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ." và Điều 5:
"Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác"
Căn cứ vào hai điều trên thì dù thực tế hai người có chung sống như vợ chồng đichăng nữa thì cụ Thứ vẫn không được công nhận là vợ của cụ Thát Cùng với đó theoKhoản 1 Điều 651:
"1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột,
em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại."
Bà Thứ không thuộc hàng thừa kế nào trong ba hàng thừa kế theo điều khoản trênnên không là người thừa kế theo di chúc Bà chỉ có thể trở thành người thừa kế nếunhư ông Thát chết mà để lại di chúc trong đó có để lại di sản cho bà
Trang 6Câu 8: Câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không khi cụ Thát và cụ Thứ sống ở miền nam? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời: Nếu cụ Thứ và cụ Thát sống ở miền Nam thì sẽ cụ Thứ sẽ là người thừa kế của
cụ Thát với tư cách là vợ và thuộc hàng thừa kế thứ nhất Vì căn cứ vào Điểm a Khoản
4, Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quy định về thừa kế theo pháp luật
"Trong trường hợp một người có nhiều vợ trước ngày 13-01-1960 ngày công bố luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 1959 đối với miền bắc , và trước ngày 25-3-1977 ngày công bố 1 danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất cả nước Đối với miền nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ
mà việc kết hôn sau không bị hủy bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thừa kế thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế thứ nhất của các người vợ "
Theo đó, nếu xét trường hợp hai cụ sống ở miền Nam thì cụ Thứ vẫn được xem là vợcủa cụ Thát do hai người chung sống với nhau vào cuối 1960 là trước ngày luật cóhiệu lực ở miền Nam 25/3/1977
Câu 9: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát.
Trả lời: Theo nhóm thảo luận thì việc Toà án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế theo
pháp luật của cụ Thát là hợp tình, hợp lí vì :
- Xét thời điểm mà hai cụ chung sống với nhau như vợ chồng thì là trước thờiđiểm Luật hôn nhân và gia đình đình 1959 có hiệu lực 13/01/1960 Nên căn cứvào điếm a ,Khoản 4,Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quy định về thừa
kế theo pháp luật đã nêu ở trên thì bà vẫn được công nhận là vợ của ông Thát và
có quyền và nghĩa vụ tương đương người vợ cả, được hưởng thừa kế với tưcách là hàng thừa kế thứ nhất
- Không chỉ phù hợp với quy định của pháp luật mà xét về tình thì việc thừa kếtrên cũng góp phần bảo vệ lợi ích cho mẹ con bà Thứ và chị Tiến
Xác định con của người để lại di sản:
Câu 1 :Con nuôi của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời?
Trả lời: Con nuôi của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ nhất căn cứ vào Điểm
a Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 “a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ,
mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết” nếu như quan hệ con nuôi
và cha mẹ nuôi đã được xác lập
+ Quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ nuôi chỉ được xác lập khi :
Trang 7- Tại thời điểm nhận nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi được đăng ký tại UBND
xã, phường, thị trấn nơi thường trú của cha mẹ nuôi hoặc con nuôi;
- Trường hợp việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên thực tế mà chưa đăng ký trướcngày 1/1/2011, nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 50 Luậtnuôi con nuôi thì được đăng ký kể từ ngày 1/1/2011 đến hết ngày 31/12/2015tại UBND cấp xã nơi thường trú của cha mẹ nuôi và con nuôi Nếu trong thờihạn 05 năm kể từ ngày 01/01/2011 mà không làm thủ tục đăng ký tại UBND cóthẩm quyền thì sẽ không được công nhận quan hệ cha con nuôi đó Khoản 1Điều 50 Luật nuôi con nuôi:
“1 Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày Luật này
có hiệu lực (từ ngày 01/01/2011) mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;
b) Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại
và cả hai bên còn sống;
c) Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con."
+ Căn cứ vào Khoản 1 Điều 24 Luật nuôi con nuôi “1 Kể từ ngày giao nhận con nuôi,
giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa
vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự
và các quy định khác của pháp luật có liên quan.” Thì con nuôi đầy đủ quyền, nghĩa
vụ với cha, mẹ và cha mẹ cũng có quyền, nghĩa vụ với con nuôi trong các quan hệ dân
sự, thừa kế, hôn nhân và gia đình
+ Dựa theo Điều 653 BLDS 2015 “con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản
của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và điều 652 của bộ luật này” thì người con nuôi vẫn được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ bạn theo quy
định của pháp luật và hưởng phần di sản bằng với phần di sản của con đẻ do cùngthuộc hàng thừa kế thứ nhất
+ Trường hợp con nuôi chưa được đăng kí theo pháp luật khi đó sẽ không được hưởngquyền thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự.Mà chỉ được hưởng di sản nếu nhưngười để lại di sản có để lại di chúc hợp pháp Điều 630 Bộ luật dân sự 2015 quy định
về di chúc hợp pháp, theo đó, di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
Trang 8“a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật”.
Câu 2 :Trong trường hợp nào một người được coi là con nuôi của người để lại di sản ?
Trả lời: Trường hợp người được coi là con nuôi của người để lại di sản:
+ Tại thời điểm nhận nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi được đăng ký tại UBND xã,phường, thị trấn nơi thường trú của cha mẹ nuôi hoặc con nuôi Người được nhận làmcon nuôi là người dưới 16 tuổi hoặc từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi trong các trường hợp đãquy định tại Điều 8 Luât nuôi con nuôi:
“1 Trẻ em dưới 16 tuổi
2 Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;
b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
3 Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là
vợ chồng.
4 Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.”
+ Người nhận con nuôi phải đáp ứng điều 14 Luật nuôi con nuôi
“1 Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;
d) Có tư cách đạo đức tốt.
2 Những người sau đây không được nhận con nuôi:
Trang 9a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; c) Đang chấp hành hình phạt tù;
d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
3 Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 điều này.”
+ Nếu đã xác lập quan hệ nuôi dưỡng trước ngày Luật hôn nhân và giađình năm 1986thì vẫn được chấp nhận có con nuôi thực tế
+ Nếu đã xác lập quan hệ nuôi dưỡng sau năm 1986 và trước năm 2011 mà chưa đăng
ký , nếu đã đáp ứng đù điều kiện chuyển tiếp thì phải đi đăng kí từ ngày 01/01/2011đến ngày 31/12/2015 để trở thành con nuôi thực tế Căn cứ vào Khoản 1 Điều 50, Điều
kiện chuyển tiếp của luật nuôi con nuôi “1 Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt
Nam với nhau trước ngày Luật này có hiệu lực (từ ngày 01/01/2011) mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;
b) Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống;
c) Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con”.
Lưu ý: Trong trường hợp mẹ nuôi đã hoàn tất thủ tục đăng ký nuôi con nuôi trước khikết hôn, nhưng sau khi kết hôn chồng của mẹ nuôi (tức là bố nuôi) không làm thủ tụcđăng ký nuôi con nuôi với thì quan hệ con nuôi giữa và bố nuôi tức là chồng của mẹnuôi không được xác lập Hay nói cách khác, việc kết hôn của mẹ nuôi không nghiễmnhiên làm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi giữa bạn và chồng của mẹ nuôi
Trang 10Câu 3: Trong bản án số 20, bà Tý có được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi không? Đoạn nào trong bản án cho câu trả lời.
Trả lời: Trong bản án số 20 thì qua lời khai của các con bà Tý thì bà là con nuôi của cụThát và cụ Tần Phần Nhận thấy có đoạn: "Anh Trần Việt Hùng, chị Trần Thị MinhPhượng, chị Trần Thị Hồng Mai, chị Trần Thi Hoa trình bày: Mẹ đẻ của các anh chị là
bà Nguyễn Thị Tý trước đây có là con nuôi cụ Thát và cụ Tần trong thời gian khoảng 6đến 7 năm, sau đó bà Tý về nhà mẹ đẻ sống."
Câu 4 : Tòa án có coi bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời.
Trả lời: Toà án không coi bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần Tại bản án sơ thẩm
có phần xác định: cụ Thát và cụ Tần có 4 người con chung là Nguyễn Tất Thăng,Nguyễn Thị Bằng, Nguyễn Thị Khiết, Nguyễn Thị Triển, xác định cụ Thát và cụ Thứ
có 1 con là Nguyễn Thị Tiến, xác định bà Nguyễn Thị Tý không là con nuôi của cụThát, cụ Tần, cụ Thứ
Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tý.
Trả lời: Theo nhóm thảo luận thì việc Toà án khẳng định bà Tý không là con nuôi của
cụ Thất và cụ Tần là chưa thuyết phục Vì nhóm thảo luận căn cứ vào : NQ của hộiđồng thẩm phán TANDTC số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 "Những điều kiện vềnuôi con nuôi đã được quy định trong các Điều 34, 35, 36 và 37 nhưng trước khi Luậtnày được ban hành thì những điều kiện đó chưa được quy định đầy đủ Vì vậy, nhữngviệc nuôi con nuôi trước khi ban hành Luật mới vẫn có giá trị pháp lý, trừ nhữngtrường hợp nuôi con nuôi trái với mục đích xã hội của việc nuôi con nuôi (như: nuôicon nuôi để bóc lột sức lao động hoặc để dùng con nuôi vào những hoạt động xấu xa,phạm pháp) Nếu việc nuôi con nuôi trước đây chưa được ghi vào sổ hộ tịch nhưngviệc nuôi con nuôi đã được mọi người công nhận và cha mẹ nuôi đã thực hiện nghĩa
vụ với con nuôi thì việc nuôi con nuôi thì việc nuôi con nuôi vẫn có những hậu quảpháp lý do luật định" Theo đó thì việc nuôi con nếu như xác lập trước ngày luật Hônnhân và gia đình 1986 có hiệu lực ngày 03/01/1987 mà chưa đăng kí thì việc nhận nuôivẫn có hiệu lực pháp lý nếu được mọi người công nhận và cha mẹ nuôi đã thực hiệnnghĩa vụ với con nuôi Trở lại vụ việc thì có thể thấy qua lời khai thì bà Tý là con nuôicủa cụ Thát trước 03/01/1987 ( cụ Thát mất 1961) Nên toà án cần xác minh lại xemviệc nuôi bà Tý của 2 cụ Thát và cụ Tần là có thật hay không qua nhiều nguồn thôngtin như sự công nhận của họ hàng, hàng xóm, Từ đó mới đủ cơ sở mới đưa ra kếtluận bởi vì việc này ảnh hưởng rất lớn tới quyền và lợi ích của bà Tý và những ngườithừa kế của bà, nó quyết định bà Tý có là người thừa kế theo pháp luật của vợ chồng
cụ Thát, cụ Thứ với theo hàng thừa kế thứ nhất hay không
Trang 11Câu 6: Trong Quyết định số 182, Tòa án xác định anh Tùng được hưởng thừa kế với tư cách nào? Vì sao?
Trả lời:
- Trong Quyết định số 182, Tòa án xác định anh Tùng được hưởng thừa kếvới tư cách là con nuôi của cụ Cầu, cụ Dung
- Vì trong phần xét thấy của Quyết định có đoạn“Quá trình giải quyết vụ
án, các cụ cao tuổi…cho ông Tùng cho phù hợp.”
Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án liên quan đến anh Tùng
Trả lời: Hướng xác định của Tòa án liên quan đến anh Tùng là hợp lý
Vì cụ Thơ, cụ Thọ, cụ Thưởng (là những người cùng xóm) khai rằng anhTùng mồ côi cha mẹ và ở với cụ Cầu và cụ Dung từ lúc 2 tuổi Mặt khác anh Tùng
có công nuôi dưỡng hai cụ và khi hai cụ mất anh đã mai táng Vậy nên anh Tùng làcon nuôi thực tế của cụ Cầu và cụ Dung là có chứng cứ xác thực
Câu 8: Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 182 xảy ra sau khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, anh Tùng có được hưởng thừa kế của cụ Cầu và cụ Dung không? Vì sao?
Trả lời: Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 182 xảy ra sau khi có Luậthôn nhân và gia đình năm 1986, anh Tùng được hưởng thừa kế của cụ Cầu và cụDung
Vì anh Tùng được các cụ Thơ, Thọ, Thưởng là hàng xóm xác nhận là được
cụ Cầu và cụ Dung nuôi từ khi 2 tuổi Và anh Tùng có công chăm sóc các cụ đồngthời khi các cụ mất anh là người mai táng, quản lý nhà cửa
Câu 9: Con đẻ thuộc hàng thừa kế thứ mấy của người để lại di sản ? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời: Con đẻ của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ nhất Căn cứ vào Điểm
a Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 “a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ,
mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”
Luật dân sự không phân biệt quyền thừa kế theo pháp luật của con trong giá thú hayngoài giá thú đối với di sản củangười để lại di sản Vì vậy, nếu có đầy đủ chứng cứ đểchứng minh một người là con của người để lại di sản thì người này vẫn được pháp luậtbảo vệ quyền được hưởng thừa kế
Câu 10: Đoạn nào của bản án cho thấy bà Tiến là con đẻ của cụ Thát.
Trả lời: Đoạn trong bản án cho thấy Bà Tiến là con để của cụ Thát: “Theo các nguyênđơn và bà Khiết thì cụ Thát có vợ hai là cụ Phạm Thị Thứ ( mất năm 1994) có một con
là bà Tiến.Ông Thăng không công nhận cụ thứ là vợ hai cụ Thát Nhưng ông Thăngkhông đưa ra được chứng cứ nào chứng minh cụ Thứ không phai là vợ của cụ Thát ”
Trang 12Với tất cả các chứng cứ nêu trên cơ sở khẳng định cụ Phạm Thị Thứ là vợ hai cụ Thái,
bà Nguyễn Thị Tiến là con chung của cụ Nguyên Tất Thát và cụ Phạm Thị Thứ”
Câu 11 Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tiến.
Trả lời: Theo nhóm thảo luận, giải pháp của Tòa án liên quan đến bà Tiến là hợp lý
Cụ thể, để có căn cứ xác nhận bà Tiến là con đẻ của cụ Thái, Tòa án đã xét trên nhữngchứng cứ, những nhân chứng rõ ràng và xác đáng Điển hình như dựa trên cơ sở là lýlịch của bà Tiến có xác nhận của chính quyền địa phương hay phần hoàn cảnh gia đìnhtrong bản sơ yếu lý lịch Đảng của bà Khiết Những cơ sở nêu trên đều có yếu tố xácthực từ các bên cơ quan chức năng nên tạo độ tin cậy cao Bển cạnh đó, Tòa án sửdụng nhân chứng là những người thân thuộc với gia đình, như em ruột của cụ Tháihay tổ trưởng tổ dân phố Có thể thấy, để đưa ra kết luận rằng bà Tiến là con ruột cụThái, Tòa án dựa trên nhiều phương diện khác nhau Trên giấy tờ, chứng nhận và trênđời sống thực tại Chính vì độ xác đáng của những chứng cứ được đưa ra, việc Tòa chôrằng yêu cầu của ông Thăng đề nghị giám định AND để xác định bà Tiến có phải concủa cụ Phát hay không là không cần thiết đặt ra “ là hợp lí
Con riêng của vợ/chồng:
Câu 1: Bà Tiến có phải con riêng của chồng cụ Tần không? Vì sao?
Trả lời: Bà Tiến là con riêng của chồng cụ Tần
Vì với những chứng cứ được đưa ra, bà đã khẳng định cụ Phạm Thị Thứ là vợ 2 của cụThát và con do vợ 2 sinh ra (không phải do cụ tần sinh) –bà Tiến – cũng đã đượcchứng minh là con ruột của cụ Phát (chồng cụ Tần)
Câu 2: Trong điều kiện nào con riêng của chồng được thừa kế di sản của vợ? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời: Theo cơ sở pháp lí: Điều 679 BLDS 2005 thì:
“Điều 679 Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế
Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật này."
Nếu con riêng và mẹ kế có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng nhau như mẹ con thì đượcthừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều
677 BLDS 2005:
“Điều 676 Người thừa kế theo pháp luật