1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá nghèo theo tiếp cận nghèo đa chiều

82 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, việc xác định đói nghèo không còn đơn thuần dựa trên tiêu chí duy nhất là thu nhập chi tiêu của hộ gia đình nữa mà có phương pháp đo lường mới, đó chính là việc tiếp cận nghèo

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PGS.TS LÊ KIM LONG Phòng Đào tạo Sau Đại học:

KHÁNH HÒA - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Đánh giá nghèo theo tiếp cận

nghèo đa chiều: trường hợp Xã Xuân Hải, Huyện Ninh Hải, Tỉnh Ninh Thuận” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố

trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, tháng 7 năm 2018

Tác giả

Đào Nguyệt Vũ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể thực hiện và hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình từ các thầy cô của Trường Đại học Nha Trang, sự giúp đỡ từ nhiều cơ quan ban ngành, cũng như sự động viên ủng hộ từ gia đình, đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy Phạm Thành Thái

đã hết lòng giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cám ơn các thầy cô của trường Đại học Nha Trang đã tận tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu làm nền tảng để tôi thực hiện đề tài

Xin cảm ơn anh chị em trong Sở Lao động Thương binh Xã hội tỉnh Ninh Thuận, Phòng Lao động Thương Binh Xã hội huyện Ninh Hải và Ủy ban nhân dân xã Xuân Hải đã nhiệt tình cung cấp tài liệu, hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập số liệu cho

đề tài nghiên cứu

Và sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình tôi, đồng nghiệp và những người bạn đã ủng hộ, động viên để tôi có thể hoàn thiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khánh Hòa, tháng 7 năm 2018

Tác giả

Đào Nguyệt Vũ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa của kết quảnghiên cứu 3

1.6 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 Cơ sở lý thuyết 5

2.1.1 Khái niệm về nghèo, nghèo đa chiều trên thế giới 5

2.1.2 Khái niệm nghèo đói ở Việt Nam 6

2.2 Các chỉ tiêu để đánh giá, xác định hộ nghèo 7

2.2.1 Trên thế giới 7

2.2.2 Tại Việt Nam qua các giai đoạn 9

2.3 Phương pháp đo lường nghèo 14

2.3.1 Phương pháp đo lường nghèo đơn chiều 14

2.3.2 Phương pháp đo lường nghèo đa chiều 14

2.4 Một số nghiên cứu về nghèo đa chiều trên thế giới và ở Việt Nam 16

2.4.1 Các nghiên cứu có phạm vi toàn cầu 16

2.4.2 Các nghiên cứu về Việt Nam 17

2.5 Thực trạng nghèo đa chiều ở Việt Nam hiện nay 21

Trang 6

2.5.1 Sự cần thiết phải chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều

sang đa chiều 21

2.5.2 Thực trạng nghèo ở Việt Nam 22

2.5.3 Đặc điểm nghèo đói ở nước ta 27

2.6 Khung phân tích của nghiên cứu 29

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 31

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Quy trình nghiên cứu 32

3.2 Phương pháp nghiên cứu 32

3.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 32

3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 36

3.3.1 Phương pháp so sánh 36

3.3.2 Phương pháp thống kê mô tả 36

3.3.3 Phương pháp kế thừa 37

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 37

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận 38

4.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm dân cư 38

4.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 38

4.2 Khái quát về tình hình nghèo của xã Xuân Hải 41

4.3 Phân tích và thảo luận kết quả đo lường nghèo tại xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận 43

4.3.1 Đo lường theo đơn chiều 43

4.3.2 Đo lường nghèo theo tiếp cận đa chiều (MPI) 43

4.3.3 So sánh tỷ lệ nghèo của phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều với nghèo đơn chiều 51

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 55

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Các hàm ý chính sách 57

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Oxford (Oxford Poverty and Human Development Initiative)

Programme)

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Các tiêu chí sử dụng đo lường trong MPI 8

Bảng 2.2: Chuẩn nghèo của Việt Nam từ 1993 – 2015 10

Bảng 2.3: Chỉ số đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam 12

Bảng 2.4: Tỷ lệ nghèo đa chiều theo vùng 25

Bảng 3.1: Chỉ số nghèo đa chiều và tỷ trọng của Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 34

Bảng 4.1: Tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo xã Xuân Hải trong giai đoạn 2011 - 2015 41

Bảng 4.2: Kết quả phân tích mức thiếu hụt các chỉ tiêu hộ nghèo 44

Bảng 4.3: Kết quả phân tích sự thiếu hụt theo chiều của các hộ nghèo xã Xuân Hải 48

Bảng 4.4: Kết quả phân tích mức độ thiếu hụt các chỉ số của các hộ cận nghèo xã Xuân Hải 49

Bảng 4.5: Kết quả phân tích mức độ thiếu hụt theo chiều của các hộ cận nghèo xã Xuân Hải 50

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Biểu đồ 2.1: Số lượng hộ nghèo, hộ cận nghèo qua từ năm 2013 - 2016 24

Biểu đồ 2.2: Số hộ thiếu hụt các chỉ số so với tổng số hộ nghèo năm 2016 26

Biểu đồ 2.3: Các thành phần nghèo đa chiều của nghiên cứu 30

Biểu đồ 4.1: Số lượng hộ nghèo tại các thôn thuộc xã Xuân Hải năm 2016 và 2017 42

Biểu đồ 4.2: Mức độ thiếu hụt các chỉ tiêu trong đo lường MPI hộ nghèo 46

Biểu đồ 4.3: Mức thiếu hụt theo các chiều của các hộ nghèo xã Xuân Hải 48

Biểu đồ 4.4: Mức độ thiếu hụt các chỉ số của các hộ cận nghèo xã Xuân Hải 49

Biểu đồ 4.5: Mức độ thiếu hụt các chỉ số của các hộ cận nghèo xã Xuân Hải 51

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Đói nghèo là một trong những vấn đề gay gắt và mang tính toàn cầu, còn trầm trọng hơn khi nó tồn tại trên phạm vi vô cùng rộng lớn Nghèo đói là nỗi bất hạnh của nhiều người, là nghịch lý trên con đường phát triển chung của xã hội khi mà cả thế giới đang trên con đường phát triển phồn vinh vẫn còn tồn tại những nhóm người sống dưới mức nghèo khổ Để có cái nhìn toàn diện chính xác về đói nghèo, cần xác định được các yếu tố có ảnh hưởng, tác động gây nên tình trạng nghèo đói để từ đó các nhà hoạch định chính sách mới có thể đưa ra những giải pháp thiết thực nhất để giúp người dân thoát nghèo bền vững Hiện nay, việc xác định đói nghèo không còn đơn thuần dựa trên tiêu chí duy nhất là thu nhập (chi tiêu) của hộ gia đình nữa mà có phương pháp đo lường mới, đó chính là việc tiếp cận nghèo ở nhiều chiều, nhiều tiêu chí liên quan đến mức sống cũng như việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, thông tin, nhà ở, nước sạch và vệ sinh

Để có cái nhìn sâu sắc hơn về nghèo đa chiều tại một địa phương cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định tác giả đã thực hiện khảo sát nghèo đa chiều trên địa bàn xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận Số liệu thu được từ điều tra, thông qua việc áp dụng các phương pháp thống kê đã xác định được các chỉ tiêu ảnh hưởng đến đói nghèo và từ đó tính được chỉ số nghèo đa chiều MPI, sự thiếu hụt của các chỉ tiêu, các chiều Kết quả chỉ ra rằng trong 10 chỉ tiêu tính trọng số có 5 chỉ tiêu ảnh hưởng nhiều nhất đến chỉ tiêu nghèo đa chiều là trình độ giáo dục của người lớn, bảo hiểm y tế, chất lượng nhà ở, diện tích bình quân đầu người và sử dụng dịch vụ viễn thông

Nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa tỷ lệ hộ nghèo khi tính theo phương pháp đo lường đơn chiều và phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều Từ đó

có thể khẳng định nghèo là một hiện tượng đa chiều, bên cạnh chỉ tiêu thu nhập còn có nhiều tiêu chí “phi tiền tệ” khác ảnh hưởng đến tình trạng nghèo khổ Việc sử dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều sẽ nhận diện nghèo và phân loại đối tượng nghèo chính xác hơn, tránh tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo như phương pháp đo lường nghèo đơn chiều chỉ dựa vào tiêu chí thu nhập (chi tiêu)

Kết quả ngầm chỉ ra rằng các chính sách xóa đói giảm nghèo hiện nay vẫn chưa tác động được hết các chỉ tiêu thiếu hụt trong các chiều nghèo Do đó, trong thời gian

Trang 11

tới các chính sách nhằm giảm nghèo cần phải giải quyết được các yếu tố ảnh hưởng đến thoát nghèo, tránh tái nghèo và phải tạo được động lực cho người nghèo muốn thoát nghèo, sử dụng tốt các nguồn lực, tránh tâm lí trông chờ ỉ lại vào nhà nước Các giải pháp pháp được đưa ra cần tác động trực tiếp vào các chỉ tiêu, các chiều còn thiếu hụt để cải thiện tình hình và giúp người dân tiếp cận tốt hơn đối với các dịch vụ xã hội

cơ bản

Từ kết quả nghiên cứu thu được tác giả đưa ra kiến nghị sau: Để xây dựng các chính sách giảm nghèo bền vững toàn diện thì cần phân loại các nhóm đối tượng hộ nghèo khác nhau và có chính sách cụ thể cho từng nhóm đối tượng thiếu hụt Đối với nhóm thiếu hụt về mức sống tối thiểu tức cần có chính sách ưu tiên hỗ trợ và thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao mức thu nhập của hộ và các thành viên trong gia đình Đối với nhóm đối tượng thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản cũng cần phân loại và nhóm những đối tượng có cùng những chiều thiếu hụt giống nhau trong một khu vực nhất định, các chính sách cần tập trung để nâng cao khả năng tiếp cận các chiều bị thiếu hụt

đó Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, nâng cao ý thức nhận thức của hộ gia đình trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

* Từ khóa: tình trạng nghèo, nghèo đa chiều, xã Xuân Hải.

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu

Thế giới hiện nay đang bước vào kỷ nguyên mới của sự phát triển dựa trên cơ

sở công nghệ thông tin và đặc biệt là cách mạng công nghiệp 4.0, nhiều quốc gia đang trên đà phát triển phồn vinh, thịnh vượng Tuy nhiên, tình trạng nghèo khổ vẫn đang là một thách thức lớn ở nhiều quốc gia Đây là vấn đề xã hội phổ biến toàn cầu, là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng của mỗi quốc gia cũng như của nhân loại

Ở Việt Nam xóa đói giảm nghèo hiện đang là vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc Xóa đói giảm nghèo toàn diện, bền vững luôn được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển đất nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa

Xóa đói, giảm nghèo, hạn chế phân hóa giàu nghèo là nội dung được đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng Chủ trương “khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, không để diễn ra chênh lệch quá đáng về mức sống và trình độ phát triển giữa các vùng, các tầng lớp dân cư” được cụ thể hóa thành các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội Nhờ có các chính sách hợp lý nên sau hơn 20 năm quyết liệt thực hiện xóa đói giảm nghèo Việt Nam từ một nước nghèo đã đứng vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình

Tuy nhiên, trên thực tế nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do vậy số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao

Về bản chất, đói nghèo không chỉ xét trên thu nhập hay chi tiêu mà còn phải xét trên nhu cầu cơ bản và quyền của con người Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, nước sạch, thông tin Hầu hết các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy rằng tỉ lệ nghèo sẽ cao hơn khi dùng phương pháp đo lường đa chiều so với đơn chiều Do đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất

là dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo

Tỉnh Ninh Thuận thuộc vùng Duyên hải Nam trung bộ, tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 335.832,6 ha Toàn tỉnh có 6 huyện, 1 thành phố với 65 xã/phường/thị trấn; có 01 huyện nghèo Bác Ái theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ – CP; có 37 xã, 124

Trang 13

thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), chiếm 56,92% số xã/phường/thị trấn toàn tỉnh; có 03 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển; 14 xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc miền núi, 77 thôn đặc biệt khó khăn Dân số toàn tỉnh 688.562 người, trong đó dân số DTTS có 160.437 người, chiếm khoảng 23,3% (tính đến tháng 11/2017)

Sau hơn 25 năm tái lập tỉnh từ năm 1992, Ninh Thuận đã đạt được những thành tựu về kinh tế, văn hóa, đời sống quan trọng, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân trong tỉnh Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1992 – 2016 đạt 8,7%, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã giảm từ 22,3% năm 2006 còn 8,2% năm 2015 và theo số liệu rà soát đầu năm 2017 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020, hộ nghèo toàn tỉnh có 20.253 hộ/81.294 khẩu, chiếm tỷ lệ 12,54%, hộ cận nghèo có 16.649 hộ/68.094 khẩu, chiếm

tỷ lệ 10,31%

Trong những năm qua tỉnh Ninh Thuận đã có nhiều cơ chế chính sách tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các hộ đói nghèo thoát đói giảm nghèo nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, tạo cơ hội cho mọi người dân đều có quyền bình đẳng tối thiểu ngang nhau Theo đó, bên cạnh việc hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập, chính quyền địa phương còn

hỗ trợ các dịch vụ xã hội cơ bản như: giáo dục, y tế, điện, nước sinh hoạt, vệ sinh, dịch

vụ thông tin, hỗ trợ pháp lý… Tuy nhiên, thực tế cho thấy mặc dù tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương có giảm nhưng vẫn ở mức khá cao so với mặt bằng chung của cả nước và tình trạng “thoát nghèo – tái nghèo” vẫn diễn ra liên tục Từ đó có thể thấy, người dân thoát nghèo chưa “bền vững” và chính sách đưa ra chưa tác động được đến “gốc rễ” của đói nghèo

Để có thể đưa ra những đánh giá chính xác, khách quan về nghèo đa chiều trên một địa bàn cụ thể tại tỉnh Ninh Thuận, nhằm cung cấp những cơ sở khoa học cho các cơ quan ban ngành xây dựng sách hỗ trợ giảm nghèo hiệu quả, góp phần đáp ứng nhu cầu

phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong thời gian tới, tác giả lựa chọn đề tài "Đánh

giá nghèo theo tiếp cận nghèo đa chiều trường hợp: xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này nhằm xác định tình trạng nghèo của các

hộ gia đình tại xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận theo tiếp cận đa chiều Trên

cơ sở đó đề xuất một số hàm ý chính sách góp phần giảm nghèo hiệu quả cho địa phương

Trang 14

(3) Đề xuất một số hàm ý chính sách trong công tác giảm nghèo cho địa phương

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận là bao nhiêu xét theo phương pháp đo lường thu nhập và phương pháp MPI?

- Những yếu tố thiếu hụt về nguồn lực nào ảnh hưởng nhiều nhất đến nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều (MPI) tại xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận?

- Những hàm ý chính sách nào nhằm hoàn thiện công tác giảm nghèo của xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nguồn lực và các nhu cầu cơ bản của các

hộ dân trên địa bàn xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

 Đề xuất các giải pháp nhằm giảm nghèo bền vững cho xã Xuân Hải

1.5 Ý nghĩa của kết quảnghiên cứu

Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá được toàn diện hơn tình trạng nghèo của các

hộ dân và xác định được các yếu tố thiếu hụt về nguồn lực ảnh hưởng nhiều nhất đến

Trang 15

nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều (MPI) trên địa bàn xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

Kết quả nghiên cứu có thể được dùng để định hướng, đưa ra một số kiến nghị

và giải pháp làm cơ sở trong công tác giảm nghèo tại địa phương

1.6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần giới thiệu và kết luận, luận văn bao gồm các chương như dưới đây:

Chương 1: Giới thiệu

Trong chương này nêu rõ lý do thực hiện nghiên cứu, xây dựng các mục tiêu tổng quát và cụ thể của nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương này nêu rõ được một số nội dung căn bản về các lý thuyết nền liên quan đến nghèo, nghèo đơn chiều, đa chiều trên thế giới và Việt Nam, chỉ ra đặc thù

và tính ưu việt của cách tiếp cận đa chiều Các chuẩn mực chỉ số và phương pháp dùng

để đo lường nghèo đa chiều tại Việt Nam Đồng thời đưa ra được khung phân tích cho nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Nội dung của chương bao gồm: Đưa ra quy trình, cách tiếp cận nghiên cứu, nêu lên phương pháp chọn mẫu và thu thập, phân loại dữ liệu Từ đó lựa chọn các công cụ phân tích dữ liệu cho phù hợp

Chương 4: Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu

Phần này nêu rõ đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng về nghèo tại xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận Phân tích và thảo luận kết quả đo lường nghèo tại địa phương này theo tiếp cận đơn chiều và đa chiều Phân tích để nêu bật sự thiếu hụt về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Xác định nguyên nhân của sự thiếu hụt đó

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Tổng hợp và kết luận các vấn đề mà nghiên cứu đạt được, những hạn chế

mà nghiên cứu chưa thực hiện cũng như đưa ra những kiến nghị, gợi ý những hàm ý chính sách cho chính quyền địa phương để làm giảm nghèo bền vững

Trang 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Khái niệm về nghèo, nghèo đa chiều trên thế giới

Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo khổ tùy thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia

 Theo Tổ chức Liên Hợp Quốc (6/2008, trang 11) thì: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không

có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề

xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” Khái niệm này đưa ra các tiêu chí cụ thể để xác định nghèo đói cụ thể là:

i Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn ở, mặc, y tế, giáo dục, tư liệu sản xuất,

nghề nghiệp; ii Nguy cơ dễ tổn thương và bị đối xử không công bằng, không có tiếng

nói trong cộng đồng, xã hội

 Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu

Á – Thái Bình Dương (ESCAP) được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm

1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng “Nghèo khổ là tình trạng một

bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” Trong khái niệm nghèo đói này tiêu chí về nghèo đói còn để ngỏ về lượng vì ở đây nó có tính các yếu tố như: trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán tại từng địa phương Từ đó, ta thấy rằng sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước vì nó phụ thuộc vào điều kiện cụ thể kinh tế xã hội và các yếu tố văn hóa của từng quốc gia, vùng lãnh thổ

 Trong “Báo cáo về tình hình phát triển thế giới – Tấn công nghèo đói, năm 2000”, Ngân hàng thế giới (WB) thừa nhận quan điểm về đói nghèo như sau: Đói nghèo “không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế” Trong báo cáo này tiêu chí xác định nghèo đói không dừng lại ở mức độ đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người (ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục) mà còn tính đến cả

Trang 17

nguy cơ dễ bị tổn thương, gặp rủi ro của người nghèo Báo cáo nêu rõ “nghèo có nghĩa

là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường” và “người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ Họ thường bị các thể chế nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó.”

Để đánh giá rõ hơn mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành 2 loại là nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối

o Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thiếu những nguồn lực thiết yếu để tồn tại Điều này có nghĩa là mức tối thiểu được xác định bằng ranh giới nghèo khổ Ranh giới nghèo khổ phản ánh mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua được lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu Ngân hàng thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nghèo tuyệt đối

o Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương Ranh giới của nghèo tương đối rất khó xác định bởi không có một tiêu chuẩn chung xác định bởi nó phụ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế của từng quốc gia, vùng lãnh thổ Như vậy, nghèo tương đối không chỉ bao hàm mức thu nhập và tiêu dùng thấp mà còn bao gồm cả hưởng thụ thấp về giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác liên quan đến sự phát triển của con người

Từ các định nghĩa trên ta rút ra rằng nghèo đói phản ánh 4 khía cạnh về đời

sống của người nghèo đó là: i Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; ii Không có điều kiện tiếp cận y tế, giáo dục; iii.Nguy cơ

dễ tổn thương và dễ gặp rủi ro; iv.Thiếu cơ hội lựa chọn, thiếu tiếng nói và quyền lực

Tóm lại, nghèo đói là một hiện tượng đa chiều, đó là tình trạng một bộ phận dân

cư trong xã hội không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản mà xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán tại địa phương Biểu hiện cụ thể của việc không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản đó là tình trạng thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu nước sinh hoạt, thiếu chỗ ở, mù chữ, bệnh tật, môi trường suy thoái, tuổi thọ trung bình thấp, ít được tiếp cận với các dịch vụ xã hội

2.1.2 Khái niệm nghèo đói ở Việt Nam

Mặc dù từ trước đến nay ở nước ta chưa có quan niệm về nghèo mang tính chính thống, tuy nhiên một số quan niệm về nghèo đến nay vẫn được mọi người thừa

nhận, đó là:

Trang 18

- Nghèo là hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/ không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người

- Những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận

Hiện nay, nghèo ở Việt Nam được chia làm các cấp độ: hộ nghèo, hộ cận nghèo, xã nghèo và huyện nghèo

- Hộ nghèo: là hộ đáp ứng 1 trong 2 tiêu chí sau:

o Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống

o Có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách đến chuẩn mức sống tối thiểu và từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

- Hộ cận nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn

nghèo chính sách đến chuẩn mức sống tối thiểu, và dưới 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

- Xã nghèo: bao gồm:

o Xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi;

o Xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo;

o Xã biên giới và xã an toàn khu

- Huyện nghèo: theo Nghị quyết 30a/2008/NQ – CP ngày 27/12/2008 cả nước

có 64 huyện (gồm 797 xã và thị trấn) thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%, tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 3,5 bình quân cả nước

2.2 Các chỉ tiêu để đánh giá, xác định hộ nghèo

2.2.1 Trên thế giới

2.2.1.1 Chỉ tiêu thu nhập

Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khuyến nghị thang đo đói nghèo cho các quốc gia trên thế giới dựa vào ngưỡng chỉ tiêu tính bằng đô la Mỹ (USD) mỗi ngày Ngưỡng nghèo thường được WB sử dụng hiện nay là 1 và 2 USD/ngày theo sức mua tương đương PPP Đây là ngưỡng chi tiêu có thể đảm bảo mức cung cấp năng lượng tối thiểu cần thiết cho con người, mức chuẩn đó là 2100 calo/ngày Cụ thể như sau:

- Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0,5 USD/ngày

- Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày

Trang 19

- Đối với các nước thuộc Châu Mỹ La tinh và Caribe là 2 USD/ngày

- Đối với các nước Đông Âu là 4 USD/ ngày

- Đối với các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ ngày

2.2.1.2 Chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI)

Chỉ số nghèo đa chiều (MPI) được xác định theo phương pháp Alkỉe Foster được phát triển bởi Sabina Alkire và James Foster thuộc Viện nghiên cứu vấn đề nghèo đói và sáng kiến phát triển con người Oxford (Oxford Poverty and Human Development Initiative - OPHI) trực thuộc trường đại học Oxford và được nhiều tổ chức, quốc gia ủng hộ và đo lường theo chỉ số này Cách thức đo lường này đã được UNDP sử dụng để tính toán chỉ số Nghèo đa chiều (MPI) lần đầu tiên được giới thiệu trong Báo cáo Phát triển con người năm 2010 Chỉ số tổng hợp này được tính toán dựa trên 3 chiều nghèo cơ bản là: (i) nghèo về Y tế, (ii) nghèo về Giáo dục và (iii) Nghèo

về điều kiện sống với 10 chỉ số về phúc lợi; Chuẩn nghèo được xác định bằng 1/3 tổng

- Điều kiện vệ sinh

- Nước uống hợp vệ sinh

- Sàn nhà

- Nhiên liệu nấu ăn

- Sở hữu tài sản

Nguồn: Báo cáo phát triển con người, UNDP, 2010

10 tiêu chí được sử dụng để đo lường chỉ số MPI gồm:

 Giáo dục (mỗi tiêu chí có trọng số bằng 1/6):

i Số năm đi học ở người lớn: là thiếu hụt nếu không có thành viên nào trong

hộ gia đình không hoàn thành 6 năm học

Trang 20

ii Tình trạng đi học ở trẻ em: là thiếu hụt nếu bất kỳ đứa trẻ nào trong độ tuổi đến trường không học đến lớp 8

 Điều kiện sống (mỗi tiêu chí có trọng số bằng 1/18)

v Điện: là thiếu hụt nếu hộ gia đình không có điện

vi Điều kiện vệ sinh: là thiếu hụt nếu nhà vệ sinh của hộ gia đình không được cải thiện (theo tiêu chí của Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG – Milennium Development Goals) hoặc có sự cải thiện nhưng phải dùng chung với các hộ gia đình khác

vii Sàn nhà: là thiếu hụt nếu hộ gia đình sử dụng sản nhà bị bẩn hoặc có cát, phân khô

viii Nhiên liệu nấu ăn: là thiếu hụt nếu các hộ gia đình nấu ăn bằng phân khô, gỗ hoặc than củi

ix Sở hữu tài sản: là thiếu hụt nếu hộ gia đình không sở hữu nhiều hơn một trong số các loại: radio, TV, điện thoại, xe đạp, xe máy hoặc tủ lạnh và không sở hữu 1

xe ôtô hoặc xe tải

Một người được coi là nghèo khổ nếu họ thiếu hụt ít nhất 1/3 các tiêu chí được đo lường Mức độ tập trung của nghèo đói biểu thị thông qua tỷ lệ các chỉ số mà

họ bị thiếu

2.2.2 Tại Việt Nam qua các giai đoạn

Chuẩn nghèo ở nước ta là thước đo (hay tiêu chí) nhằm xác định ai là người nghèo (hoặc không nghèo) để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của nhà nước, nhằm bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo Căn cứ vào chỉ tiêu thu nhập và chi tiêu, mức sống thực tế các địa phương, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từ năm 1993 đến nay, Bộ Lao động – thương binh và Xã hội đã 6 lần công bố tiêu chuẩn cụ thể cho hộ nghèo Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian cùng với sự thay đổi mặt bằng chung thu nhập quốc gia

 Chuẩn nghèo của Việt Nam từ 1993 – 2015

Chuẩn nghèo ở nước ta trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2015 được xác định dựa vào tiêu chí duy nhất là thu nhập Mức chuẩn nghèo này là được đánh giá là

Trang 21

phù hợp với mức sống và thu nhập của dân cư tại các khu vực cụ thể trong khoảng thời gian cụ thể, cũng như thu nhập của 20% nhóm nghèo nhất, đảm bảo được khả năng huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo và từng bước tiếp cận phù hợp với chuẩn nghèo quốc tế

Bảng 2.2 Chuẩn nghèo của Việt Nam từ 1993 – 2015 Chuẩn nghèo đói qua các

giai đoạn

Phân loại nghèo đói Mức thu nhập bình

quân/người/tháng

Hộ nghèo (Khu vực nông thôn) Dưới 15 kg

1993 – 1995

(Mức thu nhập quy ra gạo)

Hộ đói (Tính cho mọi khu vực) Dưới 15 kg (tươngđương

45.000 đồng)

Hộ nghèo (Khu vực nông thôn miền núi, hải đảo)

Dưới 15 kg (tươngđương 55.000 đồng)

Hộ nghèo (Khu vực nông thôn đồng bằng, trung du)

Dưới 20 kg (tươngđương 70.000 đồng)

1996 – 2000

(Mức thu nhập quy ra gạo

tươngđương với số tiền, giá

Hộ nghèo (Khu vực nông thôn đồng bằng, trung du)

Trang 22

Ở nước ta trong thời gian qua, bên cạnh việc đưa ra tiêu chí để xác định hộ nghèo và cận nghèo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội còn đưa ra tiêu chí xác định chuẩn xã nghèo nhằm xác định những xã thuộc diện xã nghèo để thực hiện các chính sách, chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, điện, đường, trường, trạm nhằm cải thiện đời sống, giúp dân cư ở các địa phương này thoát nghèo

Theo quyết định số 587/2002/QĐ – BLDTBXH xã nghèo (ngoài chương trình 135) là các xã có đầy đủ các tiêu chí sau:

+ Dưới 30% số hộ được sử dụng nước sạch;

+ Dưới 50% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt;

+ Chưa có đường ô tô trung tâm xã, ô tô không đi lại được cả năm;

+ Số phòng học mới đáp ứng được 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng tạm bằng tranh, tre, nứa, lá;

+ Chưa có trạm y tế, hoặc có nhưng là nhà tạm;

+ Chưa có chợ hoặc chợ tạm

 Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020

Theo Quyết định số 59/2015/QĐ – TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng chính phủ, chuẩn nghèo trong giai đoạn 2016 – 2020 được tiếp cận đa chiều thay vì đơn chiều (chỉ dựa vào tiêu chí thu nhập) như trước kia Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng trong giai đoạn 2016 – 2020 gồm tiêu chí về thu nhập

và mức thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Cụ thể như sau:

 Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

- Các dịch vụ xã hội cơ bản (5 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở nước sạch và vệ sinh; thông tin;

Trang 23

- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

Các chiều thể hiện các nhóm dịch vụ xã hội cơ bản được cho điểm bằng nhau thể hiện vai trò quan trọng bằng nhau Cụ thể trong cách đo lường chỉ số nghèo đa chiều ở Việt Nam có tất cả là 5 chiều, mỗi chiều được 20 điểm, trong mỗi chiều, các chỉ số cũng được cho điểm bằng nhau, mỗi chỉ số sẽ được cho 10 điểm Tổng điểm của tất cả các chỉ số sẽ cộng thành điểm thiếu hụt chung của cả hộ Nếu điểm thiếu hụt chung này nhiều hơn ngưỡng thiếu hụt chung thì hộ sẽ bị coi là thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Ví dụ: trong chiều Giáo dục có 2 chỉ số, thì mỗi chỉ số sẽ được

10 điểm Ở mỗi chỉ số trong chiều Giáo dục này, nếu hộ gia đình không thiếu hụt sẽ có điểm bằng 0, nếu thiếu hụt sẽ có điểm bằng 10

Bảng 2.3 Chỉ số đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam

1.1 Trình độ giáo dục của người lớn

Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em trong độ tuổi đi học (từ 5 đến dưới 15 tuổi) hiện không đi học

10

2 Y tế

2.2 Bảo hiểm y tế Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6

tuổi trở lên hiện tại không có bảo hiểm

y tế

10

3.1 Chất lượng nhà ở

Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên cố hoặc nhà đơn sơ (nhà ở chia thành 4 cấp độ: nhà kiên cố, bán kiên

cố, nhà đơn sơ

10

3 Nhà ở

3.2 Diện tích nhà ở bình quân đầu người

Diện tích nhà ở bình quân đầu người của gia đình nhỏ hơn 8m2

10

Trang 24

4.1 Nguồn nước sinh hoạt

Hộ gia đình không được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh

10

4 Điều kiện

sống

4.2 Hố xí/ nhà tiêu

Hộ gia đình không sử dụng hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh

Hộ gia đình không có tài sản nào trong

số các tài sản: tivi, radio, máy tính, và không nghe được hệ thống loa đài truyền thanh xã/ thôn

Như vậy phương pháp đo lường nghèo đa chiều của Việt Nam được xây dựng dựa trên phương pháp đo lường MPI của thế giới nhưng có sự thay đổi, điều chỉnh để phù hợp với điều kiện của đất nước Cụ thể ở những một số điểm sau:

- Nghèo đa chiều theo quan niệm của thế giới dựa trên nền tảng phải bảo đảm nhu cầu mức sống tối thiếu của người nghèo, không chỉ về thu nhập mà bao gồm cả đáp ứng các nhu cầu về dịch vụ xã hội cơ bản Trong cách xác định chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 đã tiếp cận đa chiều nhưng chưa đảm bảo mức sống tối thiểu (mới đảm bảo 70%)

- Chuẩn nghèo theo quan niệm của thế giới là khi mức thu nhập đã đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu thì chỉ tính đến độ thiếu hụt các dịch vụ xã hôi cơ bản và chuẩn nghèo đó là độ thiếu hụt 1/3 các nhu cầu xã hội cơ bản Ở Việt Nam chúng ta chưa thể

bỏ chuẩn nghèo về thu nhập do chưa đảm bảo được mức sống tối thiểu cho một bộ phận dân cư

- Đo lường nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều của thế giới nhằm đo lường đo lường mức thiếu hụt về nhu cầu xã hội cơ bản theo các chiều với các tiêu chí

có tính chất bao quát Trong Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đưa

ra 3 chiều: Y tế (2 tiêu chí); Giáo dục (2 tiêu chí) và Điều kiện sống (6 tiêu chí) Như vậy trong cách xác định chỉ số MPI do UNDP đưa ra có 3 chiều và 10 tiêu chí phúc lợi

Trang 25

xã hội nhưng để phù hợp với hoàn cảnh của mình các quốc gia có thể đưa ra các chiều với các tiêu chí các nhau Trong cách xác định của Việt Nam chúng ta có 5 chiều nghèo và 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt trong nghèo đa chiều

- Đo lường nghèo đa chiều theo phương pháp đo lường của thế giới chủ yếu

để đánh giá tình trạng nghèo đa chiều của quốc gia so với thế giới, còn chính sách hỗ trợ cho người nghèo là theo chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội Tuy nhiên,

do đặc điểm của quốc gia Việt Nam vẫn phải xây dựng chuẩn nghèo đa chiều để có chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đa chiều (xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo)

2.3 Phương pháp đo lường nghèo

2.3.1 Phương pháp đo lường nghèo đơn chiều

Phương pháp đo lường nghèo đơn chiều được sử dụng đo lường nghèo dựa vào tiêu chí duy nhất là thu nhập (hoặc chi tiêu) của cá nhân hay hộ gia đình Phương pháp này chỉ tập trung duy nhất vào khía cạnh tiền tệ mà bỏ qua các khía cạnh phi tiền tệ khác của đói nghèo Thu nhập hay chi tiêu của cá nhân hoặc hộ gia đình được so sánh với chuẩn nghèo được đề ra Cá nhân hay hộ gia đình được coi là nghèo nếu có thu nhập hay chi tiêu dưới chuẩn nghèo và không nghèo nếu có thu nhập hay chi tiêu trên chuẩn nghèo

Chỉ số nghèo đơn chiều được xác định theo chỉ số đếm đầu (Headcount Index)

Cụ thể như sau:

Headcount Index = H/N Trong đó:

- H: số người nghèo

- N: Tổng số người dân tính toán trong mẫu

2.3.2 Phương pháp đo lường nghèo đa chiều

Phương pháp đo lường nghèo đa chiều của Alkire và Foster bắt đầu bằng việc xác định số lượng chiều trong phân tích nghèo đa chiều; các chiều cơ bản có thể bao gồm y tế, giáo dục, mức sống… Mỗi chiều nghèo này sẽ được đo lường dựa trên các

số thành phần Khi đã có mức thiếu hụt của từng chỉ số thành phần, với mỗi hộ gia

đình i, chúng ta sẽ ước lượng điểm thiếu hụt (deprivation score) theo công thức:

(1)

Trang 26

Trong đó wk là quyền số của chỉ số thành phần I ki , và I ki là giá trị của chỉ số

thành phần k của hộ i, và K là tổng số chỉ số thành phần Các chỉ số thành phần I ki

được xác định là các chỉ số nhị phân, với giá trị bằng 1 tương ứng với thiếu hụt về thành phần đấy và bằng 0 tương ứng với không thiếu hụt Giá trị quyền số của chỉ số thành phần phụ thuộc vào số lượng chiều và số lượng chỉ số thành phần cho từng

Điểm thiếu hụt c biến động từ 0 đến 1, với giá trị càng cao thể hiện mức độ

thiếu hụt càng lớn của hộ Hộ không bị thiếu hụt ở bất cứ chiều nào sẽ có giá trị điểm thiếu hụt bằng 0, còn hộ bị thiếu hụt ở tất cả các chiều thì có điểm thiếu hụt bằng 1 Để xác định tỷ lệ nghèo đa chiều theo phương pháp của Alkire và Foster chúng ta cần phải

xác định ngưỡng nghèo đa chiều, ký hiệu là L Một hộ gia đình sẽ được xác định là

Foster sử dụng ngưỡng nghèo là 1/3, tức là nếu hộ nghèo có điểu thiếu hụt hơn 1/3 thì

sẽ coi là hộ nghèo

Sau khi tính được số hộ nghèo đa chiều, chúng ta ước lượng tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (còn gọi là chỉ số đếm đầu, ký hiệu là H)

(2)

Trong đó q là số lượng hộ nghèo đa chiều và n là tổng số hộ gia đình Chúng ta

có thể tính tỷ lệ người nghèo bằng cách lấy tổng số người nghèo đa chiều chia cho tổng dân số

Tỷ lệ nghèo đa chiều không phản ánh được mức độ hay độ sâu thiếu hụt của các

hộ nghèo Vì hộ thiếu hụt tất cả các chiều cũng như hộ chỉ thiếu hụt 1/L chiều cũng đều được coi là hộ nghèo Tỷ lệ nghèo đa chiều giản đơn không cho thấy được số chiều thiếu hụt của các hộ nghèo Chính vì vậy Alkire và Foster đề xuất ước tính mức

độ tập trung của nghèo đa chiều A:

(3)

Trong đó c i (L) là điểm thiếu hụt chỉ tính cho hộ nghèo (censored deprivation

score), được tính như sau:

Cuối cùng ta tính chỉ số nghèo đa chiều theo công thức như sau:

Trang 27

MPI = H x A

- H: Tỷ lệ nghèo đa chiều (tỷ lệ %)

- A: Mức độ tập trung của nghèo đa chiều(%) Chỉ số MPI này càng cao thì mức độ nghèo đa chiều càng lớn Chỉ số MPI khác với chỉ số đếm đầu H, vì nó không chỉ phản ánh tỷ lệ nghèo đa chiều mà còn phản ánh mức độ thiếu hụt của người nghèo đa chiều Nói cách khác thì chỉ số MPI phản ánh tỷ

lệ dân số nghèo đa chiều được điều chỉnh theo độ sâu của nghèo đa chiều

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng đồng thời cả phương pháp đo lường nghèo đơn chiều dựa theo tiêu chí thu nhập và phương pháp đo lường nghèo đa chiều do Alkire và Fooster đưa ra để từ đó xác định được tỷ lệ hộ nghèo thu nhập, tỷ lệ nghèo đa chiều MPI và mức thiếu hụt của các chỉ tiêu có tính trọng số, các chiều của các hộ gia đình

2.4 Tổng quan nghiên cứu về nghèo đa chiều trên thế giới và ở Việt Nam

Trong một khoảng thời gian khá dài đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các phương pháp tiếp cận, đánh giá, đo lường về mức độ nghèo khổ khác nhau trên thế giới Tuy nhiên trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, phương pháp đo lường nghèo đa chiều dựa trên phương pháp tiếp cận Alkire – Foster được đánh giá là tương đối hoàn thiện và được áp dụng rộng rãi trên thế giới

2.4.1 Các nghiên cứu có phạm vi toàn cầu

2.4.1.1 Chỉ số nghèo khổ đa chiều 2010, OPHI

Công trình nghiên cứu “Chỉ số nghèo khổ đa chiều” do Sabina Alkire và Maria Emma Santos thuộc OPHI, đại học Oxford công bố vào năm 2010 được thực hiện dựa trên đánh giá phân tích tình trạng nghèo đa chiều tại 104 quốc gia đang phát triển với dân số khoảng 5,2 tỷ người (chiếm 78% tổng dân số toàn cầu) Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có khoảng 1,7 tỷ người đang sống trong tình trạng nghèo khổ đa chiều (chiếm 1/3 tổng dân số) Con số này vuợt quá 1,3 tỷ người cũng ở các nước này nếu tính theo ngưỡng 1,25 USD/ngày – phương pháp được chấp nhận phổ biến đo lường nghèo cùng cực

Theo cách sử dụng chỉ số nghèo đa chiều MPI này, có đến ½ người nghèo trên thế giới sống ở Nam Á (51% hay 844 triệu người) và ¼ người nghèo sống ở Châu Mỹ (28% hoặc 458 triệu người) Ở các nước có nền công nghiệp phát triển mạnh trong vài năm trở lại đây, sử dụng chỉ số nghèo đói đa chiều đã thể hiện được tính dai dẳng của

Trang 28

sự nghèo khổ sâu sắc và Ấn Độ là một trường hợp điển hình Nếu tính theo chỉ tiêu thu nhập thì chỉ số nghèo của Ấn Độ là 42% nhưng khi tính theo chỉ số nghèo đa chiều thì chỉ số lại là 55,4% Qua đó, ta càng thấy rõ rằng nếu chỉ dựa vào tiêu chí thu nhập để đánh giá thì sẽ không phản ánh được chính xác sự nghèo khổ của con người

2.4.1.2 Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2010, UNDP

Năm 2010 là năm đầu tiên UNDP chính thức sử dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều MPI trong Báo cáo phát triển con người thường niên của mình Bên cạnh những kết luận tương tự như nghiên cứu Chỉ số nghèo đa chiều mà tổ chức OPHI thực hiện như phân tích ở trên, báo cáo này còn chỉ ra mối liên hệ giữa số người nghèo

đa chiều và cường độ nghèo tác động lên nhóm người nghèo đó Theo đó thì hầu hết các quốc gia có số người nghèo tổng hợp đếm đầu người cao hơn thì có cường độ nghèo lớn hơn Tuy nhiên bên cạnh đó là hiện tượng một số quốc gia có tỷ lệ nghèo tổng hợp đếm đầu thấp nhưng cường độ nghèo cao (như Myanmar, Philippines và Việt Nam) và một số quốc gia có tỷ lệ nghèo tổng hợp đếm đầu cao nhưng cường độ nghèo đói thấp (như Bangladesh, Campuchia và Cộng hòa Dân chủ Congo)

Báo cáo chỉ ra rằng tỉ lệ nghèo đa chiều khác nhau khá lớn giữa các khu vực, từ 3% người được đo là nghèo đa chiều ở khu vực Châu Âu và Trung Á đến 65% người nghèo đa chiều ở tiểu vùng Sahara (Châu Phi), Nam Á Đây được đánh giá là 2 khu vực có tỉ lệ nghèo đa chiều cao nhất thế giới Trong hầu hết các khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, tỷ lệ nghèo đa chiều tương đối thấp Tuy nhiên, hơn một nửa người dân Campuchia được đánh giá là nghèo đa chiều, chủ yếu là do thiếu điện, vệ sinh môi trường và nhiên liệu nấu ăn

2.4.2 Các nghiên cứu về Việt Nam

Trong những năm gần đây ở Việt Nam, các tổ chức quốc tế và các nhà nghiên cứu đã nội địa hóa chỉ số nghèo khổ đa chiều MPI cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước Các công trình nghiên cứu đã được thực hiện ở cả quy mô quốc gia và quy mô địa phương (tỉnh/ thành phố/huyện/xã), từ góc độ dân số chung cho đến từng thành phần cụ thể như nghèo đa chiều ở trẻ em Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ trình bày một số nghiên cứu, báo cáo nghèo đa chiều điển hình cụ thể như sau:

2.4.2.1 Báo cáo Quốc gia về phát triển con người năm 2011, UNDP

Năm 2011, UNDP công bố Báo cáo quốc gia về phát triển con người với tên gọi

là “Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người” Trong báo cáo này, UNDP có tính

Trang 29

toán chỉ số MPI cho Việt Nam dựa trên số liệu năm 2008 Theo số liệu do UNDP đưa

ra thì chỉ số nghèo đói đa chiều MPI của Việt Nam là 23,3% cao hơn rất nhiều so với

tỷ lệ người nghèo tính theo tiêu chí thu nhập của Việt Nam năm 2008 là 14,5% và chỉ

số HPI Việt Nam trong năm 2008 là 10,93% Độ sâu đói nghèo dựa trên chỉ số MPI của Việt Nam là 40% Qua đó, ta thấy rằng dù tỷ lệ nghèo đa chiều tương đối thấp (23,3%) nhưng những người nghèo này đang phải chịu những sự thiếu hụt khác nhau

và tỷ lệ dân số có nguy cơ trở thành nghèo đa chiều lên đến 20% Tỷ lệ nghèo đo lường theo phương pháp tiếp cận đa chiều cao hơn hẳn phương pháp tiếp cận đơn chiều ở Việt Nam chứng tỏ rằng phương pháp này không còn phù hợp trong hoàn cảnh hiện tại, thay vì chỉ quan tâm nghèo về vật chất, cần chú trọng hơn về nghèo con người, nghèo xã hội

Theo báo cáo này, tỷ lệ nghèo đếm đầu cao nhất ở những vùng nghèo nhất cả nước đó là miền núi, trung du phía Bắc (40%) và khu vực đồng bằng Sông Cửu Long (50%); tỷ lệ nghèo đa chiều MPI ở khu vực nông thôn cao hơn 5 lần khu vực thành thị,

ở nhóm dân tộc thiểu số (DTTS) cao gấp 3,5 lần nhóm dân tộc Kinh và Hoa

Báo cáo này cũng chỉ ra rằng dù đều tính toán tỷ lệ đói nghèo phi tiền tệ như chỉ

số HPI, nhưng chỉ số MPI cao hơn so với HPI do MPI sử dụng nhiều chỉ số phù hợp với mức độ phát triển của Việt Nam, trong khi đó HPI đo lường các nhu cầu và thiếu thốn cơ bản và là chỉ số đặc biệt phù hợp cho các nước có thu nhập thấp trong khi Việt Nam là quốc gia có thu nhập trung bình

2.4.2.2 Dự án “Hỗ trợ đánh giá sâu về nghèo đô thị tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh”, năm 2010

Năm 2010, được sự giúp đỡ của UNDP, Việt Nam đã thực hiện khảo sát nghèo

đô thị tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh Các chuyên gia đã thực hiện khảo sát trên hai địa bàn để tính toán chỉ số nghèo đa chiều MPI dựa trên 8 tiêu chí đánh giá đói nghèo là: thu nhập; y tế; tiếp cận hệ thống an sinh xã hội; chất lượng và diện tích nhà ở; dịch vụ nhà ở; tham gia các hoạt động xã hội và an toàn xã hội nhằm đưa ra bức tranh toàn diện và phù hợp hơn về tình trạng nghèo khổ ở 2 thành phố này

Dựa theo kết quả thực hiện khảo sát, Hà Nội và Hồ Chí Minh là hai đô thị lớn với các chỉ tiêu kinh tế xã hội ở mức cao, nhưng tồn tại sự chênh lệch sâu sắc về thu nhập cũng như tiếp cận các dịch vụ xã hội giữa các nhóm dân cư, đặc biệt là nhóm dân

cư không có hộ khẩu thường trú và nhóm dân thường trú có đăng ký hộ khẩu Ở cả 2

Trang 30

thành phố, 3 chiều đóng góp nhiều nhất vào chỉ số nghèo đa chiều là thiếu hụt về tiếp cận hệ thống an sinh xã hội, tiếp cận các dịch vụ nhà ở phù hợp (bao gồm dịch vụ điện, nước và rác thải) và tiếp cận nhà ở có chất lượng và diện tích phù hợp Đối với Hồ Chí Minh, không có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) cũng là một vấn đề cần quan tâm với tỷ lệ người không có BHYT là 42,8%

Ở cả 2 thành phố, người dân ở khu vực nông thôn và người dân di cư chịu thiếu hụt ở tất cả các chiều nhiều hơn người dân thành thị và dân có hộ khẩu Đáng chú ý là thiếu hụt về tham gia các hoạt động xã hội của người di cư rất cao và chênh lệch nhiều

so với dân có hộ khẩu

Chỉ số nghèo đa chiều ở Hồ Chí Minh cao hơn Hà Nội, nông thôn cao hơn thành phố và người di cư cao hơn người có hộ khẩu Đặc biệt chỉ số nghèo đa chiều rất

số thiếu hụt càng cao thì tỷ trọng dân di cư càng tăng lên

2.4.2.3 Nghiên cứu đánh giá về nghèo đa chiều tại Việt Nam, năm 2014

Nghiên cứu Đánh giá về nghèo đa chiều tại Việt Nam năm 2014 do Lê Việt Hà

và các cộng sự thực hiện sử dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều dựa trên phương pháp tiếp cận Alkire – Foster thông qua 5 chiều (y tế; giáo dục; bảo hiểm và trợ cấp xã hội; điều kiện sống và sự tham gia các hoạt động xã hội) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nghèo đa chiều đã giảm nhẹ trong khoảng thời gian 2010 – 2012 và Đồng bằng Sông Cửu Long là vùng nghèo nhất theo phương pháp đo lường đa chiều (trong khi miền núi phía Bắc lại là vùng nghèo nhất theo phương pháp đo lường theo tiêu chí thu nhập) Kết quả phân tích cũng cho thấy rằng các nhóm DTTS chỉ chiếm 1

tỷ lệ nhỏ trong dân số cả nước nhưng chiếm phần lớn trong tỷ lệ nghèo đa chiều cả nước Phân tích tác động của 5 chiều lên độ sâu của sự đói nghèo chỉ ra rằng sự thiếu hụt của chiều “bảo hiểm và trợ cấp xã hội” góp phần nhiều nhất cho sự nghèo đói, trong khi sự thiếu hụt của chiều “điều kiện sống” góp phần ít nhất vào tổng nghèo

2.4.2.4 Đánh giá nghèo theo tiếp cận đa chiều – trường hợp xã Cam Bình, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa

Luận văn “Đánh giá nghèo theo tiếp cận đa chiều – trường hợp xã Cam Bình, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa” do tác giả Đỗ Quốc Việt thực hiện vào năm

2017 Trong nghiên cứu này, tác giả áp đã áp dụng đo lường 5 chiều nghèo gồm: Y tế,

Trang 31

giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin với 10 chỉ tiêu phụ bao gồm: (1) Trình

độ giáo dục của người lớn; (2) Tình trạng đi học của trẻ em; (3) Tiếp cận các dịch vụ y tế; (4) Bảo hiểm y tế; (5) Chất lượng nhà ở; (6) Diện tích nhà ở bình quân đầu người; (7) Nguồn nước sinh hoạt; (8) Loại hố xí/nhà tiêu; (9) Sử dụng dịch vụ viễn thông; (10) Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin Cùng với mẫu được lấy từ kết quả điều tra

1277 hộ gia đình với 100% là hộ gia đình thuộc nông thôn trên địa bàn Xã Cam Bình,

TP Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: có 5 chỉ số ảnh hưởng nhiều nhất đến người dân theo tiếp cận nghèo đa chiều tại Xã Cam Bình, Thành phố Cam Ranh, Tỉnh Khánh

bảo hiểm y tế; Hộ gia đình không xử dụng hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên cố hoặc nhà đơn sơ; Hộ gia đình không có thành viên nào

sử dụng thuê bao điện thoại và internet Qua kết quả cũng thấy có chỉ số về hộ gia đình không có tivi, radio, máy tính và không nghe được hệ thống loa, đài truyền thanh xã/thôn rất ít thiếu hụt và chỉ số hộ gia đình không được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh là hoàn toàn không thiếu hụt

2.4.3 Các vấn đề kế thừa và khoảng trống nghiên cứu

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến

đề tài thạc sĩ cho thấy: các công trình này đều là những công trình có giá trị khoa học cao đã được công nhận Trong các công trình nghiên cứu đó, đề tài có thể kế thừa được nhiều vấn đề song cũng còn nhiều khoảng trống chưa được nghiên cứu Cụ thể công

trình “Đánh giá nghèo theo tiếp cận đa chiều – trường hợp xã Cam Bình, thành phố

Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa” là đề tài liên quan gần nhất với đề tài tác giả nghiên cứu,

tuy nhiên đối tượng và phạm vi áp dụng khác với đối tượng và phạm vi áp dụng của đề tài tác giả Các công trình khác cũng có liên quan đến đề tài, song các vấn đề nghiên cứu đó được tiếp cận theo góc độ khác với mục tiêu đề tài của tác giả

Như vậy, có thể thấy liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến, với mỗi đề tài đều có những đóng góp những kết quả nghiên cứu nhất định với những vấn đề đặt ra trong mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài thì chưa được đề tài nào đề cập đến,

do đó còn những khoảng tống cần được tiếp tục nghiên cứu, cụ thể:

Trang 32

Những vấn đề kế thừa:

- Luận văn kế thừa các quan điểm, cơ sở lý luận về nghèo, nghèo đa chiều, các

chỉ tiêu để đánh giá, xác định hộ nghèo, phương pháp đo lường nghèo

- Luận văn kế thừa kinh nghiệm xây dựng mô hình xác định nghèo đa chiều,

các chiều nghèo và các chỉ số nghèo đa chiều

- Luận văn kế thừa phương pháp tính toán xác định chỉ số nghèo đa chiều (MPI)

Những khoảng trống nghiên cứu:

- Nghiên cứu xác định thực trạng nghèo đa chiều tại xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận; xác định mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản của các hộ

nghèo theo từng chỉ số tính trọng số và các chiều nghèo

- Đặc điểm kinh tế - xã hội cụ thể tại địa phương, các nguyên nhân dẫn đến tính

trạng đói nghèo, những thuận lợi khó khăn đối với giảm nghèo bền vững tại địa phương

- Các giải pháp giảm nghèo bền vững cần được trình bày theo hướng xác định

đến từng chiều thiếu hụt cụ thể theo đặc thù của địa phương nghiên cứu

Với những khoảng trống nghiên cứu trên tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện trong luận văn của mình – Đánh giá nghèo theo tiếp cận đa chiều: trường hợp xã

Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

2.5 Thực trạng nghèo đa chiều ở Việt Nam hiện nay

2.5.1 Sự cần thiết phải chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều

Trong những năm trước đây, việc xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam được đo lường thông qua tiêu chí duy nhất là thu nhập Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức thu nhập đủ để đáp ứng những nhu cầu chi tiêu tối thiểu và quy ra bằng tiền Người nghèo hay hộ nghèo là những đối tượng có mức thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo Cách thức đo lường này đã duy trì trong khoảng hơn 20 năm và đã bộc lộ nhiều hạn chế nhất định Cụ thể như sau:

- Thứ nhất, một số nhu cầu xã hội cơ bản của con người không thể quy ra tiền

(như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội…) hoặc không thể mua được bằng tiền (như tiếp cận giao thông, thị trường và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế, giáo dục công…)

- Thứ hai, có những trường hợp hộ gia đình có tiền nhưng không chi tiêu vào

việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu bởi lý do khách quan như không có sẵn dịch vụ hay chủ quan như do tập tục văn hóa địa phương hay do chính nhận thức của người dân

Trang 33

- Thứ ba, hàng năm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đều tăng mà chuẩn nghèo thì

thường được giữ nguyên trong khoảng thời gian 5 năm và không tính đến sự thay đổi của CPI Do đó, chuẩn nghèo không đáp ứng được nhu cầu đảm bảo mức sống tối thiểu của người dân

- Thứ tư, chính sách giảm nghèo được xây dựng dựa trên tiêu chí thu nhập chủ

yếu nhằm giải quyết vấn đề “thiếu tiền” và khả năng chi trả dịch vụ, do đó chưa thực

sự tác động đến các nguyên nhân của đói nghèo như vấn đề khó tiếp cận dịch vụ, dịch

vụ không có sẵn hoặc không phù hợp, nhận thức chưa đúng và thiếu chủ động từ phía người dân

Vì những hạn chế nêu trên nếu chỉ sử dụng chuẩn nghèo thu nhập để đo lường

và xác định đối tượng nghèo đói sẽ dẫn đến bỏ sót đối tượng, nhận diện nghèo và phân loại đối tượng chưa chính xác, từ đó chính sách hỗ trợ mang tính cào bằng và chưa phù hợp với nhu cầu Nhận thức rõ được điều này nên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã sớm chủ trì nghiên cứu chuyển đổi cách tiếp cận đo lường nghèo của Việt Nam sao cho phù hợp với xu thế của mới của thế giới và hoàn cảnh của đất nước Tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa 13, các đại biểu đã thông qua Nghị quyết số 76/2014/QH13

về đẩy mạnh mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: “Xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu (thu nhập bao gồm chuẩn mức sống tối thiểu và nghèo cùng cực) và đảm bảo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.”

Phương pháp đo lường nghèo đa chiều được sử dụng trong giai đoạn 2016 –

2020, được đánh giá là sẽ khắc phục được những hạn chế của phương pháp đo lường nghèo đơn chiều (chỉ dựa vào tiêu chí duy nhất là thu nhập) Hơn nữa, phương pháp này đặc biệt phù hợp trong bối cảnh cơ cấu kinh tế - xã hội của nước ta đang thay đổi không ngừng, tốc độ đô thị hóa và di cư tăng nhanh hiện nay đang tạo ra một bộ phận người dân thuộc nhóm cận nghèo thu nhập hoặc những người không thuộc diện nghèo thu nhập nhưng chưa được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ xã hội cơ bản, họ đang đối mặt với nhiều rủi ro khiến họ có thể rơi vào tình trạng nghèo đói

2.5.2 Thực trạng nghèo ở Việt Nam

Sau hơn 20 năm đổi mới Việt Nam đã chính thức trở thành quốc gia có thu nhập trung bình và đang nỗ lực để huớng đến các tầm cao mới với mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020 Về lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, thành

Trang 34

tựu mà chúng ta đạt đuợc trong những năm qua là rất ấn tượng Tỷ lệ nghèo chính thức của Việt Nam đã giảm từ 30% (1993) xuống còn 22% (2005), và tiếp tục giảm còn 14,2% (2010) Tỷ lệ thiếu đói năm 1993 là 24,9% chỉ còn ở mức 6,9% vào năm 2008

Thu nhập bình quân đầu nguời năm 2017 đạt 2.385 USD/người/năm, Việt Nam thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình Tuy nhiên, nhìn chung thu nhập bình quân đầu nguời ở Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn và khoảng cách giàu nghèo đang gia tăng

Theo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2014 theo chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2011 – 2015 do Bộ lao động thương binh xã hội thực hiện trên phạm vi cả nước được công bố vào ngày 10 tháng 9 năm 2015 thì:

- Tổng số hộ nghèo: 1.442.261 hộ (giảm 375.628 hộ so với năm 2013);

- Tỷ lệ hộ nghèo: 5,97% (giảm 1,83% so với năm 2013);

- Số hộ nghèo dân tộc thiểu số là 663.563 hộ, chiếm tỷ lệ 46,66% so với tổng

số hộ nghèo cả nước;

- Số hộ nghèo khu vực thành thị là 109.604 hộ, chiếm tỷ lệ 7,71% so với tổng

số hộ nghèo cả nước; số hộ nghèo khu vực nông thôn là 1.312.656 hộ, chiếm tỷ lệ 92,29% so với tổng số hộ nghèo cả nước;

- Số hộ nghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội là 173.902 hộ, chiếm tỷ lệ 12,23% so với tổng số hộ nghèo cả nước

- Số hộ nghèo thuộc chính sách giảm nghèo là 256.701 hộ, chiếm tỷ lệ 18,05%

so với tổng số hộ nghèo cả nước, bao gồm: 21.634 hộ nghèo có thành viên thuộc đối tượng chính sách nguời có công, chiếm tỷ lệ 1,52% so với tổng số hộ nghèo cả nước; 235.067 hộ nghèo có thành viên thuộc đối tượng chính sách bảo trợ xã hội, chiếm tỷ lệ 16,53% so với tổng số hộ nghèo cả nước

- Tổng số hộ cận nghèo: 1.338.976 hộ (giảm 93.327 hộ so với năm 2013);

- Tỷ lệ hộ cận nghèo: 5,62% (giảm 0,70% so với năm 2013);

- Tổng số hộ nghèo trên địa bàn 64 huyện nghèo (62 huyện theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ và 02 huyện nghèo theo Quyết định số 1791/QĐ-TTg ngày 01/10/2013 của Thủ tướng chính phủ) là 234.743 hộ (giảm 34.427 hộ

so với năm 2013), tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 32,59% (giảm 5,63% so với năm 2013);

- Tổng số hộ nghèo trên địa bàn 30 huyện nghèo theo các Quyết định số 615/QĐ-TTg ngày 25/4/2011 và Quyết định số 293/QĐ-TTg ngày 05/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ là 119.888 hộ (giảm 20.261 hộ so với năm 2013), tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 28,49% (giảm 5,65% so với năm 2013)

Trang 35

Từ năm 2016, theo Quyết định số 1614/QĐ – TTg của Thủ tướng Chinh phủ ký phê duyệt, Việt Nam đã chuyển đối phương pháp tiếp cận đo lường từ đơn chiều sang

đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 Theo cách tiếp cận này thì Việt Nam hiện

có 1.986.697 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 8,23% tổng số hộ dân toàn quốc) và 1.306.928 hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 5,41%)

Biểu đồ 2.1 Số lượng hộ nghèo, hộ cận nghèo qua từ năm 2013 - 2016

Nguồn: Quyết định phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm

2014, 2015, 2016, Bộ Lao động – Thương binh xã hội

Biểu đồ 2.1 thể hiện số lượng hộ nghèo, hộ cận nghèo ở Việt Nam được đo lường theo phương pháp đơn chiều cho 2 năm 2013, 2014 và phương pháp đa chiều cho 2 năm 2015, 2016 Qua biểu đồ 2.1 ta thấy rằng số lượng hộ nghèo của năm 2014 thấp hơn năm 2013 và năm 2016 thì thấp hơn 2015, nhưng số hộ nghèo năm 2015 lại cao hơn hẳn so với 2014 Điều này không hàm ý rằng năm 2015 Việt Nam có sự gia tăng đột biến về số lượng hộ nghèo mà sự gia tăng này là do chúng ta thay đổi phương pháp đo lường Phương pháp đo lường nghèo theo cách tiếp cận đa chiều đã khắc phục, hạn chế việc bỏ sót những đối tượng tuy không nghèo về thu nhập, nhưng lại nghèo về khía cạnh khác Cái nghèo không chỉ gắn liền với sự thiếu thốn thu nhập hay chi tiêu, mà còn là việc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản khác của con người

Trong tổng số 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có 24 tỉnh, thành phố

có tỷ lệ hộ nghèo duới 5% là Quảng Ninh (3,23%), Bắc Ninh (2,81%), Vĩnh Phúc (4,00%), Hà Nội (0,41%), Hải Phòng (3,10%), Hà Nam (4,89%), Hải Duơng (4,08%),

Trang 36

Hưng Yên (3,45%), Thái Bình (3,47%), TP.Đà Nẵng (3,37%), TP Hồ Chí Minh (0,20%), Bình Thuận (4,5%), Tây Ninh (2,10%), Bình Phuớc (2,96%), Bình Duơng (0,00%), Đồng Nai (0,84%), Bà Rịa – Vũng Tàu 1,95%), Long An (3,78%), Tiền Giang (3,77%), Bến Tre (4,64%), Vĩnh Long (4,54%), Cần Thơ (3,21%), Kiên Giang (4,52%), Cà Mau (3,83%) Trong đó có 3 thành phố có tỷ lệ hộ nghèo duới 1% là Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Bình Dương, đặc biệt Bình Dương là địa phương duy nhất trong cả nước không có hộ nghèo

Ở chiều ngược lại, trên cả nước có 12 địa phương có tỷ lệ hộ nghèo hơn 20% trong đó Điện Biên là địa phương có tỷ lệ nghèo cao nhất cả nước (44,82%) 64 huyện nghèo thuộc 20 tỉnh theo Nghị quyết 30/2008/NQ – CP của Chính Phủ có tỷ lệ hộ nghèo trung bình là 44,93%, trong đó huyện Tây Trà (tỉnh Quảng Ngãi) là huyện có tỷ

lệ nghèo cao nhất lên đến 75,08% và huyện có tỷ lệ thấp nhất là huyện Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La) có tỷ lệ hộ nghèo là 20,51%

Bảng 2.4 Tỷ lệ nghèo đa chiều theo vùng

Vùng

Nguồn: Quyết định số 945/QĐ – BLCĐTBXH ngày 22/6/2017 của Bộ truởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Xét về tỷ lệ số hộ nghèo ở từng vùng so với tổng số hộ nghèo trên cả nước khu vực Đông Nam bộ là khu vực có số lượng hộ nghèo thấp nhất với 43.831 hộ nghèo, với tỷ lệ 1,05%, khu vực miền núi Tây Bắc có số lượng hộ nghèo cao nhất với 465.424

hộ nhưng khu vực có tỷ lệ nghèo cao nhất là Miền núi Tây Bắc với tỷ lệ 31,24% Chỉ

số nghèo đa chiều của nước ta theo các vùng giữa năm 2015 và 2016 có sự thay đổi về

số hộ và tỷ lệ nhưng không có sự thay đổi về khu vực Cụ thể như sau:

Trang 37

- Khu vực có tỷ lệ nghèo cao là: Miền núi Đông Bắc, miền núi Tây Bắc và Tây Nguyên

- Khu vực có tỷ lệ nghèo trung bình: Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung và Đồng bằng Sông Cửu Long

- Khu vực có tỷ lệ nghèo thấp nhất là: Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ Như vậy, tỷ lệ nghèo cao tập trung ở những nơi có địa hình đồi núi hiểm trở, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, đất đai kém màu mỡ và cách xa các khu vực kinh tế phát triển Ngược lại, ở những vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thuận lợi thì

tỷ lệ nghèo thấp hơn, đặc biệt là ở các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Hà Nội tỷ lệ hộ nghèo gần như bằng 0

Theo số liệu tổng hợp phân tích nghèo cả nước cuối năm 2016 theo các nhóm đối tượng thì ở nước ta hiện nay có 1.583.764 hộ nghèo về thu nhập và 349.628 hộ nghèo thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Như vậy, nếu nghèo đơn chiều (chỉ dựa vào tiêu chí thu nhập) được sử dụng là thước đo hộ nghèo và trên cơ sở đó xác định đối tượng hộ nghèo được thụ huởng chính sách thì cách tiếp cận nghèo đơn chiều

sẽ “bỏ qua” gần 1/5 số hộ nghèo trên cả nước Điều này một lần nữa cho thấy việc áp dụng cách tiếp cận nghèo đơn chiều có thể dẫn đến “lổ hổng” lớn trong xác định đối tượng thụ hưởng chính sách, và do đó ảnh hưởng đến hiệu quả thực tế của những chính sách xóa đói giảm nghèo mà Chính phủ đưa ra

Biểu đồ 2.2 Số hộ thiếu hụt các chỉ số so với tổng số hộ nghèo năm 2016

Nguồn: Quyết định số 945/QĐ – BLCĐTBXH ngày 22/6/2017 của Bộ truởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Trang 38

Biểu đồ 2.2 thể hiện số hộ thiếu hụt các chỉ số so với tổng số hộ nghèo vào cuối năm 2016 Kết quả cho thấy chỉ số thiếu hụt về tiếp cận dịch vụ y tế và tình trạng đi học ở trẻ em là thấp nhất Đây là điều hoàn toàn dễ hiểu bởi trong các năm qua Nhà nước đã có rất nhiều chính sách để giúp đỡ người nghèo, người sống ở các điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao tiếp cận với các dịch vụ y

tế công cộng và chính sách “đưa trẻ đến trường”, các giáo viên về tận thôn, bản, làng

xã để xây trường giữ lớp Trong khi đó chỉ số thiếu hụt về hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh

và chất lượng nhà ở là cao nhất, có tác động lớn nhất đến độ sâu đói nghèo Qua đó, có thể thấy rằng yếu tố quyết định giảm tỷ lệ nghèo đa chiều ở nước ta là do cải thiện về điều kiện cư trú và cải thiện về điều kiện nước sạch và vệ sinh

2.5.3 Đặc điểm nghèo đói ở nước ta

2.5.3.1 Giảm nghèo chưa bền vững

Công cuộc giảm nghèo của Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn đó là tốc

độ giảm nghèo không đồng đều, chưa bền vững và thiếu tính tập trung cao Trong những năm qua, tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh ở các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS; tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2016 là 8,23%, một số địa phương gần như không còn hộ nghèo theo phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều, nhưng nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn rất cao, cá biệt có những huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 60 – 70%; tỷ trọng hộ nghèo DTTS chiếm 48,16% tổng số hộ nghèo trong cả nước với 956.820 hộ nghèo Thu nhập của hộ DTTS thấp hơn rất nhiều so với thu nhập bình quân cả nước, chênh lệch giàu – nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa đuợc thu hẹp nhất là khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Nghèo đói tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, nơi có đồng bào DTTS sinh sống

Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Việt Nam là khá ấn tượng trong các năm qua nhưng thực tế cho thấy chúng ta giảm nghèo chưa bền vững Điều này thể hiện ở số lượng các hộ cận nghèo ở Việt Nam không có sự sụt giảm rõ rệt mà còn có xu hướng gia tăng Số hộ cận nghèo năm 2016 là 1.306.928 hộ nhiều hơn so với năm 2015 là 75.259 hộ Các hộ cận nghèo này luôn đứng trước nguy cơ tái nghèo chỉ cần có một biến cố tác động vào như ốm đau, mất mùa hay thiên tai, bão lũ là lại “hoàn nghèo” Theo kết quả Tổng hợp diễn biến hộ nghèo cả nuớc trong năm 2016, chúng ta có 514.219 hộ thoát nghèo nhưng số hộ nghèo phát sinh lại lên đến 153.537 hộ Điều này

có nghĩa rằng, cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ tái nghèo

Trang 39

2.5.3.2 Có nhiều huyện nghèo

Hiện nay, trên cả nước chúng ta có tất cả 94 huyện nghèo bao gồm 64 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ – CP và 30 huyện nghèo được áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng (CSHT) theo quy định tại Nghị quyết 30a/2008/NQ –

CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ

Theo số liệu tổng hợp của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tính đến cuối năm 2016, số hộ nghèo tại 64 huyện nghèo là 338.428 hộ chiếm tỷ lệ 44,93%, giảm 33.562 hộ so với năm 2015; tổng số hộ nghèo tại 30 huyện nghèo được áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư CSHT theo nghị quyết 30a/2008/NQ – CP là 151.371 hộ chiếm

tỷ lệ 35,02%, giảm 13.925 hộ so với năm 2015

Mặc dù tốc độ giảm nghèo ở các huyện này cao hơn nhiều so với tốc độ giảm nghèo chung của cả nước nhưng tỷ lệ hộ nghèo của các huyện nghèo vẫn là rất cao Trong số các huyện nghèo có những huyện có tỷ lệ nghèo cao trên 65% như các huyện: Đồng Văn (65,07%) thuộc tỉnh Hà Giang; Trạm Tấu (67,00%) và Mù Cang Chải (66,79%) thuộc tỉnh Yên Bái; Điện Biên Đông (66,34%), Muờng Nhé (72,40%), Muờng Chà (66,79%), Tủa Chùa (66,95%), Nậm Pồ (67,93%) thuộc tỉnh Điện Biên; Tây Trà (75,08%) thuộc tỉnh Quảng Ngãi

2.5.3.3 Nghèo không chỉ nghèo về tiền bạc

Trong những năm qua Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách, cơ chế hỗ trợ thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo với nhiều giải pháp đồng bộ như hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở, vay vốn tín dụng hỗ trợ sản xuất… Tuy nhiên, từ năm 2015 trở về trước chúng ta sử dụng thu nhập là thước đo duy nhất để xác định đối tượng nghèo Từ chuẩn nghèo đó mới nhận diện đánh giá tình trạng nghèo đói và tìm ra nguyên nhân của tình trạng này để đưa ra các chính sách hỗ trợ

Từ trước đến nay, công tác giảm nghèo của Việt Nam đuợc thực hiện theo kiểu

“thiếu cái gì hỗ trợ cái đó” Sau hơn 20 năm thực hiện, chúng ta nhận ra đây là hướng

đi sai lầm bởi nó đã vô tình tạo ra tâm lý ỷ lại không muốn thoát nghèo Trước đây chúng ta đưa ra nhiều chính sách còn nặng về bao cấp, hỗ trợ cho không nên tạo cho nguời dân tâm lý trông chờ, ỷ lại, không muốn thoát nghèo Những chính sách với tham vọng quá lớn mà hiệu quả không cao thực sự là sự lãng phí nguồn lực xã hội Hơn thế nữa, việc sử dụng thu nhập làm tiêu chí duy nhất để nhận điện đối tuợng thuộc

hộ nghèo dẫn đến việc bỏ sót đối tượng nghèo và hạn chế trong việc xác định nguyên nhân nghèo, tác động của các khía cạnh phi tiền tệ đối với đói nghèo

Trang 40

Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nghèo ở Việt Nam không chỉ là nghèo thu nhập mà còn thiếu khả năng tiếp cận thông tin và kỹ năng để hiểu các vấn

đề về thuế và ngân sách nhà nuớc; họ cho rằng phụ nữ thường không có tiếng nói trong huy động, phân bổ và chi ngân sách; người nhập cư không tham gia vào quá trình lập kế hoạch ở địa bàn sinh sống và làm việc, khiến họ gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và bảo trợ xã hội Sự thiếu hiểu biết về quyền của mình và thiếu khả năng tiếp cận thông tin và tham gia vào quá trình ra quyết định của cộng đồng khiến cho người nghèo khó tìm ra “huớng” thoát nghèo và tiếp cận các chính sách hỗ trợ của nhà nước

Việc sử dụng phương pháp đo lường tiếp cận nghèo đa chiều đuợc xem là “chìa khóa” tháo gỡ thực trạng “nghèo – thoát nghèo – tái nghèo” ở Việt Nam Trong giai đoạn 2016 – 2020, các chính sách mà chúng ta đưa ra hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững Theo đó, giảm nghèo không chỉ đơn thuần giúp nguời dân đủ cơm ăn áo mặc, mà còn phải đảm bảo để mọi người có thể tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản, đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin

2.6 Khung phân tích của nghiên cứu

Từ lý thuyết, các nghiên cứu liên quan đến nghèo theo tiếp cận đa chiều và đã phương pháp đo lường nghèo đa chiều được chính phủ quy định để áp dụng tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tác giả áp dụng công thức tính MPI của Alkire và Santos (2010) để tính chỉ số MPI và 5 chiều nghèo (điều kiện sống, giáo dục, y tế, nhà ở, tiếp cận thông tin) Hàm đa chiều tổng quát được sử dụng trong luận văn này là hàm F(n) trong đó n là tổng số chiều trong phân tích Hàm F(n) có dạng như sau:

F(5) = F (điều kiện sống, giáo dục, y tế, nhà ở, tiếp cận thông tin)

Việc lựa chọn 5 chiều là điều kiện sống, giáo dục, y tế, nhà ở, tiếp cận thông tin

là 5 chiều nghèo bởi 5 chiều đo lường này được đo bởi 10 chỉ tiêu cụ thể phù hợp quy trình rà soát hộ nghèo do Bộ Lao Động và Thương binh xã hội thực hiện được hướng dẫn trong Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28 tháng 6 năm 2016 về Hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, cận nghèo hàng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Bên cạnh đó 5 chiều nghèo này được đánh giá

là khá phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam vì nó bao quát được các nhu cầu xã hội cơ bản của người dân

Ngày đăng: 11/02/2019, 22:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN