Tuy nhiên, khối DNNVV còn tồn tại nhiều khó khăn trở ngại như: Một là, khó khăn về tài chính; Hai là, khó khăn về trình độ khoa học công nghệ và năng lực đổi mới trong doanh nghiệp; Ba l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH
TP Hồ Chí Minh - Tháng 04 năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng Luận văn “ Thực trạng khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bến Tre” là công trình nghiên cứu do
chính bản thân tôi thực hiện với sự hướng dẫn của Thầy - GS.TS Sử Đình Thành
Các số liệu thu thập và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn hợp pháp, trung thực Các tài liệu tham khảo có nguồn trích rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài nghiên cứu./
Người thực hiện luận văn
Mai Thị Hạnh
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Mặc dù có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển, giải quyết công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo Nhưng rõ ràng SMEs vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô hoạt động Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến khó khăn đó chính còn nhiều trở ngại trong quá trình tiếp cận tài chính, đặc biệt là tiếp cận với nguồn vốn vay Ngân hàng Xuất phát từ bối cảnh trên, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Thực trạng khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) trên địa bàn tỉnh Bến Tre” và lựa chọn phạm vi nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi nghiên
cứu là các SMEs hiện nay tiếp cận vốn như thế nào? và khám phá các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận vốn của các SMEs tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Bến Tre Từ
đó có các đề xuất kiến nghị góp phần cải thiện được phần nào trở ngại trong tình hình thực tế tại địa phương
Sử dụng khung phân tích và kế thừa nghiên cứu của của TS Trương Quang Thông và các anh chị khóa trước, trong đó có luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Hữu Mạnh, tác giả đã chỉnh sửa bảng câu hỏi phỏng vấn SMEs cho phù hợp với luận văn kết hợp nghiên cứu trao đổi với một số lãnh đạo các cơ quan có liên quan trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Luận văn tiến hành nghiên cứu các quan điểm về SMEs, về khả năng tiếp cận vốn và khám phá các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận vốn của các chuyên gia trước đó Hầu hết các chuyên gia nghiên cứu trước đó đều nhận định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của SMEs là do thiếu tài sản thế chấp, năng lực tài chính yếu và báo cáo tài chính thiếu minh bạch, lãi suất cho vay của NHTM cao, hồ
sơ vay vốn phức tạp
Sau khi khảo sát các SMEs và phỏng vấn sâu trên địa bàn tỉnh Bến Tre thì kết quả khảo sát cho thấy, một vài khó khăn mà SMEs phải đối mặt đúng như những gì các chuyên gia nghiên cứu đã như nhận định trước đó Đồng thời qua kết quả khảo sát SMEs cho thấy, rất nhiều yếu tố có liên quan tác động đến quá trình tiếp cận vốn của SMEs, nhưng yếu tố về tài sản thế chấp là yếu tố quan trọng nhất và quyết định đến việc SMEs vay vốn của NHTM
Trang 5Hiện nay lãnh đạo tỉnh Bến Tre cũng rất quan tâm đến các SMEs, thường xuyên
tổ chức các buổi hội thảo nhằm kết nối giữa các doanh nghiệp với Ngân hàng Tuy nhiên đó chỉ là hình thức và là cơ hội cho các doanh nghiệp nắm bắt, tìm hiểu thông tin để tiếp cận với các Ngân hàng chứ chưa phải là giải pháp giúp cho các doanh nghiệp thỏa mãn được nhu cầu vốn của mình, bởi kết quả tiếp cận được nguồn vốn vay từ Ngân hàng hay không còn tùy vào yếu tố nội tại của từng doanh nghiệp có đáp ứng được các điều kiện mà NHTM yêu cầu hay không?
Tác giả tiến hành phân tích nguồn số liệu thu thập được và đưa ra kết luận việc tiếp cận vốn của SMEs tại các NHTM trên địa bàn Tỉnh gặp khó khăn nguyên nhân là
do các yếu tố khách quan, chủ quan từ SMEs và từ NHTM Từ đó tác giả đưa ra các đề xuất kiến nghị đối với cấp Nhà nước, các NHTM và SMEs nhằm góp phần tháo gở những vấn đề còn trở ngại trong việc tiếp cận vốn của SMEs tại NHTM của Tỉnh trong thời gian tới
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT LUẬN VĂN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢN vii
DANH MỤC HÌNH viii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Bối cảnh chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 6
2.1 Tổng quan về cơ sở lý thuyết Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs ) 6
2.1.1 Khái niệm 6
2.1.2 Đặc trưng của SMEs 8
2.1.3 Điểm mạnh, điểm yếu của SMEs 10
2.1.4 Vai trò của SMEs đối với nền kinh tế 12
2.1.5 Vai trò của NHTM đối với SMEs trong quá trình cung cấp vốn 13
2.2 Khảo sát thực trạng khả năng tiếp cận vốn của SMEs 14
2.2.1.Khái niệm khả năng tiếp cận vốn 14
2.2.2 Thực trạng khả năng tiếp cận vốn 14
2.2.3 Các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận vốn của SMEs 15
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN CỦA CÁC SMES TẠI CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE 20
3.1 Sơ lược về Bến Tre 20
3.1.1 Vị trí địa lý của Bến Tre 20
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của tỉnh Bến Tre 20
3.1.3 Tiềm năng phát triển của tỉnh Bến Tre 21
3.2 Tình hình phát triển Doanh nghiệp trên địa bàn 22
Trang 73.3 Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các DN trên địa bàn Bến Tre 23
3.3.1 Năng lực về tổ chức quản trị doanh nghiệp 24
3.3.2 Năng lực về vốn 24
3.3.3 Năng lực về thương hiệu 24
3.3.4 Năng lực về thị trường 25
3.3.5 Năng lực về khoa học và công nghệ 26
3.3.6 Năng lực về lao động 26
3.3.7 Năng lực về liên kết, hợp tác phát triển 26
3.3.8 Năng lực về hội nhập quốc tế 27
3.4 Thực trạng về hoạt động Ngân hàng trên địa bàn Bến Tre 27
3.5 Thực trạng về SMEs trên địa bàn Bến Tre 29
3.5.1 Tổng quan về SMEs được khảo sát 30
3.5.2 Loại hình doanh nghiệp được khảo sát 30
3.5.3 Quy mô vốn của DN được khảo sát theo lĩnh vực hoạt động 31
3.5.4 Tình hình hoạt động của SMEs trong những năm gần đây Đặc biệt là từ năm 2013 đến 2016 32
3.6 Nhu cầu vốn và các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận vốn của SMEs34 3.6.1 Vấn đề nguồn vốn của doanh nghiệp 34
3.6.2 Vấn đề quan hệ tín dụng Ngân hàng 36
3.6.3 Vấn đề đảm bảo nợ vay và mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay của các NHTM đối với DNNVV 39
3.6.4 Tình hình sử dụng sản phẩm dịch vụ Ngân hàng của SMEs 42
3.6.5 Việc ưu tiên lựa chọn Ngân hàng để tiếp cận vốn của SMEs 43
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 44
4.1 Thuận lợi 44
4.2 Khó khăn 47
4 3 Kiến nghị, đề xuất 49
4.3.1 Đối với chính phủ, Nhà nước, các cơ quan ban ngành có liên quan 49
4.3.2 Đối với ngành Ngân hàng 50
4.3.3 Đối với Doanh nghiệp 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
DN: Doanh nghiệp
DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
KHCN: Khoa học công nghệ
NH: Ngân hàng
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
SMEs (Small anh Medium enterprises): Doanh nghiệp nhỏ và vừa TCTD: Tổ chức tín dụng
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
VCCI: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Số lượng DN phân loại theo quy mô lao động giai đoạn 2000 – 2015 1
Bảng 2.1: Tiêu thức xác định SMEs ở một số nước và vùng lãnh thổ 7
Bảng 2.2: Các định nghĩa của Ngân hàng thế giới về SMEs 7
Bảng 2.3: Phân loại SMEs theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP 8
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu hoạt động của NHTM trên địa bàn Bến Tre 28
Bảng 3.2 Số lượng DN trên địa bàn Bến Tre giai đoạn 2000 – 2015 30
Bảng 3.3 Nguồn vốn DN theo lĩnh vực hoạt động 32
Bảng 3.4 Doanh thu thuần của DN tại thời điểm 31/12 hàng năm 33
Bảng 3.5: Đánh giá mức độ huy động nguồn vốn của SMEs 36
Bảng 3.6: Mức độ quan trọng của các yếu tố có liên quan đến quyết định cho vay của NH 40
Bảng 3.7: Mức độ ưu tiên lựa chọn Ngân hàng để tiếp cận vốn của SMEs 43
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Tốc độ tăng trưởng DNNVV 1
Hình 1.2 Tỷ trọng DNNVV so với DN lớn giai đoạn 2000 – 2015 2
Hình 2.1: Tổng hợp các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận vốn của SMEs 19
Hình 3.1 Giá trị sản xuất và tổng sản phẩm theo giá thực tế giai đoạn 2010–2016 21
Hình 3.2 Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn Bến Tre giai đoạn 2000 – 2015 23
Hình 3.3 Tỷ trọng dư nợ Doanh nghiệp trên địa bàn Bến Tre 28
Hình 3.4 Thị phần dư nợ của các Ngân hàng trên địa bàn Bến Tre 29
Hình 3.5 Số lượng DNNVV trên địa bàn Bến Tre giai đoạn 2000 – 2015 30
Hình 3.6 Các loại hình doanh nghiệp được khảo sát 31
Hình 3.7 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 33
Hình 3.8 Doanh thu thuần của doanh nghiệp qua các năm 34
Hình 3.9 Nguyên nhân từ chối cho vay của NHTM 38
Hình 3.10 Các hình thức đảm bảo nợ vay 39
Trang 11CHƯƠNG I GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh chọn đề tài
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hay còn gọi là SMEs (Small anh Medium enterprises) là loại hình doanh nghiệp (DN) chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng
số DN, và nó có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của đất nước
Theo tổng cục thống kê Việt Nam, tại thời điểm 31/12/2015 cả nước có 442.485 doanh nghiệp đang hoạt động Trong đó, SMES là 433.453 DN, chiếm 98%, DN có quy mô lớn là 9.032 DN chỉ chiếm 2% Bên cạnh đó SMEs cũng sử dụng rất nhiều lao động, đặc biệt là lao động tại địa phương và khu vực nông thôn (chiếm gần 60%); đồng thời mức đóng góp vào GDP khá lớn (khoảng 45%) và tốc
độ tăng trưởng ngày càng cao
Bảng 1.1 Số lượng DN phân loại theo quy mô lao động giai đoạn 2000 – 2015 Phân loại DN Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Năm 2015
Nguồn: DN Việt Nam 15 năm đầu thế kỷ (2000-2014) NXB thống kê 2017
Điều này cho thấy tốc độ tăng số lượng DNNVV giai đoạn 2000-2015 cũng khá nhanh hơn so với DN có quy mô lớn
Trang 12Hình 1.2 Tỷ trọng DNVVN so với DN lớn giai đoạn 2000 – 2015
Nguồn: DN Việt Nam 15 năm đầu thế kỷ (2000-2014) NXB thống kê 2017
Không chỉ riêng ở Việt Nam, mà nhiều quốc gia trên thế giới kể cả các quốc gia phát triển, số lượng các SMEs chiếm đa số trong tổng cơ cấu các doanh nghiệp, thông thường tỷ lệ này từ 90% - 98%, cụ thể tại các nước khối EU khoảng 90%, tại Mỹ: 98%, tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: 96%, tại Nhật Bản: 98% Số lao động mà các SMEs sử dụng cũng khá lớn, cụ thể tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương SMEs sử dụng trên 60% lao động, tại Nhật Bản khoảng 75% Và theo Ayyagari, Beck, và Demirgüç-Kunt (2007), trung bình SMEs tạo ra khoảng 60% việc làm trong lĩnh vực sản xuất của các nước đang phát triển và phát triển Bên cạnh đó, mức đóng góp của các SMES vào sự tăng trưởng kinh tế khá cao, trong khu vực EU các DN này tạo ra khoảng 65% tổng doanh số, ở Mỹ là trên 50% tổng GDP
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) tuy có quy mô nhỏ nhưng trong thời gian qua cũng đã khẳng định vị trí của mình trong việc tăng trưởng và phát triển nền kinh tế, nhóm này có đặc thù năng động, linh hoạt, thích ứng nhanh với những thay đổi của thị trường, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng nền kinh tế, góp phần giải quyết công ăn
Trang 13việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã hội
Tuy nhiên, khối DNNVV còn tồn tại nhiều khó khăn trở ngại như: Một là, khó khăn về tài chính; Hai là, khó khăn về trình độ khoa học công nghệ và năng lực đổi mới trong doanh nghiệp; Ba là, hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp, hàng tồn kho lớn; Bốn
là, bất cập về trình độ quản lý và chất lượng nguồn lao động; Năm là, năng lực tiếp cận với các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh còn hạn chế Trong
đó khó khăn về tài chính là vấn đề quan trọng nhất Theo Beck, Demirgüç-Kunt (2006), tiếp cận tài chính là một vấn đề quan trọng trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, nó tạo thuận lợi cho quá trình xuất nhập khẩu và tăng trưởng của doanh nghiệp,
vì vậy nó rất cần thiết cho quá trình phát triển của doanh nghiệp
Tại Việt Nam Chính phủ cũng đã chỉ đạo các ngành các cấp phối hợp đưa ra các chương trình, chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển SMEs, và SMEs đã có những bước phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, thực tế mới có một số lượng nhỏ các doanh nghiệp được hưởng chính sách hỗ trợ từ các chương trình, chính sách này Phần lớn các doanh nghiệp còn lại vẫn còn nhiều khó khăn về vốn Nguyên nhân là do nguồn vốn tự có và
tự huy động của bản thân các Doanh nghiệp chưa đủ để hoạt động, trong khi đó việc tiếp cận vốn từ các NHTM lại còn nhiều trở ngại Theo báo cáo Thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2015 của VCCI cho thấy, SMEs chiếm 97% số lượng doanh nghiệp nhưng tổng nguồn vốn kinh doanh chiếm chưa tới 40% Các doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn, đặc biệt là nguồn vốn vay từ các NHTM, và cũng trong 97% SMEs chỉ có 30% các SMEs tiếp cận được vốn từ ngân hàng, 70% còn lại phải sử dụng vốn tự có hoặc vay mượn từ nguồn khác
Tại sao việc tiếp cận vốn từ các NHTM của các SMEs còn nhiều khó khăn? Qua tìm hiểu của tác giả từ các nguồn thông tin trên báo chí thì có khoảng: 55% khó khăn do thủ tục vay (hồ sơ vay vốn phức tạp, không đơn giản cho các SMEs); 50% khó khăn về tài sản thế chấp (tài sản thế chấp có giá trị thấp, ngân hàng hạn chế nhận các tài sản thế chấp như hàng hóa trong kho, các khoản phải thu…); 80% khó khăn về lãi suất chưa phù hợp Theo khảo sát của VCCI (2015) về nguyên nhân doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng thì có 39,7% doanh nghiệp được hỏi cho rằng do lãi suất cao, 19,8% cho rằng do không có tài sản thế chấp và thủ tục phức tạp, 6,3% bị
Trang 14ngân hàng từ chối vì doanh nghiệp có nợ xấu và 6,3% là do kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp không khả thi…
Ngay trong năm 2016, các Ngân hàng cũng dành nhiều gói tín dụng ưu đãi nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, nhưng thực tế phần lớn các DNNVV vẫn chưa tiếp cận được Theo thống kê từ một cuộc điều tra của VCCI trong năm 2016, có đến gần 60%
số doanh nghiệp siêu nhỏ không tiếp cận vốn từ ngân hàng và cũng có khoảng 35-40% các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có khoản vay vốn tại ngân hàng
Hầu như các DNNVV còn khó khăn trong tiếp cận vốn ngân hàng là vấn đề chung của cả quốc gia trong và ngoài nước Bến Tre cũng tương tự, theo báo cáo của Sở
Kế Hoạch Đầu Tư Bến Tre đến 31/8/2016, Bến Tre có tổng số DN đang ở trạng thái hoạt động (Theo hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp) là 3.027 doanh nghiệp, trong
đó doanh nghiệp lớn chiếm tỷ trọng thấp (chỉ đạt 3,5%), còn lại là các DNNVV thậm chí siêu nhỏ chiếm đa số (96,5%) Tiềm lực về tài chính (đặc biệt là các DNNVV, doanh nghiệp siêu nhỏ) còn hạn chế, vốn đầu tư ban đầu và vốn lưu động ít nên còn gặp nhiều khó khăn trong đầu tư đổi mới các trang thiết bị, công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh Ngoài vốn tự có, trong nguồn vốn của các doanh nghiệp còn có
một phần là vốn vay Tuy nhiên khả năng tiếp cận vốn vay còn hạn chế, qua khảo sát có
đến gần 30% các DN được hỏi cho rằng không tiếp cận được vốn của ngân hàng; có đến 62% DN được khảo sát cho rằng khó tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng ưu đãi của ngân hàng Trở ngại lớn nhất là lãi suất cao (80% trả lời đồng ý), thiếu tài sản thế chấp hoặc giá trị tài sản thế chấp thấp (40%), vướng mắc các thủ tục vay (chiếm 55%), khả năng chứng minh mục đích sử dụng vốn (chiếm 40,1%), thiếu phương án kinh doanh (chiếm 26,2%)
Xuất phát từ tình hình thực tế như trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Thực trạng tiếp cận vốn của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Bến Tre” để làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn tốt nghiệp của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu được thực trạng khả năng tiếp cận vốn của
các SMEs và đánh giá được các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận vốn của các DNNVV trên địa bàn Bến Tre Nguyên nhân từ doanh nghiệp, từ các NHTM hay từ các
cơ chế chính sách của nhà nước? Từ đó có những đề xuất kiến nghị góp phần nâng cao khả năng tiếp cận vốn đối với loại hình doanh nghiệp này
Trang 151.3 Câu hỏi nghiên cứu: Tác giả sử dụng các câu hỏi là “Các SMEs trên địa
bàn Bến Tre hiện nay tiếp cận vốn như thế nào ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: các SMEs trên địa bàn Bến Tre
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu khả năng tiếp cận vốn và khám phá các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận vốn của SMEs trên địa bàn Bến Tre giai đoạn năm 2014 – 2016
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa theo các nghiên cứu của TS Trương Quang Thông và các luận văn thạc sỹ của các anh chị khóa trước, trong đó có luận văn của thạc sỹ Nguyễn Hữu Mạnh
Nguồn thông tin, dữ liệu: Được sử dụng từ bảng phỏng vấn các SMEs, từ các các
cơ quan chức năng như Sở Kế hoạch và Đầu tư Bến Tre, Cục Thống kê Bến Tre, Ngân hàng Nhà nước và các NHTM trên địa bàn Bến Tre, các nguồn thông tin khác có liên quan như tạp chí, báo chí
Kỹ thuật thu thập thông tin: Khảo sát bằng cách gửi trực tiếp bảng câu hỏi phỏng vấn đến 150 SMEs trên địa bàn Bến Tre, sau đó dùng phần mềm Excel nhập dữ liệu và tính toán các số liệu thu thập được và đưa vào phân tích cho đề tài Ngoài ra tác giả còn trao đổi với các cán bộ Ngân hàng từ cấp phó trưởng phòng trở lên của một số NHTM trên địa bàn Bến Tre và cán bộ, lãnh đạo một số cơ quan ban ngành có liên quan như Sở
Kế hoạch, NHNN, UBND tỉnh Bến Tre để nắm các vấn đề có liên quan đến đến đề tài cần nghiên cứu
1.6 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm có 4 chương: Chương 1 Giới thiệu; Chương 2 trình bày tổng quan
cơ sở lý thuyết về SMEs , khả năng tiếp cận vốn của các SMEs ; Chương 3 tác giả trình bày phần đánh giá khả năng tiếp cận vốn của SMEs tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Bến Tre thông qua kết quả thu thập từ bảng phỏng vấn 150 SMEs; Cuối cùng Chương 4 là kết luận và kiến nghị
Trang 16CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
2.1 Tổng quan về cơ sở lý thuyết Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs )
2.1.1.Khái niệm
Doanh nghiệp nhỏ và vừa được viết tắt là SMEs (Small anh Medium enterprises)
là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hoặc doanh thu Căn cứ vào quy mô, có thể chia DNNVV ra thành ba loại: Doanh nghiệp siêu nhỏ; Doanh nghiệp nhỏ; Doanh nghiệp vừa Hiện nay ở các nước khác nhau, khái niệm SMEs được hiểu kh1c nhau, việc phân loại SMEs phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng và giới hạn bởi từng tiêu thức Trên thế giới, việc xác định quy mô SMEs chỉ mang tính tương đối, bởi nó chịu tác động của trình độ phát triển kinh tế, tính chất của ngành nghề, điều kiện phát triển của mỗi quốc gia hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ Mặt khác trong ngành nghề khác nhau thì chỉ tiêu độ lớn của các tiêu thức cũng khác nhau Song nhìn chung SMEs được xác định dựa trên hai tiêu chí định tính và định lượng:
Tiêu chí định tính: dựa trên các tiêu thức cơ bản như trình độ chuyên môn hóa, các nghiệp vụ tài chính, bộ máy quản lý, hình thức tổ chức doanh nghiệp Các tiêu thức này có thể phản ánh đúng bản chât nhưng lại khó x1ac định trên thực tế nên thường được sử dụng để tham khảo khi phân loại SMEs
Tiêu chí định lượng: được xây dựng trên các chỉ tiêu như số lao động, tổng giá trị tài sản hay vốn cố định hoặc giá trị tài sản thực có của doanh nghiệp, tổng doanh thu hay lợi nhuận của SMEs, các tiêu chí định lượng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định quy mô doanh nghiệp Và ở các thời điểm khác nhau thì các tiêu chí này cũng khác nhau giữa các ngành nghề mặc dù vẫn có yếu tố chung nhất định Điều này ta có thể thấy rõ thông qua số liệu ở bảng 2.1
Trang 17Bảng 2.1: Tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước và vùng lãnh thổ
<200 trong TM&DV
<0,6 triệu USD
<0,25 triệu USD Nhật Bản <100 trong bán buôn
Nguồn: Giải pháp phát triển DNNVV Việt Nam – NXB CTQG 2002, tr2
Trong khi đó Ngân hàng thế giới cho rằng SMEs phải có ít nhất 2 trong 3 tiêu chí
đó là số lượng nhân viên, tổng tài sản va doanh thu hàng năm của doanh nghiệp, cụ thể bảng 2.2 sau:
Bảng 2.2: Các định nghĩa của Ngân hàng thế giới về SMEs
Nguồn: IFC, cẩm nang kiến thức dịch vụ Ngân hàng cho SME (2009)
Mỗi quốc gia khác nhau khác nhau trên thế giới có những tiêu chí khác nhau để xác định DNNVV Tại Việt Nam tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được thể hiện trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ Định nghĩa DNNVV như sau:
Trang 18DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể bảng 2.3 sau:
Bảng 2.3: Phân loại DNNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP
Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
I Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 đến 100
tỷ đồng
từ trên
200 đến
300 người
II Công
nghiệp và xây
dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 đến 100 tỷ đồng
từ trên 200 đến 300 người III Thương
mại và dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 50 người
từ trên 10 đến 50 tỷ đồng
từ trên 50 đến 100 người
Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ
Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp
2.1.2.Đặc trưng của SME s.
Thứ nhất, SMEs chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Theo số liệu được Ủy ban châu Âu (EC) công bố 8/2014, hơn 20 triệu SMEs ở châu Âu chiếm 99% tổng số doanh nghiệp Theo báo cáo mới nhất vào tháng 1/2014 của Tradeup về tình hình tài chính của các SMEs tại Mỹ, SMEs cũng chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp, sử dụng trên 50% tổng số lao động xã hội, tạo
Trang 19công ăn việc làm cho 65% lượng lao động ở khu vực tư nhân Tại Việt Nam, theo Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc VCCI (2011), Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp, trong
đó SMEs chiếm 97%, đóng góp hơn 40% GDP cả nước và sử dụng 51% tổng số lao động xã hội
Thứ hai, SMEs có quy mô vốn nhỏ, gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Điều này là một trở ngại không nhỏ trong việc triển khai,
áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh nói chung và xúc tiến thương mại trực tuyến nói riêng của doanh nghiệp
Thứ ba, SMEs chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty, tập đoàn lớn và từ chính các doanh nghiệp với nhau Trong quá trình hội nhập, các tập đoàn lớn thường có
xu hướng mở rộng mạng lưới kinh doanh bằng cách thành lập các chi nhánh, công ty con ở các quốc gia có nhiều lợi thế, vì vậy các SMEs phải tìm ra những phương thức, công cụ mới trong hoạt động kinh doanh để cạnh tranh với các công ty, tập đoàn lớn
Thứ tư, với nguồn vốn nhỏ hẹp, các doanh nghiệp này thường tập trung vào các
ngành hàng thương mại dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng hơn là đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng, sản xuất khai thác có nhu cầu vốn lớn Ở Việt Nam, theo Cục xúc tiến thương mại (2012) trong cơ cấu ngành nghề, khoảng 43% SMEs hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, 24% trong lĩnh vực thương mại và phân phối, số còn lại hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và liên quan đến nông nghiệp
Ngoài các đặc trưng chung nêu trên, các SMEs tại Việt Nam còn có những đặc trưng như sau:
- SMEs thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức tổ chức sản xuất, hoạt động trong những ngành nghề, lĩnh vực khác nhau
- Trình độ của chủ doanh nghiệp và người lao động thường là không cao, và còn hạn chế, phần lớn là chưa được đào tạo bài bản mà chủ yếu là phát triển kinh doanh từ các hộ kinh doanh cá thể
- Khả năng tổ chức, quản trị điều hành doanh nghiệp còn hạn chế, chưa có tính chuyên nghiệp, cách thức quản lý theo hình thức hộ gia đình
- Trình độ công nghệ, khả năng tài chính đầu tư cho nghiên cứu triển khai thấp, khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế nhất là thị trường nước ngoài
Trang 20- Doanh nghiệp thường sử dụng đất đai của mình để làm mặt bằng sản xuất, mặt bằng sản xuất là tài sản của chủ doanh nghiệp nên đôi khi không đưa vào chi phí sản xuất, chi phí khấu hao của doanh nghiệp
2.1.3 Điểm mạnh, điểm yếu của SMEs
Điểm mạnh:
Thứ nhất, các SMEs có cơ cấu quản lý gọn nhẹ, năng động, linh hoạt, tốc độ xử
lý nhanh: Là doanh nghiệp vừa và nhỏ, với cơ cấu nhân sự linh hoạt, quy trình đơn giản, thoải mái sáng tạo, dễ dàng thay đổi chiến thuật, kế hoạch một cách hoàn hảo nhất
để đưa ra những quyết định kịp thời, cũng như tránh né những rủi ro trên thị trường một cách nhanh nhất, hạn chế gây thiệt hại nặng nề cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp góp phần tiết kiệm chi phí quản lý cho doanh nghiệp
Thứ hai, các SMEs thường xây dựng mô hình văn hóa gia đình: Xây dựng văn hóa gia đình không những giúp doanh nghiệp tạo ra động lực làm việc tích cực từ tinh thần thoải mái hơn của nhân viên mà còn giúp tăng hiệu quả làm việc nhóm, tăng năng suất lao động, giảm thiểu mâu thuẫn nội bộ, giảm thiểu rủi ro nhảy việc của nhân sự xuất sắc – đây là vấn đề luôn gây đau đầu với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay,
từ đó xây dựng giá trị văn hóa doanh nghiệp bền vững, đặt nền móng cho sự phát triển sau này Điều ấy không có nghĩa là những công ty, tập đoàn lớn không thể xây dựng được văn hóa gia đình cho mình, nhưng để làm được như những doanh nghiệp vừa và nhỏ (với cơ cấu nhân sự nhỏ gọn và linh hoạt) thì những doanh nghiệp lớn này sẽ phải
nỗ lực và mất thời gian hơn nhiều
Thứ ba, các SMEs thường kết nối với khách hàng tốt hơn, bởi vì những Doanh nghiệp lớn thì bộ máy cồng kềnh, nhiều khâu, nhiều bộ phận, phòng ban nên quá trình
xử lý công việc đôi lúc chưa kịp thời, ví dụ như chậm phản hồi với khách hàng, kéo dài
sự kết nối của khách hàng với Doanh nghiệp Cũng như Dave Kerpen trình bày trong
quyển Likeable Social Media (quyển sách được giải thưởng sách quốc gia Hoa Kỳ năm
2011): “Khách hàng không quan tâm đến việc bạn làm ở bộ phận hay phòng ban nào,
họ chỉ muốn được lắng nghe và được phản hồi nhanh nhất có thể” Và theo một cuộc khảo sát năm 2014 tại Mỹ của Score - một tổ chức chuyên tư vấn doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì có tới 94% khách hàng thích mua bán với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khi tỷ lệ này với doanh nghiệp lớn chỉ là 64%
Trang 21Thứ tư, các SMEs thường có vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi nhanh, điều đó tạo sức hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh, mọi thành phần kinh tế vào khu vực này
Điểm yếu:
Thứ nhất, hạn chế về công nghệ Các số liệu thống kê cho thấy, phần lớn các
SMEs vẫn còn sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2 đến 3 thế hệ Hiện tại rất ít doanh nghiệp chú trọng đầu tư cho khoa học - công nghệ Việc đổi mới công nghệ diễn ra còn chậm chạp
Thứ hai, hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp, sức cạnh tranh kém Trong những
năm gần đây, kinh tế thế giới đang trong giai đoạn phục hồi nên các DN tăng cường sản xuất, từ đó lượng cung hàng hóa nhiều hơn nhu cầu thị trường, dẫn đến sức tiêu thụ giảm sút mạnh, hàng hóa tồn kho nhiều Nhiều doanh nghiệp phải chủ động thu hẹp quy
mô sản xuất kinh doanh hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh cầm chừng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh bị yếu kém làm cho khả năng cạnh tranh yếu kém hơn các doanh nghiệp lớn cũng như các doanh nghiệp nước ngoài ngay trên “sân nhà”
Thứ ba, bất cập về trình độ quản lý và chất lượng nguồn lao động Theo kết quả
điều tra gần đây, trong các SMEs có tới 75% lực lượng lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật Về trình độ quản lý, đa số các chủ doanh nghiệp, dù có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên nhưng không ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế, quản trị doanh nghiệp và các lớp về pháp luật trong kinh doanh , điều này ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh cũng như quản lý
và phòng tránh các rủi ro pháp lý xảy ra cho doanh nghiệp mình
Thứ tư, quy mô nhỏ, thiếu vốn sản xuất kinh doanh, chủ yếu nhờ vào vốn tự có
Theo Báo cáo Thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2015 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trong giai đoạn 2007 - 2015, các doanh nghiệp Việt Nam đang có xu hướng dịch chuyển theo hướng quy mô ngày càng nhỏ hơn Lao động bình quân trong doanh nghiệp năm 2007 từ 49 lao động đến năm 2015 giảm xuống chỉ còn 29 lao động Trong đó, DNTN giảm từ 27 lao động 2007 xuống còn 18 lao động năm 2015 Báo cáo cũng cho thấy, mặc dù chiếm đến 97% số lượng doanh nghiệp nhưng SMEs chỉ chiếm chưa đầy 40% tổng nguồn vốn kinh doanh
Trang 22Thứ năm, các SMEs thường không có bộ phận pháp chế nên còn hạn chế trong vấn đề pháp lý khi có tranh chấp phát sinh Cũng chính vì vậy mà việc am hiểu pháp luật, nắm bắt các thông tin, cơ chế chính sách của nhà nước còn hạn chế
Thứ sáu, khả năng tiếp cận thị thường còn hạn chế do khả năng tài chính, trình
độ quản lý, mạng lưới hoạt động và nguồn kinh phí dành cho quảng cáo tiếp thị còn hạn hẹp
Thứ bảy, hệ thống sổ sách, báo cáo tài chính phần lớn không đầy đủ, số liệu chưa
chính xác, tình hình tài chính thiếu minh bạch
2.1.4 Vai trò của SMEs đối với nền kinh tế
Thứ nhất, các SMEs đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế: Không chỉ ở
Việt Nam mà tại các nước khác, SMEs đều đóng góp vào tăng trưởng kinh tế rất lớn Số liệu thống kế chỉ ra rằng trong năm 2000, các SMEs đóng góp hơn 40% GDP của cả nước Đến năm 2015, mức đóng góp này vẫn duy trì ở mức 43,2% của GDP
Thứ hai, các SMEs giải quyết một lượng lớn công ăn việc làm, làm tăng thu nhập
cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo: Đặc điểm chung của các SMEs là
nguồn vốn sử dụng ít nhưng sử dụng lao động thì nhiều, vấn đề này cũng phù hợp với quy mô vốn và khả năng áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất của DN, Bên cạnh
đó nguồn lao động làm nghề thủ công, nghề đơn giản, nghề mua bán chiếm tỷ lệ rất lớn trên thị trường Cụ thể thời điểm năm 2015 tại Việt Nam có nguồn lao động làm nghề thủ công, nghề đơn giản, nghề mua bán chiếm tỷ lệ 76,8% Chính điều này mà các SMEs tạo ra nhiều cơ hội việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư Không riêng ở Việt Nam mà ở các nước khác cũng vậy, chẳng hạn như Singapore: trong 100 lao động có tới 71 người làm việc cho các SMEs
Thứ ba, Khu vực SMEs huy động được các nguồn lực trong dân cư: Vốn tồn tại trong dân cư rất lớn, chưa kể các bất động sản chưa đưa vào khai thác kinh doanh Nếu
có cơ chế phù hợp thì các nguồn lực của nền kinh tế sẽ được khai thác để tạo ra của cải vật chất và đem lại lợi nhuận cho cá nhân, gia đình, doanh nghiệp và xã hội Ngoài việc tìm kiếm lợi nhuận, làm giàu cho chính bản thân doanh nghiệp, họ còn mang lại lợi ích cho quốc gia thông qua đóng góp thuế Từ đó đến nay, các nhà quản lý và các nhà kinh
Trang 23tế đều thừa nhận và nghiên cứu vai trò của doanh nghiệp và đặc biệt là vai trò các SMEs
có tại các quốc gia là thật sự lớn lao
Thứ tư, các SMEs góp phần làm nền kinh tế năng động hơn trong cơ chế thị
trường: Tính linh hoạt của các SMEs đã làm cho nền kinh tế năng động hơn Những thập niên 70 và 80, tại Việt Nam, khi chuyển đổi nền kinh tế từ bao cấp sang thị trường
từ những năm 1986, vai trò của các hộ nông dân và SMEs đã nhanh chóng thúc đẩy khai thông thị trường, hạ nhiệt nền kinh tế, góp phần giảm lạm phát của Việt Nam từ 184% về mức mức lạm phát dưới 2 con số cho đến nay
Thứ năm, các SMEs góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
đặc biệt với khu vực nông thôn: Các SMEs thường có khả năng bao phủ rất lớn về các
khu vực ngỏ ngách Vì qui mô và vốn nhỏ nên các SMEs này thường chọn các ngành sử dụng ít vốn như là dịch vụ, thương mại hoặc ngành xây dựng, hay ngành sửa chữa, bảo dưỡng Ngoài ra, các SMEs tạo điều kiện để chuyển đổi kinh tế nông thôn và tạo điều kiện để phụ nữ tham gia quản lý
Thứ sáu, các SMEs là nơi ươm mầm các tài năng kinh doanh, là nơi đào tạo, rèn
luyện các nhà doanh nghiệp, giúp họ làm quen với môi trường kinh doanh: Nhiều doanh nghiệp lớn đều xuất phát từ những doanh nghiệp khởi nghiệp có qui mô cực nhỏ Và có thể nói SMEs là nơi khởi phát tinh thần doanh nghiệp, nơi đào tạo và cho ra đời những doanh nghiệp và doanh nhân đem lại sự thay đổi sâu sắc đối với nền kinh tế
2.1.5 Vai trò của NHTM đối với SMEs trong quá trình cung cấp vốn
Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các SMEs là một tất yếu khách quan và cũng như các loại hình doanh nghiệp khác trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp này cũng sử dụng vốn vay ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cũng như để tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn của mình Vì vậy việc cung cấp vốn của ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng đối với SMEs cụ thể như sau:
+ Góp phần đảm bảo cho hoạt động của các SMEs được liên tục
+ Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của SMEs
+ Góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho SMEs
+ Góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các SMEs
Trang 242.2 Khảo sát thực trạng khả năng tiếp cận vốn của SMEs
2.2.1.Khái niệm khả năng tiếp cận vốn
Khả năng tiếp cận vốn là khả năng của doanh nghiệp nghiên cứu, nhận biết, nắm bắt và có thể được cung ứng vốn với các chi phí vốn thấp nhất có thể chấp nhận được bởi cả hai phía là doanh nghiệp – người cần vốn và người cung cấp vốn
Nói một cách khác, có thể hiểu khả năng tiếp cận vốn là khả năng của doanh nghiệp đáp ứng được các điều kiện do người cung cấp vốn đặt ra để có được nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh với chi phí thấp nhất có thể được trong bối cảnh chịu ảnh hưởng của các nhân tố bên trong và bên ngoài Trong đó, các điều kiện do người cung cấp vốn đặt ra bao gồm những ràng buộc và yêu cầu mà doanh nghiệp pải chấp nhận hoặc thỏa mãn trước khi được cấp vốn Các điều kiện này, được gọi là điều kiện tiếp cận vốn, đồng thời cũng là nhân tố đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
2.2.2 Thực trạng khả năng tiếp cận vốn
Hoạt động của DNNVV gặp rất nhiều khó khăn, một trong những khó khăn ảnh hưởng lớn đến DNNVV là vấn đề tiếp cận vốn tín dụng Ngân hàng, theo số liệu thống
kê từ Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC), tính đến hết tháng 4 năm
2014, tổng số doanh nghiệp đã có quan hệ tín dụng với TCTD được lưu trữ trong kho
dữ liệu là 216.129 doanh nghiệp, trong đó, số doanh nghiệp còn dư nợ là 112.583 doanh nghiệp, tương đương 30% trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động Như vậy, tỷ lệ doanh nghiệp đang có vay vốn ngân hàng trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động đạt 30%, tỷ lệ doanh nghiệp không sử dụng tín dụng ngân hàng chiếm khoảng 70%
Theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đến tháng 11/2016, chỉ có 30% SMEs tiếp cận được vốn Ngân hàng và số vốn được vay chỉ chiếm 3% tổng vốn của các Ngân hàng cho vay trong nền kinh tế
Theo khảo sát mới đây của Viện Khoa học Quản trị DNNVV, chỉ có khoảng 32,38% số DN cho biết có khả năng tiếp cận và được vay vốn thường xuyên; 35,24% phản ánh là khó tiếp cận; số còn lại cho biết không thể tiếp cận Tính đến hết tháng 5/2014, tỷ trọng dư nợ khu vực các DNNVV chỉ chiếm 25% tổng dư nợ toàn nền kinh tế; có khoảng 24,4% số các DNNVV được vay vốn tín dụng; gần 70% là vay ngắn hạn; gần 90% vay bằng nội tệ; tỷ lệ nợ xấu luôn xu hướng tăng (trên 5%) Trong khi đó tổng giá trị tài sản đảm bảo lại tăng bình quân 7% suốt 03 năm gần đây và tỷ trọng tài sản
Trang 25đảm bảo so tổng dư nợ tăng đáng kể Điều này cho thấy mức độ tín nhiệm chung về tín dụng thấp và ràng buộc điều kiện tín dụng cao đối với khu vực này Tuy vậy, cả về tốc
độ, tỷ trọng tín dụng DNNVV cũng đã có dấu hiệu tăng nhẹ
Theo một báo cáo chung của Ủy ban châu Âu và Nhóm Ngân hàng Đầu tư Châu
Âu ngày 02/05/2013 về các hoạt động hỗ trợ cho các DNNVV trong năm 2012 thì cho rằng các chủ DNNVV thường quá nhỏ, quá trẻ và quá mạo hiểm để có được sự tín nhiệm của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác Và, kết quả là, họ thường nghe một từ
“không” khi xin vay tiền hoặc bảo lãnh
Tại Việt Nam, DNNVV đã có những bước phát triển nhanh chóng Chính phủ cũng đã có những chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển DNNVV Tuy nhiên, theo thống
kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, hiện mới chỉ có khoảng 32% DNNVV có khả năng tiếp cận vốn, 35% DN khó tiếp cận và khoảng 33% không thể tiếp cận nguồn vốn…
2.2.3 Các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận vốn của SME s.
Có thể nói khó khăn, vướng mắc trong việc cho vay DNNVV hiện nay là do tác động bởi nhiều yếu tố liên quan, có cả yếu tố khách quan và chủ quan đến từ nhiều phía nhưng ở đây tác giả chỉ đề cập đến 2 phía đó là từ các TCTD và DNNVV:
- Về phía các TCTD, Một trong những nguyên tắc hoạt động của các TCTD là
sàng để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng nhưng đối với DNNVV thì các TCTD cũng còn tâm lý e dè khi quyết định cho vay bởi còn nhiều khó khăn trong việc thẩm định phương án sản xuất kinh doanh cũng như kiểm soát dòng tiền và kiểm soát quá trình mua bán, thanh toán hàng hóa của DN, nhất là đối với các DN mới thành lập và các DN hoạt động trong lĩnh vực mới, lĩnh vực đặc thù, vì các DN này không có thông tin đầy đủ về doanh nghiệp cũng như chưa có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực đầu
tư mới và lĩnh vực đặc thù Trong khi đó, bản thân các TCTD khi cho vay cũng cần phải thẩm định đầy đủ các điều kiện của các doanh nghiệp để đảm bảo an toàn vốn Không những thế, chính sách bảo lãnh tín dụng cho DNNVV còn tồn tại nhiều bất cập, chưa phát huy được hiệu quả trong trợ giúp DNNVV tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, vì vậy chưa khuyến khích được các DNNVV tìm đến và các TCTD cho vay có bảo lãnh của các tổ chức này
Trang 26- Về phía DNNVV: Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạn chế trong tiếp cận vốn tín dụng của DNNVV có thể là do các DNNVV có quy mô vốn nhỏ, vốn chủ sở hữu và năng lực tài chính hạn chế, thiếu tài sản để bảo đảm cho khoản vay theo quy định hoặc tài sản đảm bảo có giá trị thấp, quyền sở hữu tài sản không minh bạch, chưa có sự hợp tác chặt chẽ với ngân hàng khi vay vốn hoặc cơ cấu lại khoản nợ đã vay Bên cạnh đó còn có thể xuất phát từ: DN cho rằng hồ sơ vay vốn phức tạp, báo cáo tài chính DN thiếu minh bạch, quản trị điều hành yếu kém dẫn đến kinh doanh hiệu quả thấp, lãi suất Ngân hàng cao do không được áp dụng lãi suất ưu đãi
Qua tìm hiểu của tác giả thì thực tế hiện nay Chính phủ rất quan tâm tới sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp.Trong đó, vấn đề trọng tâm là tháo gỡ khó khăn về tiếp cận vốn cho doanh nghiệp Đã chỉ đạo nhiều bộ ngành quan tâm đưa ra giải pháp, hành động thiết thực để giúp cho DNNVV có đủ tìm lực để hoạt động, trong đó có tìm lực về tài chính là vấn đề cấp bách nhất Và để tháo gỡ những khó khăn về tìm lực tài chính cho các DNVVN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ra mắt Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEDF) vào tháng 4/2016, với vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi dành cho DNNVV; World Bank (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA ) đã tham gia hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp Việt Nam thông qua các dự án Tuy nhiên, thực tế việc tiếp cận vốn, đặc biệt là vốn có lãi suất ưu đãi của doanh nghiệp vẫn đang là vấn đề “đau đầu” của doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước Như vậy, để có thể tham gia được các chương trình tín dụng ưu đãi, các DN phải khẳng định được khả năng của mình và có mức độ uy tín trên thương trường DN cần phải đưa ra được một dự án khả thi, chủ DN phải là người tích cực năng động và am hiểu các vấn đề kinh tế xã hội, lĩnh vực ngành nghề hoạt động, thể hiện khả năng trình độ quản lý DN đạt hiệu quả Bên cạnh đó DN cũng phải phải cung cấp đầy đủ thông tin và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo yêu cầu quy định của Ngân hàng
Theo báo cáo của các chuyên gia kinh tế, các cá nhân và nhóm tác giả trong và ngoài nước có nghiên cứu về khả năng tiếp cận tài chính của DNNVV thì hầu hết đều cho rằng quá trình tiếp cận tài chính của DNNVV hiện tại dù đã được quan tâm nhưng vẫn còn nhiều khó khăn trở ngại
Trang 27Khảo sát của IFC (2009), cho thấy thị trường SMEs được Ngân hàng hỗ trợ tài chính thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp có qui mô lớn, thông qua tỷ lệ các các doanh nghiệp có qui mô lớn được Ngân hàng hỗ trợ tài chính cho một khoản đầu tư mới thường cao hơn 150 % so với các doanh nghiệp có qui mô nhỏ, và ước tính rằng tác động bất lợi của các trở ngại tiếp cận tài chính đối với sự tăng trưởng của các doanh nghiệp nhỏ là cao hơn hai phần ba so với các doanh nghiệp có qui mô lớn IFC (2009) cũng cho rằng có Ba khó khăn thường gặp về môi trường hoạt động cho dịch vụ ngân hàng SME là (1) các trở ngại về luật pháp như quy định về trần lãi suất cho vay, báo cáo tài chính của DN bắt buộc phải được kiểm toán khi khi cho vay , (2) các mô hình pháp lý yếu kém, và (3) các yếu tố kinh tế vĩ mô như tỷ giá hối đoái biến động, lãi suất cho vay cao
Báo cáo nghiên cứu của Beck, T., Demirgüç-Kunt, A., & Martinez Peria, M (2008), Sử dụng dữ liệu thu thập được của 91 ngân hàng từ 45 quốc gia để khảo sát cho thấy có ít nhất 75% Ngân hàng yêu cầu DNNVV khi vay vốn phải có tài sản thế chấp Báo cáo này cũng nói rằng Bất động sản là loại tài sản thế chấp được chấp nhận nhiều nhất và thường xuyên nhất, bất kể quy mô công ty như thế nào Gần 40% các ngân hàng xếp hạng bất động sản là loại tài sản thế chấp quan trọng nhất được sử dụng để tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ, vừa và kể cả doanh nghiệp lớn Tiền mặt và các tài sản thanh khoản khác là những hình thức thế chấp quan trọng thứ hai được sử dụng trên tất cả các quy mô công ty (khoảng 22% ngân hàng đánh giá hình thức thế chấp này là quan trọng nhất), tiếp theo là bảo lãnh ngân hàng và cá nhân (10-15% số ngân hàng) Từ báo cáo nghiên cứu này cũng cho thấy đây là một phần trỡ ngại đối với DNNVV trong quá trình tiếp cận tài chính Bên cạnh đó, Beck, T., Demirgüç-Kunt, A., & Martinez Peria, M (2008) cũng quan sát thêm một số các ngân hàng ở các nước đang phát triển thì cho rằng có nhiều khả năng đưa ra quyết định cho vay dựa trên lịch sử tín dụng của một công ty cũng như chủ công ty đó với ngân hàng
Khảo sát của Hyz, A B (2011), theo các doanh nghiệp thì các rào cản tiếp theo trong việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng là: chi phí vay ngân hàng cao, yêu cầu về tài sản thế chấp của ngân hàng, các thủ tục phức tạp và tốn nhiều thời gian liên quan đến việc vay vốn Cũng theo khảo sát, gần 7% DNNVV cho rằng các ngân hàng yêu cầu
Trang 28quá nhiều thông tin, yêu cầu cao về pháp lý (59%), hồ sơ cấp vốn quá rườm rà (47%)
và cảm thấy lãi suất quá cao (32%)
Theo báo cáo tư vấn của RAM Consultancy Services Sdn Bhd (2005) khi nghiên cứu về tiếp cận tài chính của các SMEs trong khối ASEAN đã chỉ ra những khó khăn chủ yếu phải đối mặt của SMEs trong việc tiếp cận vốn tại ngân hàng là:
Một là, thiếu tài sản thế chấp
Hai là, thời gian xét duyệt hồ sơ để cho vay dài (một số ngân hàng, quá trình từ
phê duyệt để giải ngân có thể mất vài tháng)
Ba là, các thủ tục phức tạp trong việc áp dụng cho các khoản cho vay, bao gồm
từ các chương trình của chính phủ do chủ doanh nghiệp thiếu chuyên môn và cũng không có các nguồn lực để giúp họ với các thủ tục ngân hàng
Bốn là, lãi suất cao
Năm là, không có kiến thức và phương tiện tài chính để chuẩn bị kế hoạch kinh
doanh theo yêu cầu
Sáu là, khó tiếp cận với các chương trình trợ giúp tài chính của Nhà nước cho
SMEs do thiếu công tác quảng bá thông tin
Theo PGS TS Lê Thị Thu Thủy - Hỗ trợ tín dụng đối DNNVV ở Việt Nam
đăng trong tạp chí dân chủ và pháp luật ngày 26/09/2017 thì cho rằng các DNNVV Việt Nam thường làm ăn có tính chộp giật, manh mún, năng lực quản trị kém Vì lẽ đó, các
tổ chức tín dụng đều đưa ra những điều kiện vay vốn rất khắt khe Thực tế, các DNNVV ở Việt Nam cũng không minh bạch về báo cáo tài chính, các báo cáo tài chính thường mang tính chất đối phó với cơ quan thuế Vì vậy, nhiều DNNVV bị từ chối cho vay vì không đáp ứng được điều kiện vay vốn như điều kiện về hồ sơ, điều kiện về tài sản bảo đảm Do đó, trên thực tiễn các DNNVV gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ TCTD
ThS Nguyễn Hữu Mạnh, Doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn ngân hàng: Những vấn đề đặt ra? Đăng trong tạp chí tài chính – kinh doanh ngày 08/10/2016 thì cho rằng do có quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính yếu, cấu trúc đơn giản, ít chú ý tới công tác quản trị tài chính, nhân sự và đặc biệt là không đáp ứng được về tài sản thế chấp nên DNNVV thường gặp trở ngại hơn là các công ty có quy mô lớn trong việc vay vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 29Theo nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Huyền Hương trong tạp chí Kinh tế và Dự
báo chuyên đề tháng 02/2015 với bài viết “Các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận vốn vay của các DNNVV”, trong đó có các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn
của DNVVN chủ yếu như: Ngành nghề kinh doanh; Quy mô của DN; Thời gian hoạt động của DN; Lịch sử quan hệ tín dụng với các TCTD; Năng lực lãnh đạo của DN; Năng lực tài chính và hiệu quả kinh doanh của DN; Tính minh bạch về báo cáo tài chính của DN; Tài sản đảm bảo của DN
Như vậy, hầu hết các nghiên cứu về khả năng tiếp cận vốn của SMEs trên thế giới cũng như tại Việt Nam đều cho rằng khả năng tiếp cận vốn của SMEs còn hạn chế
là do nhiều yếu tố có liên quan, các yếu tố này có thể được tổng hợp theo hình 2.4 như sau:
Hình 2.1: Tổng hợp các yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận vốn của
Năng lực quản lý của chủ DN
Lãi suất Ngân
hàng
Tính minh bạch trong báo cáo tài chính
Các yếu tố khác (Cơ chế, chính sách) Thủ tục vay vốn
Uy tín của DN
Trang 30CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN CỦA CÁC SMES TẠI CÁC
NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE
3.1 Sơ lược về Bến Tre
3.1.1 Vị trí địa lý của Bến Tre
Bến Tre là một trong 13 tỉnh, thành phố thuộc khu vực ĐBSCL, có diện tích tự nhiên là 2.360 km2, được hợp thành bởi 03 cù lao đó là cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh, được phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi bồi đắp (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên) Bến Tre cách Thành phố Hồ Chí Minh 86 km, cách Thành phố Cần Thơ 120 km, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, phía Đông giáp biển Đông Có vị trí địa lý kinh tế và điều kiện tự nhiên đặc thù, Bến Tre được xem như một tỉnh sản xuất nông ngư nghiệp là chủ yếu với các thế mạnh về kinh tế như kinh tế dừa, chăn nuôi đại gia súc (đứng hàng đầu vùng đồng bằng sông Cửu Long), kinh tế vườn (hàng thứ 2 sau Tiền Giang), kinh tế biển (đứng hàng thứ 3 về nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản với trên 20.000 km2 vùng lãnh hải thuộc đặc quyền của tỉnh)
3.1.2 Đặc điểm kinh tế của tỉnh Bến Tre
Kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá: Giá trị sản xuất năm 2010 đạt 43.856 tỷ đồng, đến năm 2016 đạt 92.012 tỷ đồng, hàng năm bình quân tăng 14% Tổng sản phẩm trên địa bàn năm năm 2010 đạt 19.490 tỷ đồng, đến năm 2016 đạt 37.078 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm ở mức 12% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, khu vực nông - lâm - thủy sản chiếm 36,8%; công nghiệp - xây dựng 19,3%; dịch vụ 40,5% trong tổng sản phẩm trên địa bàn Tổng sản phẩm bình quân đầu người người năm 2016 đạt 29,305 triệu đồng
Trang 31Hình 3.1 Giá trị sản xuất và tổng sản phẩm theo giá thực tế giai đoạn 2010–
2016 (đvt: Tỷ đồng)
Nguồn: Cục thống kê Bến Tre(2017), niên giám thống kê năm 2016
3.1.3 Tiềm năng phát triển của tỉnh Bến Tre
Bến Tre có nhiều lợi thế trong giao thương như: có một hệ thống sông ngòi chằng chịt rất thuận lợi cho giao thông đường thủy Đường bộ có Quốc lộ 60 nối liền các tỉnh miền Tây đang được nâng cấp, cầu Rạch Miễu, cầu Hàm luông, và cầu Cổ Chiên đưa vào sử dụng đã rút ngắn đáng kể thời gian đến Bến Tre, đây sẽ là động lực phát triển kinh tế của vùng, là các trục giao thông quan trọng gắn kết kinh tế của tỉnh với các tỉnh ĐBSCL và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Hiện nay, tỉnh Bến Tre có
03 cảng cá, 01 cảng gần khu công nghiệp Giao Long và 01 cảng bốc xếp hàng hóa trên sông Hàm Luông góp phần thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển Ngoài việc phát triển kinh tế vườn, kinh tế biển, Bến Tre cũng quan tâm đến việc hình thành các KCN
để thu hút đầu tư cho tỉnh, hiện tại tỉnh Bến Tre đã hình thành và đi vào hoạt động ổn định 2, đó là KCN Giao Long và KCN An Hiệp, thu hút 35 doanh nghiệp đến đầu tư Còn nhiều KCN khác như Thành Thới B (huyện Mỏ Cày Nam), Thanh Tân (Mỏ Cày Bắc), Phước Long (huyện Giồng Trôm), Giao Hòa (huyện Châu Thành), Phú Thuận (huyện Bình Đại)
Tỉnh Bến Tre được chia thành 9 đơn vị hành chính gồm: thành phố Bến Tre và 8 huyện: Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Bình Đại, Chợ Lách, Thạnh Phú, với 164 xã, phường và thị trấn Về tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên 10%/năm Theo kết quả công bố xếp hạng chỉ số PCI năm 2015 của Phòng
19.490 24.630 26.134
28.648 31.562 35.049 37.078 43.856
Trang 32Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI Việt Nam), tỉnh Bến Tre đứng thứ 12/63 tỉnh, thành phố, tăng 06 bậc so với năm 2014; xếp hạng thứ 4 trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (sau các tỉnh Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang)
Theo Sở Công thương Bến Tre, 6 tháng đầu năm 2017, kim ngạch xuất khẩu của
Bến Tre đạt hơn 347 triệu USD, tăng 3,56% so với cùng kỳ và đạt 41,82% so với kế hoạch Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hơn
240 triệu USD, tăng 3,45% so với cùng kỳ, chiếm 69,43% trong tổng kim ngạch xuất khẩu; doanh nghiệp trong nước hơn 106 triệu USD, tăng 3,81% so với cùng kỳ và chiếm 30,57% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
3.2 Tình hình phát triển Doanh nghiệp trên địa bàn
Với vị trí địa lý thuận lợi, kết hợp với điều kiện tự nhiên đặc thù, Bến Tre được xem như một tỉnh sản xuất nông ngư nghiệp là chủ yếu với các thế mạnh về kinh tế dừa, chăn nuôi đại gia súc (đứng hàng đầu vùng đồng bằng sông Cửu Long), kinh tế vườn (hàng thứ 2 sau Tiền Giang), kinh tế biển (đứng hàng thứ 3 về nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản với trên 20.000 km2
vùng lãnh hải thuộc đặc quyền của tỉnh) Với lợi thế về nguồn nguyên liệu dồi dào nhưng sản xuất công nghiệp phát triển với quy mô còn nhỏ,
số lượng doanh nghiệp thành lập mới còn thấp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn kém, chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh
Theo báo cáo từ Sở Kế Hoạch Đầu Tư Bến Tre đến ngày 31/8/2016, có thêm 244 doanh nghiệp mới được thành lập, tăng 36% so cùng kỳ, vốn đăng ký tăng 16% so cùng
kỳ (1.433/1.235 tỷ đồng), nâng tổng số có 3.027 doanh nghiệp đang ở trạng thái hoạt động (Số lượng tính theo giấy phép đăng ký thành lập DN) với tổng vốn đăng ký 17.018 tỷ đồng; 151 dự án đầu tư trong nước còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 15.676,9 tỷ đồng; 52 dự án FDI, tổng vốn đăng ký 621,529 triệu USD
Tuy nhiên theo Cục Thống Kê tỉnh Bến Tre thì đến năm 2015 Bến Tre có 1.925 Doanh nghiệp, đây là con số do Cục Thống kê tỉnh Bến Tre đã xác minh thực tế Doanh nghiệp hoạt động cụ thể tại hình 3.2 như sau:
Trang 33Hình 3.2 Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn Bến Tre giai đoạn 2000-2015
Nguồn: DN Việt Nam 15 năm đầu thế kỷ (2000-2014) NXB thống kê 2017
3.3 Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các DN trên địa bàn Bến Tre
Xác định doanh nghiệp là động lực để phát triển kinh tế, trong thời gian qua, tỉnh Bến Tre cũng đã tập trung xây dựng và ban hành nhiều chương trình, dự án để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đứng vững, đủ sức cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Cùng với sự quyết tâm của các ngành, các cấp và sự đồng lòng của cộng đồng doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tỉnh nhà từng bước được cải thiện; xuất hiện một số doanh nghiệp có tiềm lực về vốn, công nghệ, sản xuất các sản phẩm
có chất lượng cao và thị trường tiêu thụ ngày càng mở rộng, nhất là trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu các sản phẩm từ dừa, thủy sản, trái cây
Doanh nghiệp trong tỉnh ngày càng chú trọng hơn đến việc quản trị, đào tạo
và nâng cao chất lượng lao động, nhất là về kỹ năng, trình độ ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất Số lượng doanh nghiệp quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm và mở rộng thị thị trường ngày càng tăng Nhiều doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư máy móc, công nghệ mới, hiện đại, đáp ứng nhu cầu sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu
Trang 343.3.1 Năng lực về tổ chức quản trị doanh nghiệp
Qua kết quả khảo sát doanh nghiệp theo báo cáo của Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Bến Tre, cho thấy trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp được quan tâm và ở mức khá cao Tỷ lệ chủ doanh nghiệp có trình độ đại học chiếm 63,3% (tương ứng trên các lĩnh vực: nông nghiệp 56%, công nghiệp - xây dựng 67% và thương mại - dịch vụ 67%); còn lại có đến 36,7% có trình độ từ cao đẳng trở xuống (trong đó: tỷ lệ chủ doanh nghiệp có trình độ sơ cấp và phổ thông khá cao, lên đến 26,6%) Tuy nhiên, đa số các chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo, hoặc đào tạo chưa bài bản các kiến thức về kinh
tế, quản trị doanh nghiệp
3.3.2 Năng lực về vốn
Tính trên tổng số doanh nghiệp đang ở trạng thái hoạt động, doanh nghiệp lớn và vừa chiếm tỷ trọng thấp (chỉ đạt 3,5%), còn lại là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ chiếm đa số (96,5%) nên sức cạnh tranh còn hạn chế Tiềm lực về tài chính (đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ) còn hạn chế, vốn đầu
tư ban đầu và vốn lưu động ít nên còn gặp nhiều khó khăn trong đầu tư đổi mới các trang thiết bị, công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh
Theo báo cáo của Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Bến Tre cho thấy có 57% các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, 72% trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và 66% trong lĩnh vực nông nghiệp có vay vốn từ các ngân hàng Đa số các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng nhằm tăng vốn lưu động để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, đầu tư mua sắm thiết bị máy móc, phương tiện vận tải, đầu tư xây dựng cơ bản
và giải quyết các khoản nợ đáo hạn Tuy nhiên, có đến gần 30% các doanh nghiệp được hỏi cho rằng không tiếp cận được vốn của ngân hàng; có đến 62% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng khó tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng ưu đãi của ngân hàng Trở ngại lớn nhất là lãi suất cao (80% trả lời đồng ý), thiếu tài sản thế chấp hoặc giá trị tài sản thế chấp thấp (40%), vướng mắc các thủ tục vay (chiếm 55%), khả năng chứng minh mục đích sử dụng vốn (chiếm 40,1%), thiếu phương án kinh doanh (chiếm 26,2%)
3.3.3 Năng lực về thương hiệu
Theo kết quả thống kê trong giai đoạn 2011-2015, việc xác lập và bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ bước đầu đã được các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh