1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Đánh giá nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)

136 174 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THANH HIẾU

ĐÁNH GIÁ NGHÈO ĐA CHIỀU TRONG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ,

TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THANH HIẾU

ĐÁNH GIÁ NGHÈO ĐA CHIỀU TRONG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ,

TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã số: 8.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI NỮ HOÀNG ANH

THÁI NGUYÊN, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, ngày 22 tháng 04 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thanh Hiếu

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Chủ tịch huyện, các phòng, ban của huyện Đại Từ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã chia sẻ những khó khăn và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Hiếu

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Đóng góp của Luận văn 3

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO ĐA CHIỀU TRONG NÔNG THÔN 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Cơ sở lý luận về nghèo 5

1.1.2 Nghèo đa chiều 9

1.1.3 Nội dung nghiên cứu về nghèo đa chiều 23

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo đa chiều 25

1.2 Cơ sở thực tiễn và bài học kinh nghiệm về giảm nghèo đa chiều cho huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 29

1.2.1 Nghèo đa chiều ở Việt Nam 29

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 36

1.3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 37

1.3.1 Một số nghiên cứu trong nước 37

1.3.2 Một số nghiên cứu của nước ngoài 41

Trang 6

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 43

2.2 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 44

2.3 Phương pháp nghiên cứu 44

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 44

2.3.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 48

2.3.3 Phân tích thông tin 49

2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 50

2.4.1 Các chỉ tiêu về tình hình kinh tế-xã hội huyện Đại Từ 50

2.4.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu về nghèo đa chiều 51

Chương 3 THỰC TRẠNG NGHÈO ĐA CHIỀU TRONG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN 54

3.1 Khái quát về huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 54

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 54

3.1.2 Điều kiện kinh tế 57

3.1.3 Điều kiện xã hội 59

3.2 Thực trạng nghèo đa chiều trong nông thôn tại địa bàn nghiên cứu 61

3.2.1 Tình hình nghèo chung của huyện Đại Từ 61

3.2.2 Tình hình nghèo đa chiều tại địa bàn nghiên cứu 62

3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đa chiều tại địa bàn nghiên cứu 80

3.3.1 Các nhân tố khách quan 81

3.3.2 Các yếu tố chủ quan 91

3.4 Đánh giá chung 95

3.4.1 Những kết quả đạt được 96

3.4.2 Những tồn tại, hạn chế 97

Trang 7

Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT VỀ GIẢM NGHÈO

ĐA CHIỀU TRONG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH

THÁI NGUYÊN 99

4.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 99

4.1.1 Định hướng và mục tiêu về giảm nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 99

4.1.2 Mục tiêu về giảm nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 100

4.2 Các giải pháp đề xuất để giảm nghèo đa chiều trong nông thôn tại địa bàn nghiên cứu 102

4.2.1 Nhóm giải pháp hỗ trợ hộ nghèo thiếu hụt đa chiều được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản 102

4.2.2 Nhóm giải pháp hỗ trợ tăng thu nhập cho hộ nghèo, hộ cận nghèo 106

4.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống 110

4.3 Kiến nghị 114

4.3.1 Đối với Nhà nước 114

4.3.2 Đối với UBND tỉnh Thái Nguyên 115

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

PHỤ LỤC 121

Trang 8

UBND : Uỷ ban nhân dân

UNDP : Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc

WB : Ngân hàng thế giới

XĐGN : Xoá đói giảm nghèo

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia) 8

Bảng 1.2: Tiêu chí đo lường nghèo đa chiều tại Việt Nam 20

Bảng 2.1: Đối tượng điều tra tại địa bàn các xã nghiên cứu 47

Bảng 3.1: Các loại đất trên địa bàn huyện Đại Từ 56

Bảng 3.2: Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Đại Từ (tính theo giá hiện hành) 57

Bảng 3.3: Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu trên địa bàn huyện Đại Từ 60

Bảng 3.4: Kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 61

Bảng 3.5: Kết quả đánh giá chung về nghèo theo chiều Giáo dục tại địa bàn nghiên cứu 62

Bảng 3.6: Kết quả đánh giá nghèo đa chiều Giáo dục tại các xã nghiên cứu 65

Bảng 3.7: Kết quả đánh giá chung về nghèo theo chiều Y tế tại địa bàn nghiên cứu 67

Bảng 3.8: Kết quả đánh giá nghèo đa chiều Y tế tại các xã nghiên cứu 69

Bảng 3.9: Kết quả đánh giá chung về nghèo theo chiều Nhà ở tại địa bàn nghiên cứu 70

Bảng 3.10: Kết quả đánh giá nghèo đa chiều Nhà ở tại các xã nghiên cứu 71

Bảng 3.11: Kết quả đánh giá chung về nghèo theo chiều Điều kiện sống tại địa bàn nghiên cứu 72

Bảng 3.12: Kết quả đánh giá nghèo đa chiều Điều kiện sống tại các xã nghiên cứu 73

Trang 10

Bảng 3.13: Kết quả đánh giá chung về nghèo theo chiều Tiếp cận

thông tin tại địa bàn nghiên cứu 76

Bảng 3.14: Kết quả đánh giá nghèo đa chiều Tiếp cận thông tin tại các xã nghiên cứu 77

Bảng 3.15: Tổng hợp các chỉ tiêu trong các nhóm hộ điều tra 78

Bảng 3.16: Xác định trọng số của các hộ trên địa bàn nghiên cứu 79

Bảng 3.17: Các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều trên địa bàn nghiên cứu 81

Bảng 3.18: Chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội của huyện Đại Từ 81

Bảng 3.19: Quy mô và tỷ trọng chi thường xuyên NSNN trên địa bàn huyện 83

Bảng 3.20: Thống kê về tình trạng đất đai tại địa bàn nghiên cứu 85

Bảng 3.21: Quy mô và tỷ trọng chi đầu tư XDCB trên địa bàn huyện 86

Bảng 3.22: Kết quả khảo sát về kết cấu hạ tầng tại địa bàn nghiên cứu 87

Bảng 3.23: Kết quả điều tra về thu nhập của các hộ nghèo trên địa bàn nghiên cứu 88

Bảng 3.24: Kết quả giải quyết việc làm tăng thu nhập cho các hộ trên địa bàn điều tra 89

Bảng 3.25: Lý do các hộ không tham gia đào tạo nghề 90

Bảng 3.26: Lý do hạn chế trong nhận thức, tư duy của hộ nghèo trên địa bàn nghiên cứu 91

Bảng 3.27: Nguyên nhân hạn chế về sức khỏe và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của hộ nghèo trên địa bàn nghiên cứu 93

Bảng 3.28: Quy mô hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu 94

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia) 8Biểu đồ 3.1: Cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp trên địa bàn

huyện Đại Từ (theo giá hiện hành) 58Hộp 3.1: Ý kiến về quyền sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và nước sạch 74Hộp 3.2: Ý kiến của hộ nghèo về nhà tiêu hợp vệ sinh và nước sạch 75

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghèo là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng cũng như mỗi quốc gia Người nghèo thường không có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội như việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thông tin, v.v… và điều đó khiến cho họ ít có cơ hội thoát nghèo Do vậy, mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực cho người nghèo là phương thức tốt nhất để giảm nghèo bền vững

Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã và đang đặc biệt quan tâm đến chính sách đối với người nghèo thông qua việc quan tâm đầu tư nguồn lực trong chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Nguồn lực Nhà nước dành cho công việc này rất lớn và chủ yếu tập trung cho các vùng nông thôn, miền núi

có điều kiện kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn

Trong quá khứ, chúng ta chỉ xem xét tình trạng nghèo chỉ với một khía cạnh đó là theo thu nhập, không xem nghèo là hiện tượng đa khía cạnh, phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố khác nhau Việc chỉ dựa vào tiêu chí thu nhập để đánh giá là phương pháp không còn phù hợp trong giai đoạn hiện tại và tương lai bởi phương pháp này vô tình loại rất nhiều nhóm dân cư, bộ phận ra khỏi đối tượng nghèo, khi mà thực chất, xét ở các khía cạnh khác ngoài thu nhập (giáo dục, y tế, điều kiện sống…), họ vẫn thuộc diện nghèo Do đó, cần tiếp cận nghèo theo phương pháp đa chiều để có thể tìm kiếm được những giải pháp đồng bộ, thực sự hỗ trợ cho nhóm yếu thế có được cuộc sống tốt hơn trên nhiều khía cạnh khác nhau

Khu vực nông thôn của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là một trong những khu vực có tỷ lệ nghèo còn cao, chiếm 16,94% Huyện đã áp dụng nhiều các giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm giảm nghèo trong nông thôn và đã đạt được những thành tựu nhất định như hỗ trợ chính

Trang 13

sách vay vốn, hỗ trợ xuất khẩu lao động (mỗi năm huyện có trung bình 84 lượt hộ được tham gia các chương trình xuất khẩu lao động, trong đó có 51

hộ nghèo) Tỷ lệ người dân được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, cơ

sở hạ tầng được cải thiện rõ rệt, đời sống người nghèo được nâng cao, tỷ lệ

hộ nghèo giảm đáng kể nhưng đó mới chỉ là kết quả có được theo phương pháp tiếp cận thu nhập - chi tiêu trong đánh giá nghèo đơn chiều trước đây Vấn đề nghèo đa chiều tại địa phương này nói riêng còn mới, hiện còn tồn tại nhiều quan điểm và cách nhận thức khác nhau về vấn đề này Người dân nông thôn tại huyện Đại Từ còn ít hiểu biết về nghèo đa chiều Tỷ lệ hộ nghèo trong nông thôn tại huyện theo tiêu chí nghèo đa chiều là bao nhiêu?

Có những nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng nghèo đa chiều của các hộ gia đình trong khu vực nông thôn tại huyện Đại Từ? Cần thực thi đồng bộ các giải pháp nào để giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại

Từ nhằm góp phần xây dựng thành công nông thôn mới và phát triển bền vững địa phương này?

Cho đến nay, những câu hỏi đó vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng Để trả lời được những câu hỏi đó, cần thực hiện nghiên cứu, đánh giá, phân tích thực trạng nghèo đa chiều một cách khoa học, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều trong nông thôn tại địa phương này Xuất phát từ

thực tế đó, tác giả đã thực hiện đề tài: “Đánh giá nghèo đa chiều trong nông

thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” nhằm cung cấp thêm bằng chứng

khoa học về thực trạng nghèo đa chiều tại địa phương này, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho vấn đề này tại địa phương

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng nghèo đa chiều và đề xuất giải pháp giảm nghèo

đa chiều để hướng tới phát triển bền vững kinh tế-xã hội khu vực nông thôn của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 14

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghèo đa chiều trong nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Đề tài được thực hiện tại 02 xã là: xã Minh Tiến và xã

La Bằng của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

- Về thời gian: Thông tin thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu được thu thập

từ năm 2014-2016 và thông tin sơ cấp được thu thập trong năm 2017

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về tình trạng nghèo theo các

chiều: Giáo dục; Y tế; Nhà ở; Điều kiện sống; Tiếp cận thông tin

4 Đóng góp của Luận văn

Về lý luận, nghiên cứu này đã hệ thống hóa được những lý luận về nghèo

đa chiều trong nông thôn tại một địa phương cấp huyện của Việt Nam, đồng thời cũng phát hiện và đề xuất được một số nội dung cần thay đổi trong cơ sở

lý luận về nghèo đa chiều áp dụng tại Việt Nam

Về thực tiễn, nghiên cứu đã phân tích, đánh giá được tình trạng nghèo đa chiều tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất được một số giải pháp khả thi, có căn cứ khoa học cho vấn

đề giảm nghèo đa chiều tại địa bàn nghiên cứu

Trang 15

Trong bối cảnh nghèo đa chiều đang còn là một vấn đề mới, kết quả của nghiên cứu này có thể được sử dụng làm tư liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu và hoạt động thực tiễn tại các địa phương có những điểm tương đồng với huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn được kết cấu thành 4 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đa chiều trong nông thôn Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng nghèo đa chiều trong nông thôn tại Huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên

Chương 4: Một số giải pháp đề xuất để giảm nghèo đa chiều trong nông

thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO ĐA CHIỀU

TRONG NÔNG THÔN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Cơ sở lý luận về nghèo

1.1.1.1 Khái niệm nghèo

Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham

gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là tình trạng không an toàn, không có quyền

và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ

bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [11]

Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm

1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình

trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế

xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận".[3]

Tuy vậy nghèo đói là một khái niệm động theo thời gian và không gian,

do vậy việc phát triển hoàn thiện khái niệm về nghèo đói là một vấn đề tất yếu khách quan;

Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh

tế): để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu;

dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn.".[3]

Trang 17

Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà

chính trị và các học giả cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng

nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu

cơ bản của con người

1.1.1.2 Chuẩn mực xác định nghèo

* Chuẩn mực xác định nghèo trên thế giới

Để đánh giá nghèo Liên hợp quốc (UNDP) dùng cách tính dựa trên cơ

sở phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhất định Cách tính này không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư Phương pháp tính là: Đem chia dân số của 1 nước, 1 châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: rất giàu, giàu, trung bình, nghèo, rất nghèo Theo cách tính này vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% người nghèo nhất chỉ chiếm 1,4% thu nhập toàn thế giới [11]

Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD [8]

Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại:

+ Trên 25.000USD/người/năm là nước cực giàu

+ Từ 20.000 đến dưới 25.000UDS/người/năm là nước giàu

+ Từ 10.000 đến dưới 20.000USD/người/năm là nước khá giàu

+ Từ 2.500 đến dưới 10.000USD/người/năm là nước trung bình

+ Từ 500 đến dưới 2.500USD/người/năm là nước nghèo

+ Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo

Trang 18

Theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội Do đặc điểm của nền KT - XH và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia Ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được xác định là 14USD/người/ngày Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaixia là 28USD/người/tháng, Srilanca là 17USD/người/tháng, v.v… Ở Việt Nam, GDP bình quân khoảng 600USD/người/năm, nên so diện chung của thế giới nước ta

là nước nghèo khó Do đó, không thể lấy mức nghèo của WB để xác định nghèo của Việt Nam [8]

* Xác định chuẩn nghèo của Việt Nam

- Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực của chương trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kì Lúc đầu, nghèo được xác định dựa trên các chỉ tiêu nhu cầu, sau đó chuyển sang chỉ tiêu thu nhập, kết quả là đã 5 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau (Bảng 2.1)

Đầu năm 1998, cả nước có 2,65 triệu hộ với khoảng 14 triệu dân nghèo đói, chiếm 17,7% dân số Trong đó có 300.000 hộ thường xuyên nghèo đói; có 1.498 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên và 1.168 xã thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu (điện, đường, trường, trạm xá, chợ, nước sạch, v.v…), 2/3 số xã nghèo là các xã miền núi, khoảng 1,2 triệu người ở 978 xã cần được định canh, định cư

và 15 vạn đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn cần được hỗ trợ phát triển Đến cuối năm 2000, tỷ lệ hộ nghèo ở thành thị còn 6% và nông thôn 11,2% Đầu năm 2001 khi thay đổi chuẩn nghèo đói, nước ta còn khoảng 2,8 triệu hộ nghèo (chiếm 17,11%) đến cuối năm 2005 còn khoảng 1,6 triệu hộ nghèo, chiếm khoảng 9,5% [8]

Trang 19

Bảng 1.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia)

Chuẩn nghèo đói

Mức thu nhập bình quân/người/tháng

1993 - 1995 (Mức thu

nhập quy ra gạo)

Đói (KV nông thôn) Dưới 8 KG Đói (KV thành thị) Dưới 13 KG Nghèo (KV nông thôn) Dưới 15 KG Nghèo (KV thành thị) Dưới 20 KG

Nghèo (KV nông thôn, miền

Nghèo (KV nông thôn, đồng bằng trung du) Dưới 100.000 đồng Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng

Cận nghèo (KV nông thôn) Từ 401.000 - 520.000 đồng

(Nguồn: Bộ LĐ-TB và XH, năm 2015, Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN)

Trang 20

1.1.2 Nghèo đa chiều

1.1.2.1 Khái niệm nghèo đa chiều

Trong Báo cáo phát triển con người năm 1997, lần đầu tiên UNDP đã đề cập đến khái niệm nghèo khổ dựa trên cơ sở quan niệm về phát triển con người,

gọi là nghèo khổ tổng hợp hay nghèo khổ con người (nghèo khổ đa chiều) Nghèo

khổ đa chiều đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn để đảm bảo cuộc sống cơ bản nhất hoặc “có thể chấp nhận được” Theo đó, nghèo khổ được tính đến điều kiện khó khăn trong phát triển con người, ví dụ như cuộc đời ngắn ngủi (tuổi thọ), thiếu giáo dục cơ bản và thiếu sự tiếp cận đến các nguồn lực tư nhân

và của xã hội Khái niệm trên cho thấy, xóa nghèo cũng là một khía cạnh của phát triển con người - một khái niệm được định nghĩa là “quá trình tăng thêm sự lựa chọn của con người” Phương pháp tiếp cận nghèo khổ là trên cơ sở quyền

lợi cơ bản của con người bao gồm quyền tự do: con người có quyền có một cuộc sống không bị đói khổ và đe dọa do bạo lực, chống đối và bị thương tổn; quyền

bình đẳng: mọi người có quyền tham gia, hưởng thụ và chia sẻ thành quả phát

triển của xã hội; sự khoan dung: mọi người cần phải được tôn trọng bao gồm cả

niềm tin, văn hóa và ngôn ngữ Điều này có nghĩa là, các chính sách phát triển

kinh tế cần hướng về người nghèo Tăng trưởng kinh tế là cần thiết, song lợi ích

từ tăng trưởng không tự động chuyển đến cho các hộ nghèo Người nghèo cần trở thành mục tiêu trong việc hoạch định và đánh giá tác động của các chính sách phát triển Cách tiếp cận mới này đã tập trung vào các chương trình cho phép người nghèo được sử dụng nguồn lực, giải pháp và sự sáng tạo của họ bằng cách tạo dựng một môi trường đảm bảo cũng như các nguồn lực quan trọng sẵn có bên ngoài

Cho đến nay, Ngân hàng thế giới (WB) cũng đã mở rộng khái niệm đói nghèo, theo đó, nghèo khổ đã mang bản chất đa chiều, gồm những khía cạnh

cơ bản sau:

- Trước tiên và trên hết là sự khốn cùng về vật chất được đo lường theo một tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng

Trang 21

- Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế

- Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ gia đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập hoặc về sức khỏe

- Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói và quyền lực của người nghèo

Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không

được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống [3]

Trong thời gian qua, ở nước ta việc đánh giá nghèo đói hoàn toàn dựa vào các tiêu chí thu nhập, trong đó chuẩn nghèo được xác định theo phương pháp “chi phí cho các nhu cầu cơ bản” Các nhu cầu cơ bản bao gồm chi cho nhu cầu tối thiểu về lương thực/thực phẩm và chi cho những nhu cầu phi lương thực/thực phẩm thiết yếu (giáo dục, y tế, nhà ở ) Cách tiếp cận theo thu nhập này không phù hợp với tính đa chiều của nghèo đói Bời vì, trong đánh giá một

số chỉ tiêu về nhu cầu cơ bản của con người không thể lượng hóa được bằng tiền như (như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội, v.v ) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường, đường xá và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế/giáo dục công v.v ), mặt khác với các hộ có có thu nhập trên chuẩn nghèo thì trong một số trường hợp thu nhập đó sẽ không được chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu; vì những lý

do như không tiếp cận được dịch vụ tại nơi sinh sống, hoặc thay vì chi tiêu cho giáo dục hoặc y tế, thu nhập có thể bị chi cho thuốc lá, bia rượu và các mục đích khác Do đó, việc áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều sẽ khắc phục được những nhược điểm trong phương pháp tiếp cận cũ, đồng thời giải quyết nhu cầu thực tế mà người nghèo, cận nghèo cần trợ giúp thực sự

Quan niệm Nghèo đa chiều (multidimensional poverty) đã cho thấy rõ,

nghèo không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác mà nghèo đói còn do sự tồn tại các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận với các dịch vụ về: sức khỏe, giáo dục và mức sống

1.1.2.2 Chuẩn nghèo đa chiều

Trang 22

Chuẩn nghèo đa chiều là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là nghèo đa chiều Theo quan niệm của các tổ chức quốc tế, một hộ gia đình thiếu từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên sẽ bị coi là nghèo

đa chiều Ngày 15/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo

1614/QĐ-từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.” Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: (1) Các tiêu chí

về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập (2) Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin

Những quy định chính sách nói trên tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho chương trình giảm nghèo của nước ta trong giai đoạn 2016-2020

*) Chuẩn nghèo đa chiều

Theo QĐ 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng chính phủ quy định các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 như sau:

2 Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): giáo dục; y tế; nhà ở; nước sạch và nhà vệ sinh; tiếp cận thông tin

b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; tiếp cận

Trang 23

các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin [9]

*) Chuẩn hộ nghèo đa chiều

Theo quyết định trên chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 như sau:

1 Hộ nghèo

a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng đủ từ 700.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên [9]

2 Hộ cận nghèo

a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản [9]

Trang 24

Trong những năm trước đây nghèo đói thường được đo lường thông qua thu nhập hoặc chi tiêu Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền Người nghèo hay hộ nghèo

là những đối tượng có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo Cách thức đo lường này đã duy trì trong thời gian dài và bắt đầu bộc lộ những hạn chế

Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội, v.v ) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế, giáo dục công v.v )

Thứ hai, có những trường hợp hộ gia đình có tiền nhưng không chi tiêu vào việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu (do cả những lý do khách quan như không có sẵn dịch vụ hay lý do chủ quan như do tập tục văn hóa địa phương hay do chính nhận thức của người dân)

Vì những hạn chế trên, nếu chỉ sử dụng chuẩn nghèo thu nhập để đo lường và xác định đối tượng nghèo đói sẽ dẫn đến bỏ sót đối tượng, đồng thời nhận diện nghèo, phân loại đối tượng và xác định nguyên nhân nghèo đói chưa chính xác Do đó, chính sách hỗ trợ mang tính cào bằng và chưa phù hợp với nhu cầu, chưa thực sự tác động đến nguyên nhân nghèo đói, nhất là các nguyên nhân có liên quan đến thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Do vậy, có một số đặc trưng cơ bản như sau:

- Tiếp cận nghèo đa chiều là khái niệm mới, khác hẳn quan niệm về nghèo thu nhập/chi tiêu như hiện nay, đòi hỏi cần có thời gian để chuyển đổi

- Khi tiếp cận đo lường nghèo đa chiều, khái niệm hộ nghèo khác so với chuẩn nghèo thu nhập, trong khi hệ thống chính sách giảm nghèo hiện hành đang quy định tiêu chí hộ nghèo dựa vào thu nhập

Trang 25

- Thông tin nghèo đa chiều với nhiều chỉ số và phân tổ sẽ yêu cầu tăng cường năng lực xử lý, phân tích, xây dựng chính sách, truyền thông và tham vấn chính sách của ngành lao động, các ngành khác ở cả trung ương và địa phương, nhằm thiết kế được các chính sách thường xuyên và đặc thù cho phù hợp với thực trạng nghèo đa chiều

- Việc xác định các chiều, chỉ số, ngưỡng thiếu hụt đòi hỏi phải dựa trên nguồn dữ liệu sẵn có để đo từ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình, nhưng hiện nay một số nhu cầu về số liệu chưa phản ảnh đầy đủ như việc làm, hoặc thiếu

số liệu thống kê để xác định các chỉ số tiếp cận dịch vụ xã hội như y tế, thông tin

- Để xác định được đối tượng thụ hưởng chính sách theo phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đa chiều, đòi hỏi phải điều tra toàn bộ dân cư, khó thực hiện trong điều kiện hiện nay

- Một số chính sách muốn thay đổi phải dựa trên việc sửa đổi, bổ sung

hệ thống văn bản pháp luật, đòi hỏi phải có thời gian, lộ trình, bước đi cụ thể

- Việc áp dụng mức sống tối thiểu cho giai đoạn tới cần tính toán cân đối với các tiêu chí thực hiện các chính sách liên quan như tiền lương tối thiểu, chính sách người có công

- Cần tạo được sự đồng thuận, thống nhất cao giữa các cấp, các ngành trong tiếp cận đo lường nghèo đa chiều

1.1.2.4 Tổng quan phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đa chiều trên thế giới

Nhiều phương pháp đã được xây dựng để đo lường nghèo đa chiều Trong

số đó, một vài cách tiếp cận, như Alkire-Foster (2011) hay Maasoumi-Logu (2008), sử dụng các chỉ số đa chiều vô hướng để thể hiện thông tin từ nhiều chiều thiếu hụt trong một con số tổng hợp Thuận lợi lớn nhất của các phương pháp

“chỉ số tổng hợp” là chúng giúp ta xếp hạng và so sánh nghèo qua nhiều giai đoạn, vùng miền, quốc gia v.v… Tuy nhiên, các chỉ số tổng hợp thường bị phê phán vì việc sử dụng trọng số tương đối cho mỗi chiều mà các trọng số này thường được tuỳ chọn và bị chi phối bởi ý muốn chủ quan của những nhà thiết lập và sử dụng phương pháp đo lường này

Trang 26

Một cách tiếp cận khác của Ravallion (2011) đề xuất phương pháp “bảng thông tin” bao gồm tất cả thông tin về các chỉ số đo lường và phân tích nghèo đa chiều; Cách tiếp cận này cho phép người dùng tập trung phân tích vào bất kỳ chiều nào mà họ cảm thấy quan trọng Tuy nhiên, cách tiếp cận “bảng thông tin” chỉ cho phép nghiên cứu và có thông tin theo từng chiều riêng lẻ (hoặc phân phối riêng lẻ

- marginal distribution) mà không cho thấy được mối tương quan (hay phân phối

có điều kiện - conditional distribution) giữa các chiều Điều này làm cho phân tích nghèo đa chiều ít hấp dẫn hơn do phân phối có điều kiện (tương quan) bao hàm nhiều thông tin hơn và có thể cung cấp một bức tranh không giống với những gì thấy được qua phân phối của các chiều riêng lẻ

Một số phương pháp tiếp cận khác cũng được xây dựng và có thể dùng thay thế hoặc bổ sung cho phương pháp chỉ số tổng hợp và phương pháp “bảng thông tin”, ví dụ như phương pháp Multivariate Stochastic Dominance Techniques, phương pháp thể hiện cấu trúc tương quan sử dụng biểu đồ Ven, hay hàm Copula (Ferreira and Lugo, 2012)

Gần đây, phương pháp Alkire-Foster của Sabina Alkire và James Foster thu hút sự quan tâm lớn từ cộng đồng quốc tế nhờ vào công cụ đơn giản trong

đo lường và xếp hạng nghèo đa chiều (Alkire và Foster, 2007, 2011).Phương pháp này tổng hợp các thông tin thiếu hụt của nhiều chiều trong một con số tổng hợp, do đó nó có các lợi thế của cách tiếp cận này Đó là, nó cho phép một xếp hạng đơn nhất các quốc gia, các vùng hay các hộ/cá nhân, mặc dù có thể xếp hạng dựa trên từng chiều có thể khác nhau Đồng thời, có thể so sánh giữa các thời điểm khác nhau (Ferreira and Lugo, 2012); Đây là các đặc tính quan trọng để xác định ưu tiên về mặt chính sách cho các cá nhân/hộ hay các vùng

và nó cho phép theo dõi vấn đề nghèo theo thời gian cũng như đánh giá tác động về mặt chính sách Thực tế, đây là các tính chất cần có của các chỉ số đo lường nghèo có tính kỹ thuật

Trang 27

Phương pháp này đã được áp dụng trong phân tích nghèo đói ở nhiều quốc gia; Phương pháp này bắt đầu bằng việc xác định số lượng chiều trong phân tích nghèo đa chiều; Các chiều cơ bản có thể bao gồm y tế, giáo dục, mức sống, vv… Mỗi chiều nghèo này sẽ được đo lường dựa trên các chỉ số thành phần (kí hiệu Ik) Bước tiếp theo là xác định mức thiếu hụt của từng chỉ

số thành phần Khi đã có mức thiếu hụt của từng chỉ số thành phần Với mỗi

hộ gia đình i, chúng ta sẽ ước lượng điểm thiếu hụt (deprivation score) theo

i w I c

(1)

Trong đó w k là quyền số của chỉ số thành phần I ki , và I ki là giá trị của chỉ

số thành phần k của hộ i, và K là tổng số chỉ số thành phần Các chỉ số thành phần I ki được xác định là các chỉ số nhị phân, với giá trị bằng 1 tương ứng với thiếu hụt về thành phần đấy và bằng 0 tương ứng không thiếu hụt.Giá trị quyền

số của chỉ số thành phần phụ thuộc vào số lượng chiều và số lượng chỉ số thành phần trong từng chiều Giá trị quyền số bằng 1, 1

Điểm thiếu hụt c biến động từ 0 đến 1, với giá trị càng cao thể hiện mức

độ thiếu hụt càng lớn của hộ Hộ không bị thiếu hụt ở bất cứ chiều nào sẽ có giá trị điểm thiết hụt bằng 0, còn hộ bị thiếu hụt ở tất cả các chiều thì có điểm thiếu hụt bằng 1 Để xác định tỷ lệ nghèo đa chiều theo phương pháp của Alkire

và Foster (2007, 2011), chúng ta cần phải xác định ngưỡng nghèo đa chiều (the

poverty cut-off), ký hiệu là L Một hộ gia đình sẽ được xác định là nghèo nếu

như có điểm thiếu hụt lớn hơn chuẩn nghèo, tức làc iL Chẳng hạn Alkire và Foster (2007, 2011) sử dụng ngưỡng nghèo là 1/3, tức là nếu hộ nghèo có điểm thiếu hụt lớn hơn 1/3 thì sẽ coi là hộ nghèo

Sau khi tính được số hộ nghèo đa chiều, chúng ta ước lượng tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (còn gọi là chỉ số đếm đầu, ký hiệu là H):

n q

Trang 28

Trong đó q là số lượng hộ nghèo đa chiều và n là tổng số hộ gia đình

Chúng ta có thể tính tỷ lệ người nghèo bằng cách lấy tổng số người nghèo đa chiều chia cho tổng dân số

Tỷ lệ nghèo đa chiều không phản ánh được mức độ hay độ sâu thiếu hụt của các hộ nghèo.Vì hộ thiếu hụt tất cả các chiều cũng như hộ chỉ thiếu hụt 1/L chiều cũng đều được coi là hộ nghèo Tỷ lệ nghèo đa chiều giản đơn không cho thấy được số chiều thiếu hụt của các hộ nghèo Chính vì vậy Alkire và Foster (2007, 2011) đề xuất ước tính mức độ tập trung của Nghèo

đa chiều A:

q

L c A

n

i i

) (

(3) Trong đó c i (L) là điểm thiếu hút chỉ tính cho hộ nghèo (censored deprivation score), được tính như sau:

i

i L c

c( ) nếu hộ là hộ nghèo đa chiều, c iL

0)

(L

c i nếu hộ là hộ không nghèo đa chiều, c iL

Cuối cùng chúng ta tính chỉ số Nghèo đa chiều (còn gọi là chỉ số đếm đầu điều chỉnh), bằng tích của Tỷ lệ nghèo đa chiều H và Mức độ tập trung của nghèo đa chiều A

Chỉ số MPI này càng cao phản ánh mức độ nghèo đa chiều càng lớn Chỉ

số MPI khác với chỉ số đếm đầu H, vì nó không chỉ phản ánh tỷ lệ nghèo đa chiều mà còn phản ánh mức độ thiếu hụt của người nghèo đa chiều Nói cách khác, theo Alkire và Foster (2007, 2011), thì chỉ số MPI phản ánh tỷ lệ dân số nghèo đa chiều được điều chỉnh theo độ sâu của nghèo đa chiều [3]

1.1.2.5 Đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam

 Nguyên tắc tiếp cận

a) Xác định các nhu cầu xã hội cơ bản- các chiều nghèo

Việc lựa chọn các chiều nghèo tùy thuộc vào đặc điểm cụ thể của mỗi quốc gia, đối với Việt Nam, các chiều được lựa chọn dựa vào các nhu cầu cơ

Trang 29

bản trong cuộc sống được quy định trong Hiến pháp 2013, Nghị quyết NQ/TW và Nghị quyết 76/2014/QH13

15-b) Xác định các chỉ số đo lường, các chỉ số được xác định theo những

Đo lường quy mô nghèo đa chiều và mức độ nghèo đa chiều nhằm

phục vụ cho việc theo dõi tiến trình giảm nghèo và đánh giá tác động của các chương trình, chính sách giảm nghèo và phát triển xã hội qua thời gian, giữa các vùng, các nhóm dân cư, đặc biệt là theo các chiều nghèo, đồng thời phục vụ cho hoạch định chương trình, chính sách giảm nghèo một cách phù hợp nhất

Đo lường và giám sát nghèo đa chiều có thể được tiến hành bời Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hoặc được tiến hành độc lập bởi cơ quan thống kê hoặc có sự phối hợp của hai cơ quan này và sử dụng các chuẩn nghèo đa chiều khách quan, được xây dựng trên cơ sở khoa học, nhằm giám sát và đánh giá sự thay đổi tình trạng nghèo qua thời gian, không gian và đối tượng, nhằm cung cấp thông tin cho hoạch định chính sách vĩ mô; Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hoặc cơ quan Thống kế sẽ chịu trách nhiệm công bố tỷ lệ nghèo hàng năm, giai đoạn của cả nước cũng như từng địa phương;

Trang 30

Xác định đối tượng hộ nghèo thụ hưởng chính sách: đặc biệt là những

hộ nghèo nhất và các thiếu hụt của họ để đặt mục tiêu, thiết lập ưu tiên, xây dựng và thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội hiệu quả, phù hợp với các đối tượng và nhu cầu khác nhau Việc xác định hộ nghèo và các đối tượng an sinh xã hội khác được tiến hành bởi ngành Lao động - Thương binh và Xã hội phục vụ cho công tác quản lý, xác định đối tượng thụ hưởng và hoạch định chính sách cả cấp trung ương

và địa phương;

Thiết kế chính sách: thu thập thông tin về tình trạng nghèo và đối tượng

nghèo kết hợp với các tiêu chí bổ sung khác sẽ giúp từng chương trình, chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội xác định được các hỗ trợ phù hợp nhất cho các đối tượng của mình

Mỗi chính sách phụ thuộc vào nội dung và nguồn lực cụ thể sẽ xác định đối tượng thụ hưởng tương ứng; các đối tượng thụ hưởng cũng không nhận được sự hỗ trợ như nhau mà tùy thuộc nhu cầu sẽ được phân loại hỗ trợ cho phù hợp [3]

 Chiều và tiêu chí đo lường

Cách tiếp cận nghèo đa chiều đề xuất áp dụng ở nước ta thời gian tới là cách tiếp cận dựa theo quyền con người, quyền được bảo đảm an sinh xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người Các nhu cầu cơ bản này được coi là quan trọng ngang bằng nhau và con người có quyền được đáp ứng tất cả các nhu cầu này để có thể đảm bảo cuộc sống bình thường

Trang 31

 Xác định ngưỡng thiếu hụt và điểm của từng tiêu chí

Về ngưỡng thiếu hụt của từng chỉ số được xác định nhằm phản ánh nhu cầu

cơ bản tối thiểu của Việt Nam được thể hiện trong các mục tiêu của các văn bản pháp luật hiện hành như: Luật lao động, Luật việc làm, Luật bảo hiểm xã hội, Luật giáo dục đào tạo, Luật nhà ở, Luật bảo hiểm y tế, Luật khám chữa bệnh, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam 2011-2020, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Việt Nam 2011-2015, các chiến lược/kế hoạch phát triển ngành

Về điểm số cho các chiều nghèo và chỉ số: Các chiều, thể hiện quyền

được đáp ứng các nhóm nhu cầu cơ bản, sẽ được cho điểm bằng nhau, chứng

tỏ các nhóm quyền có vai trò quan trọng ngang bằng nhau Ví dụ: có tất cả 5 chiều, mỗi chiều được 20 điểm, như vậy tổng số điểm thiếu hụt sẽ là 100 điểm Trong mỗi chiều, các chỉ số cũng được cho điểm bằng nhau Ví dụ: trong chiều Giáo dục có 2 chỉ số, thì mỗi chỉ số sẽ được 10 điểm Ở mỗi chỉ số trong chiều Giáo dục này, nếu hộ gia đình không thiếu hụt thì sẽ có điểm bằng 0, nếu thiếu hụt sẽ có điểm bằng 10

Bảng 1.2: Tiêu chí đo lường nghèo đa chiều tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý hình thành chiều nghèo

và tiêu chí đo lường

Hiến pháp năm 2013 Luật Giáo dục 2005 Luật bảo vệ, chăm sóc

Trang 32

Cơ sở pháp lý hình thành chiều nghèo

và tiêu chí đo lường

Hiến pháp năm 2013 Luật Khám chữa bệnh 10

2.2 Bảo

hiểm y tế

Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi trở lên hiện tại không có bảo hiểm y tế

Hiến pháp năm 2013 Luật bảo hiểm y tế

2014 NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn

(Nhà ở chia thành 4 cấp độ:

nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ)

Luật Nhà ở; NQ 15/NQ-TW Một số vấn

đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

Luật Nhà ở; Quyết định 2127/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

10

Trang 33

Cơ sở pháp lý hình thành chiều nghèo

và tiêu chí đo lường

Điểm

số tối

đa Chiều

nghèo

Chỉ số

đo lường

Mức độ thiếu hụt

Cơ sở pháp lý hình thành chiều nghèo

và tiêu chí đo lường

Luật Viễn thông

Luật Thông tin truyền thông

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

10

(Nguồn: Bộ Lao động Thương binh Xã hội, năm 2015, Đề án tổng thể chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều dựa vào thu nhập sang đa chiều áp dụng trong giai đoạn 2016-2020)

Tổng điểm của tất cả các chỉ số thiếu hụt sẽ cộng thành điểm thiếu hụt chung của cả hộ Nếu điểm thiếu hụt chung này nhiều hơn chuẩn nghèo thì hộ

sẽ bị coi là nghèo đa chiều [3]

 Xác định ngưỡng thiếu hụt đa chiều

Ngưỡng thiếu hụt đa chiều là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt các nhu cầu cơ bản; Theo quan niệm của các tổ chức quốc tế, ngưỡng thiếu hụt đối với một hộ gia đình thiếu

từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên

Trang 34

Ngưỡng thiếu hụt đa chiều sẽ không thay đổi trong thời gian nhất định (5 năm), không phụ thuộc khả năng ngân sách, không thay đổi khi thay đổi mục tiêu hay khi tình hình thay đổi do tác động chính sách

Cụ thể, hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống; hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu và thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ cận nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu, và thiếu hụt dưới 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Hộ chưa tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn mức sống tối thiểu và thiếu hụt từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ có mức sống dưới trung bình là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ dưới chuẩn mức sống trung bình và cao hơn chuẩn mức sống tối thiểu

1.1.3 Nội dung nghiên cứu về nghèo đa chiều

1.1.3.1 Nghèo theo chiều Giáo dục

Giáo dục là yếu tố then chốt để khẳng định ngưỡng thiếu hụt về nghèo

đa chiều Nghiên cứu nghèo theo chiều giáo dục chỉ rõ trình độ giáo dục của người lớn và tình trạng đi học của trẻ em trong hộ Nếu hộ gia đình có ít nhất một thành viên trong độ tuổi lao động chưa tốt nghiệp THCS và hiện không

đi học hoặc hộ gia đình có ít nhất một trẻ em trong độ tuổi đi học (5-dưới 16 tuổi) hiện không đi học được xếp vào ngưỡng thiếu hụt về giáo dục Trình độ học vấn thấp không bảo đảm được giáo dục tối thiểu khiến khả năng thoát nghèo thấp

1.1.3.2 Nghèo theo chiều Y tế

Y tế với chăm sóc sức khỏe cho người dân là yếu tố quan trọng đảm bảo năng suất lao động, thu nhập và việc làm Nghiên cứu nghèo đa chiều chỉ rõ

Trang 35

khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế và sự tham gia bảo hiểm y tế của các hộ ở mức nào Nếu hộ gia đình có người bị ốm đau nhưng không đi khám chữa bệnh(ốm đau được xác định là bị bệnh/chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường)hoặc hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ

6 tuổi trở lên hiện tại không có bảo hiểm y tế thì được xác định thì được xếp vào ngưỡng thiếu hụt về y tế

1.1.3.3 Nghèo theo chiều Nhà ở

Người nghèo không có thu nhập đủ để đảm bảo nơi ở an toàn Nghiên cứu nghèo đa chiều chỉ rõ chất lượng nhà ở và diện tích nhà ở bình quân đầu người để đảm bảo nhà ở tối thiểu Nếu hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên

cố hoặc nhà đơn sơ (nhà ở chia thành 4 cấp độ: nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ) hoặc diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ gia đình nhỏ hơn 8m2 thì được xếp vào ngưỡng thiếu hụt về nhà ở

1.1.3.4 Nghèo theo chiều Điều kiện sống

Điều kiện sống tối thiểu được khẳng định qua tiêu chí nguồn nước sinh hoạt và hộ gia đình có hố xí/nhà tiêu hay không Đây là yếu tố hỗ trợ cho cuộc sống sinh hoạt bình thường của các hộ gia đình Nhưng nếu hộ gia đình không được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh hoặc Hộ gia đình không sử dụng hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh thì được xếp vào ngưỡng thiếu hụt về điều kiện sống, ảnh

hưởng đến sức khỏe, bệnh tật nhiều và chất lượng cuộc sống thấp

1.1.3.5 Nghèo theo chiều Tiếp cận thông tin

Thời đại ngày nay là thời đại thông tin số, khả năng tiếp cận thông tin ảnh hưởng đến nhận thức, thế giới quan của mỗi người Nghèo theo chiều tiếp cận thông tin được phản ánh qua 2 tiêu chí là: khả năng sử dụng dịch vụ viễn thông và tài sản tiếp cận thông tin Nếu hộ gia đình không có thành viên nào sử dụng thuê bao điện thoại và internet hoặc hộ gia đình không có tài sản nào trong

số các tài sản: Ti vi, radio, máy tính và không nghe được hệ thống loa đài truyền thanh xã/ thôn thì được xếp vào ngưỡng thiếu hụt thông tin

Trang 36

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo đa chiều

1.1.4.1 Các yếu tố khách quan

a Trình độ phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Nền kinh tế thị trường phát triển mạnh tạo sự thay đổi mạnh mẽ cho bộ mặt xã hội của vùng, miền, tỉnh, thành phố Tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô cũng mang đến một gánh nặng đáng kể cho đời sống xã hội, tăng nguy cơ nghèo

đa chiều Khi nền kinh tế có lạm phát hoặc chu kỳ kinh tế suy thoái sẽ ảnh hưởng đến giá cả lương thực tăng cao, làm chậm tiến độ chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi trồng trọt, quy trình sản xuất và tiến độ giảm nghèo

Một đất nước/ một địa phương có tổng dân số lớn, dân số ở trong đội tuổi lao động chiếm phần lớn vừa là thế mạnh về lực lượng lao động nhưng cũng là một gánh nặng về vấn đề việc làm, dễ dẫn đến tình trạng nghèo chất lượng cuộc sống

Chất lượng nguồn lao động là một trong những nguyên nhân trực tiếp của hiệu quả hoạt động của nền kinh tế tốt hay xấu, tỷ suất lợi nhuận/vốn đầu

tư cao hay thấp vv quyết định đến khía cạnh nghèo thu nhập, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người dân

b Sự kém hiệu quả trong thực thi các chính sách pháp luật liên quan đến người nghèo

Các chính sách trực tiếp liên quan đến các hộ nghèo, vùng nghèo (Dạy nghề, khuyến nông, khuyến công và hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật, kiến thức về tổ chức sản xuất, tổ chức cuộc sống, chính sách hỗ trợ ổn định sản xuất, việc làm cho hộ nghèo ): Việc thực hiện các chính sách này có ảnh hưởng tích cực trực tiếp đối với người nghèo nhằm cung cấp công cụ, trang bị được cho người nghèo khả năng tự thoát nghèo, khả năng tự vệ trước những khó khăn bất ngờ Tuy nhiên nếu việc triển khai tổ chức thực hiện chính sách rời rạc, không đầy đủ và đồng bộ, thiếu tính minh bạch và không điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng nhóm người nghèo thì hiệu quả thực hiện không cao, không giải quyết được những vấn đề căn bản của nghèo đói

Trang 37

Chính sách tuyên truyền và hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội (hoạt động truyền thông giảm nghèo, chính sách hỗ trợ người nghèo tiếp cận với các dịch vụ về y tế, dịch vụ về giáo dục, chính sách hỗ trợ người nghèo

về nhà ở, chính sách an sinh xã hội, trợ giúp người có công và các đối tượng người yếu thế, trợ giúp pháp lý cho người nghèo):nhằm giải thiểu nghèo trên

cả ba phương diện chất lượng cuộc sống, y tế và giáo dục Trang bị và củng cố kiến thức xã hội cho người nghèo, tăng cường sức khỏe, nâng cao trình độ học thức, tạo điều kiện cho người nghèo hiểu biết được quyền, nghĩa vụ của mình, chủ động tiếp cận các chính sách trợ giúp của Nhà nước, vươn lên thoát nghèo

c Đất sản xuất

Đất canh tác ít, đất cằn cỗi, ít mầu mỡ, canh tác khó, năng suất cây trồng vật nuôi đều thấp Đây là nguyên nhân dẫn đến sản xuất trong nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, làm cho thu nhập của người nông dân thấp, việc tích luỹ và tái sản xuất mở rộng bị hạn chế hoặc hầu như không có Theo các kết quả điều tra, đánh giá đói nghèo có sự tham gia của người dân thì thiếu đất canh tác hay đất đai khó làm ăn cũng là nguyên nhân đáng kể dẫn đến cảnh túng thiếu, đói ăn, đứt bữa của người dân đặc biệt là đối với các hộ nghèo đói ở vùng núi Hiện nay vấn đề thiếu đất sản xuất lương thực ở nước ta (đặc biệt là đất lúa) ngày càng mang tính trầm trọng Nguyên nhân này là do dân số ngày càng đông nhưng đất nông nghiệp thì ngày càng bị thu hẹp làm cho rất nhiều hộ nông dân không đủ tiềm lực để phát triển Hiện nay nhiều nơi ở vùng biển không có hoặc có không đáng kể đất trồng lúa, đây là nhân tố tác động trực tiếp đến các hộ nghèo, có thể được coi là một trong những nhân tố cơ bản làm cho những hộ này triền miên bị nghèo đói Nhưng việc xoá đói không phải bằng cách cấp đất sản xuất lương thực mà phải kết hợp nhiều biện pháp khác Đây cũng là một vấn đề đặt ra đối với các cấp lãnh đạo trong việc lựa chọn các giải pháp thích hợp giúp họ xoá đói, tức là phải làm gì để giúp họ có thu nhập thì họ mới có khả năng tiếp cận được lương thực, thực phẩm.[3]

d Kết cấu hạ tầng nông thôn

Trang 38

Sự phát triển cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm) là một trong những điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa, đưa các dịch vụ xã hội cơ bản về các vùng miền xa xôi, hẻo lánh, giảm thiểu tình trạng nghèo đa chiều cho người dân nông thôn Cơ sở hạ tầng phát triển cũng tạo tiền đề cho sự phát triển kinh cho địa phương, từ đó mà người dân có cơ hội giao lưu buôn bán, phát triển kinh tế hộ, cải thiện đời sống vật chất, tình trạng nghèo đa chiều phương diện chất lượng cuộc sống cũng được hạn chế, giảm thiểu

e Đa dạng hóa ngành nghề và công tác hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn tại địa phương

Yếu tố nghề nghiệp có những ảnh hưởng nhất định tới sự nghèo đói của người dân Nghề nghiệp là nguồn tạo thu thập cho gia đình, vì vậy, tính chất của nghề nghiệp quyết định đến mức thu nhập và tính ổn định của thu nhập thấp Thông thường, người dễ rơi vào tình trạng nghèo đói là những người chỉ làm những công việc có thu nhập thấp, tính rủi ro cao dẫn đến sự bất ổn định về thu nhập Thêm vào đó, họ chỉ có một nguồn thu duy nhất từ nghề đó Thống kê cho thấy nghèo đói ở nước ta chủ yếu rơi vào các hộ nông dân mà trong đó các hộ thuần nông chiếm tỷ lệ cao Nông nghiệp là nghề phụ thuộc nhiều vào thời tiết, nếu có rủi ro xảy ra (như hạn hán, lũ lụt) thì nguy cơ mất trắng toàn bộ hoa mầu

là rất cao Nếu gia đình chỉ trông chờ vào thu nhập do hoa mầu thì khi xảy ra những sự cố như vậy, nguy cơ rơi vào cảnh nghèo đói của họ sẽ rất cao

Do tính bấp bênh của thu nhập phụ thuộc vào một nghề duy nhất nên nghèo đói cũng có thể được xem xét dưới góc độ đa dạng hoá ngành nghề Việc

đa dạng hoá ngành nghề có quan hệ với mức độ giảm nghèo đa chiều Mức độ

đa dạng hoá ngành nghề của hộ nông dân càng cao thì thu nhập càng ổn định, khả năng đáp ứng các nhu cầu về giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện sống và tiếp cận thông tin càng cao, hay hiểu cách khác, ngành nghề của hộ nông dân càng

đa dạng thì khả năng giảm nghèo đa chiều càng lớn [5]

1.1.4.2 Các yếu tố chủ quan

Trang 39

a Hạn chế trong nhận thức, tư duy của người dân

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo ở những vùng kinh tế nghèo, vùng sâu, vùng xa là do tính chủ thể của người lao động còn thấp, chưa tự chủ trong nắm bắt kiến thức sản xuất tân tiến, công nghệ mới, người nghèo chưa quyết tâm tự thoát nghèo mà còn trông chờ, ỷ lại vào chính sách Nhà nước

Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định: Những người

có trình độ học vấn thấp, ít cơ hội kiếm được việc làm tốt, mức thu nhập hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu, do vậy không có điều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai dẫn đến rơi vào cảnh nghèo và khó

có cơ hội thoát nghèo Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp còn ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến sinh đẻ, giáo dục, nuôi dưỡng con cái nên

dễ tạo một chuỗi nghèo dai dẳng từ đời này sang đời khác Trình độ học vấn thấp khiến người nghèo khó tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp

Quan niệm lạc hậu, suy nghĩ an phận khiến cho một bộ phận dân cư có

tư tưởng e ngại, không dám tiếp cận với các chính sách, các hoạt động cộng đồng, dẫn đến nghèo khía cạnh tham gia cộng đồng, không có tiếng nói và không bảo vệ được quyền lợi của chính mình

Nếp sống không khoa học, điều kiện sống không hợp vệ sinh dẫn đến nguy cơ mắc bệnh và dịch cao Khi nhiễm bệnh, đối với đối tượng người nghèo thường không có điều kiện trị bệnh hoặc trị bệnh không dứt điểm nên vướng vào cái vòng luẩn quẩn của bệnh tật và túng tiền, càng rơi sâu tình trạng nghèo

y tế và kinh tế

b Sức khỏe và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế

Người dân có thu nhập thấp sẽ làm giảm khả năng cải thiện về sức khoẻ, thể hiện ở việc dễ ốm đau và ít có cơ hội điều trị bệnh Sức khoẻ không tốt cũng gây những ảnh hưởng tiêu cực tới việc làm và thu nhập Ở Việt Nam, mức độ

Trang 40

nghèo do sức khoẻ không đảm bảo thể hiện rất rõ nét, nó thể hiện sự bần cùng hơn của những người nghèo khi không tiếp cận với các dịch vụ y tế Điều này rất phổ biến ở khu vực nông thôn, ở những vùng sâu, vùng xa và nhất là ở nhóm các dân tộc thiểu số.[8]

c Quy mô và cơ cấu nhân khẩu của hộ

Qua nghiên cứu cho thấy quy mô hộ gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng nghèo đa chiều Người nghèo đa chiều phổ biến ở những hộ gia đình

có quy mô lớn, mỗi hộ có rất nhiều con, tuổi còn nhỏ Mặc dù vậy, họ vẫn chưa

ý thức được rõ về sự tác hại của tình trạng đông con Tình trạng sinh nhiều con, sinh quá dầy ở các cặp vợ chồng trẻ, vợ chồng đang trong độ tuổi sinh đẻ là khá phổ biến Bình quân các hộ này từ 3-5 con, thậm chí 7 con Điều này làm cho cuộc sống gia đình họ gặp rất nhiều khó khăn Cũng vì khó khăn mà hộ gia đình

từ làm ăn khá hoặc trung bình đã trở thành nghèo đói Do số người trong gia đình là tương đối nhiều nên chi tiêu cho những vấn đề thiết yếu hàng ngày là khá cao (chẳng hạn chi tiêu cho lương thực, quần áo, thuốc men ) trong khi

đó, tổng thu nhập của một hộ nghèo thường không tăng nhiều hoặc có tăng nhưng cũng không thể đủ để trang trải các khoản chi tiêu hàng ngày, hoặc làm ngày nào ăn hết ngày đó, không thể có được các khoản tích luỹ và do vậy việc thoát khỏi nghèo đói trở nên bế tắc.[8]

1.2 Cơ sở thực tiễn và bài học kinh nghiệm về giảm nghèo đa chiều cho huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

1.2.1 Nghèo đa chiều ở Việt Nam

1.2.1.1 Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về vấn đề nghèo đa chiều

Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị TƯ lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 đã đề ra nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cho

những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc ít người, bảo

Ngày đăng: 04/05/2018, 15:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm