LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Đánh giá nghèo theo phương pháp đo lường nghèo đa chiều trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PGS.TS.NGUYỄN THỊ KIM ANH
Khoa sau đại học:
KHÁNH HÒA - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Đánh giá nghèo theo phương pháp đo
lường nghèo đa chiều trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới
thời điểm này
Nha Trang, ngày tháng năm 2017
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Phạm Thành Thái đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc hướng dẫn về nội dung cũng như góp ý về hình thức để tôi hoàn thiện đề tài của mình
Bên cạnh đó, tôi cũng xin cám ơn tất cả các thầy cô của trường Đại học Nha Trang đã cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học, là nền tảng để tôi thực hiện đề tài
Tôi cũng xin cám ơn quý phòng ban trường Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài này
Ngoài ra, tôi xin chân thành cám ơn các anh chị ở Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã cung cấp cho tôi những tài liệu cũng như những lời khuyên và kinh nghiệm để tôi hoàn thành
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan iii
Lời cám ơn iv
Mục lục v
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình ix
Danh mục đồ thị x
Trích yếu luận văn xi
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu 3
1.6 Cấu trúc của luận văn 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGHÈO ĐA CHIỀU 5
2.1 Các khái niệm liên quan đến nghèo, nghèo đa chiều 5
2.1.1 Khái niệm về nghèo, nghèo đa chiều trên thế giới 5
2.1.2 Các chỉ tiêu và chuẩn nghèo đa chiều 6
2.1.3 Một số lý thuyết liên quan đến cách tiếp cận nghèo đa chiều của Việt Nam 8
2.2 Phương pháp đo lường nghèo 11
2.2.1 Đo lường nghèo theo phương pháp đếm đầu người 11
2.2.2 Đo lường nghèo theo phương pháp đa chiều 12
2.3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan 15
2.4 Khung phân tích của nghiên cứu 17
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Quy trình nghiên cứu 20
3.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 21
Trang 63.3 Dữ liệu nghiên cứu 22
3.4 Các công cụ phân tích dữ liệu 25
CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG NGHÈO THEO PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
ĐA CHIỀU CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở TỈNH KHÁNH HÒA 26
4.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Khánh Hòa 26
4.2 Khái quát về tình hình nghèo ở tỉnh Khánh Hòa 29
4.3 Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu 31
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Kiến nghị 48
5.3 Gợi ý một số chính sách 49
5.3.1 Nhóm giải pháp về tiếp cận thông tin 49
5.3.2 Nhóm giải pháp về tình trạng việc làm 51
5.3.3 Nhóm giải pháp về điều kiện sống 53
5.3.4 Nhóm giải pháp về giáo dục 54
5.3.5 Nhóm giải pháp về y tế 55
5.3.6 Nhóm giải pháp về giàu có kinh tế 56
5.3.7 Giải pháp về tổ chức, quản lý 56
5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 59
Tài liệu tham khảo 61
Phụ lục
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT Bảo hiểm y tế
HPI Chỉ số nghèo của con người (Human Poverty Index)
MPI Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index)
VHLSS Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (Vietnam Household Living
Standard Survey) XĐGN Xóa đói giảm nghèo
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Chỉ số nghèo đa chiều của Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 10
Bảng 2.2: Ví dụ về đặt đường nghèo đói 14
Bảng 3.1: Chỉ số nghèo đa chiều và biến trích từ bộ dữ liệu 23
Bảng 4.1: Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh Khánh Hòa đến ngày 01/01/2015 30
Hình 4.2: Thu nhập bình quân của người dân được khảo sát 32
Hình 4.3: Tình trạng thất nghiệp của người dân 33
Hình 4.4: Thống kê tình hình sử dụng nguồn nước sinh hoạt của người dân 33
Hình 4.5: Số năm đi học bình quân của người dân 34
Hình 4.6: Thống kê tình hình bệnh tật của người dân 34
Bảng 4.7: Tình trạng thiếu hụt các chỉ số của từng hộ gia đình 36
Bảng 4.8: Tổng hợp các tỷ lệ nghèo theo hai phương pháp 39
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Các thành phần của nghèo đa chiều theo Alkire và Foster 8
Hình 2.2: Các thành phần nghèo đa chiều của nghiên cứu 19
Hình 4.1: Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa 27
Hình 4.2 : Phân loại hộ gia đình theo nghèo đa chiều và nghèo thu nhập 40
Trang 10DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1: Cơ cấu kinh tế của tỉnh Khánh Hòa năm 2015 28
Đồ thị 4.2: Tỷ lệ dân số bị thiếu hụt ở từng chỉ số 41
Đồ thị 4.3: Mức độ thiếu hụt các chiều của các hộ nghèo MPI 42
Đồ thị 4.4: Mức độ thiếu hụt các chỉ số của các hộ nghèo MPI 43
Đồ thị 4.5: Mức thiếu hụt các chiều của các hộ nghèo MPI theo khu vực 44
Đồ thị 4.6: Mức thiếu hụt các chỉ số của các hộ nghèo MPI theo khu vực 45
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đói nghèo là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng cũng như mỗi quốc gia Đói nghèo và giải quyết vấn đề nghèo đói mang tính phổ biến, có tầm quan trọng và không chỉ là công việc của riêng quốc gia nào Về bản chất, đói nghèo không chỉ xét trên thu nhập hay chi tiêu mà còn là các quyền và nhu cầu
cơ bản của con người Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy rằng tỉ lệ nghèo sẽ cao hơn khi dùng phương pháp đo lường
đa chiều so với đơn chiều Do đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo
Tỉnh Khánh Hòa với đặc trưng là một địa phương có mật độ dân cư phân bố rải rác ở các vùng địa hình đa dạng như: hải đảo, các vùng đồi núi…thêm nữa trong những năm gần đây đã có những bước tiến nhanh chóng trong phát triển kinh tế, công nghiệp
và dịch vụ là một ví dụ tiêu biểu cho những thách thức trong công tác giảm nghèo Chính
vì thế, việc chọn đề tài “Đánh giá nghèo theo phương pháp đo lường nghèo đa chiều trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa” nhằm đánh giá tình trạng nghèo của các hộ dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa một cách tổng quan hơn Trên cơ sở đó đề xuất một số hàm ý chính sách góp phần giảm nghèo hiệu quả cho các hộ dân trên địa bàn tỉnh
Dựa trên bộ dữ liệu phân tích bao gồm 138 hộ gia đình trích từ dữ liệu điều tra VHLSS 2014 và áp dụng các phương pháp thống kê và phân tích để giải quyết các vấn
đề nêu trên Kết quả nghiên cho thấy thấy 5 chỉ số ảnh hưởng nhiều nhất đến người nghèo đa chiều ở tỉnh Khánh Hòa là: không có nước máy, số năm đi học, thất nghiêp, không có tài sản quý và thu nhập bình quân Ngược lại, 2 chỉ số có ảnh hưởng rất thấp đối với hộ nghèo ở các địa phương trên là bị bệnh nặng, không đủ chi trả viện phí Các
hộ nghèo trên địa bàn tỉnh không bị ảnh hưởng bởi chỉ số không có điện
Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều ở khu vực nông thôn cao hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo
đa chiều ở khu vực thành thị
Kết quả phân tích MPI còn cho thấy người nghèo đa chiều chịu sự thiếu hụt của các chiều và nhiều chỉ số tại cùng một thời điểm quan sát và mức độ thiếu hụt của các
Trang 12Kết quả phân tích cũng chỉ ra rằng có sự khác biệt đáng kể giữa nghèo đa chiều và nghèo về thu nhập (cũng như nghèo chi tiêu) Điều này khẳng định thu nhập hoặc chi tiêu chỉ phản ánh một chiều trong các nhu cầu của các hộ gia đình nghèo
Những phát hiện này cho thấy những khoảng trống của các chính sách xóa đói giảm nghèo khi các chính sách hỗ trợ cho các điều kiện y tế, giáo dục và đời sống đã không bao gồm tất cả các đối tượng thiếu thốn trong các chiều Sự kết hợp của các đối tượng thụ hưởng xác định có thể dựa vào cả thu nhập và số nghèo đói đa chiều Các hộ nghèo trong cả thu nhập và nghèo đa chiều là nhóm nghèo nhất, họ cần phải được hỗ trợ bởi nhiều chính sách giảm nghèo bao gồm hỗ trợ việc làm và tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản Các nhóm hộ gia đình được phân loại là nghèo về thu nhập nhưng không nghèo trong nghèo đói đa chiều có thể được hỗ trợ bởi chính sách để cải thiện thu nhập như đào tạo nghề và giúp đỡ tìm việc làm Ngược lại, các hộ gia đình nghèo đa chiều nhưng không nghèo về thu nhập có thể nhận được sự giúp đỡ của chính sách hỗ trợ để cải thiện tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản
Trên cơ sở kết quả thu được, tác giả có một số kiến nghị sau:
Trước hết, về điều kiện sống, cụ thể là không có nước máy, không có tài sản quý, nhà vệ sinh ảnh hưởng rất lớn đối với hộ gia đình nghèo đa chiều, nhất là ở khu vực nông thôn Do đó, các nhà lãnh đạo nên đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác “phủ sóng” nước sạch cho người dân, tạo điều kiện cho người dân có nhà vệ sinh hợp chuẩn Thứ hai, kết quả MPI cho thấy mức thiếu hụt về giáo dục ở khu vực nông thôn khá cao, cần có những giải pháp đối với việc phổ cập giáo dục một cách hiệu quả, nâng cao dân trí cho người dân
Thứ ba, lãnh đạo tỉnh cần có những điều chỉnh trong chính sách đào tạo nghề và
hỗ trợ việc làm cho người dân
Thứ tư, tỉnh Khánh Hòa cần có những chủ trương nâng cao phúc lợi và an sinh xã hội và tiếp cận thông tin cho người dân
Từ khóa: Nghèo đa chiều tỉnh Khánh Hòa
Trang 13CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU 1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu
Thế giới đã có những bước tiến quan trọng trong khoa học kỹ thuật, kinh tế cũng như các lĩnh vực khác Tuy nhiên, đói nghèo lại vẫn còn tồn tại trên một phạm vi vô cùng rộng lớn Đói nghèo thường tạo ra một vòng luẩn quẩn: thu nhập thấp, không được tiếp cận các dịch vụ xã hội như giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thông tin, v.v…từ đó không tìm kiếm được việc làm dẫn đến ít có cơ hội thoát nghèo Đói nghèo là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng cũng như mỗi quốc gia Như thế đủ thấy đói nghèo và giải quyết vấn đề nghèo đói mang tính phổ biến, có tầm quan trọng và không chỉ là công việc của riêng quốc gia nào Ở nước ta cũng đã có những bước tiến đáng kể trong công cuộc giảm nghèo Với tỉ lệ nghèo vào năm 1993 là 58% xuống chỉ còn 20,7% vào năm 2010 (theo VHLSS 1992/93 và VHLSS 2010); với cách xác đinh chuẩn nghèo theo thu nhập hoặc chi tiêu hay còn gọi là đơn chiều Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc áp dụng duy nhất tiêu chí thu nhập để xác định đối tượng hộ nghèo, cận nghèo đã dẫn đến sự phân loại đối tượng chưa thực sự chính xác Về bản chất, đói nghèo không chỉ xét trên thu nhập hay chi tiêu mà còn là các quyền
và nhu cầu cơ bản của con người Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch
vụ cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy rằng tỉ lệ nghèo sẽ cao hơn khi dùng phương pháp đo lường đa chiều so với đơn chiều Do đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo
Ngoài ra, công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam lại đang đối mặt với những thách thức mới Phần lớn những người nghèo còn lại sống ở vùng nông thôn xa xôi hay hải đảo hạn chế về tài sản, trình độ học vấn và điều kiện sức khỏe kém Hơn nữa, những người nghèo ngày càng khó tiếp cận với các điều kiện giảm nghèo chung do không theo kịp tốc độ gia tăng của các điều kiện giảm nghèo, đặc biệt là vùng biên giới, hải đảo, dân tộc thiểu số…
Trang 14Bên cạnh những thách thức giảm nghèo mang tính lâu dài thì công cuộc giảm nghèo ở nước ta còn phải tính đến một số thách thức mới như: Bất ổn vĩ mô ngày càng tăng khiến cho tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại; nghèo tại khu vực thành thị gia tăng do tốc độ đô thị hóa nhanh khiến người dân gặp khó khăn trong giai đoạn chuyển đổi và nguy cơ tái nghèo mới ở khu vực nông thôn, ven biển…
Tỉnh Khánh Hòa với đặc trưng là một địa phương có mật độ dân cư phân bố rải rác ở các vùng địa hình đa dạng như: hải đảo, các vùng đồi núi…thêm nữa trong những năm gần đây đã có những bước tiến nhanh chóng trong phát triển kinh tế, công nghiệp
và dịch vụ là một ví dụ tiêu biểu cho những thách thức giảm nghèo mà chúng ta đang
đề cập đến Trong những năm qua tỉnh Khánh Hòa dã có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ các hộ đói nghèo thoát đói giảm nghèo Nhằm rút ngăn khoảng cách giàu nghèo, taọ cơ hội cho mọi người dân đều có quyền bình đẳng tối thiểu ngang nhau Theo đó, bên cạnh việc hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo phát triển sản xuất tăng thu nhập, Nhà nước còn
hỗ trợ các dịch vụ xã hội cơ bản như: Giáo dục, Y tế Các chính sách về xóa đói giảm nghèo được chính quyền địa phương tổ chức triển khai hết sức chặt chẽ, được đông đảo người dân hưởng ứng và đồng tình thưc hiện Vì vậy, đời sống của người dân đã từng bước được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, như đã nói ở trên Khánh Hòa là một tỉnh tốc độ
đô thị hóa và phát triển kinh tế nhanh nhưng không đồng đều giữa các khu vực (nông thôn với thành thị, đồng bằng với miền núi), đời sống kinh tế nhiều nơi còn gặp khó khăn, trình độ dân trí thấp Do vậy, mặc dù các cơ chế chinh sách trong công tác xóa đói giảm nghèo đã được thực thi Xong trong thực tế các cơ chế chính sách về xóa đói giảm nghèo không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách nghiêm túc và có hiệu
quả Xuất phát từ những vấn đề thực tế nêu trên, việc chọn đề tài “Đánh giá nghèo theo
phương pháp đo lường nghèo đa chiều trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa” để nghiên cứu
là cần thiết và hữu ích nhằm cung cấp thêm các thông tin góp phần vào việc đánh giá và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần cho công tác xóa đói giảm nghèo có hiệu quả
1.2 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chung: Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này nhằm đánh giá tình trạng nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều của các hộ dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Trên cơ sở đó đề xuất một số hàm ý chính sách góp phần giảm nghèo hiệu quả cho các
hộ dân trên địa bàn tỉnh
Trang 15Mục tiêu cụ thể:
(1) Xác định tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa bằng cả hai phương pháp
đo lường thu nhập và đo lường MPI
(2) Xác định sự thiếu hụt (không được thỏa mãn) các nhu cầu cơ bản của các hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
(3) Đề xuất một số hàm ý chính sách làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách của Tỉnh trong công tác giảm nghèo
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa là bao nhiêu xét theo phương pháp đo lường thu nhập và phương pháp MPI?
(2) Những yếu tố thiếu hụt về nguồn lực nào ảnh hưởng nhiều nhất đến nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều (MPI) tại tỉnh Khánh Hòa?
(3) Những hàm ý chính sách nào nhằm hoàn thiện công tác giảm nghèo của Tỉnh?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trường hợp các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa thông qua phân tích bộ dữ liệu VHLSS 2014 của Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa
1.5 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá được toàn diện hơn tình trạng nghèo của các hộ dân và xác định được các yếu tố thiếu hụt về nguồn lực ảnh hưởng nhiều nhất đến nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều (MPI) trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Kết quả nghiên cứu có thể được dùng để định hướng, đưa ra một số kiến nghị và giải pháp làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách của Tỉnh trong công tác giảm
nghèo
1.6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần giới thiệu và kết luận, luận văn bao gồm các chương như dưới đây:
Trang 16Chương 1: Giới thiệu Đây là chương giới thiệu chung về lý do chọn đề tài và xác định mục tiêu của đề tài Từ đó đưa ra những câu hỏi mà nghiên cứu cần làm rõ cũng như đối tượng và phạm vi của nghiên cứu.
Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết Chương này trình bày gồm các nội dung chính về các khái niệm liên quan đến nghèo trên thế giới và Việt Nam; các phương pháp đo lường và đánh giá nghèo; chỉ tiêu và chuẩn nghèo; các lý thuyết liên quan đến nghèo đa chiều; các kết quả nghiên cứu liên quan đến nghèo đa chiều trong nước và trên thế giới
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.Chương này mô tả phương pháp và công cụ được sử dụng để đánh giá nghèo theo phương pháp đo lường đa chiều các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Nội dung của chương bao gồm: đưa ra quy trình, cách tiếp cận nghiên cứu, nêu lên phương pháp chọn mẫu và thu thập, phân loại dữ liệu Từ đó lựa chọn các công cụ phân tích dữ liệu cho phù hợp
Chương 4: Đánh giá tình trạng nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều của các
hộ gia đình ở tỉnh Khánh Hòa Chương này nêu lên một số đặc điểm về tình hình kinh
tế - xã hội và khái quát về tình hình nghèo của tỉnh Khánh Hòa Từ đó, đánh giá tình trạng nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều của các hộ gia đình ở tỉnh Khánh Hòa trên cơ sở phân tích theo các chiều nghèo về điều kiện sống, giáo dục, sức khỏe, giàu có kinh tế, tình trạng việc làm
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trên cơ sở kết quả ở chương 4, đưa ra một số kiến nghị và giải pháp làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách của tỉnh xây dựng chính sách về can thiệp giảm nghèo cho địa phương trong thời gian tới
Trang 17CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGHÈO ĐA CHIỀU
Chương 2 sẽ trình bày gồm các nội dung chính: Các khái niệm liên quan đến nghèo trên thế giới và Việt Nam; các phương pháp đo lường và đánh giá nghèo; chỉ tiêu
và chuẩn nghèo; các lý thuyết liên quan đến nghèo đa chiều; các kết quả nghiên cứu liên quan đến nghèo đa chiều trong nước và trên thế giới
2.1 Các khái niệm liên quan đến nghèo, nghèo đa chiều
2.1.1 Khái niệm về nghèo, nghèo đa chiều trên thế giới
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nghèo của các học giả, các nhà khoa học dưới những góc độ khác nhau Sen (1981) cho rằng để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn
Còn theo McNamara (1978) đã có cái nhìn về nghèo dưới hai góc độ nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối Ông cho rằng nghèo tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại, người nghèo tuyệt đối là người phải đang đấu tranh để sinh tồn trong các điều kiện thiếu thốn tồi tệ vượt quá sức tưởng tượng của con người chúng ta; về phần nghèo tương đối được xem như là việc không cung cấp những tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của
xã hội đó
Theo Liên hợp quốc (6/2008, trang 11): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa
là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”
Ngân hàng thế giới (2000, trang 52) đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau:
“Nghèo là đói, thiếu nhà, bệnh không được đến bác sĩ, không được đến trường, không biết đọc, biết chữ, không có việc làm, lo sợ cho cuộc sống tương lai, mất con do bệnh hoạn, ít được bảo vệ quyền lợi và tự do”
Trang 18Tuy nhiên cho đến nay, khái niệm nghèo đói được dùng nhiều nhất là khái niệm được đưa ra tại hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo do Ủy ban kinh tế và xã hội của Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9/1993 tại Băng Cốc – Thái Lan:
- Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một số bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển và phong tục tập quán của từng địa phương
- Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phân dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các tổ chức quốc
tế cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là
sự thiếu hụt/ không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu một
số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống
2.1.2 Các chỉ tiêu và chuẩn nghèo đa chiều
Chuẩn nghèo, hay còn gọi là đường nghèo, ngưỡng nghèo hoặc tiêu chí nghèo là công cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo
Chuẩn nghèo là công cụ để đo lường và giám sát nghèo đói Một thước đo nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác động các chính sách của chính phủ tới việc xóa đói giảm nghèo
Trong những năm trước đây nghèo đói thường được đo lường thông qua thu nhập hoặc chi tiêu Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền Người nghèo hay hộ nghèo là những đối tượng có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo Cách thức đo lường này đã duy trì trong thời gian dài và bắt đầu bộc lộ những hạn chế Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội, v.v ) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế, giáo dục công v.v ) Thứ hai, có những trường hợp hộ gia đình có tiền nhưng không chi tiêu vào việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu (do cả những lý do khách quan như không có sẵn dịch vụ hay lý do chủ quan như do tập tục văn hóa địa phương hay do chính nhận thức của người dân) Vì
Trang 19những hạn chế trên nếu chỉ sử dụng chuẩn nghèo thu nhập để đo lường và xác định đối tượng nghèo đói sẽ dẫn đến bỏ sót đối tượng, nhận diện nghèo và phân loại đối tượng chưa chính xác, từ đó chính sách hỗ trợ mang tính cào bằng và chưa phù hợp với nhu cầu
Alkire và Foster (2007) đã bắt đầu nghiên cứu về một cách thức đo lường mới về nghèo đói, đơn giản nhưng vẫn đáp ứng tính đa chiều của nghèo đói Cách thức đo lường này đã được Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) sử dụng để tính toán chỉ
số Nghèo đa chiều (MPI) lần đầu tiên được giới thiệu trong Báo cáo Phát triển con người năm 2010 và được đề xuất áp dụng thống nhất trên thế giới sau năm 2015 để theo dõi, đánh giá đói nghèo Chỉ số tổng hợp này được tính toán dựa trên 3 chiều nghèo Y tế, Giáo dục và Điều kiện sống với 10 chỉ số về phúc lợi Chỉ số nghèo khổ đa chiều phản ảnh tất cả phạm vi tác động của nghèo đói Chỉ số này được tính toán bằng việc nhân phạm vi ảnh hưởng của nghèo (Incidence of Poverty) và cường độ trung bình tác động lên người nghèo (Average Intensity Across the Poor) Một người được xác định là nghèo nếu họ thiếu ít nhất 30% các chỉ báo đã được gia trọng
Chỉ số nghèo đa chiều đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn túng quẫn ở cấp độ hộ gia đình: từ giáo dục đến tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ Theo UNDP, những chỉ số này cung cấp đầy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổ sâu sắc so với các thang đo về thu nhập Thang đo này biểu lộ cả tính tự nhiên
và quy mô của sự nghèo khổ ở các cấp độ khác nhau: từ cấp độ gia đình đến cấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và cấp độ quốc tế
Alkire (2007), người sáng lập ra chỉ số nghèo khổ đa chiều này cho rằng chỉ số MPI giống như một giải pháp hữu hiệu mới và là khởi đầu để có thể giúp khám phá những mảng thiếu hụt một cách chân thật, sinh động hơn mà những hộ gia đình nghèo nhất đang phải đối mặt
Phương pháp của Alkire và Foster được coi là có tính chất mềm dẻo và có thể áp dụng với nhiều chiều, nhiều chỉ báo và trọng số khác nhau để phù hợp với đặc điểm kinh
tế - xã hội cụ thể của địa phương
Trang 20Hình 2.1: Các thành phần của nghèo đa chiều theo Alkire và Santos
2.1.3 Một số lý thuyết liên quan đến cách tiếp cận nghèo đa chiều của Việt Nam
Trong nội dung Hiến pháp sửa đổi năm 2013, tại Điều 34 quy định “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”
Nghị quyết 15-NQ/TW, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá
XI, về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 đã đề ra các nhiệm vụ về đảm bảo an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cho những người
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đáp ứng các nhu cầu tối thiểu về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin
Tài sản (Assets)
Chất liệu nhà ở
(Floor)
Điều kiện sống (Living Standards)
Nguồn: Alkire và Santos (2010)
Sức khỏe (Heathl)
Nghèo đa chiều –Multidimensionnal Poverty Index (MPI)
Tài sản (Assets)
Chất liệu nhà ở
(Floor)
Điều kiện sống (Living Standards)
Trang 21Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo hiệu quả, bền vững hơn, vừa qua, Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội
cơ bản
Trên cơ sở đó, chính phủ cũng đã chỉ đạo, giao cho Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội phối hợp với các Bộ, ngành nghiên cứu xây dựng Đề án tổng thể về đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều, trình Chính phủ xem xét vào cuối năm 2014
Ngày 19/11/2015, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 với các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 như sau:
+ Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin;
b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
Trang 22Bảng 2.1: Chỉ số nghèo đa chiều của Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020
1986 trở lại không tốt nghiệp Trung học cơ sở và hiện không
đi học
Hiến pháp năm 2013, NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn
2012 – 2020 Nghị quyết số 41/2000/QH (bổ sung bởi Nghị định số 88/2001/NĐ-CP)
1.2 Tình trạng đi
học của trẻ em
Hộ gia đình có ít nhất 01 trẻ em trong độ tuổi đi học (5-dưới 15 tuổi) hiện không đi học
Hiến pháp năm 2013; Luật giáo dục 2005; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;
NQ 15/NQ-TW Một số vấn
đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
bị bệnh/chấn thương nặng đến mực phải nằm một chỗ và phải
có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường)
Hiến pháp năm 2013; Luật khám chữa bệnh
2.2 Bảo hiểm y tế Hộ gia đình có ít nhất 01 thành
viên từ 06 tuổi trở lên hiện tại không có bảo hiểm y tế
Hiến pháp năm 2013; Luật bảo hiểm y tế 2014; NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
Nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ)
Luật nhà ở; NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
Trang 23Luật nhà ở; Quyết định 2127/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
4.2 Hố xí/nhà tiêu Hộ gia đình không sử dụng hố
xí/nhà tiêu hợp vệ sinh
NQ 15/NQ-TW Một số vấn
đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
Luật viễn thông; NQ
Luật Thông tin truyền thông;
NQ 15/NQ-TW Một số vấn
đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
Nguồn: Bộ LĐTB & XH
2.2 Phương pháp đo lường nghèo
2.2.1 Đo lường nghèo theo phương pháp đếm đầu người
Phương pháp đếm đầu người (Headcount index) là thước đo được dùng rộng rãi
và đơn giản nhất để tính phần trăm dân số có thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo Phương pháp này có ưu điểm là được xây dựng với công thức đơn giản, dễ tính toán và dễ hiểu
𝑃0 = 1
𝑁 ∑ 𝐼 (𝑦𝑖 ≤ 𝑧 )𝑁
Trang 24N0 là tổng số người nghèo
N là tổng số hộ hoặc tổng số dân (khảo sát)
I (yi ≤ z) là chỉ số biểu thị có giá trị bằng 1 khi biểu thức trong ngoặc là đúng và bằng 0 nếu không đúng Vì vậy, nếu chi tiêu (yi) nhỏ hơn chuẩn nghèo (z), thì I (yi ≤ z) bằng 1
và hộ gia đình đó được tính là nghèo
Tuy nhiên, chỉ số đếm đầu người này lại có nhược điểm là không chỉ ra mức độ trầm trọng của nghèo, không phản ánh được mức độ nghèo, hay sự chênh lệch giữa
đường chi tiêu so với đường chuẩn nghèo
2.2.2 Đo lường nghèo theo phương pháp đa chiều
Nếu đo lường nghèo theo phương pháp chi tiêu/thu nhập chỉ đánh giá, phản ánh được một phần thiếu hụt tình trạng sống của hộ gia đình thì đo lường theo phương pháp phi tiền tệ lại tổng quát và rộng hơn để đánh giá tình trạng nghèo, chất lượng sống của
hộ gia đình Các phương pháp đo lường phi tiền tệ phổ biến nhất bao gồm: chỉ số nghèo con người (Human Poverty Index – HPI) do Anand và Sen đề xuất (1997), Chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI) do Liên Hiệp Quốc sử dụng và Chỉ
số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index – MPI) do Đại học Oxford và UNDP áp dụng dựa trên phương pháp luận của Alkire và Foster (2007)
Trong các phương pháp phi tiền tệ nêu trên, phương pháp đo lường nghèo theo MPI được Alkire và Santos (2010) cải tiến là phương pháp hiện nay được dùng chủ yếu
để thay thế cho Chỉ số nghèo của con người (HPI) và bổ sung cho phương pháp đo lường tiền tệ truyền thống Phương pháp này được tạo ra để tính những sự thiếu hụt của người nghèo và sự tương tác giữa những sự thiếu hụt này Theo Alkire và Santos (2010), trong
đo lường nghèo đa chiều MPI, trọng số của các chỉ số được tính theo 3 cách: (1) giữa các chiều (ví dụ: trọng số tương đối của sức khỏe và giáo dục); (2) bên trong các chiều (nếu có nhiều hơn một chỉ số được sử dụng); (3) giữa những người trong phân bổ (ví dụ
ưu tiên nhiều hơn cho những người bất lợi nhất)
Phương pháp MPI kết hợp hai phần quan trọng của thông tin để đánh giá nghèo gồm: tỷ lệ nghèo đói hoặc tỷ lệ người dân bị thiếu thốn, và cường độ thiếu thốn của họ
- tỷ lệ thiếu thốn trung bình (trọng số) mà họ phải chịu đựng
Trang 25Cả hai yếu tố tỷ lệ và cường độ của những thiếu thốn là các thông tin liên quan để đánh giá nghèo Tỷ lệ người nghèo là một thước đo quan trọng vì nó trực quan và dễ hiểu tuy nhiên nó là không đủ để phán ảnh nghèo Ví dụ hai quốc gia đều có 30% dân
số là người nghèo Đánh giá bằng thông tin duy nhất này, hai nước này đang nghèo như nhau Tuy nhiên nếu một trong hai quốc gia, người nghèo đang bị thiếu thốn một phần
ba chiều, trong khi ở nước kia, người nghèo bị thiếu thốn trung bình hai phần ba chiều Bằng cách kết hợp hai thông tin là cường độ của sự thiếu thốn và tỷ lệ người nghèo, chúng ta biết rằng hai nước này không phải là nghèo như nhau, nhưng đúng hơn là nước thứ hai nghèo đói hơn so với nước kia bởi vì cường độ đói nghèo cao hơn
Khác với chỉ số HPI vốn chỉ phản ánh thiếu hụt tổng thể trong y tế, giáo dục và mức sống mà không xác định từng cá nhân, hộ hay nhóm dân số cụ thể, chỉ số MPI đo lường tỷ lệ người nghèo chịu các thiếu hụt chồng chéo và từng người trong đó gặp phải trung bình bao nhiêu thiếu hụt
Chỉ số MPI được coi là phù hợp nhất đối với các nước kém phát triển, vì chỉ số này có thể đo lường được sự thiếu hụt phổ biến ở các nước này Đồng thời, chỉ số này cũng rất hiệu quả để đo lường sự thiếu hụt và mức độ nghèo đói phi tiền tệ ở các nước thu nhập trung bình như Việt Nam
Công thức chung của phương pháp MPI là:
MPI = H * A
Trong đó:
H là phần trăm của những người được xác định là nghèo đa chiều
A là số lượng thiếu hụt trung bình mà một người nghèo đa chiều đang chịu
Các bước tiến hành tính toán như sau:
Bước 1: Xác định các nguồn dữ liệu
Các yêu cầu cơ bản đầu tiên cho bất kỳ đo lường MPI nào (cấp độ toàn cầu, khu vực, quốc gia hay địa phương) là tất cả thông tin cho các cá nhân hoặc hộ gia đình phải đến từ các cuộc khảo sát tương tự Việc quyết định chọn nguồn dữ liệu nguồn tốt nhất cho phép đo lường nghèo đa chiều chuẩn xác hơn Lựa chọn bước này rõ ràng có liên quan đến Bước 2 và 3
Trang 26 Bước 2: Lựa chọn đơn vị phân tích
Thông thường, các cuộc điều tra dữ liệu ở quy mô quốc tế hay chọn đơn vị phân tích là các hộ gia đình Tuy nhiên, ở cấp độ quốc gia hoặc địa phương thì đơn vị phân tích có thể là cá nhân
Bước 3: Chọn chiều và chỉ tiêu phân tích
Lựa chọn các chiều tương tự như cách tiếp cận toàn cầu, ví dụ ba chiều: y tế, giáo dục và mức sống Chọn chỉ tiêu phân tích: tốt nhất nên lựa chọn các chỉ tiêu không có mối tương quan cao với nhau
Bước 4: Đặt đường nghèo đói
Mỗi chỉ tiêu được xác định một đường nghèo Mỗi người được xác định là thiếu hụt hay không thiếu hụt đối với từng chỉ tiêu xem xét Trước hết xác định các chiều thiếu hụt và các chỉ số phản ánh của mỗi chiều Sau đó xác định ngưỡng nghèo mà dưới ngưỡng đó, một cá nhân sẽ bị coi là thiếu hụt Ví dụ, chiều là “điều kiện sống” thì chỉ
số có thể là “không có điện”, ngưỡng nghèo có thể là “hộ không được sử dụng điện lưới quốc gia”; những hộ không được sử dụng điện sẽ bị coi là thiếu hụt về điều kiện sống
Bảng 2.2 Ví dụ về đặt đường nghèo đói
Y tế Điều kiện sống Giáo
dục
Giàu có kinh tế Chi phí
khám chữ bệnh
Bệnh mãn tính
Diện tích nhà
ở
Nhà vệ sinh
Bằng cấp cao nhất
Chi tiêu bình quân
so với đường nghèo) Cột cuối cùng của bảng 3.1 thể hiện số thiếu thốn của mỗi người (Giả định trọng số giữa các chỉ số là bằng nhau)
Trang 27 Bước 5: Áp dụng đường nghèo đói đa chiều
Bước tiếp theo là áp đường nghèo đói đa chiều k, trong đó cung cấp các số chỉ tiêu
mà một người phải bị thiếu hụt để được coi là nghèo đa chiều Trong ví dụ ở bảng 3.1,
k được đặt thành 4 và những người mà dữ liệu được tô được xác định là nghèo
Bước 6: Tính toán chỉ số nghèo đếm đầu (H)
Bằng cách chia số người nghèo đa chiều cho tổng số người Trong ví dụ nêu trên, khi k = 4, chỉ số nghèo đếm đầu chỉ đơn thuần là tỷ lệ người bị thiếu hụt ít nhất 4 chỉ số
Ví dụ, như trong Bảng 3.1, hai trong số bốn người được xác định là nghèo, vì vậy H = 2/4 = 50% Tuy nhiên nếu chỉ sử dụng chỉ số đếm đầu thì chỉ xem xét được riêng rẽ từng chiều nghèo đói và không thay đổi khi một người ngày càng thiếu hụt nhiều khía cạnh hơn Hơn nữa chỉ số đếm đầu cũng không phân tổ được theo các chiều thiếu hụt Do vậy cần sử dụng thêm một nhóm thước đo khác nữa để khắc phục những hạn chế trên
Bước 7: Tính toán độ sâu nghèo đói (A)
A là số lượng thiếu hụt trung bình mà một người nghèo đa chiều đang chịu A được tính toán bằng tổng tỷ lệ của các thiếu hụt mà mỗi người đang chịu, chia cho tổng số người nghèo đa chiều Ví dụ, trong bảng 3.1, người A bị thiếu hụt 4/6 chỉ số và người
D bị thiếu hụt 6/6 chỉ số), do đó A = (4/6 + 6/6) / 2 = 5/6
Bước 8: Tính toán chỉ số nghèo đa chiều MPI = H*A
Tóm lại, MPI là tỷ lệ dân số nghèo đa chiều (H) có điều chỉnh theo độ sâu của nghèo đói (A) Trong ví dụ, HA = 2/4 x 5/6 = 5/12
2.3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan
Đói nghèo và giải quyết nghèo đói là một vấn đề mang tính phổ biến, có tầm quan trọng và không chỉ là công việc của riêng quốc gia nào Chính vì thế, hiện nay cũng có khá nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước thực hiện về đề tài này
Trong báo cáo về đo lường nghèo đa chiều ở Mexico, Foster (2007) đã đo lường
và đánh giá mức độ nghèo đói ở Mexico bằng phương pháp Alkire – Foster với các chiều được đo lường bao gồm: giáo dục, tiếp cận với dịch vụ y tế, tiếp cận với an sinh
xã hội, đặc điểm nhà ở, tiếp cận với các dịch vụ cơ bản, tiếp cận với thực phẩm và mức
độ gắn kết xã hội Kết quả nghiên cứu cho thấy hai yếu tố sức khỏe và an sinh xã hội
Trang 28pháp cho các nhà hoạch định chính sách Mexico giải quyết tình trạng nghèo đói của quốc gia này
Naveed và Islam (2012), đã thực nghiệm khảo sát tính hiệu quả của phương pháp
đo lường nghèo truyền thống bằng thu nhập để giải thích sự thiếu thốn mà các hộ gia đình nghèo ở Pakistan phải đối mặt và xác định rằng thước đo nghèo bằng thu nhập là không toàn diện Trên cơ sở đó, hai ông đã lập luận và đưa ra các phân tích quan trọng cho việc áp dụng đo lường nghèo ở Pakistan bằng phương pháp đa chiều của Alkire – Foster Khi tiến hành đánh giá thông qua các biến số gồm: giáo dục; sức khỏe và dinh dưỡng; điều kiện sống; của cải thì tỷ lệ hộ nghèo khổ ở Pakistan tăng thêm 31% so với phương pháp đơn chiều cũ Phân tích cũng chỉ ra rằng đói nghèo ở nông thôn cao hơn
so với khu vực thành thị Từ đó, hai ông đã đưa ra ba yếu tố chính gây ra nghèo đói ở Pakistan là: tỷ lệ tử vong trẻ em, sự chênh lệch sở hữu đất đai và trẻ em không đi học Dưới góc độ chính sách, nghiên cứu đã thảo luận về việc sử dụng các kết quả để các nhà hoạch định chính sách phân bổ nguồn lực giữa các địa phương đồng thời cho rằng phương pháp đo lường nghèo đa chiều cần được chính thức áp dụng để ước tính nghèo
ở Pakistan
Cũng sử dụng phương pháp Alkire – Foster, bằng năm chiều (sức khỏe, kiến thức, thu nhập, việc làm và môi trường hộ gia đình) với mười chỉ số gồm: tỷ lệ tử vong, dinh dưỡng, số lượng được đi học, số năm đi học, chi tiêu, khu vực làm việc, tình trạng việc làm, nước, dinh dưỡng và nhiên liệu đun nấu; Dehury và Mohanty (2015) ước tính và phân tích các tác động nghèo đa chiều ở 84 vùng của Ấn Độ Đồng thời dựa trên những phân tích này, các tác giả gợi ý một số biện pháp để giảm nghèo đói và bất bình đẳng,
và đạt được các mục tiêu thát triển thiên niên kỷ ở Ấn Độ Kết quả cho thấy khoảng một nửa dân số Ấn Độ rơi vào tình trạng nghèo đa chiều Hơn 70% dân số ở các lưu vực sông Mahanadi, khu vực phía Nam của Chhattisgarh và vùng Vindhya Madhya Pradesh nghèo đa chiều, trong khi tỷ lệ này ít hơn 10% ở các vùng ven biển của bang Maharashtra, Delhi, Goa, khu vực miền núi Jammu và Kashmir, khu vực Hills và khu vực Đồng bằng Manipur, Puducherry và Sikkim Phân tích các chiều đo lường nghèo cho thấy chiều kích thích kinh tế một mình chiếm khoảng một phần ba đến tác động nghèo ở hầu hết các khu vực của Ấn Độ
Nghiên cứu, đánh giá về nghèo đa chiều tại Việt Nam, Lê Việt Hà và các cộng sự (2014) cũng sử dụng phương pháp Alkire – Foster đo lường thông qua năm chiều (y tế;
Trang 29giáo dục; bảo hiểm và trợ cấp xã hội; điều kiện sống; và sự tham gia của xã hội) Kết quả đã chỉ ra rằng nghèo đói đa chiều đã giảm nhẹ trong khoảng thời gian 2010-2012
Có một sự khác biệt lớn giữa đói nghèo đa chiều và nghèo đói theo chi tiêu / thu nhập Trong khi miền núi phía Bắc là vùng nghèo nhất theo phương pháp đo lường bằng thu nhập hoặc chi tiêu, Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nghèo nhất theo phương pháp đo lường đa chiều Các phân tích cũng cho thấy rằng các nhóm dân tộc thiểu số chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong dân số cả nước nhưng góp phần lớn vào sự nghèo đói đa chiều Các tác giả cũng phân tích tác động của năm chiều lên sự nghèo đói và thấy rằng sự vắng mặt của chiều “bảo hiểm xã hội và trợ cấp xã hội” góp phần nhiều nhất cho sự nghèo đói, trong khi sự vắng mặt của chiều “Điều kiện sống” đóng góp ít nhất vào tổng nghèo
2.4 Khung phân tích của nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến nghèo
đa chiều, đặc biệt là phương pháp đo lường nghèo đa chiều theo công thức MPI của Alkire và Santos (2010), đề tài này sử dụng hàm đa chiều tổng quát f(k) với k là tổng số chiều trong phân tích
Hàm f(k) trong luận văn gồm 6 chiều, có dạng như sau:
F(6) = F(điều kiện sống, giáo dục, sức khỏe, giàu có kinh tế, tình trạng việc làm, tiếp cận thông tin)
Trong đó 6 chiều này được đo bởi 12 chỉ tiêu phụ cụ thể: tài sản; điện; thức ăn và nước; nhà vệ sinh; diện tích nhà ở; số năm đi học; không được đến trường từ 6 đến 15 tuổi; chi phí khám chứa bệnh; bị bệnh nặng; thu nhập bình quân; thất nghiệp; không tiếp cận điện thoại, các phương tiện thông tin và Internet
Việc lựa chọn đo lường nghèo đa chiều trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa thông qua 6 chiều là sự kết hợp giữa đo lường nghèo theo 3 chiều của Alkire và Foster và đo lường nghèo theo 5 chiều của Bộ LĐ – TB và XH
Trong chiều thứ nhất về điều kiện sống, Alkire và Foster đo lường qua 6 tiêu chí thì Bộ LĐ – TB và XH chỉ đo lường qua 2 tiêu chí Do đó để đo lường được sát hơn tình trạng thiếu hụt về điều kiện sống mà vẫn phù hợp với đặc điểm tình hình của người dân sống trên địa bàn tỉnh, từ 2 tiêu chí của Bộ LĐ – TB và XH, luận văn bổ sung thêm 3 tiêu chí về điện, tài sản và diện tích nhà ở
Trang 30Ở chiều thứ 2 về giáo dục, luận văn đo lường thông qua 2 tiêu chí giống của Bộ
LĐ – TB và XH rất phù hợp với đặc điểm trình độ học vấn của người dân Việt Nam nói chung và của Tỉnh nói riêng
Chiều thứ 3 về sức khỏe được đo lường thông qua 2 tiêu chí chi phí khám chữa bệnh và số lần bị bệnh nặng Khác với Alkire và Foster cũng như Bộ LĐ-TB và XH, luận văn đang muốn nghiên cứu có sự khó khăn trong việc tiếp cận về dịch vụ y tế hay không khi người nghèo không được hỗ trợ về BHYT
Chiều thứ 4 về giàu có kinh tế Bộ LĐ – TB và XH không có đo lường về chiều này nhưng luận văn vẫn đưa vào để xác định và phân tích được có bao nhiêu hộ dân không bị nghèo về thu nhập nhưng lại bị nghèo vì không tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản Ngược lại, có bao nhiêu hộ dân bị nghèo về thu nhập nhưng vẫn được tiếp cận các dịch vụ về y tế, giáo dục… một cách đầy đủ
Chiều thứ 5 đo lường về tình trạng việc làm Cả Alkire và Foster đều không đo lường nghèo thông qua chiều tình trạng việc làm Tuy nhiên luận văn vẫn muốn đưa vào
để phân tích vì tình trạng việc làm (thất nghiệp hay không) thường là một trong những nguyên nhân, mắc xích chính của tình trạng nghèo
Cuối cùng, chiều thứ 6 về đo lường tình trạng được tiếp cận với thông tin Chiều này hoàn toàn tương đồng với đo lường nghèo của Bộ LĐ – TB và XH Trong điều kiện kinh tế xã hội phát triển nhanh chóng vượt bậc, bên cạnh các nhu cầu về văn hóa, giáo dục, y tế… thì nhu cầu về thông tin của người nghèo cũng rất bức xúc Do đó, việc đưa chiều về tình trạng tiếp cận được với thông tin và vô cùng cần thiết, giúp việc đánh giá nghèo được một cách toàn diện hơn
Trang 31Hình 2.2 Các thành phần nghèo đa chiều của nghiên cứu
Tóm tắt chương 2
Từ các cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên, ta thấy rằng
sử dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều (MPI) mang tính toàn diện hơn so với phương pháp đo lường đơn chiều cũ Nó phản ánh được sự thiếu hụt nhiều mặt về nhu cầu cơ bản của con người đồng thời chỉ ra được yếu tố nào là nguyên nhân chính tác động đến tình trạng nghèo của hộ gia đình
Tiếp cận thông tin
Không tiếp cận điện
thoại, các phương tiện
thông tin và Internet
Tình trạng việc làm Thất nghiệp
Giàu có kinh tế Thu nhập bình quân
Nghèo đa chiều –Multidimensionnal Poverty Index (MPI)
Trang 32CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này mô tả phương pháp và công cụ được sử dụng để đánh giá nghèo theo phương pháp đo lường đa chiều các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Nội dung của chương bao gồm: đưa ra quy trình, cách tiếp cận nghiên cứu, nêu lên phương pháp chọn mẫu và thu thập, phân loại dữ liệu Từ đó lựa chọn các công cụ phân tích dữ liệu cho phù hợp
3.1 Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu Khánh Hòa là một tỉnh có tốc độ đô thị hóa
cũng như phát triển kinh tế khá nhanh, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một bộ phận không nhỏ người dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa sống trong nghèo khổ, không chỉ về thu nhập
mà còn thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản mặc dù tỉnh cũng đã có rất nhiều chính sách
Xác định vấn đề nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Lý thuyết nghiên cứu và khung phân tích
Lựa chọn và phân tích dữ liệu
Báo cáo kết quả nghiên cứu
Trang 33hướng đến đối tượng nghèo Do đó, nghèo đói là một vấn đề khá cấp bách mà luận văn muốn đi vào nghiên cứu
Bước 2: Mục tiêu nghiên cứu Nghèo đói của người dân bao gồm rất nhiều mặt
nhưng phương pháp đo lường đơn chiều lại không thể phản ánh một cách đầy đủ sự thiếu hụt đó Mục tiêu của luận văn là đo lường nghèo theo phương pháp đa chiều trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Trên cơ sở đó đưa ra một số hàm ý chính sách giúp cho các nhà hoạch định chính sách của Tỉnh trong công tác giảm nghèo hiệu quả, bền vững
Bước 3: Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được mục tiêu đề ra ở bước 2, luận văn đưa
ra ba câu hỏi để làm rõ các vấn đề cần tìm hiểu gồm:
- Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa là bao nhiêu xét theo phương pháp
đo lường thu nhập và phương pháp MPI?
- Những yếu tố thiếu hụt về nguồn lực nào ảnh hưởng nhiều nhất đến nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều (MPI) tại tỉnh Khánh Hòa?
- Những hàm ý chính sách nào nhằm hoàn thiện công tác giảm nghèo của Tỉnh?
Bước 4: Lý thuyết nghiên cứu và khung phân tích Trên cơ sở tham khảo các lý
thuyết và nghiên cứu trong ngoài nước, luận văn lựa chọn lý thuyết về nghèo đa chiều của Alkire và Foster để từ đó xây dựng ra khung phân tích về nghèo đa chiều dùng trong luận văn
Bước 5: Lựa chọn và phân tích dữ liệu Trên cơ sở khung phân tích ở bước 4, luận
văn lựa chọn các biến từ bộ dữ liệu thu thập được để tiến hành phân tích, đánh giá
Bước 6: Báo cáo kết quả nghiên cứu Từ kết quả thu được ở bước 5, luận văn sẽ
đưa ra các kết luận về tình trạng nghèo đa chiều của các hộ dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đồng thời đề xuất một số gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách của tỉnh nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác giảm nghèo bền vững
3.2 Cách tiếp cận nghiên cứu
Đề tài sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu định lượng Từ thực tế cũng như những nghiên cứu trước đã chỉ ra đo lường nghèo theo phương pháp tiền tệ không phản ảnh chính xác được sự nghèo đói của người dân trên tất cả các mặt của đời sống Đề tài sử dụng lý thuyết đo lường nghèo đa chiều của Alkire và Foster để đo lường nghèo của các
Trang 34nguồn lực, để thu thập dữ liệu cho nghiên cứu này, tôi không xây dựng bảng câu hỏi để tiến hành điều tra, khảo sát các hộ dân trên địa bàn tỉnh mà các dữ liệu để đo lường các chiều nghèo được trích từ bộ dữ liệu VHLSS 2014 của Tổng cục thống kê
Trong quá trình thực hiện, luận văn có tham khảo và thừa kế một số tài liệu, kết quả có liên quan đến luận văn được nghiên cứu trước đây của các tác giả, cơ quan và tổ chức khác Những thừa kế này là hết sức quan trọng trong việc định hướng và hiệu chỉnh các kết quả nghiên cứu, cũng như đưa ra các kết luận mới có giá trị, tránh trùng lặp, phù hợp hơn với thực tiễn
3.3 Dữ liệu nghiên cứu
Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được rút trích từ bộ dữ liệu VHLSS 2014 của Tổng cục Thống kê
VHLSS là tên viết tắt của Vietnam Household Living Standard Survey: Điều tra mức sống hộ gia đình Đây là cuộc khảo sát của Tổng cục Thống kê (GSO) được tiến hành 2 năm/lần vào những năm chẵn nhằm theo dõi và giám sát một cách có hệ thống mức sống các tầng lớp dân cư Việt Nam, đánh giá tính hiệu quả các chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, từ đó phục vụ hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
VHLSS 2014 được triển khai trên phạm vi cả nước với quy mô mẫu 69.360 hộ ở 3.133 xã/phường, đại diện cho cả nước, các vùng, khu vực thành thị, nông thôn và tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương Cuộc khảo sát thu thập thông tin theo 4 kỳ, mỗi
kỳ một quý từ quý 2 đến quý 4 năm 2014 và một kỳ vào quý 1 năm 2015, bằng phương pháp điều tra viên phỏng vấn trực tiếp chủ hộ và cán bộ chủ chốt của xã có địa bàn khảo sát Nội dung của điều tra VHLSS 2014 chứa đựng những thông tin đặc điểm hộ gia đình như độ tuổi, giới tính, tình trạng việc làm, y tế, giáo dục, sức khỏe, thu nhập, chi tiêu… ở cả khu vực thành thị và nông thôn
Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, số địa bàn và số hộ được chọn mẫu khảo sát như sau: toàn tỉnh có 46 địa bàn với 690 hộ được chọn khảo sát, 8/8 huyện, thị xã, thành phố,trong đó thành thị 19 địa bàn và 27 địa bàn nông thôn 552 hộ được điều tra về thu nhập và 138 hộ được điều tra về thu nhập và chi tiêu
Trang 35Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, dữ liệu được trích từ VHLSS 2014 ở tỉnh Khánh Hòa với số quan sát là 138 hộ được điều tra về cả thu nhập lẫn chi tiêu (N = 138), trong đó thành thị là 57 hộ và nông thôn là 81 hộ
Trong đề tài này chỉ sử dụng sáu chiều gồm: điều kiện sống, giáo dục, sức khỏe, giàu có kinh tế, tình trạng việc làm và tiếp cận thông tin, không sử dụng các chiều khác như cơ sở hạ tầng, kinh tế…do sự giới hạn về thời gian cũng như nguồn dữ liệu trong phân tích
Dựa vào dữ liệu VHLSS 2014, trong đó 6 chiều này được đo bởi 12 chỉ tiêu phụ
cụ thể để phân tích nghèo MPI tại tỉnh Khánh Hòa Bên cạnh đó, trọng số của các chiều trong phân tích được xác định là bằng nhau và các chỉ số trong mỗi chiều cũng có trọng
số bằng nhau Mục đích của việc xác định trọng số sẽ là một tiêu chuẩn đầu tiên/gốc để đánh giá các chiều và các chỉ số ảnh hưởng đến nghèo đa chiều và cường độ của các chỉ
số ảnh hưởng đến người nghèo MPI như thế nào
Trong nghiên cứu này có 6 chiều, do đó k = 6 và 1/k hay 16,67% là trọng số của mỗi chiều Do đó, 6 chiều điều kiện sống, giáo dục, sức khỏe, giàu có về kinh tế, tình trạng việc làm và tiếp cận thông tin có trọng số như nhau là 1/6
Trọng số của các chỉ số trong từng chiều cũng bằng nhau và được trình bày trong bảng 2.1 Ví dụ, chiều điều kiện chuẩn sống có trọng số là 1/6 và có 5 chỉ số Do đó, các chỉ số này có trọng số là 1/30 hay 3,33% Quá trình này được lập lại cho tất cả các chiều
và các chỉ số Người được xem là nghèo nếu bị thiếu hụt ít nhất 20% trọng số của các chỉ số hoặc 2 chiều (từ 2 đến 7 chỉ số)
Bảng 3.1 Chỉ số nghèo đa chiều và biến trích từ bộ dữ liệu
kocotaisan
m6bma == 15 | m6bma == 12 | m6bma == 24 | m6bma == 20 | m6bma == 22 | m6bma == 1 | m6bma == 2
Hộ gia đình sở hữu không nhiều hơn một trong các tài sản sau: Tivi màu
điện thoại di động, máy giặt, máy tính, tủ lạnh, xe hơi, xe máy
3,33%
Trang 36Không có điện kocodien
m7c21 > 4 Hộ gia đình sử
dụng thùng, bô chậu, cầu cá hoặc không có nhà vệ sinh
3,33%
Diện tích nhà ở dientichnhaonho
m7c2/tsnguoi < 8 Diện tích nhà ở
trung bình/người nhỏ hơn 8 m2
8,33%
Sức khỏe Không đủ chi trả
viện phí kodutravienphi
m3c7 = 2 &
m3c7 = 3
Thành viên hộ gia đình không thể trả viện phí
8,33%
Bị bệnh nặng Bibenhnang
m3c1b > 1 Bị bệnh/ chấn
thương nặng từ 2 lần/năm trở lên
8,33%
Giàu có kinh
tế
Thu nhập bình quân
ngheothunhap
thubq<700 (ttnt==2) | thubq<900
(ttnt ==1)
Thu nhập bình quân thấp hơn chuẩn nghèo
16,67%
Tình trạng
việc làm
Thất nghiệp thatnghiep
m1ac5 > 15 &
m4ac5 ==2
Thành viên trong
hộ trên 15 tuổi và không có việc làm hơn 1 tháng trở lên
16,67%
Trang 37Tiếp cận
thông tin
Không tiếp cận điện thoại, các phương tiện thông tin và Internet ngheothongtin
m6bma == 12 | m6bma == 15 | m6bma == 16 | m6bma == 17 | m6bma == 18 | m6bma == 20
Thành viên hộ gia đình không thể tiếp cận được một trong các loại hình thông tin như điện thoai, máy tính, đài, tivi…
16,67%
Nguồn: VHLSS 2014 và tính toán của tác giả
3.4 Các công cụ phân tích dữ liệu
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chủ yếu sử dụng công cụ phân tích dữ liệu
cơ bản là thống kê mô tả thông qua việc ứng dụng các phần mềm thống kê như : excel, stata…để tính toán sự thiếu hụt của các chiều ảnh hướng đến nghèo của các hộ dân
Tóm tắt chương 3
Tổng số mẫu là 138 hộ gia đình được rút trích từ hộ dữ liệu VHLSS 2014 Nghèo
đa chiều được được đo lường qua 6 chiều (Điều kiện sống, Giáo dục, Sức khỏe, Giàu có kinh tế, Tình trạng việc làm và tiếp cận thông tin) với 12 chỉ số (Tài sản; Không có điện; Thức ăn và nước; Nhà vệ sinh; Diện tích nhà ở; Số năm đi học; Không được đến trường; Không đủ chi trả viện phí; Bị bệnh nặng; Thu nhập bình quân; Thất nghiệp; Không tiếp cận điện thoại, các phương tiện thông tin và Internet)
Trang 38CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG NGHÈO THEO PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐA
CHIỀU CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở TỈNH KHÁNH HÒA
Chương này nêu lên một số đặc điểm về tình hình kinh tế - xã hội và khái quát về tình hình nghèo của tỉnh Khánh Hòa Từ đó, đánh giá tình trạng nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều của các hộ gia đình ở tỉnh Khánh Hòa trên cơ
sở phân tích theo các chiều nghèo về điều kiện sống, giáo dục, sức khỏe, giàu có kinh
có diện tích tự nhiên là 5.197 km², là một tỉnh có địa hình tương đối cao ở Việt Nam, độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 60 m, nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa chỉ có 2 mùa mưa và nắng rõ rệt
Đồng bằng ở Khánh Hòa nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ra biển Chẳng những thế, địa hình rừng núi của tỉnh không thuận lợi cho quá trình lắng đọng phù sa, nên nhìn chung Khánh Hòa không phải là nơi thuận lợi để phát triển nông nghiệp Các đồng bằng lớn ở Khánh Hòa gồm có đồng bằng Nha Trang - Diên Khánh nằm ở hai bên sông Cái với diện tích 135 km²; đồng bằng Ninh Hòa do sông Dinh bồi đắp, có diện tích 100 km² Cả hai đồng bằng này đều được cấu tạo từ đất phù sa cũ và mới, nhiều nơi pha lẫn sỏi cát hoặc đất cát ven biển Ngoài ra, Khánh Hòa còn có hai vùng đồng bằng hẹp là đồng bằng Vạn Ninh và đồng bằng Cam Ranh ở ven biển, cùng với lượng diện tích canh tác nhỏ ở vùng thung lũng của hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh
Dân cư và lao động
Về mặt đơn vị hành chính, Khánh Hòa gồm có 02 thành phố trực thuộc tỉnh, 01 thị
xã và 06 huyện; các huyện, thị xã, thành phố lại được chia thành 35 phường 06 thị trấn
và 99 xã
Trang 39Hình 4.1: Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Khánh Hòa
Theo số liệu điều tra của Cục Thống kê năm 2015, dân số tỉnh Khánh Hòa là 1.205.303 người với mật độ dân số toàn tỉnh là 235 người/km², trong đó nam giới có khoảng 594.151 người (49,29%) và nữ giới khoảng 611.152 người (50,71%); Theo điều tra biến động dân số năm 2015, Khánh Hòa có 541.276 người sinh sống ở khu vực đô thị (44,90% dân số toàn tỉnh) và 664.027 người sống ở khu vực nông thôn (55,10%) Khánh Hòa là 1 trong 10 tỉnh của cả nước có số lượng trí thức lớn Lực lượng lao động
từ 15 tuổi trở lên là 665.612 người
Dân số Khánh Hòa hiện nay phân bố không đều Dân cư tập trung đông nhất ở thành phố Nha Trang (chiếm 1/3 dân số toàn tỉnh), trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh
Trang 40 Kinh tế và cơ cấu kinh tế
Hiện nay, trên địa bàn Khánh Hòa đã hình thành một cách rõ nét ba vùng kinh tế trọng điểm, gồm trung tâm là TP Nha Trang; phía bắc là khu vực vịnh Vân Phong (thuộc huyện Vạn Ninh) và phía nam là khu vực vịnh Cam Ranh Ba khu vực kinh tế này góp phần rất lớn vào mức tăng GDP bình quân hàng năm của tỉnh khoảng 8,3% (theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa)
Cơ cấu kinh tế của Khánh Hòa đã có sự chuyển dịch theo hướng hiện đại Tỷ trọng dịch vụ - du lịch, công nghiệp - xây dựng tăng; nông nghiệp giảm Ðến hết năm 2015,
tỷ trọng dịch vụ - du lịch chiếm 56,90% trong cơ cấu kinh tế; công nghiệp - xây dựng chiếm 31,16%; nông nghiệp 11,94%
Đồ thị 4.1: Cơ cấu kinh tế của tỉnh Khánh Hòa năm 2015
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa
Cơ cấu lao động nông thôn, theo đó, cũng đang chuyển biến theo hướng giảm tỷ
lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ lệ lao động dịch vụ, công nghiệp, lao động có trình độ
kỹ thuật, lao động được đào tạo
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
Khánh Hòa có hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối phát triển Mạng lưới giao thông trong tỉnh (gồm đường hàng không, đường sắt, đường thủy, đường bộ) hầu hết đều nằm trên các trục giao thông quan trọng của Việt Nam Đó là lợi thế để Khánh Hòa có thể phát triển một nền kinh tế toàn diện, giao lưu trong nước và quốc tế về các lĩnh vực thương mại, du lịch, sản xuất kinh doanh và trao đổi hàng hóa Hệ thống phát thanh,