Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá nghèo đa chiều và kết quả giảm nghèo trong giai đoạn 2013-2016 và đánh giá điểm thiếu hụt theo các chỉ tiêu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH CÔNG MINH
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHÈO ĐA CHIỀU
TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG ĐÔNG HỒ, THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN TIẾN KHAI
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các kết quả, số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Các số liệu, kết quả do trực tiếp cá nhân tôi thu thập, thống kê và xử lý Các nguồn
dữ liệu khác được tôi sử dụng trong luận văn đều có ghi nguồn trích dẫn và xuất xứ
Kiên Giang, ngày 15 tháng 1 năm 2018
Tác giả luận văn
HUỲNH CÔNG MINH
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC SƠ ĐỒ - HÌNH vii
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1 Vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu luận văn 5
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
Giới thiệu 6
2.1 Khái niệm về nghèo 6
2.2 Phương pháp đo lường nghèo 8
2.2.1 Phương pháp đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng PPA 9
2.2.2 Phương pháp tính chỉ số phát triển con người HDI 9
2.2.3 Phương pháp chỉ số nghèo chon người HPI 9
2.2.4 Phương pháp đo lường nghèo bằng chỉ số nghèo đa chiều MPI 10
2.3 Các nghiên cứu thực tiễn 17
2.3.1 Các nghiên cứu liên quan trên thế giới 17
2.3.2 Các nghiên cứu liên quan trong nước 19
2.4 Tổng quan về kinh tế xã hội tại Hà Tiên 21
2.4.1 Tình hình kinh tế xã hội tại Hà Tiên 21
2.4.2 Tổng quan về phường Đông Hồ 25
Tóm tắt chương 2 26
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
Trang 43.1 Thiết kế nghiên cứu 28
3.2 Phương pháp nghiên cứu 28
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu 28
3.2.2 Phương pháp chọn mẫu 29
3.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 30
3.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 31
3.3 Kết quả tham vấn chuyên gia 33
Tóm tắt chương 3 36
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
Giới thiệu 37
4.1 Thực trạng nghèo tại phường Đông Hồ từ năm 2013 đến 2016 37
4.1.1 Thực trạng hộ nghèo 37
4.1.2 Kết quả đạt được trong giai đoạn 2013-2016 38
4.2 Mô tả mẫu khảo sát 38
4.3 Phân loại hộ nghèo theo các tiêu chí đa chiều 45
4.3.1 Kết quả nghèo theo chiều Thu nhập 45
4.3.2 Kết quả nghèo theo chiều Giáo dục 46
4.3.3 Kết quả nghèo theo chiều Y tế 47
4.3.4 Kết quả nghèo theo chiều Nhà ở 47
4.3.5 Kết quả nghèo theo chiều Nước sạch & vệ sinh 48
4.3.6 Kết quả nghèo theo chiều Tiếp cận thông tin 49
4.4 So sánh kết quả nghèo đa chiều với kết quả nghèo đơn chiều 50
4.5 Đánh giá thực trạng nghèo đa chiều và so sánh với nghèo đơn chiều 55
4.6 So sánh sự khác nhau về hộ nghèo đa chiều theo tiêu chí địa lý 59
4.7 Phân tích ưu nhược điểm của quá trình đánh giá hộ nghèo tại phường 60
Tóm tắt chương 4 62
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Hàm ý chính sách 64
5.2.1 Một số hàm ý chính sách cho phường Đông Hồ 64
5.2.2 Gợi ý giải pháp cải thiện tình hình nghèo đa chiều tại địa phương 64
5.3 Hạn chế của đề tài 67
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 67 Tài liệu tham khảo
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
LĐTB&XH : Lao động – Thương binh và Xã hội
UBND : Ủy ban nhân dân
MDG : Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, là chương trình nghị sự phát
triển chung của thế giới nhằm giảm các khía cạnh chính của đói nghèo
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tổng hợp thành viên hộ nghèo và cận nghèo tại Hà Tiên 2
Bảng 2.1 So sánh chỉ số HPI-1 và chỉ số HPI-2 10
Bảng 2.2 Chỉ số nghèo đa chiều MPI tham khảo Alkire et al (2014a) 12
Bảng 2.3: Tỷ trọng giữa các chỉ tiêu trong chỉ số MPI 16
Bảng 2.4: Xác định nghèo đa chiều ở Việt Nam 20
Bảng 2.5 Diện tích tự nhiên thị xã Hà Tiên theo đơn vị hành chính 22
Bảng 2.6 Tình hình dân số trung bình thường trú tại Thị xã Hà Tiên 23
Bảng 2.7 So sánh tình hình nghèo ở phường Đông hồ với phường xã còn lại của thị xã Hà Tiên (năm 2016) 26
Bảng 4.1 Thống kê hộ nghèo phường Đông Hồ từ 2013 đến 2016 37
Bảng 4.2 Mô tả tình hình thu thập dữ liệu sơ cấp năm 2017 39
Bảng 4.3 Thống kê số hộ nghèo phường Đông Hồ từ năm 2012 đến 2017 39
Bảng 4.4 Hộ nghèo năm 2017 phân theo khu phố 40
Bảng 4.5 Hộ nghèo năm 2017 phân theo số nhân khẩu trong hộ 41
Bảng 4.6 Hộ nghèo năm 2017 phân theo nhóm tuổi của chủ hộ 42
Bảng 4.7 Hộ nghèo 2017 phân theo nhóm dân tộc 42
Bảng 4.8 Hộ nghèo 2017 phân theo diện hộ 43
Bảng 4.9 Hộ nghèo 2017 phân theo nghề nghiệp 44
Bảng 4.10 Hộ nghèo năm 2017 phân theo thu nhập 45
Bảng 4.11 Hộ nghèo năm 2017 phân theo chiều giáo dục 47
Bảng 4.12 Hộ nghèo năm 2017 phân theo chiều Y tế 47
Bảng 4.13 Hộ nghèo năm 2017 phân theo chiều Nhà ở (Loại nhà) 48
Bảng 4.14 Hộ nghèo năm 2017 phân theo chiều Nhà ở (diện tích bình quân) 48
Bảng 4.15 Hộ nghèo năm 2017 phân theo chiều nước sạch & vệ sinh 49
Bảng 4.16 Hộ nghèo năm 2017 phân theo chiều Tiếp cận thông tin 49
Bảng 4.17 Thống kê các tiêu chí thiếu hụt của hộ gia đình (năm 2017) 50
Bảng 4.18 Thống kê số hộ nghèo 52
Bảng 4.19 Thống kê số tiêu chí nhu cầu xã hội cơ bản bị thiếu hụt đối với 241 hộ nghèo đa chiều (K≥3) 53
Trang 7Bảng 4.20 Bảng tỷ lệ thiếu hụt của các chỉ tiêu nhu cầu xã hội cơ bản 54 Bảng 4.21 Nguyên nhân nghèo của hộ nghèo phường Đông Hồ năm 2016 56 Bảng 4.22 Số hộ có thu nhập trên 900.000 thuộc diện nghèo đa chiều 57 Bảng 4.23 Thống kê số hộ có thu nhập dưới 900.000 nhưng không thuộc diện nghèo đa chiều 58 Bảng 4.24 So sánh hộ nghèo đa chiều theo tiêu chí địa lý 59
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ - HÌNH
Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu 28
Hình 2.1 Bản đồ Thị xã Hà Tiên 24
Hình 2.2 So sánh tình hình nghèo giữa các phường, xã tại Hà Tiên 26
Hình 4.1 Biến thiên tỷ lệ hộ nghèo từ 2012 đến 2016 38
Hình 4.2 Tỷ lệ hộ nghèo từ năm 2012 đến 2017 40
Hình 4.3 Số hộ nghèo năm 2017 tại phường Đông Hồ (theo khu phố) 40
Hình 4.4 Mô tả số hộ nghèo theo số nhân khẩu trong mội hộ gia đình 41
Hình 4.5 So sánh hộ nghèo theo nhóm tuổi 42
Hình 4.6 So sánh hộ nghèo theo dân tộc 43
Hình 4.7 So sánh hộ nghèo theo diện hộ 44
Hình 4.8 So sánh hộ nghèo theo ngành nghề 45
Hình 4.9 Thống kê các tiêu chí thiếu hụt của hộ gia đình năm 2017 51
Trang 9Chương 1 GIỚI THIỆU
1 Vấn đề nghiên cứu
Đói nghèo là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng cũng như mỗi quốc gia Người nghèo thường không có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội như việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thông tin, v.v…và điều đó khiến cho họ ít có cơ hội thoát nghèo Do vậy,
mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực cho người nghèo là phương thức tốt nhất để giảm nghèo bền vững Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định Tuy nhiên, chuẩn nghèo theo thu nhập của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo Do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không đầy đủ Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập thấp Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản
về y tế, giáo dục, thông tin Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch Ở vùng sâu vùng xa, vẫn cò nhiều trường hợp học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn
bề gió lùa
Theo báo cáo của UBND tỉnh Kiên Giang năm 2015, toàn tỉnh có 41.202
hộ nghèo, chủ yếu tập trung nhiều nhất là ở vùng sâu, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số Thị xã Hà Tiên thuộc Kiên Giang, tiếp giáp với Campuchia,
Trang 10có 3 dân tộc chính đang sinh sống là Việt – Hoa – Khmer Trong đó, tỷ lệ người dân tộc khá đông Thị xã có 4 phường gồm phường Bình San, Đông Hồ, Pháo Đài, Tô Châu và 03 xã: Mỹ Đức, Thuận Yên, Tiên Hải Dân số có 18.312 hộ dân (gồm 42.056 người)1 Những năm gần đây, UBND Thị xã Hà Tiên đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên kết quả đạt được chưa cao, tỷ lệ thoát nghèo còn thấp, tình trạng tái nghèo còn diễn ra, số hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới có chiều hướng gia tăng mạnh, tỷ
lệ hộ nghèo năm 2016 chiếm 1,17% (bảng 1.1)
Bảng 1.1 Tổng hợp thành viên hộ nghèo và cận nghèo tại Hà Tiên
(đến tháng 10/2016)
nghèo
Nhân khẩu nghèo
Tỷ trọng hộ nghèo (%)
Nguồn: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã Hà Tiên
Từ những kết quả trên cho thấy, nghiên cứu đánh giá tình hình nghèo đa chiều để đề ra các chính sách nhằm giúp người dân thoát nghèo bền vững là
cần thiết Chính vì thế, tôi chọn đề tài: “Đánh giá nghèo đa chiều trên địa bàn
phường Đông Hồ, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang” để nghiên cứu làm luận
văn thạc sĩ.
1 Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Thị xã Hà Tiên (2016)
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng nghèo đa chiều, thông qua đó đề xuất các giải pháp giảm nghèo đa chiều hiệu quả hơn và toàn diện hơn so với chính sách giảm nghèo theo chiều thu nhập
2.2 Mục tiêu cụ thể
1) Xác định hộ nghèo theo các tiêu chí nghèo đa chiều
2) Đánh giá thực trạng nghèo đa chiều
3) So sánh nghèo đa chiều với nghèo đơn chiều
4) So sánh sự khác nhau về hộ nghèo đa chiều theo tiêu chí địa lý
5) Phân tích ưu nhược điểm của quá trình đánh giá hộ nghèo nhằm đề xuất cách thức đánh giá hiệu quả hơn
3 Câu hỏi nghiên cứu
1) Thực trạng nghèo đa chiều ở phường Đông Hồ đang như thế nào? So với cách đánh giá nghèo đơn chiều trước đây thì có thay đổi gì và tại sao thay đổi?
2) Nếu phân tích theo nghèo đa chiều thì những yếu tố nào góp phần quan trọng vào cấu trúc nghèo đa chiều của hộ gia đình trên địa bàn phường Đông Hồ?
3) Thực trạng hộ nghèo đa chiều giữa các khu vực địa lý trong phường như thế nào?
4) Các giải pháp nào để đánh giá nghèo đa chiều một cách hiệu quả?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng nghèo đa chiều trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang
Trang 12Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong thời gian từ 2013 –
2016 và khảo sát thực trạng nghèo năm 2017 làm cơ sở so sánh và đánh giá tình hình nghèo đa chiều theo từng tiêu chí
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá nghèo đa chiều
và kết quả giảm nghèo trong giai đoạn 2013-2016 và đánh giá điểm thiếu hụt theo các chỉ tiêu nghèo đa chiều
Dữ liệu thứ cấp: đề tài sử dụng dữ liệu trong 4 năm, từ năm 2013 – 2016, trích từ báo cáo của UBND phường Đông Hồ; báo cáo của UBND thị xã Hà Tiên và của phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Tiên; các văn bản báo cáo kết quả tình hình kinh tế xã hội của phường Đông Hồ; các bài báo, tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học liên quan
Dữ liệu sơ cấp: tác giả tiến hành điều tra, thực hiện thu thập dữ liệu thực
tế của 280 hộ gia đình trên địa bàn phường Đông Hồ (danh sách hộ dân do UBND phường Đông Hồ cấp) qua bảng câu hỏi khảo sát Thời gian thực hiện thu thập dữ liệu tháng 10-12/2017
Phương pháp phân tích số liệu: sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp đánh giá nghèo đa chiều MPI, phương pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh để làm rõ vấn đề nghiên cứu
Dữ liệu sơ cấp được phân tích bằng phần mềm Excel và SPSS 20.0
Trang 136 Kết cấu luận văn
Chương 1 Giới thiệu Chương này tập trung trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu liên quan Chương này trình bày các khái niệm về nghèo và nghèo đa chiều, các phương pháp tính nghèo đa chiều và các lý thuyết nghiên cứu thực tiễn liên quan
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu phương pháp thu thập
dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương này tổng quan về tình hình kinh
tế - xã hội và thực trạng nghèo đa chiều trên địa bàn phường Đông Hồ và kết quả xác định hộ nghèo đa chiều
Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách Chương này trình bày tóm tắt những kết quả mà đề tài đạt được, các hàm ý chính sách giúp hộ dân thoát nghèo, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 14Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Giới thiệu
Trọng tâm của chương này là cơ sở lý thuyết về nghèo và phương pháp đo lường nghèo được lựa chọn phục vụ cho quá trình nghiên cứu, khảo sát và đánh giá nghèo đa chiều tại phường Đông Hồ Chương này cũng sẽ giới thiệu tổng quan về tình hình kinh tế xã hội tại Hà Tiên và mô tả khái quát về phường Đông Hồ để từ đó tiến hành đo lường nghèo đa chiều tại địa bàn một cách phù hợp
2.1 Khái niệm về nghèo
Nghèo là một từ mà nhiều người từng sử dụng trong giao tiếp hằng ngày
để chỉ sự phân biệt với giàu Tuy từ này được sử dụng phổ biến trong xã hội, nhưng thế nào được xem là nghèo? hay nghèo được đo lường như thế nào? vẫn còn là một vấn đề đang tranh luận trong giới khoa học hiện nay Rowntree (1910) là một trong những người tiên phong tìm cách đo lường khái niệm nghèo Ông đã tập trung vào đo lường nghèo bằng số tiền có được của một người để có thể đáp ứng được những thứ cần thiết cho việc duy trì thể chất thuần túy Với cách này, các quốc gia có thể đề xuất được mức giới hạn giữa nghèo và giàu thông qua số tiền mà một người có được trong một ngày Những người nào có ít thu nhập thấp hơn mức giới hạn này được xem là người nghèo
Để đơn giản hóa khái niệm nghèo, Hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển
xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã thống nhất “Người
nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” Tuy nhiên sẽ khó có thể chỉ ra một người nghèo thông qua số tiền họ kiếm
được như trên Vì có nhiều trường hợp thu nhập một ngày hầu như không có nhưng họ khai thác được nguồn tài nguyên thiên nhiên xung quanh đảm bảo tốt cho việc duy trì và phát triển thể chất Hoặc theo lập luận của Đặng Nguyên Anh (2015) thì tiêu chí thu nhập không thể đo lường được nghèo và bản chất
Trang 15của nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội, khó tiếp cận với những dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, thông tin
Để chỉ ra được một người nghèo, Wilson (1987) đã bổ sung thêm nhiều
yếu tố khác ngoài tiền, “người nghèo là người không có trình độ, kỹ năng, luôn
chịu sự tách biệt về xã hội, không có khả năng tiếp cận hoặc không có được mối liên hệ với các cá nhân khác, với những thể chế đem lại cho họ nguồn lợi kinh tế và các vị thế xã hội” Với xu hướng này, Hội nghị chống nghèo đói khu
vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan,
tháng 9/1993) đã thống nhất rằng “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư
không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội
và phong tục tập quán của địa phương” hay Ngân hàng thế giới quan niệm
“nghèo đói là tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng; người nghèo dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ; bị gạt ra bên lề xã hội và không
có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế của Nhà nước”
Tại Việt Nam, khái niệm nghèo cũng được nhiều tác giả đề cập đến Tuy nhiên, các tác giả đều đề cập đến khái niệm nghèo do Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội ban hành “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều
kiện thoả mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”
Để thực hiện thống nhất theo quan điểm chung, đề tài này cũng thống nhất theo khái niệm của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Nhìn chung, những khái niệm trên chỉ dừng lại ở khía cạnh nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần đảm bảo mức sống mà vẫn chưa chỉ rõ ai là người nghèo và làm sao để đo lường một cách chính xác khái niệm nghèo
Trang 162.2 Phương pháp đo lường nghèo
Nỗ lực đầu tiên để đo lường nghèo đói được thực hiện bởi Rowntree Ông
đã thực hiện đo lường nghèo đói ở York thuộc Anh vào năm 1902 Kể từ đó,
có rất nhiều nỗ lực đo lường nghèo đói ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới Mặc dù giảm đói nghèo là một mục tiêu rất phổ biến ở mỗi quốc gia và rất được quan tâm bởi giới học giả, nhưng vẫn chưa có cách nào được chấp nhận rộng rãi để xác định ai là người nghèo
Cách đo lường nghèo chỉ với một chiều thu nhập hay chi tiêu không thể
mô tả được toàn cảnh bức tranh nghèo đói của hộ gia đình (Boltvinik, 1998) Chính vì vậy cần thiết phải có phương pháp đo lường nghèo theo nhiều chiều
để có cái nhìn về nghèo của hộ gia đình rõ ràng hơn (Townsend, 1979; Streeten; 1981; Sen; 1992; Bossert, 2009) Khái niệm đa chiều dùng để đo lường nghèo được mô tả với 7 chiều: hệ thống nước sạch, nhà ở, nhà vệ sinh, giáo dục, điều kiện sống, dinh dưỡng cho trẻ em và người lớn, môi trường của khu vực sinh sống (Boltvinik, 1998)
Các chỉ báo đo lường và trọng số đo lường nghèo đa chiều nêu trên được thực hiện với từng thành viên trong hộ gia đình Nếu một hộ gia đình (tổng số thành viên đã có tính trọng số) bị tước đoạt từ 60% chỉ báo trở lên thì gọi là nghèo Trong đó, trọng số của từng thành viên trong gia đình được quy định như sau: 1,0 đối với người lớn, 0,5 đối với trẻ vị thành niên trong độ tuổi từ 14-
18 và 0,3 với trẻ em dưới 14 tuổi
Một số phương pháp đã được sử dụng nhiều trên thế giới với mục tiêu đo lường mức sống và nghèo đa chiều như: Phương pháp đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng (Participatory Poverty Assessment – PPA), chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI), chỉ số nghèo con người (Human Poverty Index – HPI) và chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index – MPI)
Trang 172.2.1 Phương pháp đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng PPA
Phương pháp PPA thường được sử dụng để tiến hành việc nghiên cứu tại thực địa nhằm đánh giá mức nghèo đói của một quốc gia (Reardon & Vosti, 1995) Phương pháp này nghiên cứu chính sách gắn với chính sách của chính phủ, đánh giá mức độ nghèo đói theo quan điểm của người nghèo và các ưu tiên mà người nghèo nêu ra nhằm cải thiện đời sống của họ Phương pháp phân tích mang tính định tính trên dữ liệu thu thập được qua bảng câu hỏi điều tra hộ gia đình nhằm đánh giá đói nghèo có sự tham gia của cộng đồng là một công
cụ để đưa quan điểm của người nghèo vào các phân tích nghèo đói để xây dựng chiến lược xoá đói giảm nghèo cho quốc gia
2.2.2 Phương pháp tính chỉ số phát triển con người HDI
Chỉ số Phát triển con người HDI (Haq, 1990) là một thước đo tổng quát
về phát triển con người, là trung bình cộng của (1) sức khoẻ, thể hiện một cuộc sống lâu dài và khoẻ mạnh, đo bằng tuổi thọ trung bình; (2) tri thức, được đo bằng tỷ lệ số người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục (tiểu hoc, trung học, đại học); (3) thu nhập được đo bằng GDP bình quân đầu người tính theo giá trị ngang bằng sức mua (PPP)
2.2.3 Phương pháp chỉ số nghèo chon người HPI
Chỉ số Nghèo con người HPI được đề cập trong Báo cáo phát triển con người năm 1997 (Jahan, 2002) HPI là một chỉ số tổng hợp nghèo đa chiều dựa trên đo lường sự thiếu hụt trong khả năng tiếp cận các yếu tố phát triển cơ cản của con người Chỉ số HPI được xây dựng năm 1997 còn được gọi là chỉ số HPI-1, được sử dụng đo lường tại các nước đang phát triển Năm 1998 chỉ số HPI-2 được phát triển để đo lường cho các nước phát triển Bảng 2.1 so sánh chỉ số HPI-1 và chỉ số HPI-2
Trang 18Bảng 2.1 So sánh chỉ số HPI-1 và chỉ số HPI-2
Sự thiếu thốn liên quan
có thể dùng để làm việc
Chất lượng cuộc sống tốt
Tỷ lệ người tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tiếp cận với nước sạch, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu cân và suy sinh dưỡng
Tỷ lệ người tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tiếp cận với nước sạch, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu cân và suy dinh dưỡng
Sự loại trừ xã hội
Tỷ lệ người dân bị thất nghiệp lâu dài (từ 12 tháng trở lên)
Nguồn: Jahan (2002)
2.2.4 Phương pháp đo lường nghèo bằng chỉ số nghèo đa chiều MPI
Một số tranh luận về khái niệm nghèo đa chiều, như là "nghèo về nhà ở" hoặc "nghèo về sức khoẻ" hoặc “nghèo về cơ hội tiếp cận xã hội”, được coi là nghèo trong xã hội đang được diễn ra Các nhà nghiên cứu về cách thức đo lường nghèo đã tranh luận rằng, nếu chỉ đo lường nghèo qua mức thu nhập thì
đã giả định rằng thu nhập từ tiền là một đại diện tốt cho phúc lợi hay tiện ích của xã hội trong khi đó, con người có thể gặp nhiều khó khăn trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, nhà ở, thực phẩm, cơ hội tiếp cận xã hội, an ninh, tiện nghi môi trường (Robert, 2001) Alkire & Foster (2007) đã đề xuất cách thức đo lường nghèo đa chiều theo nhiều tiêu chí để đo lường một cách đầy đủ hơn về thế nào là người nghèo Ông đã đề xuất chỉ số MPI để đo lường nghèo theo ba chiều gồm giáo dục, y tế và chất lượng cuộc sống Cụ thể ba chiều được đo lường với 10 chỉ tiêu Trong Báo cáo quốc gia về phát triển con người Việt Nam năm 2011 (UNDP, 2012) cũng đã đề cập đến ứng dụng chỉ số MPI để đo lường tại Việt Nam UNDP đã có sự linh động trong các chỉ báo để áp dụng vào đo lường tại Việt Nam một cách phù hợp với 9 chỉ tiêu sau:
Trang 19(1) Hộ phải bán tài sản, vay nợ để chi trả chăm sóc y tế hoặc ngưng điều trị; (2) Có thành viên trong hộ chưa hoàn thành bậc tiểu học;
(3) Trẻ em trong độ tuổi đi học không được đến trường;
(9) Hộ có sở hữu tài sản lâu bền
Theo đó, những người bị tước đoạt ít nhất 2 trong số 9 chỉ tiêu trên được cho là người nghèo trong khi đó phiên bản gốc của Alkire et al (2014a) đề xuất
10 chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều và một người nghèo được xác định khi bị tước đoạt một phần ba các chỉ số về tỷ lệ phần trăm trọng số
Chỉ số nghèo đa chiều MPI đã được sử dụng phổ biến trên toàn cầu, đặc biệt, chỉ số này được sử dụng như một thước đo nghèo đói tại hơn 100 quốc gia đang phát triển (Alkire et al, 2017) Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Oxford trong dự án Oxford Poverty and Human Development Initiative (Sáng kiến về chuẩn nghèo và phát triển con người) cũng đã sử dụng Chỉ số nghèo đa chiều MPI để đo lường tại các nước, trong đó có Việt Nam Lợi ích của MPI là nhờ xét đến nhiều yếu tố cùng lúc nên dễ dàng chỉ ra yếu tố nào là nguyên nhân gây nghèo lớn nhất Các chỉ số của MPI sẽ rất hữu ích vì các nguyên tắc của MPI thì đơn giản và dễ áp dụng Cụ thể, đối với các quốc gia có thu nhập trung bình, mặc dù người dân đã có nước sạch và ăn uống đầy đủ, vẫn cần phải tiếp tục phấn đấu để xóa nghèo trong nhiều lĩnh vực khác
Vì những lợi điểm trên, Thủ tướng chính phủ cũng đã ban hành quyết định
số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19 tháng 11 năm 2015, về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Trong đó giao cho
Bộ kế hoạch và Đầu tư cùng Tổng cục thống kê công bố tỷ lệ nghèo chung theo
Trang 20chỉ số nghèo đa chiều MPI (xem chi tiết tại Phụ lục 1) Chính vì những lợi điểm trên và sự phổ biến của MPI đối với các nước đang phát triển cùng với điều kiện Việt Nam hiện nay và những văn bản pháp quy được ban hành áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, đề tài này sẽ kế thừa Chỉ tiêu MPI của Alkire et al (2014a) áp dụng đánh giá nghèo đa chiều kết hợp với nội dung của quyết định
số 59/2015/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ và 10 chỉ tiêu xác định nghèo đa chiều do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành năm 2015 để tiến hành nghiên cứu và đo lường nghèo đa chiều tại địa bàn phường Đông Hồ, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang
Bảng 2.2 Chỉ số nghèo đa chiều MPI tham khảo Alkire et al (2014a) Các
Có bất cứ trẻ em nào trong độ tuổi đi học không đến trường cho đến độ tuổi mà họ phải hoàn thành lớp 8 Sức khỏe
Cơ sở hạ tầng vệ sinh của hộ gia đình không được cải thiện (theo hướng dẫn MDG2) hoặc được cải thiện nhưng phải chia sẻ với hộ gia đình khác
Nước uống được cải thiện
Hộ gia đình không tiếp cận được nước uống được cải thiện (theo hướng dẫn MDG) hoặc phải mất 30 phút
để tiếp cận được nguồn nước uống được cải thiện Sàn nhà Sàn nhà của hộ có chất bẩn, cát, hoặc phân chuồng Nhiên liệu nấu
nướng Hộ gia đình nấu ăn bằng nguồn phân chuồng, gỗ hoặc than củi Những tài sản
sở hữu
Hộ gia đình không có sở hữu nhiều hơn 1 đài phát thanh, tivi, điện thoại, xe đạp, xe gắn máy, hoặc tủ lạnh và không sở hữu bất cứ xe hơi hay xe tải nào
Nguồn: Alkire et al (2014a)
2 MDG: Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, là chương trình nghị sự phát triển chung của thế giới nhằm giảm các khía cạnh chính của đói nghèo
Trang 21Chiều đo lường mức độ nghèo liên quan đến giáo dục
Các nước thuộc khối OECD tuyên bố rằng mặc dù giá trị xã hội và văn hoá giáo dục vẫn là nền tảng, các xã hội đòi hỏi tri thức ngày nay phải có sự chú trọng ngày càng tăng về giáo dục như một đầu tư quan trọng và tiếp tục cân bằng cân bằng với sự phát triển cá nhân của từng cá nhân song song với phát triển nguồn nhân lực trong một viễn cảnh suốt đời (OECD, 1993: trang 9)3 Sự cân bằng giữa lợi ích xã hội, cá nhân và kinh tế được tìm thấy trong các tuyên
bố như sau, coi đầu tư giáo dục là đầu tư có thể giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, góp phần phát triển cá nhân và xã hội và giảm bất bình đẳng xã hội Như vậy, giáo dục vừa là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, vừa là nhân tố giảm nghèo đói, tăng năng suất, gia tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống Căn
cứ mục tiêu Thiên niên kỷ, Việt Nam đã đề ra đến năm 2015 phải đảm bảo cho mọi trẻ em hoàn thành đầy đủ chương trình giáo dục tiểu học Với những lý do nêu trên, hai chỉ tiêu về giáo dục dưới đây được chọn để xác định rằng một hộ được xem là nghèo về giáo dục, nếu thiếu hụt một mức tối thiểu về giáo dục cơ bản:
Chỉ tiêu thứ nhất về giáo dục: Trình độ học vấn của chủ hộ (Alkire & Santos, 2010) Chỉ tiêu này phản ánh mức học vấn trung bình của những người lao động chính trong hộ gia đình Mức học vấn trung bình của người lao động chính trong hộ càng thấp thì khả năng cải thiện thu nhập và cải thiện cuộc sống trong hộ sẽ càng ít Khả năng nghèo hoặc tái nghèo của hộ theo đó sẽ rất cao Chỉ tiêu này có trọng số là 1/6
Chỉ tiêu thứ hai về giáo dục: Tuổi từ 6 đến 15 không được đi học (UNDP,
2010) Chỉ tiêu này phản ánh tình trạng nhập học của trẻ Mặc dù trẻ em không
là nguồn lực tạo ra thu nhập cho hộ gia đình, tuy nhiên, đây sẽ là một nguồn lực quan trọng trong tương lai giúp cải thiện mức sống và thu nhập của hộ Công ước quyền trẻ em đã khẳng định rằng Giáo dục là một nhu cầu và là quyền
3 OECD, 1993 Education at a Glance: OECD Indicators OECD, Paris
Trang 22cơ bản của mọi trẻ em Giáo dục chính là hành trang cho mỗi trẻ em để hoàn thiện bản thân và phát triển Chỉ tiêu này có trọng số là 1/6
Chiều đo lường mức độ nghèo liên quan đến sức khỏe
Theo Alkire & Santos (2010) thì “Sức khoẻ là khía cạnh khó nhất để đo
lường Các chỉ số sức khoẻ tương đương cho tất cả các thành viên trong gia đình nhìn chung không có trong cuộc điều tra hộ gia đình Tuy nhiên, khả năng sống một cuộc sống lâu dài và lành mạnh là một năng lực cơ bản và cũng là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của con người” Ông cho rằng, xác định
một hộ gia đình bị thiếu dinh dưỡng nếu bất cứ ai trong gia đình họ bị suy dinh dưỡng Ông lý giải mối liên quan giữa sức khỏe với nghèo đói như sau: Suy dinh dưỡng đối với trẻ em có thể có những ảnh hưởng lâu dài về mặt phát triển nhận thức và thể chất; có thể bị rối loạn sức khoẻ khác; suy giảm khả năng học hỏi và tập trung và có thể không làm tốt công việc Trong cách đo lường sức khỏe với sự đói nghèo này, chúng ta không đề cập đến suy dinh dưỡng kỹ thuật (suy dinh dưỡng không phải do đói nghèo mà là do bệnh lý rối loạn dinh dưỡng hoặc họ muốn giữ cho cơ thể ở trạng thái gầy để hợp thời trang)
Với khía cạnh này sức khỏe, đề tài sẽ sử dụng 2 chỉ tiêu để phản ánh tình hình chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình
Chỉ tiêu thứ 1 về Y tế: Quyền tiếp cận chăm sóc y tế của hộ gia đình Khi
bị bệnh, người bệnh cần được chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh tại các cơ
sở y tế Hộ gia đình bị xem là thiếu hụt chỉ tiêu này khi có thành viên trong hộ (trong 12 tháng gần nhất) không được chăm sóc y tế khi bị bệnh (Ramya, 2014) Chỉ tiêu này có trọng số là 1/6
Chỉ tiêu thứ 2 về Y tế : Tình trạng suy dinh dưỡng Hộ gia đình bị xem
là thiếu hụt chỉ tiêu này khi có thành viên bị suy dinh dưỡng (Alkire & Santos,
2010) Chỉ tiêu này có trọng số là 1/6
Trang 23Chiều đo lường mức độ nghèo liên quan đến mức sống
Điều kiện sống tối thiểu mà con người cần phải có và được hưởng chính
là những tiện ích cơ bản nhất của xã hội Khía cạnh mức sống được đo lường bởi 6 chỉ tiêu
Chỉ tiêu thứ 1 về mức sống: Vệ sinh (Alkire & Santos, 2010) Nhà vệ sinh hợp lý góp phần đảm bảo vệ sinh môi trường Việc sở hữu một nhà vệ sinh riêng là cần thiết vì nó giúp ngăn ngừa bệnh cho các thành viên trong hộ gia đình và tạo sự thuận tiện trong sinh hoạt cuộc sống Hộ gia đình vị xem là thiếu hụt chỉ tiêu này nếu hộ gia đình không có nhà vệ sinh riêng Chỉ tiêu này có trọng số là 1/18
Chỉ tiêu thứ 2 về mức sống: Nước sạch (nước máy, nước giếng) (Alkire
& Santos, 2010) Nhu cầu nước sạch là cần thiết để đảm bảo sức khỏe cho các thành viên trong gia đình Hộ gia đình bị xem là thiếu hụt chỉ tiêu này khi họ không thể có nước uống sạch Chỉ tiêu này có trọng số là 1/18
Chỉ tiêu thứ 3 về mức sống: Điện (Alkire & Santos, 2010) Điện là điều kiện cơ bản để thắp sáng và cho phép con người làm việc ban đêm, giải trí hay học tập và nâng cao năng suất lao động Hộ gia đình bị xem là thiếu hụt chỉ tiêu này khi không có khả năng kết nối lưới điện Tuy nhiên trong nghiên cứu này, tôi không đề cập đến sự thiếu điện vì hiện tại, lưới điện đã phủ 100% các hộ gia đình tại phường Đông Hồ, thị xã Hà Tiên Cũng vì vậy, trong bảng câu hỏi khảo sát, câu hỏi về nhu cầu điện chiếu sáng không được đề cập đến và hiển nhiên được hiểu rằng chỉ tiêu này không một gia đình nào bị thiếu hụt Chỉ tiêu này có trọng số là 1/18
Chỉ tiêu thứ 4 về mức sống: Tình trạng nhà ở (Alkire & Santos, 2010) Những hộ gia đình có nhà riêng sẽ là điều kiện cơ bản để giúp họ phát triển tốt hơn Trong trường hợp này, họ chỉ cần tạo ra thu nhập để đáp ứng nhu cầu ăn mặc và giải trí là đủ thay vì phải chi phí cho thuê nhà Hộ gia đình bị xem là
Trang 24thiếu hụt chỉ tiêu này nếu tình trạng nhà ở là dột nát, nền nhà bằng đất, vật liệu tạm bợ Chỉ tiêu này có trọng số là 1/18
Chỉ tiêu thứ 5 về mức sống: Nhiên liệu đun nấu (Alkire & Santos, 2010) Nhiên liệu đung nấu phản ánh mức sống và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Những nguồn nhiên liệu như bếp gas sẽ giúp đun nấu nhanh hơn và thuận tiện hơn trong khi những nhiên liệu như củi hay than sẽ không thuận tiện
và không an toàn cho sức khỏe của con người Hộ gia đình bị xem là thiếu hụt chỉ tiêu này nếu gia đình vẫn sử dụng nhiên liệu chính là củi, than Chỉ tiêu này
1/6 = 16,7%
Đi học của trẻ Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em trong độ
tuổi đi học hiện không đi học 1/6 = 16,7%
Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi trở lên hiện tại không có bảo hiểm y
tế
1/6 = 16,7%
Nhà ở
Chất lượng nhà ở Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên cố
hoặc nhà đơn sơ 1/18 = 5,6% Diện tích nhà ở
tiếp cận thông tin
Hộ gia đình không có tài sản nào trong số các tài sản: Tivi, đài, máy vi tính; và không nghe được hệ thống loa đài truyền thanh
1/18 = 5,6%
Nguồn: Tổng hợp từ Alkire & Santos (2010), Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2010)
Trang 25Chỉ tiêu thứ 6 về mức sống: Sở hữu tài sản (Alkire & Santos, 2010) Các tài sản như tivi, xe máy, điện thoại, máy vi tính có thể được xem là những tài sản thiết yếu mà hộ gia đình cần có để có thể tiếp cận thông tin và tạo thuận lợi trong công việc Hộ gia đình bị xem là thiếu hụt chỉ tiêu này nếu hộ gia đình sở hữu ít hơn một trong những tài sản trên Chỉ tiêu này có trọng số là 1/18 Một hộ gia đình bị cho là nghèo nếu bị tước đoạt một phần ba trong 10 chỉ tiêu (các chỉ tiêu được trình bày trong Bảng 2.3)
Ngoài 10 tiêu chí đo lường nghèo đa chiều MPI, đề tài này cũng nghiên cứu thêm các biến định tính về nhân khẩu học như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, dân tộc, diện hộ gia đình, số nhân khẩu, khu vực sinh sống, mức thu nhập Những biến định tính này góp phần làm phong phú nội dung phân tích và mô tả rõ hơn bức tranh về tình hình nghèo tại phường Đông Hồ (xem Phụ lục 2 – Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình)
2.3 Các nghiên cứu thực tiễn
2.3.1 Các nghiên cứu liên quan trên thế giới
Townsend (1979), Streeten (1981) và Sen (1992) được xem là tiên phong
và tạo ra những ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu nghèo đa chiều (Bossert, 2009) Các công trình này đã cho rằng nghèo nên được xem xét qua rất nhiều chiều khác nhau, như nhà ở, sự thụ hưởng giáo dục, tuổi thọ, và thụ nhập chỉ là một trong các chiều thể hiện Boltvinik (1998) cũng đồng ý với quan điểm đo lường nghèo từ nhiều chiều khác nhau và giải thích rằng, nhiều hộ gia đình có mức thu nhập cao vẫn có thể không thoả mãn những nhu cầu cơ bản Có thể thấy rằng, cách đo lường nghèo thông qua chỉ tiêu thu nhập hay chi tiêu của hộ gia đình khó có thể xác định được ai là người nghèo Nên tiếp cận nhiều khía cạnh hơn trong nhu cầu cuộc sống để có thể trả lời một cách thuyết phục được
ai là người nghèo
Boltvinik (1998) đã đề xuất rằng, có thể đo lường nghèo đa chiều bằng các chỉ báo liên quan đến các nhu cầu cơ bản của cuốc sống con người thông
Trang 26qua 7 chiều đo lường với các chỉ báo liên quan đến các lĩnh vực hệ thống nước sạch, nhà ở, nhà vệ sinh, giáo dục, điều kiện sống, dinh dưỡng cho trẻ em và người lớn, môi trường của khu vực sinh sống
Bossert (2009) đã đề xuất một bộ tiêu chí đo lường nghèo đa chiều như sau: (1) Nhà ở có mái/cửa chính/cửa sổ/nền bị hư hỏng nặng, nền/tường nhà
ẩm thấp; (2) Không có thiết bị sưởi ấm; (3) Không có nhà tắm; (4) Không có nhà vệ sinh; (5) Trong vòng 12 tháng liền trước trước thời điểm khảo sát hộ gia đình còn thiếu tiền chi trả cho các dịch vụ sinh hoạt gia đình; (6) Trong vòng
12 tháng liền trước thời điểm khảo sát hộ gia đình còn thiếu tiền thuê nhà; (7) Trong vòng 12 tháng liền trước thời điểm khảo sát hộ gia đình còn phải trả tiền cho các sản phẩm mua trả góp hoặc vẫn còn các khoản nợ phải trả; (8) Bữa ăn của hộ gia đình không có thịt heo, thịt gà, cá, rau xanh hoặc các loại thực phẩm tương đương; (9) Hộ gia đình không có khả năng chi trả cho những tình huống bất trắc; (10) Hộ gia đình không có điện thoại (kể cả điện thoại di động); (11)
Hộ gia đình không có máy thu hình màu; (12) Hộ gia đình không có máy vi tính; (13) Hộ gia đình không có máy giặt; (14) Hộ gia đình không có xe hơi; (15) Hộ gia đình bị ảnh hưởng nhiều bởi tiếng ồn của khu vực sinh sống hoặc tiếng ồn từ đường phố (16) Hộ gia đình sống trong khu vực ô nhiễm, bị nhiễm bụi than hoặc gặp phải các vấn đề về môi trường khác do sản xuất công nghiệp gây ra
Ngoài những nghiên cứu được đề cập trên, vấn đề nghèo đa chiều được nhiều tác giả tiếp cận và đo lường tại rất nhiều nước trên thế giới Trong giới hạn khả năng lược khảo tài liệu, tôi đã tìm thấy những nghiên cứu sau:
Chỉ số nghèo đa chiều (MPI) đã được Alkire & Santos (2014) xây dựng cho Báo cáo phát triển con người 2010 Đó là một chỉ số nghèo đa chiều cấp và dựa trên phương pháp xác định nghèo đói của Alkire & Foster (2011a) Alkire
& Santos (2014) xác định ba khía cạnh cần được đưa vào MPI: y tế, giáo dục,
và mức sống Những chiều hướng phản ánh chỉ số phát triển con người (HDI)
Trang 27Trong năm 2010, MPI đã được tính toán cho 104 nước đang phát triển chỉ
sử dụng 3 loại dữ liệu (DHS, MICS, và WHS) và từ đó có thêm vài chục quốc gia nữa áp dụng MPI Đối với một số quốc gia đang phát triển, đói nghèo đa chiều ở cấp hộ gia đình đã được tính toán với hai điểm nổi trội (UNDP 2014) Thứ nhất, MPI có thể đưa ra các tuyên bố về mức độ đói nghèo đa chiều toàn cầu theo cách tương tự như chuẩn nghèo của Ngân hàng Thế giới với mức nghèo đói công bố mỗi năm một lần Thứ hai, MPI, thông qua cơ sở thông tin điều tra từ hộ gia đình, là một chỉ số có thể thực hiện và phù hợp với chính sách của nhiều quốc gia hơn so với HDI Người ta có thể ứng dụng chỉ số MPI theo vùng, theo các nhóm người, qua đó cho phép các quốc gia trực tiếp xem những nhóm nào phù hợp nhất MPI cũng phù hợp với Chỉ số đo lường nghèo đói do UNDP đề xuất năm 1996 (Ravallion, 1997)
2.3.2 Các nghiên cứu liên quan trong nước
Một vài năm trước năm 2015, một số nghiên cứu về nghèo đa chiều đã bắt đầu được quan tâm và áp dụng vào thực tế Một số địa phương đã áp dụng có thể kể tên như Hà Nội, UBND Thành phố Hồ Chí Minh Năm 2010, UNDP cũng đã áp dụng chỉ số MPI công bố kết quả nghiên cứu nghèo đói ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.Một số tác giả đã nghiên cứu về nghèo có thể
kể đến như Giàng Thị Dung, Thái Văn Hoạt (2007) Nhóm tác giả đã chỉ ra rằng nghèo nói chung ở Việt Nam gồm: nghèo theo khu vực, dân tộc, quy mô nhân khẩu, lao động và sử dụng thời gian lao động, trình độ văn hóa và chăm sóc sức khỏe; tình trạng nhà ở, đất sản xuất, nước và điện sinh hoạt Nghiên cứu của Trần Thị Cẩm Trang (2011) về “Các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo
trên địa bàn quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh”, đã phân tích nghèo theo các
biến định tính như giới tính, quy mô hộ, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng việc làm, khả năng tiếp cận tín dụng Tác giả cũng đã liên hệ một số nguyên nhân chính gây nên tình trạng nghèo của trên địa bàn nghiên cứu là do thiếu việc làm, bệnh nan y, nhiều người ăn theo, trình độ học vấn thấp, không
có tay nghề lao động Trần Minh Sang (2012) đã đánh giá tình hình nghèo đa
Trang 28chiều của các hộ gia đình tại khu vực Đông Nam Bộ bằng hai phương pháp tiếp cận: nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều (áp dụng chỉ số MPI) Nguyễn Văn Cương (2012) đã ước lượng nghèo đô thị đa chiều ở các thành phố trực thuộc Trung ương Việt Nam với 5 chiều bao gồm giáo dục, sức khỏe, tiêu chuẩn sống, giàu có kinh tế và tình trạng việc làm và 15 chỉ số (số năm đi học, trẻ em 6-15 tuổi không được đi học, nạn mù chữ ở người lớn, khả năng chi trả tiền viện phí, thời gian làm việc, bệnh mãn tính, điện, vệ sinh, nguồn nước sử dụng cho nấu
ăn và uống, tài sản, diện tích nhà ở, sở hữu nhà, loại nhà ở, chi tiêu trung bình
Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên đủ 15 tuổi sinh từ năm
1986 trở lại không tốt nghiệp trung học cơ sở và hiện không đi học
Bảo hiểm y tế Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi trở lên hiện tại
không có bảo hiểm y tế
Nguồn nước sinh
hoạt Hộ gia đình không được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh
Hố xí/nhà vệ sinh Hộ gia đình không sử dụng hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh
tiếp cận thông tin
Hộ gia đình không có tài sản nào trong số các tài sản: Tivi, đài, máy vi tính; và không nghe được hệ thống loa đài truyền thanh xã/thôn
Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2015
Đến năm 2015, theo xu hướng chung của thế giới, Việt Nam cũng đã ban hành văn bản quy định chung về cách thức đo lường nghèo đa chiều Ngày 19
Trang 29tháng 11 năm 2015, Thủ Tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 (xem phụ lục 1) Sau đó, tất cả các địa phương đã tiến hành đo lường nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều áp dụng chỉ số MPI Trên cơ sở đó, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) đã xây dựng và đề xuất 10 chỉ số
đo lường mức độ thiếu hụt trong nghèo đa chiều là: giáo dục người lớn, giáo
dục trẻ em, khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế, nhà ở, nước sạch, hố xí, dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin Các chỉ số đo lường này được trình bày trong Bảng 2.4
2.4 Tổng quan về kinh tế xã hội tại Hà Tiên
2.4.1 Tình hình kinh tế xã hội tại Hà Tiên
Thị xã Hà Tiên ở phía Tây Bắc tỉnh Kiên Giang, phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 13,7km, phía Đông giáp huyện Giang Thành, phía Nam giáp huyện Kiên Lương, phía Tây giáp huyện Phú Quốc và vịnh Thái Lan, với đường bờ biển dài 22km Hà Tiên cách thành phố Hồ Chí Minh 340km về phía Tây-Nam; cách thành phố Cần Thơ 220km về phía Tây; cách thành phố Rạch Giá 90km về phía Bắc và cách đảo Phú Quốc 40km về phía Đông Tổng diện tích đất tự nhiên (năm 2016) của Hà Tiên: 10.048,83 ha (100,49 km2), gồm có
04 phường thuộc khu vực nội thị: Bình San, Đông Hồ, Pháo Đài và Tô Châu;
và 03 xã ngoại thị: Mỹ Đức, Thuận Yên và xã đảo Tiên Hải Trong đó, diện tích phường Đông Hồ là 34,48 km vuông, chiếm tỷ trọng hơn một phần ba thị
xã Hà Tiên (34,4%) (xem chi tiết bảng 2.5)
Đất nông nghiệp 7.472,7 ha; đất sản xuất nông nghiệp 2.245,4 ha; đất lâm nghiệp 1.015,3 ha; đất phi nông nghiệp 2.373,1 ha; đất ở: 349,95 ha; đất trụ sở
cơ quan, công trình sự nghiệp 61,9 ha; đất quốc phòng, an ninh 236,2 ha; đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 288,0 ha; đất công cộng 440,5 ha; đất tôn giáo, tín ngưỡng 11,96 ha; đất nghĩa trang, nghĩa địa 17,76 ha; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 966,8 ha; đất chưa sử dụng 203,1 ha
Trang 30Bảng 2.5 Diện tích tự nhiên thị xã Hà Tiên theo đơn vị hành chính
Nguồn: Chi cục thống kê thị xã Hà Tiên
Đến năm 2016, dân số của Hà Tiên là 12.162 hộ với 49.496 nhân khẩu, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ trọng cao nhất 84,8%, kế đến là dân tộc Khmer
12,1%, thứ ba là dân tộc Hoa 3%, còn lại là những người dân tộc khác khoảng 0,1% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2016 là 1,01% Cơ cấu dân số thành thị chiếm khoảng hai phần ba với tỷ trọng 67,4% hơn gấp đôi so với dân số sống tại nông thôn (32,6%) Cơ cấu độ tuổi trong độ tuổi lao động chiếm 52,8% và ngoài độ tuổi lao động chiếm 47,2% (gồm 39,7% dưới 18 tuổi và 7,6% người quá tuổi lao động)
So sánh giữa các năm, nhìn chung có dấu hiệu suy giảm ở nhiều chỉ tiêu
Cụ thể, tỷ lệ tăng dân số trung bình giảm từ 1,03% xuống 0,99% Tỷ lệ tăng dân số thành thị có xu hướng giảm từ tăng 0,97% năm 2015 xuống tăng 0,86% năm 2016 trong khi đó tỷ lệ này đối với dân số ngoại thị thì tăng lên từ tỷ lệ tăng 1,15% trong năm 2015 lên 1,25% trong năm 2016 Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động biến động thuận lợi cho địa phương với xu hướng tăng từ năm
2014 đến 2016 Cụ thể, năm 2015 tốc độ tăng là 2,42%, đến năm 2016 thì tốc
(km2)
Tỷ trọng diện tích (%)
Trang 31độ tăng 2,6% Ngoài ra, tỷ lệ tăng dân số trung bình lớn hơn tỷ lệ tăng số hộ gia đình (0,99% so với 0,7% trong năm 2016) (xem chi tiết bảng 2.6)
Nhìn chung, tốc độ tăng dân số có xu hướng chậm lại Trong khi đó tốc
độ tăng số hộ gia đình tăng chậm hơn tốc độ tăng dân số trung bình Điều này cho thấy số thành viên trong hộ gia đình có xu hướng tăng lên Ngoài ra, một dấu hiệu tích cực về dân số đó là tốc độ tăng số người trong độ tuổi lao động ngày càng nhanh Điều này có thể giúp tăng nguồn thu cho hộ gia đình
Bảng 2.6 Tình hình dân số trung bình thường trú tại Thị xã Hà Tiên
Tỷ trọng
-5 Hộ gia đình Hộ 11.708 12.077 12.162 3,15 0,70
Nguồn: Chi cục thống kê thị xã Hà Tiên
Trang 32Hình 2.1 Bản đồ Thị xã Hà Tiên
Nguồn: UBND thị xã Hà Tiên
Thị xã Hà Tiên được công nhận là đô thị loại IV năm 1997 và đến tháng
9 năm 2012 được công nhận là đô thị loại III4
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân hàng năm tăng trên 18%
(kế hoạch 17%); tổng sản phẩm (GDP) đạt 11.305,20 tỷ đồng, đạt 108,0% kế hoạch; thu nhập bình quân đầu người đến năm 2016 đạt 65,656 triệu đồng/năm; tăng trưởng thương mại - dịch vụ bình quân đạt 23,4% (kế hoạch 23,09%), Công nghiệp – xây dựng bình quân đạt 28,69 % (kế hoạch 21,40%), nông - lâm
- ngư nghiệp bình quân đạt 16,1 % (kế hoạch 11,15%) Năm 2016 GDP theo
4 Theo Quyết định số: 839/QĐ-BXD ngày 17/9/2012 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng
Trang 33giá hiện hành của toàn thị xã là 3.707,152 tỷ đồng (tăng 18,08% so với năm 2015) Trong đó, Thương mại - Dịch vụ là 2.507,564 tỷ đồng, Nông - Lâm - Thủy sản là 579,480 tỷ đồng, Công nghiệp - Xây dựng là 620,108 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người đạt 65,656 triệu đồng/người (tương đương 3.156 USD), tăng 6,37% so với năm 2015, bằng 1,43 lần cả nước.5
2.4.2 Tổng quan về phường Đông Hồ
Phường Đông Hồ là địa bàn trung tâm hành chính, văn hóa của thị xã Hà Tiên, vừa có vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh; vừa có điều kiện để phát triển kinh tế, xã hội Diện tích tự nhiên 3.448,65 ha và 5,6 km đường biên giới giáp với Vương quốc Campuchia (từ cột mốc 306 đến cột mốc 308) Toàn phường có 05 khu phố cấu trúc thành 52 tổ nhân dân tự quản; đặc biệt, khu phố
5 là một cù lao nằm trên bãi đất bồi ờ giữa dòng sông Đông Hồ, phương tiên giao thông đi lại bằng đường thủy Tổng dân số trên toàn phường Đông Hồ là 2.382 hộ (8.612 nhân khẩu) Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 92,3%; dân tộc Hoa chiếm 5,4%; dân tộc Khmer chiếm 1,87% Tỷ lệ dân số nữ chiếm 47,9% trong tổng số dân của Phường Đông Hồ Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 2,26%; hàng năm tỷ
lệ giảm nghèo chiếm từ 1-1.5% Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng mạnh, cụ thể: lĩnh vực thương mại - dịch vụ - du lịch tỷ trọng chiếm 80,74%; công nghiệp - xây dựng chiếm 7,86%; nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 11,40% Theo thống kê trong Bảng 2.7 được đề cập trên, tỷ lệ hộ cận nghèo của phường Đông Hồ chiếm khoảng một phần tư (27,2%) trong tổng số hộ cận nghèo tại Hà Tiên Tỷ trọng dân số cận nghèo chiếm 29,2% trong tổng số nhân khẩu cận nghèo tại Hà Tiên Với tỷ lệ này cho thấy phường Đông Hồ đặc biệt nổi trội về tình hình dân số nghèo của thị xã Hà Tiên
5 Nghị quyết UBND thị xã Hà Tiên
Trang 34Bảng 2.7 So sánh tình hình nghèo ở phường Đông hồ với phường xã
còn lại của thị xã Hà Tiên (năm 2016)
TT Xã, phường Số hộ cận
nghèo
Tỷ trọng (%)
Nhân khẩu cận nghèo
Tỷ trọng (%)
1 Phường Đông Hồ 55 25,7 225 27,2
Nguồn: Nguồn: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã Hà Tiên
Hình 2.2 So sánh tình hình nghèo giữa các phường, xã tại Hà Tiên
Tóm tắt chương 2
Chương 2 đã trình bày một số khái niệm về nghèo được làm rõ đồng thời chỉ ra được các cách đo lường nghèo đã và đang được áp dụng hiện nay Trong các chỉ tiêu đo lường nghèo, để đảm bảo tính kế thừa, cập nhật và phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, đề tài đã chọn phương pháp đo lường nghèo
đa chiều bằng chỉ số MPI kết hợp giữa lý thuyết của Alkire et al (2014a) với quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ để tiến hành nghiên
Trang 35cứu và đo lường nghèo đa chiều tại địa bàn phường Đông Hồ, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Chương này cũng tổng quan về tình hình kinh tế xã hội tại Hà Tiên và mô tả khái quát phường Đông Hồ
Trang 36Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Giới thiệu
Chương này trình bày hai nội dung chính là thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Trong đó, làm rõ quy trình nghiên cứu và các phương pháp chọn mẫu, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu của đề tài được thực hiện theo mô tả của sơ đồ 3.1,
cụ thể như sau:
Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn chính: Giai đoạn
1, nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính là chủ yếu Giai
Cơ sở lý thuyết
Xác định mục tiêu
nghiên cứu
Nghiên cứu chính thức Tổng hợp dữ liệu
Trang 37đoạn này, các dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn khác nhau để mô tả tổng quan tình hình kinh tế xã hội tại địa bàn nghiên cứu và lược khảo tài liệu
để làm cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu Kết thúc giai đoạn 1 này, bảng câu hỏi khảo sát được giới thiệu để thu thập dữ liệu định lượng cho giai đoạn 2 Tuy nhiên, để đảm bảo tính thống nhất, tác giả đã tiến hành tham vấn ý kiến các chuyên gia, những người đang thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin và xử lý thông tin về tình hình đói nghèo tại địa phương Giai đoạn 2, nghiên cứu chính thức: thực hiện một số công việc như điều chỉnh bảng câu hỏi thông qua khảo sát sơ bộ 12 hộ gia đình Tác giả kế thừa kết quả của UBND phường Đông Hồ
đã khảo sát toàn bộ các hộ gia đình tại phường Đông Hồ bằng phiếu rà soát xác định hộ nghèo, cận nghèo (phụ lục 6) (có 280 hộ có tổng điểm trong phiếu rà soát từ 1406 điểm trở xuống) Kết quả kế thừa này sẽ được tác giả tiến hành khảo sát lần hai bằng bảng khảo sát chỉ tiêu về các nhu cầu xã hội cơ bản (phụ lục 7) Kết quả khảo sát lần hai này được phân tích bằng phần mềm Excel và SPSS 20.0 Những hộ nào thiếu hụt từ 3 chỉ tiêu trở lên trong 10 chỉ tiêu về nhu cầu xã hội cơ bản được khảo sát thì xác định là hộ nghèo đa chiều
3.2.2 Phương pháp chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được sử dụng Do giới hạn về thời gian nghiên cứu, tác giả đã chọn mẫu khảo sát gồm 280 hộ gia đình Những hộ gia đình này được cung cấp bởi UBND phường Đông Hồ vì họ đã rà soát toàn bộ các hộ gia đình trong phường và lọc ra 280 hộ có điểm số dưới 140 để tiến hành đánh giá nghèo đa chiều Chính vì vậy, thay vì tiến hành rà soát toàn bộ hộ gia đình trong phường và lọc ra những hộ có điểm số dưới 140 điểm để tiến hành khảo sát và đánh giá nghèo đa chiều như cách nhân viên của phường Đông Hồ vừa làm, tác giả nhận thấy rằng tự thực hiện sẽ không khả thi bằng kế thừa kết quả rà soát của họ
6 Cách tính điểm này được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định thống nhất trên toàn quốc
Trang 383.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ những nguồn đáng tin cậy như Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Kiên Giang; Cục thống kê tỉnh Kiên Giang, phòng Lao động Thương binh và Xã hội Hà Tiên; các báo cáo của UBND thị
xã Hà Tiên, phường Đông Hồ, các văn bản báo cáo kết quả tình hình kinh tế xã hội của thị xã Hà Tiên, phường Đông Hồ; các bài báo, tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học liên quan
Dữ liệu sơ cấp được thu thập như sau: Tác giả kế thừa danh sách 280 hộ
có điểm quy đổi dưới 140 điểm (theo cách tính của Bộ lao động thương binh
và xã hội) Danh sách này được cung cấp bởi UBND phường Đông Hồ Sau đó,
280 hộ này được phỏng vấn bằng bảng câu hỏi với các tiêu chí nghèo đa chiều (phụ lục 7) Người phỏng vấn sẽ tiếp cận từng hộ gia đình để thu thập thông tin qua bảng câu hỏi và thu về ngay Quá trình thu thập thông tin dự tính cần 3 tuần với sự hỗ trợ của cộng tác viên Những cộng tác viên sẽ được tập huấn kỹ thuật thu thập dữ liệu và cách thức giao tiếp với người dân để đảm bảo thu thập được thông tin một cách hiệu quả nhất Dữ liệu sơ cấp thu thập được sẽ được sử dụng
để phân tích tình hình nghèo đa chiều Những hộ nào thiếu hụt từ 3 tiêu chí trong 10 tiêu chí nghèo đa chiều sẽ được xem là hộ nghèo đa chiều
Để đảm bảo nội dung bảng khảo sát được thiết kế phù hợp với người dân địa phương và đúng với quy định của nhà nước về nội dung điều tra cũng như cách thức điều tra, bảng câu hỏi sẽ được tham vấn chuyên gia và khảo sát thử trên 12 hộ gia đình trước khi tiến hành khảo sát 280 hộ gia đình
Tiêu chí chọn chuyên gia: chuyên viên phụ trách công tác điều tra hộ nghèo của phường Đông Hồ, chuyên viên phụ trách công tác xử lý số liệu điều tra hộ nghèo của phường Đông Hồ Các chuyên gia này sẽ được tham vấn những nội dung sau: (1) Cách thức tiến hành điều tra hộ nghèo của phường hằng năm? (2) Nội dung điều tra trong bảng câu hỏi có phù hợp với nội dung điều tra hằng năm của phường không? Nếu không thì cần xem xét và điều chỉnh
Trang 39những nội dung nào? (3) Những khó khăn trong quá trình điều tra hộ nghèo? (4) Những đề xuất và kinh nghiệm trong quá trình khảo sát (xem chi tiết Phụ lục 4 – Danh sách chuyên gia)
Những người trong hộ gia đình được chọn để khảo sát sơ bộ nhằm điều chỉnh câu chữ phù hợp với cách hiểu của người dân địa phương Danh sách 12 người đại diện cho 12 hộ gia đình trong phường Đông Hồ với các đặc điểm mẫu như sau: Dân tộc (Kinh, Hoa, Khmer) và trình độ học vấn (mù chữ, cấp 1; cấp 2 trở lên) Quá trình phỏng vấn thử được tiến hành như sau: Người phỏng vấn sẽ yêu cầu người trả lời đọc và trả lời bảng câu hỏi nhanh nhất có thể và đánh dấu những câu hỏi nào khó trả lời Đối với những người mù chữ, người phỏng vấn sẽ đọc câu hỏi và xem xét sự hiểu biết về câu hỏi và đề nghị trả lời
để từ đó điều chỉnh câu hỏi và câu trả lời Sau đó trao đổi xem người trả lời hiểu như thế nào về câu hỏi từ đó điều chỉnh lại câu hỏi để đảm bảo người trả lời hiểu đúng như ý định của người nghiên cứu (Xem phụ lục 5 – Danh sách
hộ gia đình được khảo sát sơ bộ)
3.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu
3.2.4.1 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng phần lớn trong quá trình phân tích dữ liệu định lượng thu thập từ phỏng vấn qua bảng câu hỏi Kết quả phân tích mô tả sẽ cho phép hình dung toàn bộ tình hình nghèo tại phường Đông Hồ Ngoài ra, chúng tôi còn áp dụng phương pháp so sánh để đối chiếu số liệu theo các biến nhân khẩu và làm nổi bật sự giống nhau và khác nhau giữa các nhóm
hộ gia đình
3.2.4.2 Phương pháp đo lường nghèo đa chiều
Quá trình áp dụng MPI được tiến hành như sau:
Tỷ lệ hộ nghèo theo phương pháp MPI được đại diện bởi chỉ số nghèo M0hay còn gọi là chỉ số nghèo đếm đầu hiệu chỉnh Chỉ số nghèo đa chiều MPI chính là giá trị M0 tương ứng với từng trường hợp cụ thể về số chiều, số chỉ
Trang 40tiêu và trọng của của từng chỉ tiêu Giá trị M0 đo lường tỷ lệ hộ nghèo ở d chỉ tiêu cho n hộ gia đình Quá trình tính toán M0 được thực hiện qua 8 bước sau: Bước 1: Lựa chọn đơn vị phân tích: hộ gia đình tại phường Đông Hồ Bước 2: Chọn chiều phân tích: 3 chiều gồm y tế, giáo dục và mức sống Bước 3: Xác định ngưỡng nghèo Mỗi chỉ tiêu xác định một ngưỡng, Mỗi đơn vị được xác định là thiếu hụt hay không thiếu hụt, xây dựng ma trận thiếu hụt của các chỉ tiêu Ma trận thiếu hụt này bao gồm các dòng là các quan sát của hộ, các cột là các chỉ tiêu mà hộ đang thiếu hụt Giá trị của các ô trong ma trận chính là trọng số của các chỉ tiêu, ứng với trường hợp hộ đang thiếu hụt chỉ tiêu tương ứng Từ ma trận thiếu hụt này, tính được vectơ đến mức thiếu hụt Đó chính là tổng mức thiếu hụt mà mỗi hộ gia đình gặp phải Xác định các
hộ gia đình bị thiếu hụt ở mỗi chỉ tiêu bằng cách so sánh với chuẩn nghèo ở mỗi chỉ tiêu Chuẩn nghèo này là các chuẩn nghèo về thu nhập hoặc các chuẩn nghèo về mức sống (Theo quyết định 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ) Giá trị của các chuẩn nghèo này gọi là mức giới hạn thiếu hụt Đây là mức giới hạn thiếu hụt đầu tiên trong quy trình tính toán tỷ lệ nghèo đa chiều
Hộ được xem là thiếu hụt ở chỉ tiêu nào, nếu giá trị thực tế thu thập được của chỉ tiêu đó nhỏ hơn chuẩn nghèo ứng với nó
Bước 4: Chọn chỉ tiêu phân tích (chọn các chỉ tiêu không có mối tương quan cao với nhau) Chỉ số MPI được sử dụng bao gồm 10 chỉ tiêu (chiều y tế:
2 chỉ tiêu; chiều giáo dục: 2 chỉ tiêu; chiều mức sống: 6 chỉ tiêu) (Xem bảng 2.3)
Bước 5: Áp dụng ngưỡng nghèo đa chiều: Nếu k=3, có nghĩa là có ít nhất
3 chỉ tiêu bị thiếu hụt thì hộ đó được gọi là hộ nghèo đa chiều
Bước 6: Tính tỷ lệ hộ nghèo