Sau 13 năm công tác trong quânđội Trần Hùng chuyển sang công tác tại Hội văn học nghệ thuật tỉnh CaoBằng, và giữ chức danh Phó chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh CaoBằng; Hội viên hội
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐỒNG THỊ LỆ HẰNG
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRẦN HÙNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐỒNG THỊ LỆ HẰNG
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRẦN HÙNG
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60220120
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Văn Giá
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng sâu sắc và tình cảm chân thành, em xin trân trọngcảm ơn: Khoa ngữ văn, phòng sau đại học – Đại học sư phạm Hà Nội II, nhàthơ Trần Hùng đã giúp đỡ cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc đến PGS.TS Ngô VănGiá, người đã nhiệt tình trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em nghiên cứu hoànthành luận văn
Xin được gửi lời cảm ơn đến những người thân: gia đình, bạn bè…đãgiúp đỡ tôi để luận văn được hoàn thành
Xuân Hòa, tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Đồng Thị Lệ Hằng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự
hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Ngô Văn Giá Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, khách quan và chưa từng ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tác giả luận văn
Đồng Thị Lệ Hằng
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu
6 7 Đóng góp của luận văn 7
8 Cấu trúc phần nội dung luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT -QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI CỦA NHÀTHƠ TRẦN HÙNG 8
1.1 Khái niệm chung về thế giới nghệ thuật 8
1.1.1 Thế giới nghệ thuật 8
1.1.2 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình
20 1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của nhà thơ Trần Hùng
22 1.2.1 Con người bản thể
24 1.2.2 Con người khát khao sẻ chia: 32
Chương 2 HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG TRONG THƠ TRẦN HÙNG 42 2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình 42
2.1.1 Cái tôi trinh khiết của tâm hồn trong trắng trẻ trung 43
Trang 62.1.2 Cái tôi cô đơn, chơi vơi trong cuộc sống vô thường 51
Trang 72.1.3 Cái tôi si tình 62
2.2 Hình tượng thế giới 67
2.2.1 Thế giới của tình yêu và ánh sáng 67
2.2.2 Thế giới của “vườn khuya” hư ảo 81
Chương 3 CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TRẦN HÙNG 88
3.1 Thể thơ 88
3.1.1 Thơ tự do 89
3.1.2 Thơ lục bát 95
3.2 Ngôn từ thơ 97
3.2.1.Khái niệm về ngôn từ nghệ thuật
97 3.2.2 Ngôn từ nghệ thuật trong thơ Trần Hùng 98
3.3 Một số biểu tượng tiêu biểu
104 KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 8-1
Trang 91.2 Trần Hùng là một nhà thơ trưởng thành trong thời kì hậu chiến, ôngcùng thời với Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Dương Kiều Minh,TạDuy Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Bảo Ninh, Trần Anh Thái, Y Ban……Trong
khoảng thời gian 14 năm ông đã cho ra đời 4 tập thơ đó là các tập: Gọi
bạn(1991), Mơ quê(1998), Thảm thắc(2015), Vườn khuya(2015).Trần Hùng
viết không nhiều nhưng thơ ông mang phong cách mới lạ độc đáo và cóchiều sâu nhận thức, ông đã có nhiều đóng góp cho nền thơ ca đương đạiViệt Nam Nét độc đáo làm nên cái riêng của thơ Trần Hùng đó là nhữngtriết lý suy tư, triết luận được đọng lại những nỗi buồn, trăn trở, băn khoăn,khắc khoải sâu lắng được đúc rút ra từ những trải nghiệm, những vất vả, vavấp của một cái tôi đầy yêu mến, suy tư trăn trở gắn bó sâu nặng với cuộcđời
Trần Hùng, sinh ngày 04 tháng 12 năm 1957, quê ở huyện Phú Xuyêntỉnh Hà Tây Tháng 4 năm 1975 Trần Hùng nhập ngũ và công tác trong quân
Trang 10-3đội tại quân đoàn 26 tỉnh Cao Bằng.Trần Hùng bắt đầu sáng tác thơ từnăm
-1979 với bài thơ đầu tay “Đồng đội” in trên báo Tiền phong Từ tháng
Trang 1112/1987 đến tháng 11/2015 ông đã chuyển công tác ở nhiều lĩnh vực và giữnhiều chức danh, chức vụ khác nhau Sau 13 năm công tác trong quânđội Trần Hùng chuyển sang công tác tại Hội văn học nghệ thuật tỉnh CaoBằng, và giữ chức danh Phó chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh CaoBằng; Hội viên hội nhà văn Việt Nam.
Thơ Trần Hùng - Một giọng thơ mới lạ, một bút pháp thơ riêng vớinhững hoài niệm về quá khứ, trăn trở về thực tại và dự cảm về tương laicùng nỗi buồn sâu lắng, những tnh cảm gắn bó với thiên nhiên, đất nước,quê hương, cuộc đời bằng bút pháp tài hoa, đặc sắc.Thơ Trần Hùng làtiếng nói của cái tôi trữ tình lãng mạn, cái tôi trữ tình đầy suy tư trăn trở thế
sự với những suy ngẫm và triết lý sâu xa trước thế sự nhân tnh Có thể thấy,gắn liền với một quan niệm thẩm mĩ mới mẻ, thơ Trần Hùng là một thế giớinghệ thuật hết sức độc đáo
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nàotrực tiếp bàn đến vấn đề này Do đó, tôi quyết định chọn “Thế giớinghệ thuật trong thơ Trần Hùng” làm đề tài nghiên cứu của luận văn
2 Lịch sử vấn đề
Trần Hùng là cây bút tiêu biểu của thơ Việt Nam đương đại, với sựnghiệp thi ca không nhỏ Thơ ông mang một giọng rất riêng, rất khác với ngòibút sáng tác tài hoa và độc đáo Trần Hùng đã để lại dấu ấn khó quêntrong lòng độc giả Trong năm 2015 chỉ trong một năm mà tác giả cho ra đời
hai tập thơ: “Vườn khuya” và “Thảm thắc” sau một thời gian vắng bóng trên thi đàn Đặc biệt, tập thơ “Vườn khuya” đã đoạt giải thưởng Hội nhà văn
Trang 12Trùng của Uớc Vọng” đã cho rằng những bài thơ của Trần Hùng thường được
hắt lên bởi một thứ ánh sáng mạnh “đó là ánh hồi quang lan tỏa từ miền
thẳm sâu của tiềm thức, từ niềm trắc ẩn như xuyên thấy vào lõi của trái đất Tôi cảm nhận được cái xung động cảm xúc cực kỳ mãnh liệt này Nếu chỉ bằng trái tm bình thường của con người, thì sẽ không chịu nổi cái áp lực của năng
lượng quá mạnh xuyên qua nó Có lẽ những câu thơ của nhà thơ Trần Hùng
đã truyền dẫn những xung lực mang đầy năng lượng của cảm xúc từ trái tmcủa nhà thơ - Và những câu thơ là điểm tựa cuối cùng chứa đựng cái xung lực quá mạnh mẽ đó” [50 ] Và nhà thơ này còn nhận xét rất xác đáng:
“Thơ Trần Hùng mở thông những cánh cửa thật rộng tới một thế giới vỗ những đôi cánh khát vọng giữa bầu trời của tình yêu, ước vọng trong
“niềm trinh tĩnh vỡ òa” (Thời gian)” [50]
Còn tác giả Đoàn Ngọc Minh trong bài “Sắc màu hư ảo trong tập “vườn
khuya” của nhà thơ Trần Hùng” cho rằng Trần Hùng luôn tìm kiếm, sẻ chia
những buồn vui của cuộc đời vốn dĩ không xuôi chiều vào thơ “Tôi đọc thơ
Trần Hùng và nhận ra anh làm thơ là để gửi gắm vào đó cảm xúc tình yêu thiêng liêng, ước vọng thiêng liêng…” [51]
Kim Chuông trong bài “Nhà thơ Trần Hùng thơ bước ra từ nơi chiều
sâu độc thoại” nhận định: “Thơ Trần Hùng bùng phát sinh nở sau những gì ngoại giới đã lặn chìm Thơ của tiếng lòng đắm say, khao khát Thơ của những khoảng trống luôn dày vò, ám ảnh từ mộng mị, yêu thương” [12] hay
“Thơ Trần Hùng là mạch nguồn phù sa chảy tươi nồng, lắng xoáy” [12]
Tác giả Phong Hương trong bài“Thơ Trần Hùng và nỗi buồn thi sĩ” đã
có những nhận xét khái quát về hai tập thơ “Thảm thắc” và “Vườn khuya” đều mang một âm hưởng buồn và đậm những suy tư triết lí “Nếu như tập
“Vườn khuya” là lời của cái tôi si tình với những cảm xúc đan xen trong tình
Trang 13yêu, có một chút bồi hồi xao xuyến, chút bâng khuâng vô định kèm thật nhiều nhớ
Trang 14nhung day dứt và vụn vỡ thì “Thảm thắc” là tếng nói của cái tôi tội nghiệp chơi vơi trong cuộc sống vô thường, thậm chí là hành trình tìm kiếm cái tôi bí ẩn.” [37] đồng thời tác giả cũng nhận xét rằng “Hầu hết những bài thơ của Trần Hùng đều là sự đào sâu khám phá cõi riêng của tâm hồn trong mối giao hòa với sự bí ẩn của sự vật”[37]
2.2 Những nhận định, đánh giá về đặc trưng thế giới nghệ thuật thơ
Trần Hùng.
Theo Dương Kiều Minh trong bài:“Nhà thơ Trần Hùng và Đôi Cánh
Trập Trùng của Uớc Vọng” nhận định “Thế giới của cảm xúc và niềm trắc ẩn
mở ra trong những câu thơ của Trần Hùng, rộng thênh và đẹp đến nao lòng”
[50] tác giả còn cho rằng mối quan tâm sâu sắc của Trần Hùng không chỉ là
câu chuyện thi ca mà là câu chuyện của cuộc đời vì thế thơ Trần Hùng “cứ
run rẩy, kiếm tm, nâng niu, đông cảm với những mất mát của cuộc đời, trong tình cảm thiêng liêng nhất với sự đi lên đi xuống không ngừng của cảm xúc và suy tưởng” [50]
Đoàn Ngọc Minh trong bài “Sắc màu hư ảo trong tập “vườn khuya” của
nhà thơ Trần Hùng”đã đánh giá khái quát về những sáng tạo độc đáo
của Trần Hùng qua tập “Vườn khuya”, tác giả đã cho rằng Trần Hùng với cách sáng tác thơ hiện đại, đã tạo “một đường thơ mới thả sức chuyển tải, thả sức
vén tận cùng nỗi đau,thả sức bay bổng mơ về dĩ vãng, về thực tại và về ngày mai bằng sắc màu tinh tế không kém phần hư ảo” [51] Với lối thơ như vậy
“Nhà thơ Trần Hùng đã tái hiện quá vãng bằng thơ của thực tại, thơ chính là
sắc màu hư ảo làm cho cuộc sống của nhà thơ thêm thanh thoát lắng đọng, yêu mình, yêu đời hơn.” [51]
Kim Chuông trongbài “Nhà thơ Trần Hùng thơ bước ra từ nơi chiều sâu
độc thoại” đánh giá nhận xét Trần Hùng với lối rẽ riêng, khơi nguồn cho
mạch kiếm tìm,“Xuyên suốt các tập thơ, Trần Hùng từng ngụp lặn trước hiện
Trang 15thực, ngụp lặn trước cái “vô biên độ,” trước bao nhiêu “ái ố hỷ nộ” để rồi, sau phút giây đó, thi sĩ lại đẩy mình ra thật xa, ngỡ chỉ còn lại “riêng mình với hồn mình độc thoại.” [12] Tác giả còn đánh giá về Trần Hùng là “Một thi sĩ của những gì thật diết da, thật trong xanh, quặn thắt (…) với con tm luôn đốt mình, luôn mở với đa chiều, đa tầng, đa thanh trước những mối quan tâm, trước tình yêu, tình người, tình đời, trước nhân tình thế thái.”[12]
Ngoài ra tác giả còn nhận định về bài thơ lục bát duy nhất của Trần Hùng về
“câu thơ hay ở phát kiến, lý giải, ở “cú tự có thần”: “Giật mình tuổi cũng đã xa/ mà chưa thật rõ là ta hay mình””[12]
Phong Hương trong bài “Thơ Trần Hùng và nỗi buồn thi sĩ” nhận định:
“Thành công nhất trong thơ Trần Hùng là tính triết lí, thơ ông nặng về những
suy tư triết học, được hình thành mài giũa từ sự đổ vỡ, đào sâu khám phá bản thể thẳm sâu và bí ẩn của con người và sự vật Ngôn ngữ và hình tượng thơ bật ra từ những suy tư, trải nghiệm của tác giả, chính vì vậy những câu thơ có sức nặng ám ảnh, day dứt người đọc.” [37]
Nhìn chung các ý kiến, nhận định trên của các tác giả tuy có nhắc đếnnhững đặc trưng trong thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng, tuy nhiên chưa đềcập một cách có hệ thống Vì vậy luận văn này lần đầu tiên sẽ đề cập
đến “Thế giới nghệ thuật trong thơ Trần Hùng” một cách hệ thống và
khái quát nhất, với mong mỏi tm tòi phát hiện ra những điều mới về thế giớinghệ thuật trong những sáng tác của ông
3 Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ những lí luận về nghệ thuật thơ mà đặc biệt là lý luận vềthi pháp thơ, luận văn đi sâu phân tích về thế giới nghệ thuật trong nhữngsáng tác của Trần Hùng
- Quan niệm nghệ thuật về con người của Trần Hùng
- Phân tch những đặc điểm nổi bật của hình tượng cái tôi; Hình tượngthế giới trong thơ Trần Hùng
Trang 16- Các phương thức và phương tiện biểu hiện trong thơ Trần Hùng.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Phải nêu được những vấn đề về lý luận cơ bản về thơ ca và thi phápthơ để làm căn cứ khảo cứu phân tích thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng.4.2 Qua nghiên cứu, phân tích tổng hợp luận văn phải làm rõ: quanniệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong thơ Trần Hùng; Hình tượngnghệ thuật: hình tượng cái tôi trữ tình,hình tượng thế giới
4.3 Khái quát đánh giá được giá trị nghệ thuật và vị trí vai trò của TrầnHùng trong nền thơ ca hiện đại của việt Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung tm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùngqua những sáng tác thơ của ông qua tập thơ “Thảm thắc” (2015), Nxb Hộinhà Văn, tập “Vườn khuya” (2015), Nxb Hội nhà văn.Hai tập thơ “Gọi bạn”(1991), “Mơ quê” (1998), Nxb Hội nhà văn được Trần Hùng đưa vào tuyểntập thơ “Thảm thắc” (2015), Nxb Hội nhà văn
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn người viết sử dụng một số phươngpháp chính như:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Đây là phương pháp quan trọng
nhất để tìm ra nhữnghình thức biểu đạt thế giới nghệ thuật thơTrần Hùng
- Phương pháp phân tích tác phẩm: Phương pháp này giúp người viết
phân tích các sáng tác của Trần Hùng từ góc độ nội dung và nghệ thuật Từ đólàm rõ những nét độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng
- Phương pháp hệ thống: Quan niệm thế giới nghệ thuật là một
chỉnh thể, xuất phát từ đặc điểm riêng của thế giới nghệ thuật thơ TrầnHùng, luận văn chú trọng tìm hiểu những yếu tố tạo nên chỉnh thể này vànhững quy luật cấu tạo của nó
Trang 17- Một số thao tác như:
+ Thống kê: Thao tác này giúp người viết tìm kiếm một cách có hệ thống
các số liệu cần phục vụ cho luận văn và hệ thống chúng làm tư liệu cho luậnvăn Giúp người viết tm ra những hình ảnh, biểu tượng xuất hiện nhiều lầntrong thơ Trần Hùng
+ Tổng hợp: Thao tác này giúp người viết khái quát cụ thể về thế giới
nghệ thuật thơ Trần Hùng
+ So sánh: Thao tác này giúp người viết nhận ra bản sắc riêng, thi pháp
riêng của Trần Hùng trong quan niệm nghệ thuật về con người và khi xâydựng hình tượng cái tôi và hình tượng thế giới (so với các nhà thơ khác cùngthời)
7 Đóng góp của luận văn
Luận văn cung cấp cho người đọc một cái nhìn khá toàn diện và khoahọc về những đặc điểm nổi bật trong thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng
từ đó nhận diện phong cách và vị trí của nhà thơ trong nền văn học hiệnđại Việt Nam Luận văn gợi mở thêm cho người đọc một cách nhìn về thơTrần Hùng trong dòng chảy thơ đổi mới, cách tân sau năm 1975; đồng thờighi nhận đóng góp của ông trong quá trình làm phong phú thơ Việt Namhiện đại và đương đại
8 Cấu trúc phần nội dung luận văn
Chương 1 Thế giới nghệ thuật - Quan niệm nghệ thuật về con người
của nhà thơ Trần Hùng
Chương 2 Hệ thống hình tượng nghệ thuật trong thơ Trần Hùng
Chương 3 Các phương thức và phương tiện biểu hiện thế giới nghệ
thuật trong thơ Trần Hùng
Trang 18NỘI DUNG Chương 1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT -QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON
NGƯỜI CỦA NHÀTHƠ TRẦN HÙNG 1.1 Khái niệm chung về thế giới nghệ thuật
1.1.1 Thế giới nghệ thuật
Vào khoảng thập kỷ 70 của thế kỷ XX, khái niệm thế giới nghệ thuật
xuất hiện ở một số công trình nghiên cứu như: “Thế giới nghệ thuật của M.
Gorki”, “Thế giới nghệ thuật của Sôlôkhốp” và nhanh chóng trở thành đối
tượng khám phá đầy lý thú cho giới nghiên cứu, giúp việc tiếp cận tác phẩmvăn học tránh được khuynh hướng chủ quan, lệch lạc
Thực ra nội hàm của khái niệm thế giới nghệ thuật được đề cập đến từ
lâu Xưa kia người Trung Quốc đã biết gọi tác phẩm thơ là một “cõi ý”, “cõi
thơ” Lưu Hiệp trong công trình tiêu biểu “Văn tâm điêu long” (khoảng năm
496 – 497) đã đưa ra “lục quan” bao quát cả nội dung và hình thức, tính tư
tưởng và tính nghệ thuật của tác phẩm văn học Theo Lưu Hiệp thì tác phẩm
văn học phải gồm sáu tiêu chí “1 Tình cảm sâu mà không dối; 2 Phong thái
trong mà không tạp; 3 Việc chắc mà không ba hoa; 4 Nghĩa thẳng mà không quanh co; 5 Thể gọn mà không rườm rà;6 Văn đẹp mà không dâm” [1; tr.
137] Nhà triết học cổ đại Hy Lạp Arixtôt trong “Nghệ thuật thơ ca” khi bàn
về kịch cũng xác định: “Bi kịch là sự mô phỏng một hành động quan trọng và
trọn vẹn có một qui mô nhất định nhờ vào ngôn ngữ – ngôn ngữ này trong mỗi phần có sự trau chuốt khác nhau.” [1; tr.34], và: “Bất cứ bi kịch nào cũng có bài trí, cốt truyện, văn từ, bố cục, âm nhạc và tư tưởng nữa.” [1; tr.35] Tuy vậy suốt một thời gian dài, ý nghĩa nội hàm của khái
niệm chưa thực sự được bàn đến một cách đầy đủ và chi tiết, dẫn đếnhiện tượng hiểu sai, hiểu phiến diện, suy diễn, trong nghiên cứu, phê bìnhvăn học
Trang 19Ở nước ta từ vài chục năm trở lại đây, khái niệm thế giới nghệ thuật trở
nên quen thuộc Trong giáo trình “Dẫn luận thi pháp học” được biên soạn để
giảng dạy cho học viên cao học tại Đại học Sư phạm Hà Nội và một số trường
đại học khác, Trần Đình Sử khẳng định: “Tác phẩm toàn vẹn xuất hiện như
một thế giới nghệ thuật” [77; tr29] Cũng trong công trình này, tác giả đã nêu
rõ cơ sở khoa học của việc dùng từ “thế giới” chỉ tác phẩm văn học và sơ bộ nêu cách hiểu khái niệm “thế giới nghệ thuật”, đồng thời phân tch các yếu tố
của thế giới bên trong tác phẩm văn học Thời gian gần đây, hàng loạt công
trình nghiên cứu văn học sử dụng khái niệm này Có thể kể đến “Con đường
đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn” của Nguyễn Đăng Mạnh (1994);
“Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kỳ trước cách mạng tháng 8 năm 1945” của Lê Quang Hưng (1996); “Những thế giới nghệ thuật thơ” của Trần
Đình Sử (1997); “Thế giới nghệ thuật thơ của Hàn Mặc Tử” của Chu Văn
Sơn (2000); Đó đều là những công trình nghiên cứu có giá trị, khẳng định
sự đúng đắn của một hướng tiếp cận văn học đang được chú ý hiện nay.Năm 1985 trong luận án Tiến sĩ khoa học: "Sự hình thành và những vấn
đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiệnđại” Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác định hàm nghĩa khái niệm thế giới nghệ
thuật như sau: “Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mĩ học bao gồm tất
cả các yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm mĩ Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực - đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật Trong thế giới nghệ thuật chứa đựng sự phản ánh hiện thực, tư tưởng, tình cảm cửa nhà văn Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương đối với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn bản thân nó Nó có thể bao gồm tất cả các tác phẩm nghệ thuật của một
Trang 20nhà văn, một trào lưu nghệ thuật, một thời kỳ nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay nhiều dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan đến nhiều yêu tố khác của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hình tượng nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng trong đó chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người …là thế giới sinh động và đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học mỗi dân tộc, mỗi thời kỳ lịch sử để có thế giới nghệ thuật riêng của mình”
Đây là một khái niệm rộng, được triển khai với nhiều cấp độ Tuy còndừng ở mức khái quát song quan niệm sẽ là những gợi ý hết sức quý báu,phù hợp với nhiều luận điểm mà chúng tôi sẽ triển khai trong luận văn
Năm 1992 nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đã
định nghĩa: "Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo
nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, một tác giả, một trào lưu) Sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc riêng của nghệ thuật Thế giới nghệ thuật có thời gian không gian riêng, có quy luật tâm lí thang bậc giá trị riêng trong việc phản ánh thế giới Mỗi thế giới ứng với một cách cắt nghĩa về thế giới [28;Tr 201, 202].
Nghiên cứu cụ thể ở thể loại thơ trữ tnh, trong cuốn "Thơ trữ tình ViệtNăm 1975 – 1990” (1998), Lê Lưu Oanh đã chi tiết hoá khái niệm này qua
hình tượng cái tôi trữ tình Tác giả viết: “Gọi cái tôi trữ tnh là một thế giới
nghệ thuật bởi thế giới nội cảm này là một thể thống nhất có ngôn ngữ
và quy luật riêng phụ thuộc vào lịch sử cá nhân, thời đại Đi sâu vào thế giới nghệ thuật được coi như một kênh giao tiếp với những mã số, kí hiệu, giọng nói chương trình riêng, cần có thao tác phù hợp Thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình là một thế giới mang giá trị thẩm mĩ” [ 60 ;Tr 33,35].
Cách hiểu của tác giả đã mở cho chúng tôi một hướng đi rất cụ thể trong
Trang 21việc khám phá thế giới nghệ thuật thơ trữ
tình
Các quan niệm đưa ra ở trên có giá trị rất lớn về mặt lí luận để tavận dụng vào thực tiễn tìm ra giá trị đích thực của văn học Việc khẳng địnhthế giới nghệ thuật là một chỉnh thể ngoài việc chỉ ra mối quan hệ mật thiếtgiữa các yếu tố còn giúp người nghiên cứu tránh được những suy diễn chủquan, lệch lạc trong việc khám phá, chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật Vìvậy, dù nghiên cứu văn học ở cấp độ nào đều phải làm rõ thuật ngữ này
Là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều yếu tố nên việc tìm hiểu kĩ trongdung lượng luận văn cao học là rất khó Vì thế, trong chương này chúng tôichỉ trình bày khái quát các vấn đề của khái niệm thế giới nghệ thuật Từ đó,chúng tôi sẽ vận dụng vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng
1.1.1.1 Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật
Trong nghiên cứu văn học "chỉnh thể” là thuật ngữ chuyên ngành có ý
nghĩa "Là tổng thể bao gồm các yếu tố có mối quan hệ mật thiết với nhau
tương đối bền vững, bảo đảm cho hoạt động của nó như môi trường xung quanh…” Vận dụng khái niệm này vào tm hiểu chỉnh thể thế giới nghệ
thuật cho thấy thế giới này bao gồm rất nhiều cấp độ Tác phẩm, tác giả, giai
đoạn, thời kì văn học, nền văn học dân tộc, trào lưu Mỗi cấp độ lại là
một chỉnh
thể toàn vẹn, thống nhất Mọi yếu tố trong hệ thống chỉnh thể có quan hệràng buộc, quy định và tác động lẫn nhau Mối quan hệ này đã tạo ra một thếgiới với nội dung và chức năng mới vốn không có khi đem tách rời các yếu tố
Nói như vậy, thì chỉnh thể thế giới nghệ thuật là sự liên kết "siêu tổng cộng"
của các chỉnh thể nhỏ trong hệ thống từ quan niệm, mô hình, hình tượngđến các chỉnh thể nhỏ hơn khái niệm hình tượng Chỉnh thể thế giới nghệthuật là kết quả của quá trình tư duy của người nghệ sĩ khi biến nhữngcảm xúc, những tình điệu thẩm mĩ, những cách khám phá, cắt nghĩa, lí giải
đời sống thành "thiên nhiên thứ hai" - để người đọc chiêm nghiệm, suy
Trang 22ngẫm, soi ngắm các vấn đề mà người nghệ sĩ đã gửi vào trong đó Là sảnphẩm của nhà văn nhưng
Trang 23thế giới nghệ thuật tồn tại độc lập với nhà văn theo cách riêng của mình.Việc tm hiểu ý nghĩa của chỉnh thể phải tm trong cái toàn thể có chấtlượng cao trọn vẹn, thống nhất (qua sự liên kết các bộ phận với nhau) Chẳng
hạn chỉnh thể ngôi nhà là sự liên kết của xi măng, cát, vôi, gạch Tính
chỉnh thể của văn học được biểu hiện qua sự thống nhất biện chứng giữa nộidung và hình thức Trong sáng tạo, nội dung làm nẩy sinh hình thức và hìnhthức phụ thuộc, phục tùng nội dung, biểu đạt nội dung Không có nội dung ởngoài hình thức, cũng không có hình thức trừu tượng tách rời nội dung Tuynhiên, việc thống nhất không phải lúc nào, nhà văn nào cũng có thể làmđược mà chỉ những nhà văn thực sự tài năng thì mới tạo nên sự thốngnhất Sự thống nhất càng cao thì giá trị biểu hiện càng lớn Trong thế giớinghệ thuật, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức là hệ quả tất yếu nhằmthống nhất nội tại giữa các yếu tố, thể hiện tính quy luật của chỉnh thể Đây
là cơ sở để đánh giá đúng chân giá trị của tác phẩm Nó giúp người sáng táctránh được những lắp ghép máy móc, khiên cưỡng, vô cảm và giúp ngườinghiên cứu tránh được những đánh giá chủ quan, cứng nhắc
Như vậy, chỉ khi nội dung và hình thức phù hợp, thống nhất với nhau thìmới tạo nên chỉnh thể và cũng chỉ trong chỉnh thể thì mối quan hệ này
mới xuất hiện Đúng như Bêlinxki nhà phê bình Nga đã viết: "Khi hình
thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt tới mức nếu tách nó ra khỏi nội dụng thì có nghĩa là huỷ diệt hình thức” [73; Tr 25].Từ mối quan hệ này
đã mở ra một hướng khám phá thế giới nghệ thuật bắt đầu từ hình thức,tức là tiếp cận từ góc độ thi pháp Khi quan niệm thế giới nghệ thuật là chỉnhthể thì ta đã thừa nhận cấu trúc nội tại của nó Trong thế giới nghệ thuậtcấu trúc là phần ổn định nhất Nó không chỉ là một tầng mà là nhiều tầngđược đặt trong hệ thống từ cảm hứng đến sáng tạo, từ thấp đến cao: Ngôn
từ - hình tượng - kết cấu - văn bản
Trang 24Nhưng phải thừa nhận rằng quá trình sinh thành chưa thể tạo nên mộtchỉnh thể trọn vẹn Bởi thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của ngườinghệ sĩ nên nó cần có một quá trình cảm thụ Trong quá trình cảm thụmới xuất hiện các mối quan hệ ngược xuôi giữa các lớp, các yếu tố Các mốiquan hệ này vừa đan xen vừa đồng hoá để tạo ra một chỉnh thể toàn vẹn cóchức năng, nội dung mới Nằm trong chỉnh thể các yếu tố vừa mang ýnghĩa của bản thân nó vừa mang ý nghĩa của chỉnh thể Do sự chi phối phụthuộc lẫn nhau nên một yếu tố trong chỉnh thể thay đổi sẽ kéo theo sự thayđổi của các yếu tố khác Chẳng hạn, trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự,
do yêu cầu tái hiện cuộc sống đầy đủ, chi tiết nên nó không bị hạn chếbởi thời gian, không gian, số lượng nhân vật Các nhân vật được xây dựng
chi tiết, tỉ mỉ với nhiều quan hệ phức tạp Nhưng ở tác phẩm kịch do phản
ánh cuộc sống bằng hình thức diễn xướng nên hạn chế về thời gian, khônggian đã kéo theo số lượng nhân vật ít, các tnh tiết khắc hoạ chỉ tập trung ởcác mâu thuẫn đã lên tới đỉnh điểm
Như vậy, thế giới nghệ thuật chỉ dược xem là chỉnh thể khi các yếu tố,các lớp có sự ràng buộc, quy định lẫn nhau theo một quy luật nhất định Coitính chỉnh thể là phẩm chất không thể thiếu của sáng tạo nghệ thuật chophép ta nhìn nhận thế giới này ở dạng đầy đủ, nhiều mặt nhất
1.1.1.2 Các cấp độ của thế giới nghệ thuật.
* Cấp độ quan niệm nghệ thuật.
Quan niệm nghệ thuật thể hiện các giới hạn cách hiểu thế giới, conngười thuộc một hệ thống nghệ thuật của nhà văn được thông qua mức độ,phạm vi, khả năng chiếm lĩnh đời sống của nhà văn đó Quan niệm nghệthuật là hạt nhân bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ qui chiếu ẩnchìm trong hình thức nghệ thuật Gắn với phạm trù phương pháp sáng tác,phong cách nghệ thuật nên quan niệm nghệthuật là thước đo của nội dung
và hình thức văn học,
Trang 25là cơ sở của tư duy nghệ thuật của nhà văn.
Quan niệm nghệ thuật bao gồm nhiều vấn đề như: thế giới, con người,nghệ thuật, các phạm trù thẩm mỹ Tuỳ theo quan niệm mà có những thế
giới nghệ thuật tương ứng
Thứ nhất: Quan niệm về thế giới: Thế giới được tạo nên bởi thiên
nhiên, vũ trụ và con người Nhưng quan niệm về thế giới lại không giốngnhau Trong triết học, chủ nghĩa duy tâm quan niệm thế giới là hiệntượng tinh thần, tồn tại bất biến Chủ nghĩa duy vật quan niệm thế giới làhiện tượng vật chất luôn vận động biến đổi Trong văn học, mặc dù chịu ảnhhưởng của các hình thái ý thức xã hội khác đặc biệt là triết học nhưng quanniệm về thế giới không đơn giản là vật chất hay tinh thần mà nó được thểhiện ở điểm nhìn nghệ thuật Nó dựa trên sự cảm nhận của cá nhân về mộtthế giới để thoả mãn sự tồn tại của nó Ứng với mỗi quan niệm về thếgiới là một thế giới nghệ thuật, vì thế việc tìm hiểu quan niệm này phải xét
trong từng thế giới nghệ thuật cụ thể.
Thứ hai: Quan niệm về con người: Con người là đối tượng hướng tới
của văn học nhưng con người trong văn học không phải là con người nguyên
bản của đời sống "mà là quan niệm về con người ấy một cách thẩm mỹ
và nghệ thuật” (Theo Trần Đình Sử) Quan niệm về con người thay đổi
theo từng thời kỳ lịch sử Dù miêu tả con người ở mức độ nào, tồn tại bấtbiết hay vận động biến đổi, cá nhân hay cộng đồng thì vẫn mang một giá trịnhất định trong việc phản ánh đời sống, biểu đạt những phẩm chất thẩm mỹcủa thời đại hoặc khẳng định một chân lý về nghệ thuật Quan niệm nghệthuật về con người gắn chặt với cái nhìn của người nghệ sỹ Nó chỉ có giátrị trong một hoàn cảnh, một giai đoạn hay một thời kỳ lịch sử nhất định
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “quan niệm nghệ thuật về conngười”:
Trang 26Trong Từ điển thuật ngữ văn học, thuật ngữ này được định nghĩa:
“Quan niệm nghệ thuật về con người là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh
đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù, phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước
đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật" [24;tr 275]
Theo Trần Đình Sử thì: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí
giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó”.
[83; tr.355]
Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiệnkhả năng khám phá, sáng tạo trong miêu tả và thể hiện con người của nhàvăn.Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn trong tácphẩm văn học, chúng ta có sơ sở để nhìn nhận đánh giá đầy đủ hơn đónggóp của nhà văn trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, cách nhìn của nhàvăn về cuộc đời con người, về một thời đại
Thứ ba: Quan niệm về nghệ thuật: Nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo
của tinh thần nên giá trị của nó cũng là giá trị tinh thần Những giá trị tinhthần này dễ dàng thâm nhập vào thế giới tinh thần con người, ở nơi có
sự đồng cảm chân thành Quan niệm về nghệ thuật rất phức tạp: Platon cho
rằng: nghệ thuật là bản sao lại của một bản sao, là sự bắt chước của sự bắt
chước"
Aristote quan niệm: nghệ thuật là sự bắt chước nhưng mang lại niềm vui”.
Hêgen nhấn mạnh: "Nghệ thuật là ý niệm tuyệt đối Các Mác khẳng định:
“Nghệ thuật là phản ánh đời sống” Đây là quan niệm có cơ sở thực tế cao
bởi vì nó cho thấy ngay từ khi mới ra đời văn học đã hướng vào cuộc sống,phản ánh, cải tạo
Trang 27Thứ tư : Quan niệm về các phạm trù phẩm mỹ: Phạm trù thẩm mỹ là
khái niệm thể hiện nhận thức khái quát của con người về những hiệntượng
Trang 28thẩm mỹ có trong tự nhiên, xã hội, con người và nghệ thuật Trongnghệ thuật, phạm trù này được xác định qua cái thẩm mỹ (những đặctrưng của quan hệ giá trị của con người đối với thế giới xung quanh) Cái
thẩm mỹ bao gồm cái hài, cái hùng, cái bi, cái cao cả, cái đẹp, cái xấu Mỗi
cái thẩm mỹ gắn liền với cảm xúc của người nghệ sỹ được người nghệ sỹkhái quát để mang một ý nghĩa biểu trưng ở các lĩnh vực khác nhau của đờisống Cái thẩm mỹ “Vừa bất biến” (một cảm hứng duy nhất xét về loạihình), “Vừa khả biến” (có bản chất xã hội, lịch sử về các xung đột tinh thần,
tư tưởng mà nó biểu hiện) [1; Tr.35]
Hình tượng nghệ thuật là các khách thể của đời sống được người nghệ
sĩ tái hiện hoặc tái tạo và tồn tại độc lập như một thực thể văn hoá xã hội(tức là nó tách khỏi hoạt động nghệ thuật của nhà văn) mà con người có thểthưởng thức, ngắm nghía Hình tượng nghệ thuật chỉ thấm vào ý thức củacon người khi họ cảm thấy cuộc sống trong đó Vì thế, hình tượng phảibắt nguồn từ
những cá thể của đời sống Trong thực tế, cá thể của đời sống rất đa dạng,mỗi cá thể có một cuộc sống riêng, vùng thẩm mĩ riêng nên yêu cầu đặt rađối với người nghệ sĩ là phải biết chọn lựa những cá thể có sức khái quát caothì cuộc sống mới phản ánh được nhiều mặt nhất
Tái hiện cuộc sống, nhưng hình tượng nghệ thuật không sao chépnguyên si những hiện tượng có thật ngoài đời mà tái hiện có chọn lọc, sángtạo Việc tái hiện có sự lựa chọn càng cao thì hình tượng có giá trị khái quátcàng lớn Giá trị này không phụ thuộc vào số lượng chi tiết nhiều hay ít mà
Trang 29chính là ý nghĩa của nó Đôi khi hình tượng nghệ thuật chỉ cần vài chi tiết ít
ỏi cũng có
Trang 30thể để lại ấn tượng khó phai mờ trong lòng người đọc Chẳng hạn, hìnhảnh đôi mắt trong thơ Nguyễn Đình Thi, nụ cười chiến thắng của VõThị Thắng… Trong thực tế từ các chi tết đơn lẻ, nhất thời, ngẫu nhiên người
ta còn có thể khám phá cái cốt lõi, bất biến, vĩnh hằng
Như vậy, chỉ thông qua hoạt động tưởng tượng của người nghệ sĩ thì
một "thiên nhiên thứ hai” mới ra đời Thiên nhiên này không chỉ định hướng
về tinh thần con người để hoạt động có chủ định, có lí tưởng, để lí giải thếgiới hiện thực mà còn mang đến cái có thể có, muốn có, phải có
Thế giới hình tượng rất đa dạng Xét ở phương diện thể loại, mỗi thểloại có những hình tượng nổi bật, mang tính khu biệt Trong tác phẩm trữtình nổi bật là hình tượng cái tôi Trong tác phẩm tự sự nổi bật là hình tượngnhân vật hình tượng người trần thuật Xét về phương diện biểu hiện, hìnhtượng nghệ thuật bao gồm những hình tượng thực, hình tượng ảo, hìnhtượng thiên nhiên hình tượng con người, hình tượng thời gian
Hình tượng nghệ thuật chỉ sống khi được đặt trong thời gian, không giansinh tồn (đây vừa là hình thức nội tại vừa là thuộc tính tất yếu của hìnhtượng nghệ thuật) Bị cắt đứt khỏi thời gian, không gian vật lí, tách khỏithế giới hiện thực xung quanh, lại bị giới hạn trong khuôn khổ của tnh ước lệnên thời gian, không gian của hình tượng chỉ có thể cảm nhận chứ không
thể nhìn thấy trực tiếp bằng mắt Đọc câu thơ của Nguyễn Du “Gìn vàng giữ
ngọc cho hay / Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời” người đọc hình
dung ra một không gian xa xôi cách trở, đầy những khó khăn…
Nếu trong hội hoạ, điêu khắc, thời gian, không gian tồn tại bất biếnkhiến hình tượng bị đông cứng trong đường nét, hình khối, mầu sắc thì trongvăn họcdo lấy chất liệu là ngôn từ nên thời gian, không gian giúp cho hìnhtượng luôn vận động và thể hiện rõ nét hơn hình ảnh thật Chịu sự chi phốicủa hoàn cảnh lịch sử gắn liền với mức độ cảm thụ và quan niệm của ngườinghệ sĩ nên thời gian, không gian ở mỗi thời đại có “màu sắc” riêng Chẳnghạn, thời gian
Trang 31của người cổ trung đại là tuần hoàn vĩnh cửu, quá khứ, hiện tại, tươnglai cùng tồn tại trong thì hiện tại, không gian là vũ trụ bao la Thời gian củacon người hiện tại là tuyến tính, không gian giắn liền với từng con người cụthể….
Thời gian, không gian trong văn học có sự co giãn kì diệu Thời gian vậnđộng cả ba chiều, có thể đang ở thì hiện tại nhưng ngay lập tức quay về quákhứ hoặc vươn tới tương lai xa xôi mà không bị vấp một cản trở nào Thờigian nghệ thuật có thể dồn nén cả một cuộc đời, một thời kì vào trongkhoảng khắc Cũng như thời gian, không gian nghệ thuật cũng không bị tróibuộc bởi giới hạn nào Nó có thể là không gian hẹp như: xó bếp, gác xép, cănphòng… nhưng cũng có khi rộng lớn bao la như: chân mây cuối trời… Khônggian nghệ thuật có khả năng dịch chuyển rất nhanh Huy Cận đã mở ra mọt
không gian có cả thiên đường và trần thế chỉ trong hai câu thơ “Nắng xuống
trời lên sâu chót vót / Sông dài trời rộng bến cô liêu” Ở mỗi giai đoạn
văn học, không gian có mầu sắc riêng Chẳng hạn, không gian trong văn họcdân gian là cây đa, bến nước, nơi hò hẹn…, thơ trung đại là không gian sơnthuỷ hữu tình, thơ mới là không gian lạnh lẽo, hờ hững, mong manh Nhìnchung, thời gian, không gian trong văn học gắn liền với sự cảm thụ của ngườinghệ sĩ với ý thức về ý nghĩa của cuộc đời, với quan niệm về thế giới, conngười
Nói tóm lại, hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất cao độ giữa các mặt
đối lập: chủ quan - khách quan; lí trí - tnh cảm; cá biệt - khái quát; hiện thực
- lí tưởng: tạo hình - biểu hiện; hữu hình - vô hình… Bản thân của mỗi hìnhtượng làmột quan hệ xã hội thẩm mĩ vô cùng phức tạp bao gồm: Quan hệgiữa các yếu tố và chỉnh thể giữa thế giới thực tại và thế giới nghệ thuật, giữatác giả hình tượng, cuộc sống Với tư cách là cấp độ hạt nhân của chỉnh thểthế giới nghệ thuật, hình tượng là yếu tố trọn vẹn nhất vừa phản ánh đầy đủcuộc sống vừa thể hiện gương mặt nghệ sĩ
Trang 32* Cấp độ ngôn từ nghệ thuật
Ngôn từ nghệ thuật là lớp lời văn trong tác phẩm do người nghệ sĩ sángtạo ra Nó là hình thức biểu đạt duy nhất vừa là xác, vừa là hồn của vănchương Xét về mặt chất liệu, ngôn từ nghệ thuật sử dụng các phương tiệncủa ngôn ngữ toàn dân như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng nhưng mang phẩm
chất thẩm mĩ và mục đích nghệ thuật nên nó có thể “Truyền đạt một thông
tin và không một phát ngôn đúng nghĩa nào có thể thay thế được” (theo
Nếu các môn khoa học khác như: triết học, pháp luật phản ánh cuộc sống bằng các khái niệm, công thức thì văn học phản ánh cuộc sống bằng “Lời văn
biểu cảm hình tượng” [83;Tr.355] Trước hết, tính gợi hình thể hiện trong
chính lời văn, bởi qua lời văn người đọc sẽ hình dung ra những mối quan
hệ, những cung bậc tnh cảm khác nhau của nhân vật Để đạt được mục đíchnghệ thuật và có tnh thẩm mĩ cao, lời văn có một hình thức tổ chức đặc biệt
Nó sử dụng đậm đặc các hiện tượng cú pháp, các từ tượng thanh tượnghình, từ mô tả trạng thái, cảm giác nhất là các phương thức thêm nghĩa,chuyển nghĩa như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng làm cho lờivăn mềm mại, uyển chuyển, bay bổng và có tính đa nghĩa, hàm ngôn
Hình thức tổ chức lời văn ở mỗi một thể loại có những nét đặc thùriêng Trong thơ trữ tnh, tổ chức lời thơ phải có tách dòng, có nhạc, cóvần Trong tự sự, tổ chức lời văn là đoạn chương, hồi Trong kịch, tổ chứclời văn phải
Trang 33có màn, lớp, cảnh .Theo Trần Đình Sử, lời văn nghệ thuật còn đóng vai trò "
biểu diễn" sự vật Điều này có nghĩa lời văn làm cho sự vật hiện hình (đây là
điểm khác nhau cơ bản với lời nói hàng ngày)
Quá trình sáng tác văn học là một quá trình tư duy tưởng tượng Trongtưởng tượng người nghệ sĩ không chỉ tạo dựng cuộc sống với những gì cóthật như; con người, đồ vật, phong cảnh mà có cả những sự vật không tồn tại
như: thần linh, ma quỷ, tên phật Nhờ tưởng tượng lời văn bộc lộ được ý
nghĩa của cuộc sống, làm cho hình tượng có thể hiểu được, hình dung được
và nhiều khi chúng có cả tiếng nói đối với đời sống con người Lời văn nghệthuật ít khi chỉ thông báo đơn giản sự việc xẩy ra đối với nhân vật mà thườngtái hiện cả một phức hợp qua lại, cả chủ quan và khách quan trong các sựkiện đó
Như vậy, lời văn nghệ thuật vừa đóng vai trò lưu giữ làm phongphú thêm cho ngôn ngữ dân tộc vừa thể hiện sự kết tinh, sàng lọc ngônngữ của tác giả vừa thể hiện năng lực, sở trường, phong cách và quan niệmcủa người nghệ sĩ
1.1.2 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình
Trong văn học, căn cứ vào phương thức phản ánh người ta chia vănhọc ra làm ba thể loại lớn: tự sự, trữ tình và kịch Trong mỗi thể loại lại baogồm nhiều thể loại nhỏ Tự sự có sử thi, tiểu thuyết truyện ngắn, truyện vừa,truyện dài Kịch có hài kịch, bi kịch, chính kịch Trữ tnh có thơ vănxuôi, thơ cách luật, thơ trữ tình, tuỳ bút… Ứng với mỗi thể loại lớn là các thểnhỏ là những mô hình thế giới nghệ thuật riêng, có qui luật vận động riêng vàhình thức tổ chức biểu hiện riêng Thơ trữ tình là một thể nhỏ nằm trongthể loại trữ tình Thế giới nghệ thuật của nó cũng bao hàm đầy đủ các cấp
độ, yếu tố Nhưng các cấp độ, các yếu tố này có hình thức biểu hiện riêng.Nếu việc tm hiểu thế giới nghệ thuật của bất kì thể nào cũng chính là làm rõ
Trang 34thế giới tếng này thì đến đây có thể nói ngắn gọn rằng, việc tm hiểu kháiniệm thế giới
Trang 35nghệ thuật thơ trữ tình chính là tìm hiểu tính chủ quan và những đặc trưngthể loại của nó.
Thơ trữ tnh là thuật ngữ nhằm để phân biệt với các thể loại khác
trong thể loại trữ tnh và thơ tự sự Nó có ý nghĩa là phương tện để con
người ta tự khẳng định bản chất của mình, xây dựng hình tượng về mình, xác định chíí hướng, lập trường, giá trị trước cuộc sống, đồng thời là phương tiện để xây dựng thế giới tinh thần của con người” [81; tr.112].
Thơ trữ tnh có khả năng khêu gợi và bộc lộ cảm xúc rất lớn Tuy cảmxúc là của từng cá thể nhưng lại bắt nguồn từ cuộc sống nên trong thơ trữtình có tất cả mọi chuyện, chuyện thế sự, chuyện đời tư, chuyện chung,
chuyện riêng Dù nói gì đi nữa thì nổi bật trong thơ vẫn là "bản tự thuật của
tâm trạng” (Poxpelop), những vương quốc chủ quan” (Bielinxki).
Là tiếng nói của cảm xúc trực tiếp nên thơ trữ tình có kết cấu đặcbiệt: Kết cấu theo lôgic của tình cảm, cảm xúc Khám phá kết cấu này cónghĩa chúng ta đi khám phá mạch xúc cảm phản ánh thế giới tâm hồn chủthể trữ tình trong mọi biến thái tinh vi, phức tạp nhất
Cũng vậy, thống nhất và chịu sự qui định của đặc điểm thể loại, nhịpđiệu, giọng điệu, hình ảnh thơ mang những nét độc đáo riêng Ngôn ngữthơ
được tổ chức đặc biệt để thể hiện nhịp điệu tâm hồn, nhịp điệu cảm nhậnthế giới một cách thầm kín Hình ảnh thơ trực tiếp truyền đạt sự cảmnhận thế giới một cách chủ quan nên giàu nghĩa hàm ẩn Giọng điệu thơ làgiọng điệu trữ tnh, biểu hiện thái độ tình cảm, tư tưởng của chủ thể trữ tìnhđối với hiện thực đời sống được thể hiện
Tóm lại, thế giới nghệ thuật thơ trữ tình là thế giới của những rungđộng sâu sắc, mãnh liệt được hóa thân trong chủ thể với một quan niệm vànhững hình thức tổ chức độc đáo, hoàn mĩ Trong cuộc sống rộng lớn củachúng ta, có bao nhiêu cá thể thì có bấy nhiêu tâm hồn, mỗi tâm hồn lại tồntại trong vô
Trang 36vàn trạng thái cảm xúc phụ thuộc vào thời đại, vào hoàn cảnh đất nước, vàotình cảm riêng tư của cá nhân Tâm hồn ấy, trạng thái cảm xúc ấy ở mỗi nhàthơ được hóa thân vào một hình thức biểu hiện cụ thể thấm đẫm cá tnhsáng tạo của anh ta.
Từ những quan niệm trên, chúng tôi đi vào khám phá thế giới nghệthuật thơ Trần Hùng trong sự tương quan giữa các yếu tố ở quan niệm nghệthuật, cấp độ hình tượng nghệ thuật để tìm ra phong cách riêng độc đáocủa tiếng thơ này, đồng thời khẳng định sự đóng góp của tác giả đối vớinền văn học dân tộc
1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của nhà thơ Trần Hùng.
Văn học là nhân học, đối tượng thể hiện chủ yếu của nó là con
người Chúng ta không thể lí giải một hệ thống văn, thơ mà bỏ qua con người
được thể hiện trong đó Tuy nhiên sự miêu tả con người trong văn họckhông bao giờ là sự sao chép, chụp ảnh và tâm hồn nhà văn cũng không nhưmột tấm gương cho sự phản chiếu nào Nhà văn sáng tạo ra nhân vật, kể ra,miêu tả ra nhân vật, nhân vật bao giờ cũng hiện ra theo cách hình dung,cảm nhận của tác giả, tức là mỗi nhà văn đều có một quan niệm khác nhau
về con người Trong lịch sử văn học chẳng những con người với tư cách làđối tượng của văn học đổi thay, mà ngay quan niệm nghệ thuật về conngười cũng thay đổi làm cho khả năng chiếm lĩnh con người trong văn họcngày càng sâu sắc, phong phú và tạo thành lịch sử của sự miêu tả con ngườitrong văn học
Con người là cầu nối giữa văn học nghệ thuật và cuộc sống Vì thế nêncon người trở thành đối tượng miêu tả chủ yếu để văn học có một điểm tựanhìn ra thế giới bên ngoài Con người lịch sử, con người cá nhân, con người
xã hội là trọng tâm đánh giá các mối quan hệ Do đó người nghệ sĩ phải đinhiều, hiểu nhiều, phải chọn những phương tiện để bộc lộ mọi mặt trong đờisống của con người
Trang 37Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Trần Hùngchính là xem xét từ cách tư duy, cách cảm nhận và cắt nghĩa về con ngườitrong thơ ông.
Trần Hùng là một trong những nhà thơ đương đại têu biểu, đến nay
ông có hai tập thơ lớn: “Vườn khuya” và “Thảm thắc” Tác phẩm của ông đã đoạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2015 với tập “Vườn khuya” Thơ ông
có bản sắc riêng không lẫn với ai với những quan niệm về văn chương,cuộc đời và con người hết sức sâu sắc và độc đáo Có thể nói mỗi thiphẩm của Trần Hùng là một sự thăng hoa của tâm hồn, tư tưởng,quan niệmnghệ thuật của ông, mà hạt nhân của quan niệm văn chương là quan niệmnghệ thuật về con người Quan niệm nghệ thuật về con người là cái giớihạn tối đa trong cách hiểu, cách cảm, cách nhìn và cách lí giải về con ngườicủa nhà văn, được hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháphình thức thể hiện con
người trong văn học, tạo nên giá trị thẩm mĩ cho các hình tượng nhânvật trong đó Quan niệm nghệ thuật về con người gắn với vốn sống, vốn vănhoá, tài năng ,cá tính sáng tạo của nhà văn và ý thức hệ của cộng đồng xãhội Mỗi nhà văn lớn đều có một quan niệm nghệ thuật riêng Khi cầm bútsáng tác bao giờ họ cũng chịu sự định hướng của một quan niệm nghệ thuậtnào đó Đã có sáng tác văn học tức là đã tồn tại các quan niệm nhất định
về văn chương, cuộc đời và con người.Trong thực tế, có những nhà văn trựctiếp phát biểu quan niệm của mình thành các luận điểm, cũng có nhiều nhàvăn chỉ thể hiện quan niệm của mình trên thực tiễn trang viết, trong trườnghợp đó người đọc phải tm cách cắt nghĩa quan niệm của nhà văn ẩn chìmtrong hình thức nghệ thuật
Với Trần Hùng, hầu hết những quan niệm đều được ông thể hiện quanhững trang thơ của mình Có thể nói con người là chủ thể của mọi mục đích
Trang 38sáng tạo, con người bản thể, con người với khát khao sẻ chia trở đi trở lạinhư
Trang 39một nỗi ám ảnh trong những vần thơ của Trần Hùng Thân phận con người
có khi đứng tách riêng ra thành một chủ đề độc lập, có khi ẩn hiện trong cácchủ đề khác tạo nên một sợi dây xuyên suốt, một chất keo kết dính tạo nêntính thống nhất mà đa dạng trong tác phẩm của Trần Hùng
1.2.1 Con người bản thể
Từ lâu, bản thể con người đã trở thành vấn đề cơ bản và sâu sắcnhất của mối quan hệ giữa văn học với hiện thực Bản thể là một hữu thểđộc lập và duy nhất luôn có sự hiện hữu của cả tâm thể lẫn hình thể Vănhọc, trong tiến trình phát triển của nó, từ mối quan tâm trọng yếu là
cuộc-sống-của- con-người chuyển đổi thành mối quan tâm trọng yếu là con-người-của- chính-con-người.
Thời đại mới đã cấp cho con người cái nhìn mới về thế giới xung quanh,
về bản thân Con người trong thơ mới khao khát khám phá bản thân, họ hay
tự hỏi “Ta là ai?” , “Tôi là ai?” Trước năm 1986, họ chính là con người cá
thể, không có khả năng hòa nhập với cộng đồng, luôn cảm thấy cô đơn trướccộng đồng Sau năm 1986, cũng vẫn là con người cô đơn nhưng họ khôngtách mình ra khỏi cộng đồng mà họ đối diện với chính mình, đó chính là conngười bản thể đào sâu vào nội tâm cá nhân tự tại Chính vì vậy thơ cáchtân sau năm
1975, có xu hướng đi sâu vào cái bản thểvà coi con người như một tểu vũtrụ
cần khám phá
Đi suốt chặng đường thơ của mình, Trần Hùng luôn tôn thờ vẻ đẹp đầunguồn của thiên nhiên khởi nguyên trong “niềm trinh tĩnh vỡ òa”, mở đầutập thơ “Thảm thắc” trong bài “Thời gian” thi sĩ đã viết:
“về đây những dấu chân lấm láp phù sa nắng hanh hao vườn chè vạt mía
qua thác cao bão nước niềm trinh tĩnh vỡ òa”
Trang 40(thời gian)
Chính vẻ đẹp đầu nguồn nguyên sơ, trinh khiết đã khơi dòng cho mạch
kiếm tìm, lối rẽ riêng cho Trần Hùng.“Thơ Trần Hùng là mạch nguồn phù sa
chảy tươi nồng lắng xoáy” [12] Chính vì tôn thờ những vẻ đẹp đầu nguồn ấy
mà thơ Trần Hùng như một niềm đau khi vẻ đẹp ấy bị phá hủy Thi sĩ đauđớn, cô đơn trước thực tại và tự mình đối diện với chính mình, tự đào sâuvào bản thể để khám phá hồn mình Những lời thơ của Trần Hùng là tếngnói của tác giả về kiếp người, phận người xuất phát từ những trải nghiệm củacuộc đời mình Qua đó thi sĩ thể hiện những khao khát ước muốn của bảnthân, những quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan Nhà thơ luôn có sựđào sâu khám phá cõi riêng của tâm hồn trong mối giao hòa với sự bí ẩn của
sự vật Trong cõi riêng tâm hồn ấy luôn cháy lên ngọn lửa khát vọng cháybỏng của tình yêu, chạm vào những điều sâu kín nhất trong bản thể conngười:
“phút chốc muốn băng vườn khuya tìm đến nơi gương mặt người thấm đẫm ánh trăng nơi gương mặt lá thấm đẫm bóng tối
nơi gương mặt đá lạnh như môi tôi tìm em trăng mang em đi rồi
hạ huyền tiếng ong đêm thăm thẳm tếng ong đêm cao vút”
(Hạ huyền)
Xuyên suốt thế giới thơ của Trần Hùng là tình yêu lứa đôi và một nỗibuồn thê thiết phận người, đó là một thế giới quá vô thường, mỏng manhđến bàng hoàng:
“Và thảm đêm trùm xuống