1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng

128 569 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ So sánh: Thao tác này giúp người viết nhận ra bản sắc riêng, thi pháp riêng của Trần Hùng trong quan niệm nghệ thuật về con người và khi xây dựng hình tượng cái tôi và hình tượng thế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

ĐỒNG THỊ LỆ HẰNG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRẦN HÙNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

ĐỒNG THỊ LỆ HẰNG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRẦN HÙNG

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60220120

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Văn Giá

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng sâu sắc và tình cảm chân thành, em xin trân trọng cảm ơn: Khoa ngữ văn, phòng sau đại học – Đại học sư phạm Hà Nội II, nhà thơ Trần Hùng đã giúp đỡ cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc đến PGS.TS Ngô Văn Giá, người đã nhiệt tình trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em nghiên cứu hoàn thành luận văn

Xin được gửi lời cảm ơn đến những người thân: gia đình, bạn bè…đã giúp đỡ tôi để luận văn được hoàn thành

Xuân Hòa, tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Đồng Thị Lệ Hằng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự

hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Ngô Văn Giá Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, khách quan và chưa từng ai công

bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

Tác giả luận văn

Đồng Thị Lệ Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Đóng góp của luận văn 7

8 Cấu trúc phần nội dung luận văn 7

NỘI DUNG 8

Chương 1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT -QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI CỦA NHÀTHƠ TRẦN HÙNG 8

1.1 Khái niệm chung về thế giới nghệ thuật 8

1.1.1 Thế giới nghệ thuật 8

1.1.2 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình 20

1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của nhà thơ Trần Hùng 22

1.2.1 Con người bản thể 24

1.2.2 Con người khát khao sẻ chia: 32

Chương 2 HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG TRONG THƠ TRẦN HÙNG 42 2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình 42

2.1.1 Cái tôi trinh khiết của tâm hồn trong trắng trẻ trung 43

2.1.2 Cái tôi cô đơn, chơi vơi trong cuộc sống vô thường 51

Trang 6

2.1.3 Cái tôi si tình 62

2.2 Hình tượng thế giới 67

2.2.1 Thế giới của tình yêu và ánh sáng 67

2.2.2 Thế giới của “vườn khuya” hư ảo 81

Chương 3 CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TRẦN HÙNG 88

3.1 Thể thơ 88

3.1.1 Thơ tự do 89

3.1.2 Thơ lục bát 95

3.2 Ngôn từ thơ 97

3.2.1.Khái niệm về ngôn từ nghệ thuật 97

3.2.2 Ngôn từ nghệ thuật trong thơ Trần Hùng 98

3.3 Một số biểu tượng tiêu biểu 104

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm tất cả các yếu tố, cấp độ của sáng tạo nghệ thuật Mỗi cấp độ yếu tố này lại có một chỉnh thể nhỏ hơn được đặt trong mối quan hệ biện chứng nhất định, xâu chuỗi với các yếu tố khác Nghiên cứu thế giới nghệ thuật là để tìm hiểu quy luật sáng tạo củachủ thể, quanniệm về nghệ thuật, cuộc sống, nhân sinh của người nghệ sĩ

Thơ trữ tình là biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của nhà thơ Những cảm xúc tâm trạng, suy nghĩ của thi sĩ thể hiện trong thế giới nghệ thuật chính là những biểu hiện của cái tôi và các nguyên tắc thể hiện nó Tìm hiểu, phân tích của một hay nhiều tác giả là một vấn đề cần thiết trong học tập và nghiên cứu 1.2 Trần Hùng là một nhà thơ trưởng thành trong thời kì hậu chiến, ông cùng thời với Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Dương Kiều Minh,Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Bảo Ninh, Trần Anh Thái, Y Ban……Trong

khoảng thời gian 14 năm ông đã cho ra đời 4 tập thơ đó là các tập: Gọi

bạn(1991), Mơ quê(1998), Thảm thắc(2015), Vườn khuya(2015).Trần Hùng

viết không nhiều nhưng thơ ông mang phong cách mới lạ độc đáo và có chiều sâu nhận thức, ông đã có nhiều đóng góp cho nền thơ ca đương đại Việt Nam Nét độc đáo làm nên cái riêng của thơ Trần Hùng đó là những triết lý suy tư, triết luận được đọng lại những nỗi buồn, trăn trở, băn khoăn, khắc khoải sâu lắng được đúc rút ra từ những trải nghiệm, những vất vả, va vấp của một cái tôi đầy yêu mến, suy tư trăn trở gắn bó sâu nặng với cuộc đời

Trần Hùng, sinh ngày 04 tháng 12 năm 1957, quê ở huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây Tháng 4 năm 1975 Trần Hùng nhập ngũ và công tác trong quân đội tại quân đoàn 26 tỉnh Cao Bằng.Trần Hùng bắt đầu sáng tác thơ từ năm

1979 với bài thơ đầu tay “Đồng đội” in trên báo Tiền phong Từ tháng

Trang 8

12/1987 đến tháng 11/2015 ông đã chuyển công tác ở nhiều lĩnh vực và giữ nhiều chức danh, chức vụ khác nhau Sau 13 năm công tác trong quân đội Trần Hùng chuyển sang công tác tại Hội văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng,

và giữ chức danh Phó chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng; Hội viên hội nhà văn Việt Nam

Thơ Trần Hùng - Một giọng thơ mới lạ, một bút pháp thơ riêng với những hoài niệm về quá khứ, trăn trở về thực tại và dự cảm về tương lai cùng nỗi buồn sâu lắng, những tình cảm gắn bó với thiên nhiên, đất nước, quê hương, cuộc đời bằng bút pháp tài hoa, đặc sắc.Thơ Trần Hùng là tiếng nói của cái tôi trữ tình lãng mạn, cái tôi trữ tình đầy suy tư trăn trở thế sự với những suy ngẫm và triết lý sâu xa trước thế sự nhân tình Có thể thấy, gắn liền với một quan niệm thẩm mĩ mới mẻ, thơ Trần Hùng là một thế giới nghệ thuật hết sức độc đáo

Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào trực tiếp bàn đến vấn đề này Do đó, tôi quyết định chọn “Thế giới nghệ thuật trong thơ Trần Hùng” làm đề tài nghiên cứu của luận văn

2 Lịch sử vấn đề

Trần Hùng là cây bút tiêu biểu của thơ Việt Nam đương đại, với sự nghiệp thi ca không nhỏ Thơ ông mang một giọng rất riêng, rất khác với ngòi bút sáng tác tài hoa và độc đáo Trần Hùng đã để lại dấu ấn khó quên trong lòng độc giả Trong năm 2015 chỉ trong một năm mà tác giả cho ra đời hai tập

thơ: “Vườn khuya” và “Thảm thắc” sau một thời gian vắng bóng trên thi đàn Đặc biệt, tập thơ “Vườn khuya” đã đoạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam

2015 Đã có một số bài viết, ý kiến nhận xét đánh giá,chính xác mang tầm khái quát về phong cách nghệ thuật thơ Trần Hùng

2.1 Những nhận định đánh giá về thơ Trần Hùng

Dương Kiều Minh trong bài:“Nhà thơ Trần Hùng và Đôi Cánh Trập

Trang 9

Trùng của Uớc Vọng” đã cho rằng những bài thơ của Trần Hùng thường được

hắt lên bởi một thứ ánh sáng mạnh “đó là ánh hồi quang lan tỏa từ miền thẳm

sâu của tiềm thức, từ niềm trắc ẩn như xuyên thấy vào lõi của trái đất Tôi cảm nhận được cái xung động cảm xúc cực kỳ mãnh liệt này Nếu chỉ bằng trái tim bình thường của con người, thì sẽ không chịu nổi cái áp lực của năng lượng quá mạnh xuyên qua nó Có lẽ những câu thơ của nhà thơ Trần Hùng

đã truyền dẫn những xung lực mang đầy năng lượng của cảm xúc từ trái timcủa nhà thơ - Và những câu thơ là điểm tựa cuối cùng chứa đựng cái xung lực quá mạnh mẽ đó” [50 ] Và nhà thơ này còn nhận xét rất xác đáng: “Thơ Trần Hùng mở thông những cánh cửa thật rộng tới một thế giới vỗ những đôi cánh khát vọng giữa bầu trời của tình yêu, ước vọng trong “niềm trinh tĩnh

vỡ òa” (Thời gian)” [50]

Còn tác giả Đoàn Ngọc Minh trong bài “Sắc màu hư ảo trong tập “vườn

khuya” của nhà thơ Trần Hùng” cho rằng Trần Hùng luôn tìm kiếm, sẻ chia

những buồn vui của cuộc đời vốn dĩ không xuôi chiều vào thơ “Tôi đọc thơ

Trần Hùng và nhận ra anh làm thơ là để gửi gắm vào đó cảm xúc tình yêu thiêng liêng, ước vọng thiêng liêng…” [51]

Kim Chuông trong bài “Nhà thơ Trần Hùng thơ bước ra từ nơi chiều

sâu độc thoại” nhận định: “Thơ Trần Hùng bùng phát sinh nở sau những gì ngoại giới đã lặn chìm Thơ của tiếng lòng đắm say, khao khát Thơ của những khoảng trống luôn dày vò, ám ảnh từ mộng mị, yêu thương” [12] hay

“Thơ Trần Hùng là mạch nguồn phù sa chảy tươi nồng, lắng xoáy” [12]

Tác giả Phong Hương trong bài“Thơ Trần Hùng và nỗi buồn thi sĩ” đã

có những nhận xét khái quát về hai tập thơ “Thảm thắc” và “Vườn khuya” đều mang một âm hưởng buồn và đậm những suy tư triết lí “Nếu như tập “Vườn

khuya” là lời của cái tôi si tình với những cảm xúc đan xen trong tình yêu, có một chút bồi hồi xao xuyến, chút bâng khuâng vô định kèm thật nhiều nhớ

Trang 10

nhung day dứt và vụn vỡ thì “Thảm thắc” là tiếng nói của cái tôi tội nghiệp chơi vơi trong cuộc sống vô thường, thậm chí là hành trình tìm kiếm cái tôi bí ẩn.” [37] đồng thời tác giả cũng nhận xét rằng “Hầu hết những bài thơ của Trần Hùng đều là sự đào sâu khám phá cõi riêng của tâm hồn trong mối giao hòa với sự bí ẩn của sự vật”[37]

2.2 Những nhận định, đánh giá về đặc trưng thế giới nghệ thuật thơ

Trần Hùng

Theo Dương Kiều Minh trong bài:“Nhà thơ Trần Hùng và Đôi Cánh

Trập Trùng của Uớc Vọng” nhận định “Thế giới của cảm xúc và niềm trắc ẩn

mở ra trong những câu thơ của Trần Hùng, rộng thênh và đẹp đến nao lòng”

[50] tác giả còn cho rằng mối quan tâm sâu sắc của Trần Hùng không chỉ là

câu chuyện thi ca mà là câu chuyện của cuộc đời vì thế thơ Trần Hùng “cứ

run rẩy, kiếm tìm, nâng niu, đông cảm với những mất mát của cuộc đời, trong tình cảm thiêng liêng nhất với sự đi lên đi xuống không ngừng của cảm xúc và suy tưởng” [50]

Đoàn Ngọc Minh trong bài “Sắc màu hư ảo trong tập “vườn khuya” của

nhà thơ Trần Hùng”đã đánh giá khái quát về những sáng tạo độc đáo của

Trần Hùng qua tập “Vườn khuya”, tác giả đã cho rằng Trần Hùng với cách sáng tác thơ hiện đại, đã tạo “một đường thơ mới thả sức chuyển tải, thả sức

vén tận cùng nỗi đau,thả sức bay bổng mơ về dĩ vãng, về thực tại và về ngày mai bằng sắc màu tinh tế không kém phần hư ảo” [51] Với lối thơ như vậy

“Nhà thơ Trần Hùng đã tái hiện quá vãng bằng thơ của thực tại, thơ chính là

sắc màu hư ảo làm cho cuộc sống của nhà thơ thêm thanh thoát lắng đọng, yêu mình, yêu đời hơn.” [51]

Kim Chuông trongbài “Nhà thơ Trần Hùng thơ bước ra từ nơi chiều sâu

độc thoại” đánh giá nhận xét Trần Hùng với lối rẽ riêng, khơi nguồn cho

mạch kiếm tìm,“Xuyên suốt các tập thơ, Trần Hùng từng ngụp lặn trước hiện

Trang 11

thực, ngụp lặn trước cái “vô biên độ,” trước bao nhiêu “ái ố hỷ nộ” để rồi, sau phút giây đó, thi sĩ lại đẩy mình ra thật xa, ngỡ chỉ còn lại “riêng mình với hồn mình độc thoại.” [12] Tác giả còn đánh giá về Trần Hùng là “Một thi

sĩ của những gì thật diết da, thật trong xanh, quặn thắt (…) với con tim luôn đốt mình, luôn mở với đa chiều, đa tầng, đa thanh trước những mối quan tâm, trước tình yêu, tình người, tình đời, trước nhân tình thế thái.”[12] Ngoài ra

tác giả còn nhận định về bài thơ lục bát duy nhất của Trần Hùng về “câu thơ

hay ở phát kiến, lý giải, ở “cú tự có thần”: “Giật mình tuổi cũng đã xa/ mà chưa thật rõ là ta hay mình””[12]

Phong Hương trong bài “Thơ Trần Hùng và nỗi buồn thi sĩ” nhận định:

“Thành công nhất trong thơ Trần Hùng là tính triết lí, thơ ông nặng về những

suy tư triết học, được hình thành mài giũa từ sự đổ vỡ, đào sâu khám phá bản thể thẳm sâu và bí ẩn của con người và sự vật Ngôn ngữ và hình tượng thơ bật ra từ những suy tư, trải nghiệm của tác giả, chính vì vậy những câu thơ có sức nặng ám ảnh, day dứt người đọc.” [37]

Nhìn chung các ý kiến, nhận định trên của các tác giả tuy có nhắc đến những đặc trưng trong thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng, tuy nhiên chưa đề cập một cách có hệ thống Vì vậy luận văn này lần đầu tiên sẽ đề cập đến

“Thế giới nghệ thuật trong thơ Trần Hùng” một cách hệ thống và khái

quát nhất, với mong mỏi tìm tòi phát hiện ra những điều mới về thế giới nghệ thuật trong những sáng tác của ông

3 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ những lí luận về nghệ thuật thơ mà đặc biệt là lý luận về thi pháp thơ, luận văn đi sâu phân tích về thế giới nghệ thuật trong những sáng tác của Trần Hùng

- Quan niệm nghệ thuật về con người của Trần Hùng

- Phân tích những đặc điểm nổi bật của hình tượng cái tôi; Hình tượng thế giới trong thơ Trần Hùng

Trang 12

- Các phương thức và phương tiện biểu hiện trong thơ Trần Hùng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1.Phải nêu được những vấn đề về lý luận cơ bản về thơ ca và thi pháp thơ để làm căn cứ khảo cứu phân tích thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng 4.2 Qua nghiên cứu, phân tích tổng hợp luận văn phải làm rõ: quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong thơ Trần Hùng; Hình tượng nghệ thuật: hình tượng cái tôi trữ tình,hình tượng thế giới

4.3 Khái quát đánh giá được giá trị nghệ thuật và vị trí vai trò của Trần Hùng trong nền thơ ca hiện đại của việt Nam

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng qua những sáng tác thơ của ông qua tập thơ “Thảm thắc” (2015), Nxb Hội nhà Văn, tập “Vườn khuya” (2015), Nxb Hội nhà văn.Hai tập thơ “Gọi bạn” (1991), “Mơ quê” (1998), Nxb Hội nhà văn được Trần Hùng đưa vào tuyển tập thơ “Thảm thắc” (2015), Nxb Hội nhà văn

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn người viết sử dụng một số phương pháp chính như:

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Đây là phương pháp quan trọng

nhất để tìm ra nhữnghình thức biểu đạt thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng

- Phương pháp phân tích tác phẩm: Phương pháp này giúp người viết

phân tích các sáng tác của Trần Hùng từ góc độ nội dung và nghệ thuật Từ đó làm rõ những nét độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng

- Phương pháp hệ thống: Quan niệm thế giới nghệ thuật là một chỉnh

thể, xuất phát từ đặc điểm riêng của thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng, luận văn chú trọng tìm hiểu những yếu tố tạo nên chỉnh thể này và những quy luật cấu tạo của nó

Trang 13

- Một số thao tác như:

+ Thống kê: Thao tác này giúp người viết tìm kiếm một cách có hệ thống

các số liệu cần phục vụ cho luận văn và hệ thống chúng làm tư liệu cho luận văn Giúp người viết tìm ra những hình ảnh, biểu tượng xuất hiện nhiều lần trong thơ Trần Hùng

+ Tổng hợp: Thao tác này giúp người viết khái quát cụ thể về thế giới

nghệ thuật thơ Trần Hùng

+ So sánh: Thao tác này giúp người viết nhận ra bản sắc riêng, thi pháp

riêng của Trần Hùng trong quan niệm nghệ thuật về con người và khi xây dựng hình tượng cái tôi và hình tượng thế giới (so với các nhà thơ khác cùng thời)

7 Đóng góp của luận văn

Luận văn cung cấp cho người đọc một cái nhìn khá toàn diện và khoa học về những đặc điểm nổi bật trong thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng từ

đó nhận diện phong cách và vị trí của nhà thơ trong nền văn học hiện đại Việt Nam Luận văn gợi mở thêm cho người đọc một cách nhìn về thơ Trần Hùng trong dòng chảy thơ đổi mới, cách tân sau năm 1975; đồng thời ghi nhận đóng góp của ông trong quá trình làm phong phú thơ Việt Nam hiện đại và đương đại

8 Cấu trúc phần nội dung luận văn

Chương 1 Thế giới nghệ thuật - Quan niệm nghệ thuật về con người

của nhà thơ Trần Hùng

Chương 2 Hệ thống hình tượng nghệ thuật trong thơ Trần Hùng

Chương 3 Các phương thức và phương tiện biểu hiện thế giới nghệ

thuật trong thơ Trần Hùng

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT -QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON

NGƯỜI CỦA NHÀTHƠ TRẦN HÙNG

1.1 Khái niệm chung về thế giới nghệ thuật

1.1.1 Thế giới nghệ thuật

Vào khoảng thập kỷ 70 của thế kỷ XX, khái niệm thế giới nghệ thuật

xuất hiện ở một số công trình nghiên cứu như: “Thế giới nghệ thuật của M

Gorki”, “Thế giới nghệ thuật của Sôlôkhốp” và nhanh chóng trở thành đối

tượng khám phá đầy lý thú cho giới nghiên cứu, giúp việc tiếp cận tác phẩm văn học tránh được khuynh hướng chủ quan, lệch lạc

Thực ra nội hàm của khái niệm thế giới nghệ thuật được đề cập đến từ

lâu Xưa kia người Trung Quốc đã biết gọi tác phẩm thơ là một “cõi ý”, “cõi

thơ” Lưu Hiệp trong công trình tiêu biểu “Văn tâm điêu long” (khoảng năm

496 – 497) đã đưa ra “lục quan” bao quát cả nội dung và hình thức, tính tư

tưởng và tính nghệ thuật của tác phẩm văn học Theo Lưu Hiệp thì tác phẩm

văn học phải gồm sáu tiêu chí “1 Tình cảm sâu mà không dối; 2 Phong thái

trong mà không tạp; 3 Việc chắc mà không ba hoa; 4 Nghĩa thẳng mà không quanh co; 5 Thể gọn mà không rườm rà;6 Văn đẹp mà không dâm” [1; tr

137] Nhà triết học cổ đại Hy Lạp Arixtôt trong “Nghệ thuật thơ ca” khi bàn

về kịch cũng xác định: “Bi kịch là sự mô phỏng một hành động quan trọng và

trọn vẹn có một qui mô nhất định nhờ vào ngôn ngữ – ngôn ngữ này trong mỗi phần có sự trau chuốt khác nhau.” [1; tr.34], và: “Bất cứ bi kịch nào cũng có bài trí, cốt truyện, văn từ, bố cục, âm nhạc và tư tưởng nữa.” [1;

tr.35] Tuy vậy suốt một thời gian dài, ý nghĩa nội hàm của khái niệm chưa thực sự được bàn đến một cách đầy đủ và chi tiết, dẫn đến hiện tượng hiểu sai, hiểu phiến diện, suy diễn, trong nghiên cứu, phê bình văn học

Trang 15

Ở nước ta từ vài chục năm trở lại đây, khái niệm thế giới nghệ thuật trở

nên quen thuộc Trong giáo trình “Dẫn luận thi pháp học” được biên soạn để

giảng dạy cho học viên cao học tại Đại học Sư phạm Hà Nội và một số trường

đại học khác, Trần Đình Sử khẳng định: “Tác phẩm toàn vẹn xuất hiện như

một thế giới nghệ thuật” [77; tr29] Cũng trong công trình này, tác giả đã nêu

rõ cơ sở khoa học của việc dùng từ “thế giới” chỉ tác phẩm văn học và sơ bộ nêu cách hiểu khái niệm “thế giới nghệ thuật”, đồng thời phân tích các yếu tố

của thế giới bên trong tác phẩm văn học Thời gian gần đây, hàng loạt công

trình nghiên cứu văn học sử dụng khái niệm này Có thể kể đến “Con đường

đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn” của Nguyễn Đăng Mạnh (1994);

“Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kỳ trước cách mạng tháng 8 năm 1945” của Lê Quang Hưng (1996); “Những thế giới nghệ thuật thơ” của Trần

Đình Sử (1997); “Thế giới nghệ thuật thơ của Hàn Mặc Tử” của Chu Văn

Sơn (2000); Đó đều là những công trình nghiên cứu có giá trị, khẳng định

sự đúng đắn của một hướng tiếp cận văn học đang được chú ý hiện nay

Năm 1985 trong luận án Tiến sĩ khoa học: "Sự hình thành và những vấn

đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại” Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác định hàm nghĩa khái niệm thế giới nghệ

thuật như sau: “Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mĩ học bao gồm tất cả

các yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm mĩ Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực - đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật Trong thế giới nghệ thuật chứa đựng sự phản ánh hiện thực, tư tưởng, tình cảm cửa nhà văn Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương đối với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn bản thân nó Nó có thể bao gồm tất cả các tác phẩm nghệ thuật của một

Trang 16

nhà văn, một trào lưu nghệ thuật, một thời kỳ nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay nhiều dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan đến nhiều yêu tố khác của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hình tượng nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng trong đó chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người …là thế giới sinh động và đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học mỗi dân tộc, mỗi thời kỳ lịch sử để có thế giới nghệ thuật riêng của mình”

Đây là một khái niệm rộng, được triển khai với nhiều cấp độ Tuy còn dừng ở mức khái quát song quan niệm sẽ là những gợi ý hết sức quý báu, phù hợp với nhiều luận điểm mà chúng tôi sẽ triển khai trong luận văn

Năm 1992 nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi

đã định nghĩa: "Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng

tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, một tác giả, một trào lưu) Sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc riêng của nghệ thuật Thế giới nghệ thuật có thời gian không gian riêng,

có quy luật tâm lí thang bậc giá trị riêng trong việc phản ánh thế giới Mỗi thế giới ứng với một cách cắt nghĩa về thế giới [28;Tr 201, 202]

Nghiên cứu cụ thể ở thể loại thơ trữ tình, trong cuốn "Thơ trữ tình Việt Năm 1975 – 1990” (1998), Lê Lưu Oanh đã chi tiết hoá khái niệm này qua

hình tượng cái tôi trữ tình Tác giả viết: “Gọi cái tôi trữ tình là một thế giới

nghệ thuật bởi thế giới nội cảm này là một thể thống nhất có ngôn ngữ và quy luật riêng phụ thuộc vào lịch sử cá nhân, thời đại Đi sâu vào thế giới nghệ thuật được coi như một kênh giao tiếp với những mã số, kí hiệu, giọng nói chương trình riêng, cần có thao tác phù hợp Thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình là một thế giới mang giá trị thẩm mĩ” [ 60 ;Tr 33,35]

Cách hiểu của tác giả đã mở cho chúng tôi một hướng đi rất cụ thể trong

Trang 17

việc khám phá thế giới nghệ thuật thơ trữ tình

Các quan niệm đưa ra ở trên có giá trị rất lớn về mặt lí luận để ta vận dụng vào thực tiễn tìm ra giá trị đích thực của văn học Việc khẳng định thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể ngoài việc chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa các yếu tố còn giúp người nghiên cứu tránh được những suy diễn chủ quan, lệch lạc trong việc khám phá, chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật Vì vậy, dù nghiên cứu văn học ở cấp độ nào đều phải làm rõ thuật ngữ này

Là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều yếu tố nên việc tìm hiểu kĩ trong dung lượng luận văn cao học là rất khó Vì thế, trong chương này chúng tôi chỉ trình bày khái quát các vấn đề của khái niệm thế giới nghệ thuật Từ đó, chúng tôi sẽ vận dụng vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng

1.1.1.1 Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật

Trong nghiên cứu văn học "chỉnh thể” là thuật ngữ chuyên ngành có ý

nghĩa "Là tổng thể bao gồm các yếu tố có mối quan hệ mật thiết với nhau

tương đối bền vững, bảo đảm cho hoạt động của nó như môi trường xung quanh…” Vận dụng khái niệm này vào tìm hiểu chỉnh thể thế giới nghệ thuật

cho thấy thế giới này bao gồm rất nhiều cấp độ Tác phẩm, tác giả, giai đoạn,

thời kì văn học, nền văn học dân tộc, trào lưu Mỗi cấp độ lại là một chỉnh

thể toàn vẹn, thống nhất Mọi yếu tố trong hệ thống chỉnh thể có quan hệ ràng buộc, quy định và tác động lẫn nhau Mối quan hệ này đã tạo ra một thế giới với nội dung và chức năng mới vốn không có khi đem tách rời các yếu tố Nói

như vậy, thì chỉnh thể thế giới nghệ thuật là sự liên kết "siêu tổng cộng" của

các chỉnh thể nhỏ trong hệ thống từ quan niệm, mô hình, hình tượng đến các chỉnh thể nhỏ hơn khái niệm hình tượng Chỉnh thể thế giới nghệ thuật là kết quả của quá trình tư duy của người nghệ sĩ khi biến những cảm xúc, những tình điệu thẩm mĩ, những cách khám phá, cắt nghĩa, lí giải đời sống thành

"thiên nhiên thứ hai" - để người đọc chiêm nghiệm, suy ngẫm, soi ngắm các

vấn đề mà người nghệ sĩ đã gửi vào trong đó Là sản phẩm của nhà văn nhưng

Trang 18

thế giới nghệ thuật tồn tại độc lập với nhà văn theo cách riêng của mình

Việc tìm hiểu ý nghĩa của chỉnh thể phải tìm trong cái toàn thể có chất lượng cao trọn vẹn, thống nhất (qua sự liên kết các bộ phận với nhau) Chẳng

hạn chỉnh thể ngôi nhà là sự liên kết của xi măng, cát, vôi, gạch Tính

chỉnh thể của văn học được biểu hiện qua sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức Trong sáng tạo, nội dung làm nẩy sinh hình thức và hình thức phụ thuộc, phục tùng nội dung, biểu đạt nội dung Không có nội dung ở ngoài hình thức, cũng không có hình thức trừu tượng tách rời nội dung Tuy nhiên, việc thống nhất không phải lúc nào, nhà văn nào cũng có thể làm được

mà chỉ những nhà văn thực sự tài năng thì mới tạo nên sự thống nhất Sự thống nhất càng cao thì giá trị biểu hiện càng lớn Trong thế giới nghệ thuật, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức là hệ quả tất yếu nhằm thống nhất nội tại giữa các yếu tố, thể hiện tính quy luật của chỉnh thể Đây là cơ sở để đánh giá đúng chân giá trị của tác phẩm Nó giúp người sáng tác tránh được những lắp ghép máy móc, khiên cưỡng, vô cảm và giúp người nghiên cứu tránh được những đánh giá chủ quan, cứng nhắc

Như vậy, chỉ khi nội dung và hình thức phù hợp, thống nhất với nhau thì mới tạo nên chỉnh thể và cũng chỉ trong chỉnh thể thì mối quan hệ này mới

xuất hiện Đúng như Bêlinxki nhà phê bình Nga đã viết: "Khi hình thức là

biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt tới mức nếu tách nó ra khỏi nội dụng thì có nghĩa là huỷ diệt hình thức” [73; Tr 25].Từ mối quan hệ này đã mở ra

một hướng khám phá thế giới nghệ thuật bắt đầu từ hình thức, tức là tiếp cận

từ góc độ thi pháp Khi quan niệm thế giới nghệ thuật là chỉnh thể thì ta đã thừa nhận cấu trúc nội tại của nó Trong thế giới nghệ thuật cấu trúc là phần

ổn định nhất Nó không chỉ là một tầng mà là nhiều tầng được đặt trong hệ thống từ cảm hứng đến sáng tạo, từ thấp đến cao: Ngôn từ - hình tượng - kết cấu - văn bản

Trang 19

Nhưng phải thừa nhận rằng quá trình sinh thành chưa thể tạo nên một chỉnh thể trọn vẹn Bởi thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nên nó cần có một quá trình cảm thụ Trong quá trình cảm thụ mới xuất hiện các mối quan hệ ngược xuôi giữa các lớp, các yếu tố Các mối quan

hệ này vừa đan xen vừa đồng hoá để tạo ra một chỉnh thể toàn vẹn có chức năng, nội dung mới Nằm trong chỉnh thể các yếu tố vừa mang ý nghĩa của bản thân nó vừa mang ý nghĩa của chỉnh thể Do sự chi phối phụ thuộc lẫn nhau nên một yếu tố trong chỉnh thể thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các yếu tố khác Chẳng hạn, trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự, do yêu cầu tái hiện cuộc sống đầy đủ, chi tiết nên nó không bị hạn chế bởi thời gian, không gian, số lượng nhân vật Các nhân vật được xây dựng chi tiết, tỉ mỉ với

nhiều quan hệ phức tạp Nhưng ở tác phẩm kịch do phản ánh cuộc sống

bằng hình thức diễn xướng nên hạn chế về thời gian, không gian đã kéo theo

số lượng nhân vật ít, các tình tiết khắc hoạ chỉ tập trung ở các mâu thuẫn đã lên tới đỉnh điểm

Như vậy, thế giới nghệ thuật chỉ dược xem là chỉnh thể khi các yếu tố, các lớp có sự ràng buộc, quy định lẫn nhau theo một quy luật nhất định Coi tính chỉnh thể là phẩm chất không thể thiếu của sáng tạo nghệ thuật cho phép

ta nhìn nhận thế giới này ở dạng đầy đủ, nhiều mặt nhất

1.1.1.2 Các cấp độ của thế giới nghệ thuật

* Cấp độ quan niệm nghệ thuật

Quan niệm nghệ thuật thể hiện các giới hạn cách hiểu thế giới, con người thuộc một hệ thống nghệ thuật của nhà văn được thông qua mức độ, phạm vi, khả năng chiếm lĩnh đời sống của nhà văn đó Quan niệm nghệ thuật là hạt nhân bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ qui chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật Gắn với phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật nên quan niệm nghệthuật là thước đo của nội dung và hình thức văn học,

Trang 20

là cơ sở của tư duy nghệ thuật của nhà văn

Quan niệm nghệ thuật bao gồm nhiều vấn đề như: thế giới, con người, nghệ thuật, các phạm trù thẩm mỹ Tuỳ theo quan niệm mà có những thế giới

nghệ thuật tương ứng

Thứ nhất: Quan niệm về thế giới: Thế giới được tạo nên bởi thiên

nhiên, vũ trụ và con người Nhưng quan niệm về thế giới lại không giống nhau Trong triết học, chủ nghĩa duy tâm quan niệm thế giới là hiện tượng tinh thần, tồn tại bất biến Chủ nghĩa duy vật quan niệm thế giới là hiện tượng vật chất luôn vận động biến đổi Trong văn học, mặc dù chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác đặc biệt là triết học nhưng quan niệm về thế giới không đơn giản là vật chất hay tinh thần mà nó được thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật Nó dựa trên sự cảm nhận của cá nhân về một thế giới để thoả mãn sự tồn tại của nó Ứng với mỗi quan niệm về thế giới là một thế giới nghệ thuật, vì thế việc tìm hiểu quan niệm này phải xét trong từng thế giới

nghệ thuật cụ thể

Thứ hai: Quan niệm về con người: Con người là đối tượng hướng tới

của văn học nhưng con người trong văn học không phải là con người nguyên

bản của đời sống "mà là quan niệm về con người ấy một cách thẩm mỹ và

nghệ thuật” (Theo Trần Đình Sử) Quan niệm về con người thay đổi theo

từng thời kỳ lịch sử Dù miêu tả con người ở mức độ nào, tồn tại bất biết hay vận động biến đổi, cá nhân hay cộng đồng thì vẫn mang một giá trị nhất định trong việc phản ánh đời sống, biểu đạt những phẩm chất thẩm mỹ của thời đại hoặc khẳng định một chân lý về nghệ thuật Quan niệm nghệ thuật về con người gắn chặt với cái nhìn của người nghệ sỹ Nó chỉ có giá trị trong một hoàn cảnh, một giai đoạn hay một thời kỳ lịch sử nhất định

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “quan niệm nghệ thuật về con người”:

Trang 21

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, thuật ngữ này được định nghĩa:

“Quan niệm nghệ thuật về con người là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh

đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù, phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật" [24;tr 275]

Theo Trần Đình Sử thì: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí

giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó” [83; tr.355]

Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong miêu tả và thể hiện con người của nhà văn.Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn trong tác phẩm văn học, chúng ta có sơ sở để nhìn nhận đánh giá đầy đủ hơn đóng góp của nhà văn trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, cách nhìn của nhà văn về cuộc đời con người, về một thời đại

Thứ ba: Quan niệm về nghệ thuật: Nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo

của tinh thần nên giá trị của nó cũng là giá trị tinh thần Những giá trị tinh thần này dễ dàng thâm nhập vào thế giới tinh thần con người, ở nơi có sự đồng cảm chân thành Quan niệm về nghệ thuật rất phức tạp: Platon cho rằng:

nghệ thuật là bản sao lại của một bản sao, là sự bắt chước của sự bắt chước" Aristote quan niệm: nghệ thuật là sự bắt chước nhưng mang lại niềm vui”

Hêgen nhấn mạnh: "Nghệ thuật là ý niệm tuyệt đối Các Mác khẳng định:

“Nghệ thuật là phản ánh đời sống” Đây là quan niệm có cơ sở thực tế cao

bởi vì nó cho thấy ngay từ khi mới ra đời văn học đã hướng vào cuộc sống, phản ánh, cải tạo

Thứ tư : Quan niệm về các phạm trù phẩm mỹ: Phạm trù thẩm mỹ là

khái niệm thể hiện nhận thức khái quát của con người về những hiện tượng

Trang 22

thẩm mỹ có trong tự nhiên, xã hội, con người và nghệ thuật Trong nghệ thuật, phạm trù này được xác định qua cái thẩm mỹ (những đặc trưng của quan hệ giá trị của con người đối với thế giới xung quanh) Cái thẩm mỹ bao

gồm cái hài, cái hùng, cái bi, cái cao cả, cái đẹp, cái xấu Mỗi cái thẩm mỹ

gắn liền với cảm xúc của người nghệ sỹ được người nghệ sỹ khái quát để mang một ý nghĩa biểu trưng ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống Cái thẩm

mỹ “Vừa bất biến” (một cảm hứng duy nhất xét về loại hình), “Vừa khả biến” (có bản chất xã hội, lịch sử về các xung đột tinh thần, tư tưởng mà nó biểu hiện) [1; Tr.35]

* Cấp độ hình tượng nghệ thuật

Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh và tái

tạo hiện thực riêng biệt vốn có và chỉ có trong nghệ thuật Hình tượng “vừa là

sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ vừa là con đẻ của hiện thực khách quan" [73; tr.27]

Hình tượng nghệ thuật là các khách thể của đời sống được người nghệ sĩ tái hiện hoặc tái tạo và tồn tại độc lập như một thực thể văn hoá xã hội (tức là

nó tách khỏi hoạt động nghệ thuật của nhà văn) mà con người có thể thưởng thức, ngắm nghía Hình tượng nghệ thuật chỉ thấm vào ý thức của con người khi họ cảm thấy cuộc sống trong đó Vì thế, hình tượng phải bắt nguồn từ những cá thể của đời sống Trong thực tế, cá thể của đời sống rất đa dạng, mỗi

cá thể có một cuộc sống riêng, vùng thẩm mĩ riêng nên yêu cầu đặt ra đối với người nghệ sĩ là phải biết chọn lựa những cá thể có sức khái quát cao thì cuộc sống mới phản ánh được nhiều mặt nhất

Tái hiện cuộc sống, nhưng hình tượng nghệ thuật không sao chép nguyên

si những hiện tượng có thật ngoài đời mà tái hiện có chọn lọc, sáng tạo Việc tái hiện có sự lựa chọn càng cao thì hình tượng có giá trị khái quát càng lớn Giá trị này không phụ thuộc vào số lượng chi tiết nhiều hay ít mà chính là ý nghĩa của nó Đôi khi hình tượng nghệ thuật chỉ cần vài chi tiết ít ỏi cũng có

Trang 23

thể để lại ấn tượng khó phai mờ trong lòng người đọc Chẳng hạn, hình ảnh đôi mắt trong thơ Nguyễn Đình Thi, nụ cười chiến thắng của Võ Thị Thắng… Trong thực tế từ các chi tiết đơn lẻ, nhất thời, ngẫu nhiên người ta còn có thể khám phá cái cốt lõi, bất biến, vĩnh hằng

Như vậy, chỉ thông qua hoạt động tưởng tượng của người nghệ sĩ thì một

"thiên nhiên thứ hai” mới ra đời Thiên nhiên này không chỉ định hướng về

tinh thần con người để hoạt động có chủ định, có lí tưởng, để lí giải thế giới hiện thực mà còn mang đến cái có thể có, muốn có, phải có

Thế giới hình tượng rất đa dạng Xét ở phương diện thể loại, mỗi thể loại

có những hình tượng nổi bật, mang tính khu biệt Trong tác phẩm trữ tình nổi bật là hình tượng cái tôi Trong tác phẩm tự sự nổi bật là hình tượng nhân vật hình tượng người trần thuật Xét về phương diện biểu hiện, hình tượng nghệ thuật bao gồm những hình tượng thực, hình tượng ảo, hình tượng thiên nhiên hình tượng con người, hình tượng thời gian

Hình tượng nghệ thuật chỉ sống khi được đặt trong thời gian, không gian sinh tồn (đây vừa là hình thức nội tại vừa là thuộc tính tất yếu của hình tượng nghệ thuật) Bị cắt đứt khỏi thời gian, không gian vật lí, tách khỏi thế giới hiện thực xung quanh, lại bị giới hạn trong khuôn khổ của tính ước lệ nên thời gian, không gian của hình tượng chỉ có thể cảm nhận chứ không thể nhìn

thấy trực tiếp bằng mắt Đọc câu thơ của Nguyễn Du “Gìn vàng giữ ngọc cho

hay / Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời” người đọc hình dung ra một

không gian xa xôi cách trở, đầy những khó khăn…

Nếu trong hội hoạ, điêu khắc, thời gian, không gian tồn tại bất biến khiến hình tượng bị đông cứng trong đường nét, hình khối, mầu sắc thì trong văn họcdo lấy chất liệu là ngôn từ nên thời gian, không gian giúp cho hình tượng luôn vận động và thể hiện rõ nét hơn hình ảnh thật Chịu sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử gắn liền với mức độ cảm thụ và quan niệm của người nghệ sĩ nên thời gian, không gian ở mỗi thời đại có “màu sắc” riêng Chẳng hạn, thời gian

Trang 24

của người cổ trung đại là tuần hoàn vĩnh cửu, quá khứ, hiện tại, tương lai cùng tồn tại trong thì hiện tại, không gian là vũ trụ bao la Thời gian của con người hiện tại là tuyến tính, không gian giắn liền với từng con người cụ thể… Thời gian, không gian trong văn học có sự co giãn kì diệu Thời gian vận động cả ba chiều, có thể đang ở thì hiện tại nhưng ngay lập tức quay về quá khứ hoặc vươn tới tương lai xa xôi mà không bị vấp một cản trở nào Thời gian nghệ thuật có thể dồn nén cả một cuộc đời, một thời kì vào trong khoảng khắc Cũng như thời gian, không gian nghệ thuật cũng không bị trói buộc bởi giới hạn nào Nó có thể là không gian hẹp như: xó bếp, gác xép, căn phòng… nhưng cũng có khi rộng lớn bao la như: chân mây cuối trời… Không gian nghệ thuật có khả năng dịch chuyển rất nhanh Huy Cận đã mở ra mọt không

gian có cả thiên đường và trần thế chỉ trong hai câu thơ “Nắng xuống trời lên

sâu chót vót / Sông dài trời rộng bến cô liêu” Ở mỗi giai đoạn văn học,

không gian có mầu sắc riêng Chẳng hạn, không gian trong văn học dân gian

là cây đa, bến nước, nơi hò hẹn…, thơ trung đại là không gian sơn thuỷ hữu tình, thơ mới là không gian lạnh lẽo, hờ hững, mong manh Nhìn chung, thời gian, không gian trong văn học gắn liền với sự cảm thụ của người nghệ sĩ với

ý thức về ý nghĩa của cuộc đời, với quan niệm về thế giới, con người

Nói tóm lại, hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất cao độ giữa các mặt đối lập: chủ quan - khách quan; lí trí - tình cảm; cá biệt - khái quát; hiện thực

- lí tưởng: tạo hình - biểu hiện; hữu hình - vô hình… Bản thân của mỗi hình tượng làmột quan hệ xã hội thẩm mĩ vô cùng phức tạp bao gồm: Quan hệ giữa các yếu tố và chỉnh thể giữa thế giới thực tại và thế giới nghệ thuật, giữa tác giả hình tượng, cuộc sống Với tư cách là cấp độ hạt nhân của chỉnh thể thế giới nghệ thuật, hình tượng là yếu tố trọn vẹn nhất vừa phản ánh đầy đủ cuộc sống vừa thể hiện gương mặt nghệ sĩ

Trang 25

* Cấp độ ngôn từ nghệ thuật

Ngôn từ nghệ thuật là lớp lời văn trong tác phẩm do người nghệ sĩ sáng tạo ra Nó là hình thức biểu đạt duy nhất vừa là xác, vừa là hồn của văn chương Xét về mặt chất liệu, ngôn từ nghệ thuật sử dụng các phương tiện của ngôn ngữ toàn dân như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng nhưng mang phẩm chất

thẩm mĩ và mục đích nghệ thuật nên nó có thể “Truyền đạt một thông tin và

không một phát ngôn đúng nghĩa nào có thể thay thế đƣợc” (theo

môn khoa học khác như: triết học, pháp luật phản ánh cuộc sống bằng các khái niệm, công thức thì văn học phản ánh cuộc sống bằng “Lời văn biểu cảm

hình tƣợng” [83;Tr.355] Trước hết, tính gợi hình thể hiện trong chính lời

văn, bởi qua lời văn người đọc sẽ hình dung ra những mối quan hệ, những cung bậc tình cảm khác nhau của nhân vật Để đạt được mục đích nghệ thuật

và có tính thẩm mĩ cao, lời văn có một hình thức tổ chức đặc biệt Nó sử dụng đậm đặc các hiện tượng cú pháp, các từ tượng thanh tượng hình, từ mô tả trạng thái, cảm giác nhất là các phương thức thêm nghĩa, chuyển nghĩa như

so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng làm cho lời văn mềm mại, uyển chuyển, bay bổng và có tính đa nghĩa, hàm ngôn

Hình thức tổ chức lời văn ở mỗi một thể loại có những nét đặc thù riêng Trong thơ trữ tình, tổ chức lời thơ phải có tách dòng, có nhạc, có vần Trong

tự sự, tổ chức lời văn là đoạn chương, hồi Trong kịch, tổ chức lời văn phải

Trang 26

có màn, lớp, cảnh .Theo Trần Đình Sử, lời văn nghệ thuật còn đóng vai trò "

biểu diễn" sự vật Điều này có nghĩa lời văn làm cho sự vật hiện hình (đây là

điểm khác nhau cơ bản với lời nói hàng ngày)

Quá trình sáng tác văn học là một quá trình tư duy tưởng tượng Trong tưởng tượng người nghệ sĩ không chỉ tạo dựng cuộc sống với những gì có thật như; con người, đồ vật, phong cảnh mà có cả những sự vật không tồn tại như:

thần linh, ma quỷ, tiên phật Nhờ tưởng tượng lời văn bộc lộ được ý nghĩa

của cuộc sống, làm cho hình tượng có thể hiểu được, hình dung được và nhiều khi chúng có cả tiếng nói đối với đời sống con người Lời văn nghệ thuật ít khi chỉ thông báo đơn giản sự việc xẩy ra đối với nhân vật mà thường tái hiện

cả một phức hợp qua lại, cả chủ quan và khách quan trong các sự kiện đó Như vậy, lời văn nghệ thuật vừa đóng vai trò lưu giữ làm phong phú thêm cho ngôn ngữ dân tộc vừa thể hiện sự kết tinh, sàng lọc ngôn ngữ của tác giả vừa thể hiện năng lực, sở trường, phong cách và quan niệm của người nghệ sĩ

1.1.2 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình

Trong văn học, căn cứ vào phương thức phản ánh người ta chia văn học

ra làm ba thể loại lớn: tự sự, trữ tình và kịch Trong mỗi thể loại lại bao gồm nhiều thể loại nhỏ Tự sự có sử thi, tiểu thuyết truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài Kịch có hài kịch, bi kịch, chính kịch Trữ tình có thơ văn xuôi, thơ cách luật, thơ trữ tình, tuỳ bút… Ứng với mỗi thể loại lớn là các thể nhỏ là những mô hình thế giới nghệ thuật riêng, có qui luật vận động riêng và hình thức tổ chức biểu hiện riêng Thơ trữ tình là một thể nhỏ nằm trong thể loại trữ tình Thế giới nghệ thuật của nó cũng bao hàm đầy đủ các cấp độ, yếu tố Nhưng các cấp độ, các yếu tố này có hình thức biểu hiện riêng Nếu việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật của bất kì thể nào cũng chính là làm rõ thế giới tiếng này thì đến đây có thể nói ngắn gọn rằng, việc tìm hiểu khái niệm thế giới

Trang 27

nghệ thuật thơ trữ tình chính là tìm hiểu tính chủ quan và những đặc trưng thể loại của nó

Thơ trữ tình là thuật ngữ nhằm để phân biệt với các thể loại khác trong

thể loại trữ tình và thơ tự sự Nó có ý nghĩa là phương tiện để con người ta tự

khẳng định bản chất của mình, xây dựng hình tượng về mình, xác định chíí hướng, lập trường, giá trị trước cuộc sống, đồng thời là phương tiện để xây dựng thế giới tinh thần của con người” [81; tr.112]

Thơ trữ tình có khả năng khêu gợi và bộc lộ cảm xúc rất lớn Tuy cảm xúc là của từng cá thể nhưng lại bắt nguồn từ cuộc sống nên trong thơ trữ tình

có tất cả mọi chuyện, chuyện thế sự, chuyện đời tư, chuyện chung, chuyện

riêng Dù nói gì đi nữa thì nổi bật trong thơ vẫn là "bản tự thuật của tâm

trạng” (Poxpelop), những vương quốc chủ quan” (Bielinxki)

Là tiếng nói của cảm xúc trực tiếp nên thơ trữ tình có kết cấu đặc biệt: Kết cấu theo lôgic của tình cảm, cảm xúc Khám phá kết cấu này có nghĩa chúng ta đi khám phá mạch xúc cảm phản ánh thế giới tâm hồn chủ thể trữ tình trong mọi biến thái tinh vi, phức tạp nhất

Cũng vậy, thống nhất và chịu sự qui định của đặc điểm thể loại, nhịp điệu, giọng điệu, hình ảnh thơ mang những nét độc đáo riêng Ngôn ngữ thơ được tổ chức đặc biệt để thể hiện nhịp điệu tâm hồn, nhịp điệu cảm nhận thế giới một cách thầm kín Hình ảnh thơ trực tiếp truyền đạt sự cảm nhận thế giới một cách chủ quan nên giàu nghĩa hàm ẩn Giọng điệu thơ là giọng điệu trữ tình, biểu hiện thái độ tình cảm, tư tưởng của chủ thể trữ tình đối với hiện thực đời sống được thể hiện

Tóm lại, thế giới nghệ thuật thơ trữ tình là thế giới của những rung động sâu sắc, mãnh liệt được hóa thân trong chủ thể với một quan niệm và những hình thức tổ chức độc đáo, hoàn mĩ Trong cuộc sống rộng lớn của chúng ta,

có bao nhiêu cá thể thì có bấy nhiêu tâm hồn, mỗi tâm hồn lại tồn tại trong vô

Trang 28

vàn trạng thái cảm xúc phụ thuộc vào thời đại, vào hoàn cảnh đất nước, vào tình cảm riêng tư của cá nhân Tâm hồn ấy, trạng thái cảm xúc ấy ở mỗi nhà thơ được hóa thân vào một hình thức biểu hiện cụ thể thấm đẫm cá tính sáng tạo của anh ta

Từ những quan niệm trên, chúng tôi đi vào khám phá thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng trong sự tương quan giữa các yếu tố ở quan niệm nghệ thuật, cấp độ hình tượng nghệ thuật để tìm ra phong cách riêng độc đáo của tiếng thơ này, đồng thời khẳng định sự đóng góp của tác giả đối với nền văn học dân tộc

1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của nhà thơ Trần Hùng

Văn học là nhân học, đối tượng thể hiện chủ yếu của nó là con

người Chúng ta không thể lí giải một hệ thống văn, thơ mà bỏ qua con người

được thể hiện trong đó Tuy nhiên sự miêu tả con người trong văn học không bao giờ là sự sao chép, chụp ảnh và tâm hồn nhà văn cũng không như một tấm gương cho sự phản chiếu nào Nhà văn sáng tạo ra nhân vật, kể ra, miêu tả ra nhân vật, nhân vật bao giờ cũng hiện ra theo cách hình dung, cảm nhận của tác giả, tức là mỗi nhà văn đều có một quan niệm khác nhau về con người Trong lịch sử văn học chẳng những con người với tư cách là đối tượng của văn học đổi thay, mà ngay quan niệm nghệ thuật về con người cũng thay đổi làm cho khả năng chiếm lĩnh con người trong văn học ngày càng sâu sắc, phong phú và tạo thành lịch sử của sự miêu tả con người trong văn học

Con người là cầu nối giữa văn học nghệ thuật và cuộc sống Vì thế nên con người trở thành đối tượng miêu tả chủ yếu để văn học có một điểm tựa nhìn ra thế giới bên ngoài Con người lịch sử, con người cá nhân, con người

xã hội là trọng tâm đánh giá các mối quan hệ Do đó người nghệ sĩ phải đi nhiều, hiểu nhiều, phải chọn những phương tiện để bộc lộ mọi mặt trong đời sống của con người

Trang 29

Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Trần Hùng chính là xem xét từ cách tư duy, cách cảm nhận và cắt nghĩa về con người trong thơ ông

Trần Hùng là một trong những nhà thơ đương đại tiêu biểu, đến nay ông

có hai tập thơ lớn: “Vườn khuya” và “Thảm thắc” Tác phẩm của ông đã đoạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2015 với tập “Vườn khuya” Thơ ông có

bản sắc riêng không lẫn với ai với những quan niệm về văn chương, cuộc đời và con người hết sức sâu sắc và độc đáo Có thể nói mỗi thi phẩm của Trần Hùng là một sự thăng hoa của tâm hồn, tư tưởng,quan niệm nghệ thuật của ông, mà hạt nhân của quan niệm văn chương là quan niệm nghệ thuật về con người Quan niệm nghệ thuật về con người là cái giới hạn tối đa trong cách hiểu, cách cảm, cách nhìn và cách lí giải về con người của nhà văn, được hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật trong đó Quan niệm nghệ thuật về con người gắn với vốn sống, vốn văn hoá, tài năng ,cá tính sáng tạo của nhà văn và ý thức hệ của cộng đồng xã hội Mỗi nhà văn lớn đều có một quan niệm nghệ thuật riêng Khi cầm bút sáng tác bao giờ họ cũng chịu sự định hướng của một quan niệm nghệ thuật nào đó Đã có sáng tác văn học tức là đã tồn tại các quan niệm nhất định về văn chương, cuộc đời và con người.Trong thực tế, có những nhà văn trực tiếp phát biểu quan niệm của mình thành các luận điểm, cũng có nhiều nhà văn chỉ thể hiện quan niệm của mình trên thực tiễn trang viết, trong trường hợp đó người đọc phải tìm cách cắt nghĩa quan niệm của nhà văn ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật

Với Trần Hùng, hầu hết những quan niệm đều được ông thể hiện qua những trang thơ của mình Có thể nói con người là chủ thể của mọi mục đích sáng tạo, con người bản thể, con người với khát khao sẻ chia trở đi trở lại như

Trang 30

một nỗi ám ảnh trong những vần thơ của Trần Hùng Thân phận con người có khi đứng tách riêng ra thành một chủ đề độc lập, có khi ẩn hiện trong các chủ

đề khác tạo nên một sợi dây xuyên suốt, một chất keo kết dính tạo nên tính thống nhất mà đa dạng trong tác phẩm của Trần Hùng

1.2.1 Con người bản thể

Từ lâu, bản thể con người đã trở thành vấn đề cơ bản và sâu sắc nhất của mối quan hệ giữa văn học với hiện thực Bản thể là một hữu thể độc lập

và duy nhất luôn có sự hiện hữu của cả tâm thể lẫn hình thể Văn học, trong

tiến trình phát triển của nó, từ mối quan tâm trọng yếu là

cuộc-sống-của-con-người chuyển đổi thành mối quan tâm trọng yếu là cuộc-sống-của- chính-con-người

Thời đại mới đã cấp cho con người cái nhìn mới về thế giới xung quanh,

về bản thân Con người trong thơ mới khao khát khám phá bản thân, họ hay tự

hỏi “Ta là ai?” , “Tôi là ai?” Trước năm 1986, họ chính là con người cá thể,

không có khả năng hòa nhập với cộng đồng, luôn cảm thấy cô đơn trước cộng đồng Sau năm 1986, cũng vẫn là con người cô đơn nhưng họ không tách mình

ra khỏi cộng đồng mà họ đối diện với chính mình, đó chính là con người bản thể đào sâu vào nội tâm cá nhân tự tại Chính vì vậy thơ cách tân sau năm

1975, có xu hướng đi sâu vào cái bản thểvà coi con người như một tiểu vũ trụ cần khám phá

Đi suốt chặng đường thơ của mình, Trần Hùng luôn tôn thờ vẻ đẹp đầu nguồn của thiên nhiên khởi nguyên trong “niềm trinh tĩnh vỡ òa”, mở đầu tập thơ “Thảm thắc” trong bài “Thời gian” thi sĩ đã viết:

“về đây những dấu chân lấm láp phù sa nắng hanh hao vườn chè vạt mía

qua thác cao bão nước niềm trinh tĩnh vỡ òa”

Trang 31

(thời gian)

Chính vẻ đẹp đầu nguồn nguyên sơ, trinh khiết đã khơi dòng cho mạch

kiếm tìm, lối rẽ riêng cho Trần Hùng.“Thơ Trần Hùng là mạch nguồn phù sa

chảy tươi nồng lắng xoáy” [12] Chính vì tôn thờ những vẻ đẹp đầu nguồn ấy

mà thơ Trần Hùng như một niềm đau khi vẻ đẹp ấy bị phá hủy Thi sĩ đau đớn,

cô đơn trước thực tại và tự mình đối diện với chính mình, tự đào sâu vào bản thể để khám phá hồn mình Những lời thơ của Trần Hùng là tiếng nói của tác giả về kiếp người, phận người xuất phát từ những trải nghiệm của cuộc đời mình Qua đó thi sĩ thể hiện những khao khát ước muốn của bản thân, những quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan Nhà thơ luôn có sự đào sâu khám phá cõi riêng của tâm hồn trong mối giao hòa với sự bí ẩn của sự vật Trong cõi riêng tâm hồn ấy luôn cháy lên ngọn lửa khát vọng cháy bỏng của tình yêu, chạm vào những điều sâu kín nhất trong bản thể con người:

“phút chốc muốn băng vườn khuya tìm đến nơi gương mặt người thấm đẫm ánh trăng nơi gương mặt lá thấm đẫm bóng tối nơi gương mặt đá lạnh như môi tôi tìm em trăng mang em đi rồi

hạ huyền tiếng ong đêm thăm thẳm tiếng ong đêm cao vút”

Xuyên suốt thế giới thơ của Trần Hùng là tình yêu lứa đôi và một nỗi buồn thê thiết phận người, đó là một thế giới quá vô thường, mỏng manh đến bàng hoàng:

“Và thảm đêm trùm xuống triền miên trên ngực của người

Trang 32

và còn lại mỏng manh hương khói tro tàn dục vọng cuộc đời”

(khát vọng)

Cái buồn, cái cô đơn của thân phận con người vừa là tâm sự bản thể, vừa

là nỗi ám ảnh của mọi kiếp người Nó là sự phản ánh của hiện thực đời sống khách quan qua lăng kính tâm hồn của người nghệ sĩ:

“tôi buồn vì tôi, tôi buồn vì cuộc sống này

và tôi yêu tôi, tôi yêu cuộc sống này

dù đôi lúc tôi là tấm bánh đa sũng nước mỗi khi ban mai, tôi muốn ươm màu lá trong tôi mỗi khi ban mai tôi muốn ươm màu dòng sông trong tôi tôi muốn tan ra miên man trong lá

muốn lá miên man trong nước”

(Ba giờ sáng)

Khao khát khám phá những bí mật sâu kín nhất trong con người mình Con người có khi lạnh lùng đạo mạo, có vẻ kiêu hùng nhưng bên trong nó là một kẻ yếu đuối đa mang:

“Chúa lòng lành ơi

hôm nay - Xin Co mùa sáng chói chúa có nghe thảm thiết đàn linh dương

khi bầy sư tử săn đuổi

đó chính là con người hàng trăm con người gục ngã dưới mặt trời

bí mật của chúng con nơi nào chúa ơi

(Bí mật con người)

Trang 33

Những lời khẩn cầu với chúa, những nỗi đau tận trong thẳm sâu bản thể mỗi con người được cất lên thảm thiết.Như một sự cầu xin cứu vớt linh hồn khi đang đứng giữa ranh giới của sự sống và cái chết đang cận kề Con người

là vậy rồi có lúc “gục ngã dưới mặt trời” nhưng không lý giải được vì sao và vẫn âm thầm mải miết đi tìm kiếm bí mật của chính mình

“…Người người người bước vào ánh sáng vô biên bình yên

chóng mặt những đoàn tàu cao tốc những máy móc siêu chính xác những thế hệ tế bào thần kinh căng sức nhằm tìm ra bí mật con người”

(Bí mật con người)

Thi sĩ luôn khao khát khám phá, khao khát kiếm tìm sử dụng những thiết

bị hiện đại tân tiến nhất, huy động từng nơron thần kinh để khám phá ra những vỉa tầng sâu thẳm nhất của hồn mình Đứng trước cuộc đời chông

chênh, vô định thi sĩ luôn đau đáu một câu hỏi “ta là ai?” “ta từ đâu tới?”:

“Lũ chúng ta từ đâu tới

từ đâu sinh ra hai tay ngơ ngác cơn lo toan chóng mặt làm sao nỗi khát vọng đau đớn làm sao những toan tính chất chứa tầng tầng tất cả để làm gì

Trang 34

hãy nói cho ta biết đi

có phải trăng cũng chỉ là đất đá thôi không?”

(Hỏi trăng)

Con người không thể tự quyết định sự ra đời của chính mình, Con người sinh ra để phải chịu bao nhiêu khổ đau Những câu hỏi mãi là những bí ẩn, hỏi trăng mà cũng như tự hỏi chính mình mãi không lời đáp “Có phải trăng cũng chỉ là đất đá thôi không?” Một câu hỏi ném vào hư không như một viên đá cuội ném xuống và mất hút giữa mặt hồ cuộc đời rộng thênh thang, có chăng chỉ hồi vọng những vòng sóng nhỏ lăn tăn một nỗi ngậm ngùi và suốt cuộc đời thi si mải miết, run rẩy kiếm tìm:

“trái tim- người là ai

mà như chiếc gầu sòng thì thụp tát về cánh đồng thân thể nuôi lên tơi bời ý nghĩ

nuôi lên mùa màng kiến thức (…)

nhịp đập cuối cùng rồi sẽ như thế nào”

(Trái tim)

Chiều sâu tri giác của trực giác tâm linh, vô thức giúp con người nhận ra những vẻ đẹp đầy quyến rũ, bí ẩn của thế giới mà một cái nhìn lý tính thông thường khó lòng đạt tới Nó giúp con người lặn sâu xuống đáy bản thể để nhận ra sự tồn tại đích thực của mình giữa thế giới:

“sắc màu kêu gào tìm về thời gian dã man

về với mẩn mê hoang dại nhất khi màu đen chỉ là màu đen thôi”

(Một thoáng Dali)

Trang 35

Trần Hùng luôn canh cánh với cái nhìn thấu suốt cõi người.Con người từ lúc sinh ra đã phải đứng trước cơn lo toan chóng mặt, nỗi khát vọng đau đớn, những toan tính chất chứa tầng tầng… trước những thách thức nghiệt ngã của cuộc đời, cũng đớn đau, mệt mỏi rã rời:

“Chạm vào lưỡi lam

Bướm không bay nữa Nhì nhạch giữa hoa Nắng nhỏ màu mười giờ.”

(Rã cánh)

Tâm hồn con người đôi lúc cũng mỏng manh như cánh bướm kia, chấp

chới, vô định và khi chạm phải những lưỡi lam sắc cạnh của cuộc đời thì “nhì

nhạch” trong đớn đau dù xung quanh nó được bao bọc bởi sự lung linh tươi

đẹp huyền ảo của nắng và hoa Trần Hùng luôn có những chiêm nghiệm sâu sắc về những đớn đau của cuộc đời, phận người Ngòi bút của thi sĩ sắc lạnh, tinh tế đi vào khám phá từng tế bào, mạch máu, từng nhịp thở trong con người:

“Trong tôi sa mạc quay cuồng cát thiêu đốt ý nghĩ

mạch máu cát tắc nghẽn tiếng đàn câm không nơi trú ngụ mắt cát mắt em không nơi trú ngụ”

(Trong cơn đau)

Những nhiễu loạn bên trong con người trước những đớn đau của cuộc đời, được tác giả phơi bày rất tỉ mỉ, tinh tế đến từng tế bào:

“Madonna hát bần bật ngực lò so chật căng thân thể cô

Trang 36

(Madonna)

Hình ảnh nữ hoàng nhạc pop người Mỹ, trước dàn nhạc quay cuồng, ánh sáng huyền ảo của sân khấu, được tung hô bởi đám đông cuồng nhiệt Nhưng đâu ai biết được đằng sau ánh hào quang là cả một sự chiến đấu không mệt mỏi của từng tế bào trong cơ thể, cuối cùng “chỉ còn lại những mảng màu

Trang 37

Con người trải qua biết bao thăng trầm bể dâu của cuộc đời đớn đau hay vinh quang thì cuối cùng cũng trở về với cát bụi Cát bụi- Cuộc đời - Con người hòa lẫn vào nhau:

“một đêm đom đóm đầy trời một đêm cát bụi ôm tôi vào lòng”

Nhà thơ Mai Văn Phấn một trong những người bạn thơ của Trần Hùng lại có ý niệm hoàn toàn khác đó là: Con người liên tục được tái sinh, hồi sinh,

được sinh ra từ những vẻ đẹp quanh mình:

đất mỡ màu quyện rạng đông dâng lên khuôn mặt dâng lên cỏ cây phồn thực bời bời

Những mùa tái sinh trổ đòng chín rục Sấm nổ vang trong lòng tay mầm hạt Vòng phù sa tươi ròng ấp ôm thớ đất

(Bài hát mùa màng)

Đây là một quan niệm nghệ thuật trái ngược với Trần Hùng: Vạn vật được sinh ra và lớn lên rồi cũng quay về với cát bụi, ranh giới của sự sống và cái chết quả là mong manh:

“Hạt bụi nằm im trong bóng tối

con giun ru lời ứa nhựa vàng

con cá lặng lẽ trong cát

[…]

ta đi những hạt bụi những hạt bụi bay,

hạt bụi nằm im trong bóng tối

như cá ngậm cát lòng suối nào, ai như giun thức im miền đất nào.”

Nhận thức rõ được điều này nên Trần Hùng buông bỏ được dễ dàng mọi quyền uy, danh lợi phù phiếm của cuộc đời, cuối cùng thi sĩ cũng chọn cho

Trang 38

mình lối đi nhẹ nhàng chìm vào giấc thụy miên vĩnh hằng:

Bằng cái nhìn trực diện thi sĩ không trốn tránh và sợ hãi trước cánh cửa

vô thường Sinh - Lão - Bệnh - Tử, mà ví cái chết rất đẹp nhẹ nhàng như cánh bướm và bay vào giấc mơ vĩnh hằng

Như vậy, qua những sáng tác của Trần Hùng đã cho ta thấy được con người trong thơ Trần Hùng là con người bản thể, tự đào sâu khám phá nội tâm

cá nhân, tự mình đối diện với hồn mình trong nỗi cô đơn cố hữu của kiếp người

1.2.2 Con người khát khao sẻ chia:

Trần Hùng là một người con phải sống xa quê, lập nghiệp ở đất khách quê người nên trong lòng luôn chất chứa nỗi nhớ khắc khoải, day dứt khôn nguôi về quê hương.Trần Hùng tôn thờ cái đẹp đầu nguồn trinh khiết, vẹn nguyên và khi vẻ đẹp ấy bị phá vỡ thi sĩ không khỏi đau đớn, thảng thốt, tiếc nuối, xót xa, luôn khao khát níu kéo, khôi phục lại vẻ đẹp “trinh tĩnh”, nguyên

sơ ấy Thơ Trần Hùng là tiếng gọi về nguồn, với những hoài niệm về quá khứ, những hình ảnh tươi đẹp của vùng đồng bằng Sông Hồng, những ước mơ, khát khao của tác giả được trở về với cố hương, nỗi nhớ quê hương da diết,

mãnh liệt luôn hiện hữu giữa hai bờ hư thực trong những giấc “mơ quê.”

“Ừ nhỉ, không phải con trâu của ta

không phải bó lạt của ta

không phải lưới hái của ta

Trang 39

con trâu của ta sứt mũi

lưới hái của ta mẻ răng

bó lạt mạ làm bằng dây chuối

(…)

ừ nhỉ? Không phải cánh đồng của ta

không phải dòng sông của ta

không phải đống dấm của ta…

dòng sông của ta ngày sũng nắng đêm sũng trăng vó buông nước đục cánh đồng của ta rạ rơm làm mật

đống dấm của ta ủ nồi cá kho thơm mùi rượu lức…”

(mơ quê)

Những cơn mơ đã đưa nhà thơ trở về tắm trong không khí thiết tha nồng

ấm của quê hương, về miền quê nơi đã sinh ra và lớn lên với tuổi thơ gắn bó với những gì thân thuộc nhất: Con trâu, bó lạt, lưới hái, cánh đồng…Những trò chơi của tuổi thơ bỗng vụt hiện Nhà thơ cứ mải miết tìm kiếm những kỉ niệm thời thơ ấu:

“Tiếng dạ đề ta đâu sách đèn ta đâu”

(…)

“giờ chim đã xa mây đã xa, nước im Những hòn sỏi chơi ô ăn quan, những que bàn chuyền, Những con quay gỗ nằm đâu, chỉ cánh đồng làng mới biết”

Trang 40

giật mình cơn mơ đi qua”

Xa quê, nhớ quê, có quê mà lại lạc quê nên con người trong thơ Trần Hùng luôn buồn, cô đơn, luôn khát khao níu giữ, phục nguyên cái đẹp của cội nguồn Thi sĩ gọi về kí ức, với tình mẫu tử thiêng liêng:

“mẹ

xa một ngàn cây số

con đang nói cùng mẹ đây

con quỳ xuống tắt đèn

con nhắm mắt cho tối thêm lần nữa

mẹ ơi quay lại với con

mẹ đứng trước bàn thờ

rồi tới ngồi bên lửa

để đun cho nồi nước nóng lên

rồi lại đun cho nóng lên

ngoài hiên những bông lửa trên trời đỏ rực

mẹ còn chợt nhận ra mình còn nhiều đứa con

chúng ra đi đã lâu mà không về

sao lại như thế nhỉ?

mẹ ơi

giao thừa rồi

con quỳ xin mẹ đây

xin mẹ uống một liều thuốc ngủ

rồi nằm xuống- nhẹ nhàng thôi

thanh thản cho đến sớm mai

Ngày đăng: 27/06/2017, 15:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Thống kê tần số xuất hiện của các biểu tƣợng - Thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng
Bảng 3.2. Thống kê tần số xuất hiện của các biểu tƣợng (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w