1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật thơ trúc thông

130 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong mỗi tác phẩm của mình, Trúc Thông đều cố gắng đưa vào mộtnét kiến thức mới,một phát hiện mới, hoặc một ý tưởng mới… khiến chúng ta đôi khi phải kiểm tra lại các giác độ “thưởng ngo

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

PHAN THỊ THỦY

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ

TRÚC THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ VĂN GIÁ

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ Văn,

bộ phận đào tạo sau đại học- trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điềukiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, khích

lệ để tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã cố gắng nhưng Luận văn của tôi chắc chắn còn nhiều thiếusót Tôi hi vọng được các thầy cô góp ý, bổ sung để luận văn hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Phan Thị Thủy

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Trong quá trình hoàn thành luận văn thạc sĩ văn học với đề tài Thế giới

nghệ thuật thơ Trúc Thông này, tất cả nội dung từ đề tài, ý tưởng đến

nội dung trình bày đều do sự nghiên cứu sáng tạo của bản thân tôi Mặc dùkhi thực hiện, tôi có sử dụng một số tài liệu tham khảo nhưng chỉ nhằm mụcđích tăng cường tnh thuyết phục cho lập luận của luận văn Những tư liệuđược trích dẫn tôi đều có ghi chú nguồn gốc rõ ràng Công trình nghiên cứunày của tôi chưa được công bố trên bất kì phương tiện thông tin đạichúng nào Tôi xin cam đoan những điều viết trên đây đều là sự thật Nếu

có vấn đề gì xảy ra, người viết xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Phan Thị Thủy

Trang 5

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG……… 8

Chương 1 QUAN NIỆM VỀ CÁI ĐẸP VÀ THƠ CA TRONG THƠ TRÚC THÔNG 8

1.1 Quan niệm về cái đẹp của Trúc Thông 8

1.1.1 Quan niệm chung về cái đẹp 8

1.1.2 Quan niệm về cái đẹp trong thơ Trúc Thông 11

1.2 Quan niệm về thơ của Trúc Thông 20

1.2.1 Quan niệm chung về thơ ca 20

1.2.2 Quan niệm về thơ của Trúc Thông 21

Tiểu kết 25

Chương 2 HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TRÚC THÔNG 26

2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình 26

2.1.1 Khái niệm cái tôi, cái tôi trữ tình 26

2.1.2 Các dạng thức cái tôi trữ tình trong thơ Trúc Thông 28

2.2 Hình tượng thế giới 41

2.2.1 Thế giới nhân vật 41

2.2.2 Hình tượng không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Trúc Thông53 Tiểu kết 60

Chương 3 CÁC PHƯƠNG THỨC VÀ PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRÚC THÔNG 61

3.1 Thể thơ 61

3.2 Ngôn ngữ thơ 64

Trang 6

3.2.1 Khái niệm ngôn ngữ thơ 64

3.2.2 Ngôn ngữ tự nhiên, giản dị 66

3.2.3 Ngôn ngữ thơ mềm mại, duy mĩ

69 3.3 Một số biểu tượng tiêu biểu trong thơ Trúc Thông

74 3.3.1 Khái niệm về biểu tượng trong thơ ca 74

3.3.2 Những biểu tượng tiêu biểu trong thơ Trúc Thông 76

Tiểu kết 87

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 7

Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm tất cả cácyếu tố, các cấp độ của sáng tạo nghệ thuật Nghiên cứu thế giới nghệthuật là để tm hiểu quy luật sáng tạo của chủ thể, quan niệm về nghệ thuật,cuộc sống, nhân sinh của người nghệ sĩ Thế giới nghệ thuật là một thế giớithứ hai do người nghệ sĩ sáng tạo ra Một mặt nó phản ảnh phần nào thế giớihiện thực, mặt khác nó biểu hiện khát vọng chân, thiện, mĩ và khao khát sángtạo của nhà văn Với ý nghĩa này, vấn đề đặt ra là cần phải có một khái niệmthật bao quát, thật đầy đủ để làm cơ sở cho việc tếp cận các hiện tượng, tácgiả văn học.

Thế giới nghệ thuật là một khái niệm của thi pháp học Thế giới nghệthuật thơ trữ tình ở mỗi thời đại, mỗi trào lưu sáng tác lại mang những nétđặc trưng riêng Nếu thế giới thơ trữ tnh trung đại chủ yếu xoay quanh haithành tố: cái ta và thế giới thì đến thơ ca hiện đại lại là cái tôi và thế giới.Nói đến thơ trữ tình là nói đến cảm xúc của chủ thể, thế giới chủ quan củanhà thơ Những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của nhà thơ thể hiện trong thếgiới nghệ thuật chính là những biểu hiện của cái tôi và các nguyên tắcthể hiện nó Muốn tiếp cận được thế giới nghệ thuật của thơ phải nhậndiện được cái tôi trữ tình Không phải nhà thơ xưng tôi thì cái tôi mới đượcbộc lộ mà cái tôi ấy

Trang 8

còn được bộc lộ qua tư thế trữ tình, giọng điệu trữ tình hay mẫu hình lítưởng mà hồn thơ ấy tôn thờ Bên cạnh cái tôi trữ tình thì thế giới- hiểu nhưmôi trường tự nhiên và xã hội bao quanh cái tôi (không gian, thời gian, cácnhân vật trữ tình) là yếu tố không thể thiếu để xây dựng nên thế giới nghệthuật thơ.

1.2 Trúc Thông là một trong những người đi đầu trong việc cách tântrong thơ ca Việt Nam Và ông có ảnh rất nhiều đến các nhà thơ lớp sautrong tến trình đổi mới thơ ca như: Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc,Trần Quốc Thực và nhiều nhà thơ khác Trong thời gian cầm bút Trúc Thông

đã sáng tác được năm tập thơ: Chậm chậm tới mình– Nhà xuất bản Tác phẩm mới năm 1985, Maratong – Nhà xuất bản Văn học năm 1993, Một

ngọn đèn xanh – Nhà xuất bản Hội nhà văn năm 2000, Vừa đi vừa ở – Nhà

xuất bản Hội nhà văn năm 2005, Mắt trong veo- Nhà xuất bản Hội nhà văn năm 2014 Cùng ba tác phẩm phê bình: Văn chương ngẫu luận – Nhà xuất bản Quân đội nhân dân năm 2003, Mẹ và em – Nhà xuất bản Phụ nữ năm

2006, Trúc Thông tểu luận bình thơ – Nhà xuất bản Hội nhà văn năm

2013 Trong mỗi tác phẩm của mình, Trúc Thông đều cố gắng đưa vào mộtnét kiến thức mới,một phát hiện mới, hoặc một ý tưởng mới… khiến chúng

ta đôi khi phải kiểm tra lại các giác độ “thưởng ngoạn” thơ của chính mình.Bởi dường như ở dưới tầng ngôn ngữ, câu chữ hạn hẹp ấy có một dòngchảy đời sống đang nhắc nhở chúng ta về những lo âu, trăn trở trong đờisống con người hôm nay Diện mạo đời sống hàng ngày cứ đi vào thơ ôngmột cách tự nhiên như nó vốn tồn tại, không cần vẽ vời bằng một thứ cảmxúc khác Và phải chăng, khi tìm tòi, cách tân đến tận cùng thì thơ đương đạilại trở về với sự giản dị, hàm xúc vốn là một trong những giá trị muôn đời củathi ca

Trúc Thông tên thật là Đào Mạnh Thông sinh năm 1940 tại Bình Lục, HàNam Từ năm 15, 16 tuổi, ông đã bắt đầu làm thơ, rồi từ đó gắn cả cuộc

Trang 9

đời với văn chương Ngay từ khi còn bé ông đã rất ham văn và yêu văn.Đào

Trang 10

Mạnh Thông lúc nào cũng đứng đầu lớp về điểm môn Văn Sau khi tốt nghiệpKhoa Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông về công tác tại Ban văn nghệ,Đài tiếng nói Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu Sau đó, ông tham gia Banbiên tập Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam.

Nhà thơ Trúc Thông đã trở thành một cái tên được độc giả ghi nhận vớinhững nỗ lực không ngừng cống hiến cho thơ ca Ông cho rằng: Trong khigắn chặt với đất nước, thời đại, con người, nhà thơ phải có đóng gópnhất định vào mở rộng, nâng cao những đặc điểm nghệ thuật của thơ ViệtNam (cũng như ở văn, kịch,… và các loại hình nghệ thuật khác) Ông từng

nhiều lần“đăng đàn” với những ý kiến được đúc rút từ chính kinh nghiệm

sáng tác của bản thân Đó là: “Tính nghề nghiệp “thuần túy” trong sáng tạovăn học nghệ thuật phải được thể hiện từng bước đi lên qua các tác phẩm.Làm được đến đâu còn do “lực” Nhưng “tâm” phải nguyện canh cánh vớinhiệm vụ, lương tâm đó đến hơi thở cuối”

Trong mỗi bài thơ của mình, Trúc Thông đều cố gắng đưa vào một nétkiến thức mới… khiến chúng ta phải đôi khi phải kiểm tra lại các giác độ

“thưởng ngoạn” thơ hiện đại của chính mình Bởi dường như ở dưới

tầng ngôn ngữ, câu chữ hạn hẹp ấy có một dòng chảy đời sống đangnhắc nhở chúng ta về những lo âu, trăn trở trong đời sống con ngườihôm nay Diện mạo đời sống hằng ngày cứ đi vào thơ ông một cách tự nhiênnhư nó vốn tồn tại, không cần vẽ vời bằng thứ cảm xúc khác Và phảichăng khi tìm tòi – cách tân đến tận cùng thì thơ đương đại lại trở về với sựgiản dị, hàm xúc vốn là một trong những giá trị muôn đời của thi ca

2 Lịch sử vấn đề

Trúc Thông là nhà thơ đương đại tiêu biểu với sự nghiệp thi ca khôngnhỏ Thơ và phê bình của ông đã ghi lại một cách tài hoa và độc đáo cái hồnđời sống qua ba thời kì của đất nước: Thời kì kháng chiến chống Mỹ, thời kì

Trang 11

sau hòa bình thống nhất và thời kì từ khi đổi mới đến nay Đã có nhiềubài viết, nhiều ý kiến, chuyên luận về thơ Trúc Thông Nhiều ý kiến nhậnxét, đánh giá chính xác mang tầm khái quát về phong cách nghệ thuật thơTrúc Thông Dưới đây là những ý kiến têu biểu:

Đầu tiên phải kể đến ý kiến của nhà phê bình Chu Văn Sơn trong buổi

tọa đàm văn học Trúc Thông chầm chậm tới mình tháng 9/2015 tại khoa Viết

văn - Báo chí, Đại học Văn Hóa Hà Nội Ông đã theo dõi thơ Trúc Thông

trong hơn 20 năm qua hình dung Trúc Thông như Ngọn đèn xanh trong xứ

mơ hồ, một thi sĩ dấn thân say mê vẻ đẹp của cái mơ hồ để mang về sự tinh

khiết trong vắt của nó Chu Văn Sơn cho rằng Trúc Thông chỉ thực sự làTrúc Thông khi chiến tranh đã khép lại Đó là tiếng thơ “cảm thương” thờihậu chiến đầy đổi mới, cách tân Tư tưởng xuyên suốt thơ Trúc Thông góigọn ở chữ “trong”, một người nghệ sĩ lọc trong của cuộc đời rất tạp Liêntưởng đến hội họa, nhà phê bình Chu Văn Sơn nhấn mạnh khả năng tài tnh

của tác giả trong việc “vẽ tranh trên lớp lụa ngôn từ” [81].

Cũng trong buổi tọa đàm văn học Trúc Thông chầm chậm tới mình tổ

chức tại khoa Viết văn – Báo chí, Đại học Văn hóa Hà Nội tháng 9/2015, nhàthơ Vũ Quần Phương cho rằng thơ Trúc Thông nổi bật: “Thứ nhất thơ ôngmang tính nhạc, thứ hai thơ Trúc Thông không phải là tiếng nói tuyên truyền,

cổ động mà sử dụng tư duy để nâng những thứ giản dị đời thường thành

vẻ đẹp lấp lánh trí tuệ và cuối cùng là hình ảnh thơ được nói bằng biểu từ”[93]

Đồng ý với nhà thơ Vũ Quần Phương về âm nhạc trong thơ Trúc Thông,nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong buổi tọa đàm trên còn chỉ ra sự trau chuốtngôn ngữ của tác giả và thẳng thắn đưa ra: “Quan điểm về sự ảnh hưởng củathơ Hàn Mặc Tử đối với Trúc Thông nhất là hình ảnh trong bài thơ nổi tiếng

Bờ sông vẫn gió” [93].

Có thể nói rằng, người thực sự thâm nhập vào thế giới thơ Trúc Thông

Trang 12

và khắc họa lại hành trình đầy say mê nhưng cũng đầy thử thách ấy làNguyễn

Trang 13

Bình Phương cho rằng: “Những bài thơ ấy nó gọn dịu, trong vắt, nó có sựkiêu hãnh ngầm trong cái không khí cực tân kỳ mà thời điểm ấy tôi ít gặpđược khi đọc các tập thơ khác” [106, tr.319].

Không đi tìm những đổi mới về thi pháp, câu chữ, nội dung, nhà thơ ĐỗMinh Tuấn chia sẻ thơ Trúc Thông trong cái nhìn của ông có ba nghịch lí:

“Về mặt tốc độ “chầm chậm”, hình ảnh một con người đời thường lẫn mộtthiền sư, đặc biệt thơ ông thấp thoáng hình ảnh Nguyên Ngọc…” [93]

Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy ngắn gọn chỉ ra cách tân lớn nhất trong thơTrúc Thông ở mặt ngôn ngữ: “Tôi cho rằng động cơ và động lực của TrúcThông trong việc cách tân ở chỗ thay đổi quan niệm ngôn ngữ thơ: Từ ý niệmngôn ngữ công cụ, ngôn ngữ mang nghĩa têu dùng đến việc xác lập ngôn ngữ

là bản thân thơ Ngôn ngữ đó sáng tạo ra nghĩa mới, nghĩa do bài thơ tạora”

[93]

Thông qua những ý kiến, bài viết nêu trên, chúng tôi rút ra một số nhậnxét sau:

Thứ nhất, mặc dù đã có một số ý kiến đề cập đến những khía cạnh khácnhau về thơ Trúc Thông nhưng đều có chung một đặc điểm là thừanhận những nỗ lực cách tân mới mẻ ở cả phương diện nội dung lẫn hìnhthức trong thơ Trúc Thông

Thứ hai, mỗi bài viết, ý kiến đều chỉ đi vào phân tch, nghiên cứu trênmột vài khía cạnh chứ chưa có cái nhìn hệ thống, toàn diện về thế giới nghệthuật thơ Trúc Thông

Đó là gợi ý tạo cơ sở để tôi tiếp cận và triển khai đề tài

3 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ những lí luận về nghệ thuật thơ mà đặc biệt là lý luận vềthi pháp thơ ca, luận văn đi sâu vào nhận diện, phân tích, đánh giá thế giớinghệ thuật thơ Trúc Thông qua ba phương diện sau:

Trang 14

3.1 Quan niệm về cái đẹp và thơ ca trong thơ Trúc Thông

3.2 Hệ thống hình tượng nghệ thuật trong thơ Trúc Thông

3.3 Các phương thức và phương tiện biểu hiện thế giới nghệ thuật thơ

Trúc Thông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Luận văn cần nêu được những vấn đề về lý luận cơ bản về thơ ca

và thi pháp thơ để làm căn cứ khảo cứu phân tích thế giới nghệ thuậtthơ Trúc Thông

4.2 Khái quát đánh giá được giá trị nghệ thuật đặc sắc và vị trí, vai tròcủa Trúc Thông trong nền thơ ca hiện đại của Việt Nam

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Thế giới nghệ thuật thơ Trúc Thông

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung và khảo sát các tập thơ củaTrúc Thông

- Tập Chậm chậm tới mình, Nxb Tác phẩm mới (1985)

- Tập Maratong, Nxb Văn học (1993)

- Tập Một ngọn đèn xanh, Nxb Hội nhà văn (2000)

- Tập Vừa đi vừa ở, Nxb Hội nhà văn (2005)

- Tập Mắt trong veo, Nxb Hội nhà văn (2014)

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau để chỉ ranhững đặc điểm thế giới nghệ thuật thơ Trúc Thông, cơ bản là các phươngpháp sau:

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học, tìm hiểu các tập thơ củaTrúc Thông trên các bình diện thi pháp: Cái tôi trữ tình, không gian nghệthuật, thời gian nghệ thuật, các hình ảnh biểu tượng, ngôn ngữ thơ, thể thơ…

- Phương pháp thống kê: Thống kê các thể thơ, hình ảnh, ngôn ngữ trong

Trang 15

tổng số sáng tác của Trúc Thông.

- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Chúng tôi sử dụng phươngpháp này để tìm hiểu ý nghĩa của một số biểu tượng têu biểu trongthơ Trúc Thông

- Phương pháp so sánh: Chúng tôi so sánh những đặc điểm thế giới thơTrúc Thông với thơ của các nhà thơ đương đại để tìm ra những đặctrưng riêng của thơ Trúc Thông

7 Đóng góp của luận văn

Luận văn cung cấp cho người đọc một cái nhìn khá toàn diện và khoahọc về những đặc điểm nổi bật trong thế giới nghệ thuật thơ Trúc Thông từ

đó nhận diện phong cách và vị trí của nhà thơ trong nền văn học hiện đạiViệt Nam Luận văn gợi mở thêm cho người đọc một cái nhìn về thơ TrúcThông trong dòng chảy thơ đổi mới, cách tân sau năm 1975; đồng thời ghinhận đóng góp của ông trong quá trình làm phong phú thơ Việt Nam hiệnđại và đương đại

8 Cấu trúc phần nội dung luận văn

Chương 1: Quan niệm về cái đẹp và thơ ca trong thơ Trúc Thông

Chương 2: Hệ thống hình tượng nghệ thuật trong thơ Trúc Thông

Chương 3: Các phương thức và phương tiện biểu hiện thế giới nghệthuật thơ Trúc Thông

Cuối cùng là phần Thư mục Tài liệu tham khảo

Trang 16

Chương 1 QUAN NIỆM VỀ CÁI ĐẸP VÀ THƠ CA TRONG THƠ TRÚC THÔNG

1.1 Quan niệm về cái đẹp của Trúc Thông

1.1.1 Quan niệm chung về cái đẹp

Cái đẹp là phạm trù trung tâm của mỹ học dùng để chỉ thực tại thẩm mĩkhách quan, thực tại này chúng ta biết được nhờ hệ thống cảm nhận có tính

xã hội sâu sắc dưới ánh sáng của lý tưởng thẩm mĩ chân chính Đặc trưngngôn ngữ của sự phản ánh đó là hình tượng Thành tựu cao nhất của sự phảnánh đó là nghệ thuật Cái đẹp bắt nguồn từ cái chân thật và cái tốt Nó toảchiếu bằng những rung động thẩm mĩ có sức cuốn hút, giúp cho con ngườiđịnh hướng sống theo luật hoàn thiện, hoàn mĩ Tác động của cái đẹp là tácđộng có tính thanh cao, hài hoà biện chứng ở trong tâm hồn con người, xãhội loài người

Việc vạch ra toàn bộ bản chất của cái đẹp có một ý nghĩa vô cùng quantrọng trong việc tếp tục nghiên cứu các quy luật khác của đời sống thẩm mĩ.Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của con người mà còn là cáichuẩn để chỉ phẩm chất của con người C.Mác đã viết: “Súc vật chỉ nhào nặnchất theo thước đo và nhu cầu giống loài nó, còn con người thì có thể ápdụng thước đo thích dụng cho mọi đối tượng, do đó con người cũng nhàonặn vật chất theo quy luật của cái đẹp Nhờ quá trình lao động cải tạo tựnhiên và cải tạo bản thân, con người dần dần phát triển và nhận thức ra quyluật phổ biến cái đẹp” [8]

Xét về mặt lịch sử từ xưa đến nay, quan niệm về cái đẹp được các nhà

mĩ học bàn luận rất nhiều nhưng chưa đi đến một quan điểm thống nhất doxuất phát từ cơ sở triết học khác nhau về cái đẹp Quá trình tìm tòi về cáiđẹp thường xoay quanh hai câu hỏi cơ bản: Cái đẹp là gì? Và cái gì đẹp? Mỹhọc là khoa học triết học nghiên cứu những quy luật phổ biến của sự vận

Trang 17

động các quan hệ thẩm mĩ của con người đối với hiện thực thông qua cáchình thái lịch

Trang 18

sử cụ thể của đời sống thẩm mĩ xã hội và tiến trình văn hoá nhân loại Cáiđẹp được phát triển và hình thành qua những thời kì khác nhau với nhữngquan niệm những hình thái khác nhau trong một cái chung về con người.Cái đẹp trong thời kì nguyên thuỷ là cái đẹp vô ngôn Thời kì này chưa

có ngôn ngữ nhưng họ đã làm ra được nghệ thuật, họ chỉ mới khám phá ranhững cái đẹp của con thú mà chưa khám phá ra vẻ đẹp của con người và

do đó chủ đề mà họ phản ánh không phải là tình yêu nam nữ mà mới chỉ làsinh hoạt săn bắn, hái lượm Tính tượng trưng, ước lệ chưa được đi sâu Ởthời kì này, họ chỉ sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo cái đẹp theo triết lý phồnthực và triết lý này gắn chặt với văn minh nông nghiệp

Trong thời cổ đại Hy Lạp thì họ lấy con người làm thước đo của cái đẹp.Văn minh đồ sắt ra đời và sinh lực thừa bắt đầu trở nên dồi dào bướcđầu bước vào văn minh con người Để giải thích cái đẹp trong thời kì này, cácnhà mĩ học, triết học đã dùng quan điểm vũ trụ luận, nghĩa là tìm bản chấtphẩm chất cơ bản của cái đẹp, dựa vào đặc tính tự nhiên của sự vật đểvạch ra những thuộc tnh, những phẩm chất của cái đẹp

Trong thời kì phục hưng là thời kì chuyển từ văn minh nông nghiệp sangvăn minh công nghiệp và con người trở thành lớn mạnh không còn yếu

ớt trước thiên nhiên Trong thời kì này, mỹ học lần đầu tiên xuất hiện chủnghĩa nhân văn, nhìn nhận con người dưới góc độ văn hoá Bằng khoa họcthực nghiệm họ đã chứng minh, đòi xem xét lại những giá trị, trong đó cógiá trị của cái đẹp Những quan điểm đã được biểu hiện qua các nhận thức

về cuộc sống, về cái đẹp Con người có quyền tận hưởng mọi thú vui củacuộc sống và thế giới này ẩn chứa vô vàn cái đẹp, cái đẹp không chỉ thuộc vềthiên đường

Trong thế kỷ thứ XVII được coi là thế kỷ của thời kỳ cổ điển, cái đẹp cógiá trị làm gương cho đời sau Trong bối cảnh lịch sử là sự hoà hoãn của haigiai cấp (phong kiến và tư sản) nên cái đẹp thời kỳ này cũng mang tnh tay

Trang 19

đôi Cái đẹp thời kì này mang tính trớ trêu, oan ức và ngang trái và nghệ thuật thời kỳ này bị giằng xé giữa nghĩa vụ và dục vọng của hai giai cấp thống trị.

Trong thời kỳ khai sáng, cái đẹp mang đầy đủ màu sắc của lý tưởng conngười, muốn vượt lên trên cái đời thường, muốn cất lên tầm cao mới đemlại sinh khí mới, sinh lực mới chỉ những cái đẹp nào dựa trên sự liên hệvới những tạo vật của thiên nhiên thì mới sống lâu

Quan điểm về cái đẹp của các nhà mỹ học dân chủ cách mạng Nga đãđặt cơ sở cho quan niệm về cái đẹp của chủ nghĩa hiện thực Phản đối cáiđẹp bất động bất biến và bất tử mà mỹ học duy tâm vẫn thường đề lênhàng đầu, cái đẹp phụ thuộc vào những điều kiện sinh sống của nhân dântrong xã hội có giai cấp, cái đẹp có tính giai cấp rõ rệt Các nhà mỹ học dânchủ cách mạng Nga đã giải quyết đúng đắn vấn đề về mối quan hệ giữa nộidung và hình thức trong nghệ thuật

Ý nghĩa cách mạng của mỹ học Mác-Lênin là đã vạch ra bản chất của cáiđẹp trong tính biện chứng và lịch sử xã hội

Các nhà mỹ học Mác xít, khi kế tục sự nghiệp của các vị tiền bối vẫn còn

có chỗ khác nhau, từ đó có thể chia họ thành hai phái:

Phái duy xã hội

Phái duy tự nhiên

Phái duy xã hội: Các nhà mỹ học này cho rằng mọi phẩm chất thuộc vôvàn phẩm chất của thế giới quanh ta, trong đó có phẩm chất của cái đẹp đều

bị quy định bởi hoạt động lao động cải tạo của con người Cái đẹp là mộthiện tượng xã hội, nó chỉ hình thành và biến đổi theo mối quan hệ xã hội.Phái duy tự nhiên: các nhà mỹ học phái này chống lại quan niệm trên vàcho rằng, bản chất các hiện tượng tự nhiên đã chứa đựng những phẩmchất gây được cảm xúc thẩm mỹ ở con người Cái đẹp trong tự nhiên bộc lộ

ở tnh cân xứng, hài hoà, tính nhịp điệu, tính cấu trúc trong không gian và cảquá trình diễn ra trong thời gian

Trang 20

Như vậy, ngọn nguồn của bản thân vươn tới cái đẹp, sáng tạo theo quyluật cái đẹp, đầu tiên nằm trong bản chất sinh học, rồi phát triển rộng ra

xã hội, trong tiến trình phát triển lịch sử con người Sự nhận thức trên sẽkhắc phục được tnh phiến diện trong xác định bản chất của cái đẹp Do đó,khi nghiên cứu cái đẹp, chúng ta phải xem xét trên cả ba phương diện:

- Cái đẹp trong tự nhiên

- Cái đẹp trong xã hội

- Cái đẹp trong nghệ thuật (với tư cách là một thành tựu cao nhấtcủa hoạt động sáng tạo, cái đẹp của con người)

Như vậy, mọi vật tồn tại, đều tồn tại dưới hình thái thống nhất: tráiđất và mặt trời, thiếu mặt trời sẽ không có sự sống náo nức trên trái đất, sẽkhông có tình yêu và khát vọng của con người; thiếu mặt trăng làm gì cócảnh ngày rằm tháng tám để trẻ nhỏ mở hội trung thu, và chắc chắn sẽkhông có câu thơ tuyệt đẹp của chủ tịch Hồ Chí Minh:

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa

(Cảnh khuya)

Dưới hình thái thống nhất, muôn vật phải cấu tạo sao cho cả hình thức

và nội dung của nó đảm bảo được tính thống nhất này Muốn cho con ongđem phấn đi thụ, cây nhãn, cây bưởi, cây na, cây hồng, cây mướp, cây bí phải

ra hoa với nhiều màu sắc và hương vị hấp dẫn, đồng thời còn khéo léo rắcphấn trên để con ong khi cúi xuống lấy mật, nhất thiết phải đầm mình đầynhững phấn hoa

1.1.2 Quan niệm về cái đẹp trong thơ Trúc Thông

Với nhãn quan riêng, mỗi người chọn cho mình quy ước khác nhau vềcái đẹp Với Trúc Thông, cái đẹp là cái phổ biến và thường trực trong conngười và cảnh vật thiên nhiên Nó có mặt ở khắp nơi: trong tự nhiên, trong

xã hội và trong nghệ thuật Ở đâu có hoạt động của con người ở đấy có cáiđẹp:

Trang 21

bầu trời đẹp, cành hoa đẹp, cuộc sống đẹp, cái nhà đẹp, chiếc áo đẹp,công việc đẹp, hành động đẹp, tư tưởng đẹp, khuôn mặt đẹp Cái đẹp ấychính là cái đẹp của bình dị, thường ngày; cái đẹp là cái thanh khiết, tronglành.

1.1.2.1 Cái đẹp là cái bình dị, thường ngày

Cái đẹp là một trong những phạm trù cơ bản của thẩm mĩ Với TrúcThông, cái đẹp ấy trước hết xuất phát từ những thứ bình dị nhất trongđời sống thường nhật Không phải đến Trúc Thông bình dị của cuộc sốngmới

được đưa vào trong thơ Nó xuất hiện ngập tràn trong thơ Nguyễn

Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bính… Nhưng cái bình dị ấytrong thơ Trúc Thông lại khác: “Dường như Trúc Thông muốn lấy cái đẹpbình dị của cuộc đời để thăng bằng trở lại”(Vũ Quần Phương) [93] Thơ ôngchinh phục độc giả bởi một thế giới nghệ thuật thơ mang màu sắc riêng,độc đáo Đó là thế giới nghệ thuật giản dị, hồn nhiên, bắt nguồn từnhững cảnh vật thanh âm bình dị, quen thuộc, thân thiết

Bình dị trong thơ Trúc Thông trước hết được thể hiện ở cảnh sắc, âm

thanh thân thiết, quen thuộc Điều này được thể hiện trong Chớm đường

quê, Sáng quê, Chợt quê, Lát sông quê, Vườn quê, Quê nhà,… Điệp từ “quê”

xuất hiện ngay trong cái đặt nhan đề cho mỗi bài thơ của Trúc Thông giúpngười đọc hình dung phong cảnh làng quê đa sắc, đa âm Đó là những hìnhảnh tiêu

Trang 22

(Lát sông quê)

Trang 23

cỏ mùa thu xanh ngả đượm chút vàng Sông Sa Lung tháng bảy nước chảy phù sa Trời mây rộng rãi, gió nhè nhẹ trải

(Nho nhỏ mùa thu)

Hình ảnh dòng sông lặp đi lặp lại xuyên suốt trong thơ Trúc Thông đó là

“trôi xuôi sông Châu”, “sông đã vợi nắng chiều”, “sông Sa Lung tháng bảynước chảy phù sa”,… Đây là nơi thi sĩ đã từng một thời gắn bó với những ký

ức khó quên Nhắc đến nét bình dị của cảnh sắc nông thôn trong thơ ông,hình ảnh dòng sông ấy đi vào thơ như một lẽ tất yếu Không những thế,dòng sông còn là dòng chảy trừu tượng trong ý niệm của thi sĩ về những gì

đã từng gắn bó và chầm chậm khuất xa Sông Châu có lẽ là dòng sông gắn

bó nhất, ám ảnh nhất trong ký ức nhà thơ, đó là dòng sông quê mẹ SôngThương là nơi tễn biệt người lên biên ải xưa Những dòng sông ấy đã hợplưu và chảy thành một dòng mỹ cảm xuyên qua những không gian của trảinghiệm, ký ức, tưởng

tượng Những dòng sông địa lí trong thơ Trúc Thông nhòa đi, để lại dòngchảy không ngừng nghỉ của đời, của người, của thời gian và vạn vật, của sinh

và diệt, còn và mất Người đọc có thể nhớ về dòng sông của mình và tất cả ký

ức hiện diện trôi chảy bên dòng sông ấy Chính bên các dòng sông, con người

có sẵn ký ức dài rộng về lịch sử, về sự tụ hội , sinh sôi rồi lặng lẽ mất đi

Cái đẹp bình dị trong thơ Trúc Thông không chỉ được thể hiện ở dòngsông quê mà còn bộc lộ qua bức tranh thiên nhiên bốn mùa: xuân, hạ,thu, đông với những cảnh vật, âm thanh đa sắc, đa hình Thiên nhiêntrong bốn mùa ấy không phải chỉ thể hiện trong thơ Trúc Thông, mà nó cònđược biểu hiện trong văn chương rất nhiều như thơ Nguyễn Du, Tố Hữu, Mỗi thi sĩ lại có cách cảm nhận, nhãn quan khác nhau đem vào thơ nhữngmàu sắc riêng Đến với Trúc Thông, người đọc được đắm mình trong cảnhsắc bình dị nơi thôn quê:

Trang 24

đôi chim câu chân nhỏ mỏ đỏ, bên bờ con sông nhỏ Sa Lung chim ơi đi đâu đấy?

cúc cù cu chúng tôi kiếm mồi

(Nho nhỏ mùa thu)

bên mưa xuân xanh búp lộc vườn đất thẫm sáng buổi trưa xưa ấy…

(Chùa Mía, mùa xuân)

rặng tre quê hương chìm trong mưa thẫm cho lửa thật là bếp lửa mùa đông

(Quanh bếp lửa mùa đông)

cánh diều tự do trời mỗi người mũi tên thép mỗi người lả nhành hoa

(Mùa hạ tới)

Bức tranh phong cảnh thiên nhiên, sinh hoạt của con người trongbốn mùa được thi sĩ phác họa qua những hình ảnh gần gũi, thân thuộc :Mùa thu với “đôi chim câu chân nhỏ mỏ đỏ” đang đua nhau đi kiếm mồi trênbầu trời xanh trong Mùa xuân với vẻ tươi non, xanh mướt của “mưa xuânxanh búp lộc vườn” như một sự nguyên khôi, tinh khiết của vạn vật Mùađông với sự ấm cúng, sum họp gia đình của biết bao gia đình nông thôn ViệtNam ngồi quây quần quanh “bếp lửa” đó là ngọn lửa của tình cảm gia đìnhthật thiêng liêng và cao cả mà tuổi thơ của chúng ta ai ai cũng đều trải qua

Vẻ đẹp bình dị ấy còn được cụ thể hơn bởi những âm thanh, hìnhảnh nơi thôn quê Đó chính là tiếng chim hót, gà cục tác, hình ảnh bình dịthân thuộc của rặng tre, cây đa, cây táo, cây na, cây khoai nước,…Tất cả nhưhòa quyện vào nhau trong thế giới bình dị ở nơi quê nhà:

Trang 25

Cục cục bầy gà, chú chó vàng tiếng sủa Táo xum xuê sắp ngọt với mùa xuân Vạt gừng chín chờ phiên chợ Tết

(Cuối năm ở nhà)

Chim vào hót sà nhà Ngoài sân gà cục tác Sáng tưng bừng mở ra

Trên quê ta êm lặng

“vạt gừng chín”, “gạch tường long đỏ”,… Tất cả như hòa quyện vào nhau tạonên bức tranh bình dị, gần gũi ở nơi thôn quê

Cái đẹp bình dị trong thơ Trúc Thông không chỉ là bức tranh tuyệt đẹp

về thiên nhiên làng quê mà đó còn là những cảnh sinh hoạt, lao động vô cùngchân thực và rất mực gần gũi Đó là người làm nghề bán than tổ ong,bán chiếu gon, bán tào phớ, xe ôm,… được thi sĩ đưa vào thơ rất tự nhiên,giản dị,

Trang 26

Cói còn thơm mặt hè Người bán chiếu đã qua vài chục bước

…gày queo

áo bạc thồ xe chiếu đi rong

đem mát cho người rao khô cổ họng đang lau mồ hôi mừng ai gọi này tào phở ơi

(Bán chiếu gon)

(Tào phở)

Nếu nhiều nhà thơ, nhà văn xây dựng những hình mẫu cao cả phithường, có tầm vóc vĩ đại, nổi trội để ca ngợi thì Trúc Thông trên con đườngnghệ thuật của mình, ông luôn tm nét đẹp khuất lấp ẩn sâu bên trongnhững

người lao động bình thường như: người bán than tổ ong, bán chiếu gon, tàophớ,… Họ đều là những người mang vẻ đẹp riêng ẩn sâu trong tâm hồn Bênngoài đó là hình thức thô kệch: “người đàn bà dáng đàn ông”, “áo bạc”,

“đang lau mồ hôi”,… của vòng xoay cuộc sống cơm áo gạo tiền đã ghìsát họ Nhưng bên trong ấy là vẻ đẹp ẩn giấu bình dị nhất Phải là người cóđôi mắt tinh tế, tấm lòng bao dung nhân hậu mới cảm nhận được những vẻđẹp bình dị

thường ngày ấy Đúng như Nguyễn Bình Phương có nhận xét về thơ TrúcThông: “Giữa những xô bồ, bát nháo, anh luôn biết nhìn ra những vẻ đẹpbình dị, tnh tế mà ẩn nhẫn của đời” [81, tr.320]

1.1.2.2 Cái đẹp là cái tinh khiết, trong lành

Xuyên suốt qua năm tập thơ Chầm chậm tới mình, Maratong, Một

ngọn

Trang 27

đèn xanh, Vừa đi vừa ở và Mắt trong veo chúng ta nhận rõ cõi nghệ

thuật

Trang 28

riêng của Trúc Thông Cõi nghệ thuật của nghệ sĩ vốn muôn hình vạn trạngvới biết bao sự vật, hình sắc, âm thanh đan xen Nhưng xét đến cùng, quánxuyến cõi hỗn mang ấy là sự tương phản giữa trong-đục, giàu-nghèo, sang-hèn, sướng-khổ, thiện-ác…nổi lên bao trùm vẫn là trong-đục Đọc năm tậpthơ Trúc Thông, chúng ta không mấy khó khăn nhận ra từ có tần xuất

cao nhất là “trong” (130 lần): trong, trong suốt, trong veo, trong vắt, trong

sạch, trong ngần Dưới đây là những câu thơ tiêu biểu viết về cái trong của

(Bài ca những em bé theo công trường)

ngắm tóc nhau ngả bạc bên màu xanh trong suốt của rừng

(Phải lòng rừng núi)

Vẻ đẹp tinh khiết, trong lành đã lan tỏa đi khắp cảnh vật thiênnhiên trong thơ ông Đó là vẻ đẹp xanh trong của “ô suối ô sông ô rừng ôbiển”, “công trình trong sạch”, “trong suốt của rừng” Tất cả như tạo nên sựtnh khiết, nguyên khôi trong bức tranh thiên nhiên

Cái tinh khiết, trong lành ấy không chỉ được thể hiện qua cảnh vật thiênnhiên mà còn được Trúc Thông bộc lộ rõ khi viết về con người:

một gương mặt trắng trong vô tội hiến mình cho đam mê

(Chiêu niệm người tử đạo)

Trang 29

ôi tiếng hát trắng trong hơn cả suối thiên đàng

(Hy Vọng phố mình)

ga tình thương vẫn đợi trong quá mắt trẻ thơ…

(Người bạn vong niên ấy phương Nam)

Đó là hình ảnh của “một gương mặt trắng trong” không vẩn tạp đục củacuộc sống thường nhật, luôn hiến dâng sức lực của mình vì đam mê sáng tạonghệ thuật Hay đó cũng là âm thanh của tiếng hát “trắng trong hơn cả suốithiên đàng” Một hình ảnh so sánh đặc sắc, độc đáo giữa âm thanh của “tiếnghát” (cái trừu tượng) với “suối thiên đàng” (cái cụ thể) giúp bạn đọchình dung ra thế giới trắng trong vô ngần của tiếng hát Dõi theo toàn bộchặng

đường thơ của Trúc Thông, chúng ta phát hiện ra một thế giới rộng lớncủa cái “trong” Thế giới ấy bao trùm khắp mọi câu thơ, bài thơ với một vẻđẹp tinh khiết, trong lành của cảnh vật thiên nhiên và đời sống sinh hoạtcủa con

người Tất cả đều tạo thành bức tranh trong suốt của thơ Trúc

Thông

Vẻ đẹp tnh khiết ấy còn được thể hiện qua hình ảnh trắng tinh, xanhmượt của cảnh vật và con người Đi liền với “trong” là hàng loạt những từ

xuất hiện với tần suất khá lớn: “xanh” (78 lần), “trắng” (41 lần) với ý nghĩa

như một sự nguyên khôi, thanh sạch trong thơ Trúc Thông:

mây trắng lên cao tít biển xanh đến vô ngần

ngón tay sóng trắng tinh đệm dạt dào lên dương cầm bãi cát

(Ở một xóm biển Nghệ An)

Trang 30

trong khốn khó cuộc đời

em nở một niềm tin trắng muốt

Trang 31

tràn sinh lực

âm nhạc hương lặng thầm

(Hoa loa kèn)

dáng mềm mại áo học trò thật trắng các em ngồi mấy khoang thuyền dài sông cứ chảy bời bời song đục

trôi đôi bờ thấp thoáng bông mai

(Nét nhớ Cà Mau)

Qua năm tập thơ têu biểu,chúng ta nhận thấy gam màu xuất hiệnchủ đạo trong thơ Trúc Thông là gam màu sáng: trắng, xanh và một thếgiới của cái tinh khiết tạo ra nét đặc sắc, riêng biệt trong thơ ông Với sự xuấthiện của những từ ngữ ấy như một dấu mách cho ta mối ưu tư theo suốtmột đời thơ Đó là sự khắc khoải về số phận của cái trong giữa cuộc đờiđục tạp nhiều hoen ố, chính là bầu tâm sự của đời thơ Trúc Thông Và nódẫn lối ta vào cõi nghệ thuật thi sĩ Trong là cái đẹp, trong cũng là hạnhphúc Nó đáp ứng cả lí

tưởng nhân sinh lẫn lí tưởng thẩm mĩ của Trúc Thông

Thế giới nhân vật xuất hiện nhiều trong thơ Trúc Thông: Trẻ em, phụ nữ,người lao động nghèo, nghệ sĩ, chiến sĩ Họ là những em Tâm, em Sa, đám trẻhồn nhiên bôi lem trái đất, đám trẻ theo cha mẹ những công trường,…Là mẹTiết, mẹ San, mẹ Cao Bằng, là người bán chiếu, bán than tổ ong, bán tàophớ, quét sân bay, đạp xích lô, xe lôi…Là Nguyễn Sáng, Nguyên Hồng, MạnhHạo Nhiên, Bùi Nguyên Khiết,…Dưới ngòi bút của Trúc thông, họ đều lànhững

người trong sạch vô ngần:

suốt một đời đi theo lẽ phải suốt một đời đi theo nhân từ

Trang 32

mẹ Pứng như rừng xanh buổi sớm

cứ xanh mát vậy thôi

không đợi không chờ

(Mẹ Cao Bằng)

Trang 33

bẩy mươi nhăm năm đời ông người ta đọc áng thơ trong và buồn

độc giả đến muôn đời vẫn nhắc nhà thơ buồn và trong

(Nhớ bác Hạo Nhiên)

“Mẹ Cao Bằng” cũng giống như bao người mẹ khác cả một cuộc đờihiến dâng tuổi thanh xuân của mình mà ko màng đến danh lợi Hình ảnh “mẹPứng” được nhà thơ so sánh với “rừng xanh buổi sớm” nhấn mạnh độ tinhkhiết, thanh bạch trong tâm hồn mẹ Cái tinh khiết ấy còn được Trúc Thôngthể hiện khá tinh tế trong nhà thơ Hạo Nhiên (tên thật Tôn Thất Hào, tứcNguyễn Mạnh Hòa) Suốt một đời cầm bút, áng thơ của ông luôn đượcđộc giả nhớ tới bởi cái “trong và buồn” Hạo Nhiên là một trong nhữngnhà thơ têu biểu của thế giới nhân vật trí thức mà Trúc Thông đã thểhiện sắc nét phẩm chất thanh bạch giữa cuộc sống đầy tạp đục

Như vậy, cái đẹp tinh khiết, trong lành không chỉ được bộc lộ qua cảnhvật thiên nhiên mà còn được thể hiện rõ nét trong đời sống con người.Thế giới nhân vật trong thơ Trúc Thông dù khác nhau về nguồn gốc xuấtthân, ngành nghề, tuổi tác, tầng lớp, dù có tên hay không có tên, nhưng

ai cũng trong dịu cao cả

1.2 Quan niệm về thơ của Trúc Thông

1.2.1 Quan niệm chung về thơ ca

Thơ là một trong những loại hình kỳ diệu nhất, “cõi thơ là cõi bồngphiêu” (Bùi Giáng) Đi tìm bản thể của thơ luôn là một hành trình đầy bí ẩn.Chính vì lẽ đó, ở bất cứ nền văn học nào, việc kiến tạo hệ thống quanniệm về thơ là vấn đề vô cùng quan trọng, góp phần định hướng cho việcnghiên cứu và sáng tác thi ca

Nỗi ám ảnh với mọi người yêu thơ là chạm vào được bản thể của thơ

Trang 34

Thơ là một phần của đời sống hay đứng ngoài đời sống là những vấn đề cầnnhận rõ trong quá trình xác định yếu tính của thơ Trong quan niệm của

lý luận phê bình văn học, hiện thực cuộc sống trong thơ cũng được cảmnhận từ nhiều điểm nhìn khác nhau Bởi vậy mỗi thi sĩ hình thành chomình quan niệm riêng về thơ ca Bielinxki cho rằng: “Thơ, trước hết là cuộcđời, sau đó mới là nghệ thuật” C Mac nhận định: “Thơ ca là niềm vui cao

cả nhất mà loài người đã tạo ra cho mình” Chế Lan Viên đúc kết được rằng:

Bài thơ anh anh làm một nửa mà thôi Còn một nửa cho mùa thu làm lấy Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá

Nó không là anh nhưng nó là mùa.

(Sổ tay thơ)

Như vậy, thơ chính là loại hình nghệ thuật kì diệu diễn tả tâm tư,tình cảm đời sống nội tâm của con người Quan niệm về thơ của Trúc Thôngđược thể hiện chặt chẽ trên ba phương diện chính: Nhà thơ, lao động làmthơ và ý nghĩa của thơ ca đối với đời sống

1.2.2 Quan niệm về thơ của Trúc Thông

Đến với quan niệm về thơ của Trúc Thông, trước hết về nhà thơ, theoông, nhà thơ chính là người “sáng tạo ra những giá trị trong suốt, cao sang,hiếm quí… người đời vẫn gọi là thơ” Trúc Thông hình dung thơ như ngôi sao

“trên bầu trời kì lạ thế gian- trong tâm hồn xanh vắt con người” Mỗi bài thơ,theo Trúc Thông, phải là “tác phẩm nghệ thuật thanh thoát”, phải “nhũnnhặn mà rực sáng”, nó “thức dậy trong những từ ngữ đắt giá được đan dệtdường như rất nhẹ nhàng” Và, tất nhiên, thơ hay phải “bình đạm chứ khôngnhàn nhạt”[81] Với những quan niệm được dẫn dắt bởi cái nhìn tnh tế, bởimột cái “Đạm” (Chu Văn Sơn) như vậy, Trúc Thông đã chầm chậm tới thơ.Ông là thi sĩ đầu tiên đem đến thi đàn hậu chiến một nhành thơ tươi xanh,một nguồn thơ trong mát

Trang 35

Trong quan niệm về cái nghiệp của mình, Trúc Thông cho rằng làm thơ

là một “công cuộc” nghiệt ngã và nặng nhọc Là một thi sĩ phải có một ý chímạnh mẽ, một lao động và tnh thần trách nhiệm cao với thơ ca Với ông,làm thơ là quá trình mò mẫm gian khổ để tm lại bản thân Trúc Thông là mộtnhà văn có tnh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc, ông bao giờ cũng dànhhết tâm huyết và sống cùng trang thơ của mình Quá trình lao động nghệthuật khắc khoải, mệt mỏi, đớn đau nhưng cũng hết sức vinh quang vàthiêng liêng ấy được ông thể hiện trong chính thế giới thơ của mình Nó trởthành một cảm hứng trong thơ Trúc Thông, thể hiện sự suy tư, miệt màisống và viết của tác giả Cái tôi trữ tnh luôn tâm niệm mỗi lần viết là một lầnsống, sống hết mình với con người thật của mình và viết là cả một quá trìnhlao tâm khổ tứ Cái tôi ấy còn suy tư về chính những câu thơ, con chữ củamình, câu thơ trở thành một hình tượng trữ tnh trong thơ Trúc Thông:

từ ngữ ai tranh nhau ra đường khoe khôn khoe khéo

từ ngữ anh sau những bức tường

đi lại và suy ngẫm hành trình quá xa xăm cần tập luyện

bền gân sáng trí

(Ngẫm dọc đường)

Trúc Thông luôn tự ý thức về hành trình sự nghiệp của mình cần rèn luyện bền bỉ từng câu, từng chữ: “cần tập luyện”, “bền bỉ”, “sáng trí” mới

vượt qua giới hạn vô biên của thời gian và không gian để đến với độc giả

Là một nhà thơ có trách nhiệm với vai trò của người cầm bút TrúcThông quan niệm thơ là nghiệp, đồng thời cũng là nghề nên ông chỉ có một

Trang 36

con đường duy nhất: Sống, chết với thơ Vì sống, chết với thơ nên ngoàiyếu tố “ trời cho” rất ít ỏi, còn lại là sự khổ công rèn luyện, một lòng một dạvới thơ, chuyên nghiệp hóa ở một tầng nấc cao Thơ với ông vừa nguyên sơtrong sáng, vừa thấm đẫm lao động cực nhọc Nó đòi hỏi kỉ luật nghiêm túc,lúc nào cũng nghĩ, lúc nào cũng viết, viết không được thì bỏ, rồi lại viết, cứthế không viết không được Tự nuôi dưỡng niềm thi hứng bằng sự miệt mài

nỗ lực Để rồi nhiều khi cảm xúc ùa đến, câu thứ nhất, câu thứ hai, nhữngcâu tiếp theo và cả bài thơ là một sự khổ sai của các chữ… Với ông làm thơ làmột “công cuộc” nghiệt ngã và nặng nhọc:

Xuyên những bức tường

ta đã phải tấn công

từ ngữ những núi cao vỏ đạn

(Thụ cầm và bóng tối)

Trúc Thông không hề dễ dãi, hời hợt với câu chữ mà mình viết ra Ông

tự nhủ mình phải là một ý chí mạnh mẽ, một lao động và tinh thầntrách nhiệm cao với thơ ca Công cuộc tm tòi cách tân, trẻ trung, mới mẻ,đầy cam go thách thức nhưng vô cùng lôi cuốn

Không thể không yêu quý trân trọng tinh thần lao động một nắng haisương trên cánh đồng thơ Trúc Thông Với ông, làm thơ là quá trình mòmẫm gian khổ để tm lại bản thân Nó là nghề, là công nghệ thơ ca nhưngđồng thời cũng là nghiệp- tình yêu đắm đuối:

tếng chim rơi tịch mịch nỗi người đi muôn trùng

(Đường lưng đèo Gió)

Ở câu thơ thứ nhất mang thông điệp hoang vắng cô liêu giữa mộtkhoảng không gian thâm u lặng ngắt, xa xăm, diệu vợi Vì cái cảm giác

Trang 37

“rơi tịch mịch” ấy đã nảy sinh “nỗi người đi muôn trùng” “Nỗi người” vanglên thân

Trang 38

phận kiếp loài, chứa chất khó nhọc bã bời Một khắc khoải về lòng trắc ẩn.

“Muôn trùng” lại cho cảm giác gian truân, khổ ải, xa xăm, hun hút Câu thơdiễn ra ở cả hai thời khắc thực tại và tương lai Vừa mênh mông kỳ vĩ vừa khónhọc gian nan vô định Hai câu thơ trên có thể coi là hai câu thơ điển hìnhcho nhiều câu thơ hay trong “công cuộc” tìm tòi đổi mới của thơ TrúcThông Bằng những từ ngữ thông thường nhưng nó đã trải qua một cấutrúc, một công nghệ phức tạp, tế vi nhất và cũng là thú vị nhất Nó độc đáo ởchỗ ngôn ngữ chính xác, mỗi chữ được đặt vào đúng vị trí không thể thaythế: Gọn, chặt, kiệm lời nhưng khỏe khoắn , chắc nịch, có khả năng nảymầm bung mở…

Đồng thời, Trúc Thông quan niệm tác phẩm thơ phải có giá trị với đờisống tinh thần của con người:

câu thơ rán chín chảo khổ ải cuộc đời nhưng phải có chút nước chấm thánh thần cất từ vô tận…

(Chung quanh lao động sáng tạo thơ)

Trúc Thông quả quyết: Thơ chỉ chiều chính mình, chống vay mượn bắtchước kiểu dáng dù cho kiểu dáng đó là của thiên tài hay một nhà thơ cùngthời đang rộ lên ăn khách Giữ cho mình cái tôi nhưng là cái tôi không bảothủ, luôn kháng cự những ỷ lại, những quen mòn Một cái tôi luôn khao khátvươn tới đa thanh, đa sắc… Một cuộc đời thầm lặng nỗ lực hết mình, mộttinh thần lao động miệt mài nghiêm túc với tất cả sự đam mê tâm huyết vớithơ, đó chính là văn đức của người cầm bút

Với thiên chức cao cả của người cầm bút, Trúc Thông đã ý thức rất rõ vềvai trò của nhà thơ, công cuộc lao động sáng tạo thơ và ý nghĩa của thơ cavới đời sống con người Bởi vậy, thơ Trúc Thông đã vượt qua giới hạn củathời gian và không gian để đến với đông đảo độc giả với áng thi ca giá trị sâusắc

Trang 39

Tiểu kết

Trên đây, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu quan niệm mỹ học về cái đẹp,

quan niệm về thơ của Trúc Thông qua năm tập thơ Chậm chậm tới mình,

Maratong, Một ngọn đèn xanh, Vừa đi vừa ở, Mắt trong veo Cái đẹp

trong thơ ông là cái bình dị, gần gũi xuất hiện trong đời sống thường ngàycủa con

người và cảnh vật thiên nhiên Đồng thời, đó cũng là cái đẹp tinh khiết, tronglành bao trùm khắp các nẻo đường thơ của Trúc Thông Với thiên chứccủa

người cầm bút, ông ý thức rất rõ về vai trò, trách nhiệm của nhà thơ

Sự nghiệp lao động sáng tạo thơ là sự khổ công rèn luyện, một lòng một dạvới thơ Với Trúc Thông làm thơ là một công cuộc nghiệt ngã và nặng nhọc.Nhà thơ quan niệm tác phẩm thơ phải có giá trị thiết thực trong đời sốngtnh thần của con người Những xác lập ban đầu này sẽ mở đường chonhững tiếp cận sâu hơn vào thế giới nghệ thuật thơ ông

Trang 40

Chương 2

HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ

TRÚC THÔNG 2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình

2.1.1 Khái niệm cái tôi, cái tôi trữ tình

Cái tôi thực chất là một khái niệm triết học Các nhà triết học duy tâm R.Decac, J.gphichte, G.x.Heghen, H Becxong, S Freud… là những người đầutên chú ý đến cái tôi khi đề cao ý thức, chủ quan- khách quan, cá nhân xãhội Nhà triết học Becxong (1859-1941) cho rằng con người có hai cái tôi:cái tôi bề mặt là các quan hệ của con người đối với xã hội, còn cái tôi bề sâu

là phần sâu thẳm của ý thức và ý thức mới chính là đối tượng của nghệ thuật.S.Freud (1856- 1939), cái tôi là sự hiện diện của động cơ bên trong ýthức con người Các nhà tâm lí học đều coi cái tôi là yếu tố cơ bản cấuthành ý thức, nhân cách của con người Cái tôi cũng là một đối tượng quantâm của các ngành khoa học xã hội như đạo đức, xã hội học

Như vậy, nhìn từ góc độ triết học, khái niệm cái tôi vừa mang bảnchất xã hội vừa có quan hệ gắn bó khăng khít với hoàn cảnh, lịch sử và mangbản chất cá nhân độc đáo Từ xưa đến nay, cái tôi vẫn được coi như là cănnguyên hay sự khơi nguồn của động tác sáng tạo Vì thế nó có ảnh hưởnglớn đến nghệ thuật nói chung và thơ ca trữ tình nói riêng Sáng tác thơ ca làmột nhu cầu tự thể hiện, là sự thôi thúc bên trong tâm hồn con người.Trong thơ, vấn đề chủ thể, cái tôi trữ tnh có một ý nghĩa đặc biệt quantrọng Vị trí của cái tôi trữ tình, mối liên hệ giữa khách thể và chủ thể luônđặt ra trong thơ: “Thơ trữ tnh là thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loạitrữ tnh.Trong đó, cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tnhtrước các hiện tượng đời sống được thực hiện một cách gián tiếp Tính chất

cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là dấuhiệu tiêu biểu của thơ trữ tình

Ngày đăng: 25/01/2019, 21:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristotle (2007), Nghệ thuật thi ca, Nxb Lao động, Trung tâm ngôn ngữ văn hóa Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristotle
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
2. Lê Hoàng Anh (1994), Một vài suy nghĩ nhân một cuộc tranh luận về thơ, Tạp chí Văn học số 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ nhân một cuộc tranh luận vềthơ
Tác giả: Lê Hoàng Anh
Năm: 1994
3. Vũ Tuấn Anh (1996), Quá trình văn học hiện đại nhìn từ phương diện thể loại, Tạp chí Văn học số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học hiện đại nhìn từ phương diện thể loại
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
4. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 2004
5. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975- 1995, những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975- 1995, những đổi mớicơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
6. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: NxbHội nhà văn
Năm: 2003
7. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
8. Rosa Chacel (1996), “Thơ văn xuôi và văn xuôi thơ”, Tạp chí Văn học số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn xuôi và văn xuôi thơ"”, Tạp chí Văn học
Tác giả: Rosa Chacel
Năm: 1996
9. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóathế giới
Tác giả: Jean Chevalier, Alain Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
10. C. Mác và Ph. Ăng-ghen (2000), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăng-ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 2000
11. J. E. Cirlot (2012), Tính biểu tượng của khu rừng và dòng sông, Duy Đoàn dịch, Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính biểu tượng của khu rừng và dòng sông
Tác giả: J. E. Cirlot
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2012
12. Nguyễn Việt Chiến (2007), Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân (1975- 2000), Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân (1975-2000)
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2007
13. Nguyễn Việt Chiến (2007), “Thơ Việt Nam sau 30 năm cách tân 1975- 2005”, báo điện tử w ww. q d n d . v n Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Thơ Việt Nam sau 30 năm cách tân 1975-2005"”, "báo điện tử
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Năm: 2007
14. Phạm Vĩnh Cư (2007), Sáng tạo và giao lưu, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo và giao lưu
Tác giả: Phạm Vĩnh Cư
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
15. Nông Hồng Diệu (2014), “Trúc Thông những ngày không thơ”, đăng trên báo Tiền phong số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Trúc Thông những ngày không thơ"”", đăng trên
Tác giả: Nông Hồng Diệu
Năm: 2014
16. Trần Thị Thùy Dung (2010), Thơ Lê Đạt dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật, Luận văn Thạc sĩ Văn học, Trường ĐHKHXH&NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Lê Đạt dưới góc nhìn tư duy nghệthuật
Tác giả: Trần Thị Thùy Dung
Năm: 2010
17. Vũ Dũng (chủ biên) (2000), Từ điển tâm lí học, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lí học
Tác giả: Vũ Dũng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
18. Lê Tiến Dũng (2009), Lý luận văn học, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP HồChí Minh
Năm: 2009
19. Nguyễn Đăng Duy (2001), Văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa thể thao, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thểthao
Năm: 2001
20. Trần Quang Đạo (2004), “Cái “Tôi” mang tính tự sự- một đặc điểm của thơ trẻ sau năm 1975”, Tạp chí nghiên cứu văn học số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái “Tôi” mang tính tự sự- một đặc điểm củathơ trẻ sau năm 1975
Tác giả: Trần Quang Đạo
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w