1. Trang chủ
  2. » Tất cả

55vu-thanh-dung

4 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm được việc này, giáo viên GV cần có sự đổi mới tư duy từ việc áp dụng phương pháp dạy học truyền thống sang phương pháp áp dụng CNTT vào dạy học để đa dạng hóa nội dung, hình thức

Trang 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

Vũ Thanh Dung - Công ty SMARTCOM Việt Nam

Ngày nhận bài: 26/07/2018; ngày sửa chữa: 09/08/2018; ngày duyệt đăng: 15/08/2018

Abstract: Information technology application is an important method in teaching to meet the demand

of the 4th industry revolution as well as the new demand of education There fore, it is necessary to

pay attention to some methods such as orient the content of IT application, enrich the knowledge and

skill of teacher to apply , create favour conditions, faculties The paper mentions some method to

apply IT in teaching at high school to meet the demand of the 4th industry revolution

Keywords: Information technology, teaching, high school, the 4th industry revolution

1 Mở đầu

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trong giai đoạn

hiện nay đang đặt ra cơ hội phát triển rất lớn cho mỗi

quốc gia nhưng bên cạnh đó cũng không ít thách thức

Để phát triển toàn diện KT-XH đất nước đòi hỏi mỗi

quốc gia phải có những chiến lược, chính sách áp dụng

nhanh chóng, có hiệu quả những thành quả do cuộc Cách

mạng công nghiệp 4.0 tạo ra Ở nước ta, lĩnh vực

GD-ĐT được Đảng và Nhà nước xác định là lĩnh vực mũi

nhọn, quốc sách hàng đầu nhằm tạo ra nguồn nhân lực

chất lượng cao đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước, thực

hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Chính

vì vậy, việc áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong

dạy học đang là một yêu cầu cấp thiết, quan trọng trong

giai đoạn hiện nay Chỉ thị số 29/2001/CT-BGDĐT của

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT cũng đã nêu rõ: “Đối với GD-ĐT,

CNTT có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp,

phương thức dạy và học CNTT là phương tiện để tiến tới

một xã hội học tập” [1]

Bài viết đề cập một số biện pháp ứng dụng CNTT

trong dạy học ở trường phổ thông đáp ứng cuộc Cách

mạng công nghiệp 4.0

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Đặc điểm của quá trình dạy học đáp ứng cuộc

Cách mạng công nghiệp 4.0

Cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng về sản

xuất thông minh dựa trên những đột phá công nghệ mới

trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, Robot, Internet of

things (IoT), In 3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học,

khoa học vật liệu, lưu trữ năng lượng và tin học lượng tử

Mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có hệ thống

giáo dục chịu tác động mạnh mẽ và toàn diện của cuộc

Cách mạng công nghiệp 4.0 Triết lí giáo dục của các quốc

gia sẽ có nhiều biến chuyển Quản trị trường học, mô hình

tổ chức lớp học, vai trò của thầy và trò sẽ thay đổi bởi sự

xuất hiện của nhiều khái niệm mới như “phòng học ảo”,

“thầy giáo ảo”, “thiết bị ảo” Bối cảnh đó đòi hỏi việc quản

lí và dạy học trong các trường phổ thông ở nước ta phải có

sự chuẩn bị cho những thay đổi lớn, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động trực tiếp, toàn diện đến công tác GD-ĐT trên tất các phương diện như: mục tiêu đào tạo; phương thức quản trị nhà trường; mô hình tổ chức hoạt động dạy - học trong đào tạo; vai trò và phương pháp giảng dạy của người thầy; nội dung chương trình dạy học

Ngày nay, hoạt động dạy học được “tích hợp hóa” trên cơ sở nội dung dạy học ngày càng hiện đại hóa; học sinh (HS) có vốn sống và năng lực nhận thức phát triển hơn so với cùng lứa tuổi Trong quá trình học tập, HS có

xu hướng vượt ra khỏi nội dung tri thức, kĩ năng do chương trình quy định; quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất và phương tiện dạy học ngày càng hiện đại

Đặc biệt trong kỉ nguyên “số hóa”, hơn bao giờ hết, vai trò của người thầy cần có sự thay đổi mạnh mẽ: từ truyền thụ kiến thức theo lối truyền thống sang vai trò mới với tư cách là “người xúc tác và điều phối người thiết kế, cố vấn, huấn luyện và tạo ra môi trường học tập”

Để làm được việc này, giáo viên (GV) cần có sự đổi mới

tư duy từ việc áp dụng phương pháp dạy học truyền thống sang phương pháp áp dụng CNTT vào dạy học để

đa dạng hóa nội dung, hình thức nhằm truyền tải nhanh nhiều nội dung và định hướng có hiệu quả quá trình tự học, tự nghiên cứu cho HS trong việc vận dụng khối lượng kiến thức đã học, góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự chủ động ở các em trong quá trình học tập

2.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học

Trong kỉ nguyên “số hóa”, máy tính ngày càng có vai trò quan trọng, trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho GV trong công tác giảng dạy Hiện nay, việc đầu tư các trang bị

Trang 2

thiết bị dạy học hiện đại như phần mềm dạy học, máy tính,

máy chiếu, bảng tương tác để nâng cao chất lượng dạy,

học đã và đang là một trong những ưu tiên hàng đầu được

Bộ GD-ĐT đầu tư cho các trường học, các cơ sở đào tạo

trên cả nước vì hầu hết các môn học ở nhà trường phổ thông

đều có thể ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học nhằm

tăng độ hấp dẫn của các bài giảng, giúp HS dễ tiếp thu kiến

thức Trong mỗi giờ học với giáo án điện tử, các em sẽ được

mở rộng hiểu biết hơn thông qua các video, đoạn phim, hình

ảnh liên quan đến bài học Đây là một phương pháp học tập

hiệu quả nhờ áp dụng CNTT vào giảng dạy Hơn thế nữa,

việc ứng dụng CNTT giúp GV dễ dàng hơn trong việc trao

đổi nghiệp vụ qua email hoặc tham gia các diễn đàn giáo

dục, qua đó giúp GV nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ, giảm chi phí đào tạo tập trung của Nhà nước

CNTT không chỉ là trợ thủ đắc lực cho các GV mà

còn là “người bạn đồng hành” thân thiết của các HS trong

xã hội học tập, kỉ nguyên tri thức số Việc sử dụng

Internet hỗ trợ rất tốt cho việc tự học tập của HS, giúp

HS tự nghiên cứu bài tập trước khi vào lớp; có thể nắm

được trước nội dung bài học Thực tế hiện nay, Internet

đã không còn xa lạ đối với các em, mà ngược lại đã trở

thành một công cụ đắc lực

Trong quản lí giáo dục, CNTT được ví như người “trợ

lí không lương” trong công tác quản lí hoạt động giáo dục

của nhà trường phổ thông Bên cạnh khả năng nâng cao

hiệu quả giảng dạy, học tập, CNTT còn ngày càng thể hiện

rõ vai trò quan trọng đối với hoạt động quản lí giáo dục

như: Sổ liên lạc điện tử; quản lí hồ sơ HS, GV trực tuyến,

tổ chức thi trực tuyến, theo dõi thời khóa biểu, báo điểm,

việc đánh giá của HS đối với chất lượng dạy học của người

thầy Từ đó, giúp HS chủ động trong quá trình học tập,

GV và các bậc phụ huynh nhanh chóng có sự điều chỉnh

trong phương pháp dạy học cho HS và con em mình

Có thể nói, trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu

của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, sự phát triển mạnh

mẽ của Cách mạng công nghiệp 4.0, CNTT ngày càng

có vai trò quan trọng trong công tác GD-ĐT, giúp cho

chất lượng giáo dục nước ta ngày càng được nâng cao và

cải thiện một cách vượt bậc Nhiệm vụ của giáo dục là

không ngừng nâng cao và thay đổi phương pháp học tập

một cách hiệu quả, do đó ứng dụng Internet trong nền

giáo dục là một chính sách hoàn toàn đúng đắn và chính

xác của Bộ GD-ĐT trong việc đổi mới căn bản, toàn diện

nền giáo dục nước nhà hiện nay

2.3 Thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin tại

các nhà trường phổ thông

CNTT ngày càng có vai trò quan trọng, hữu ích trong

việc nâng cao chất lượng dạy và học cũng như công tác

quản lí giáo dục tại các trường phổ thông hiện nay Các

nhà trường đã chủ động sử dụng CNTT như là một

phương tiện tương tác giữa GV và HS trong quá trình dạy và học: HS sử dụng CNTT như là một kênh để phản hồi thông tin của bài giảng đến GV; đồng thời có sự phản biện tích cực hai chiều giữa thầy và trò GV sử dụng CNTT thiết kế và thực hiện bài giảng với sự hợp tác tích cực của HS GV dùng phần mềm mô phỏng các thí nghiệm môn học, hoặc xây dựng các clip hình ảnh, tiến trình của các hoạt động tự nhiên, xã hội hình thức này

có thể phục vụ cho nhiều môn học, đặc biệt là môn học

có nhiều thí nghiệm như Vật lí, Hóa học, Sinh học

nhiều GV đã: soạn thảo và thiết kế bài giảng điện tử, soạn giáo án trên máy tính ; chủ động cập nhật kiến thức về máy tính và CNTT; tích cực mua sắm thiết bị dùng cho

cá nhân, kết nối Internet; tích cực sưu tầm tư liệu, phần mềm công cụ phục vụ cho việc thiết kế bài giảng, làm cho việc ứng dụng các phần mềm công cụ, tiện ích trở nên phong phú Tuy nhiên, không phải GV nào cũng có thể xây dựng được các bài giảng theo hình thức này Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, hiệu quả do CNTT đem lại, các nhà trường phổ thông cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn khi việc ứng dụng CNTT được GV, HS sử dụng không có hiệu quả Việc đầu tư trang thiết bị CNTT hiện đại chưa được đồng bộ tại các nhà trường phổ thông trên cả nước

Một số GV vẫn chưa phân biệt rõ giữa phương pháp giảng dạy và công cụ giảng dạy, họ cho rằng sử dụng CNTT trong giảng dạy là đã áp dụng phương pháp giảng dạy mới Nhưng trên thực tế hoàn toàn không phải như vậy, bài giảng điện tử, giáo án điện tử chỉ là công cụ hỗ trợ cho phương pháp giảng dạy Họ vẫn còn thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức “một chiều” Khi tiến hành đổi mới phương pháp dạy học, không ít GV lo lắng, băn khoăn việc ứng dụng những phương pháp mới có thể không thành công bằng phương pháp cũ; sợ nêu nhiều câu hỏi cho HS trả lời sẽ không đủ thời gian thực hiện kế hoạch giảng dạy; ngại cho HS thảo luận Có không ít GV khi thiết

kế bài giảng bằng PowerPoint đã sử dụng những hình ảnh, font chữ, màu chữ lòe loẹt; hoặc những hiệu ứng ẩn hiện không hợp lí, gây phản cảm và làm cho HS chú ý nhiều vào hiệu ứng mà sao lãng nội dung

Nhiều GV khi xây dựng giáo án bài giảng điện tử cũng chỉ sử dụng thay thế cho viết bảng, vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp dạy học truyền thụ kiến thức một chiều cho

HS là chủ yếu Họ coi việc trình chiếu thay cho viết bảng Chính việc này đã làm cho GV ngại suy nghĩ, ngại đổi mới, lạm dụng CNTT chưa đúng mục đích, chưa góp phần nâng cao kết quả dạy học và khả năng tự học, nhận thức của HS

2.4 Một số biện pháp thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường phổ thông

2.4.1 Cần xác định rõ những nội dung ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học ở trường phổ thông

Trang 3

Ứng dụng CNTT trong dạy và học là việc ứng dụng

nhưng thành tựu của CNTT một cách phù hợp và hiệu quả

nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Như vậy, ứng dụng

CNTT trong giảng dạy và học tập không chỉ được hiểu theo

nghĩa đơn giản là dùng máy tính vào các công việc như biên

soạn rồi trình chiếu bài giảng điện tử ở trên lớp mà còn phải

được hiểu là một giải pháp trong mọi hoạt động liên quan

đến đào tạo; liên quan đến công việc của người làm công tác

giáo dục; liên quan đến hoạt động nghiên cứu, soạn giảng;

lưu trữ, tìm kiếm, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và tài

nguyên học tập ; và cao hơn, hoạt động dạy và học ngày

nay được diễn ra mọi lúc, mọi nơi Trên lớp, ở nhà, ngay tại

góc học tập của mình, HS vẫn có thể nghe thầy cô giảng,

vẫn được giao bài và được hướng dẫn làm bài tập, vẫn có

thể nộp bài và trình bày ý kiến của mình

Chính vì vậy, việc ứng dụng CNTT nhằm đổi mới

phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích

cực học tập của HS, nâng cao chất lượng giáo dục, cần

được các nhà trường phổ thông triển khai một cách đầy

đủ, thiết thực và áp dụng có hiệu quả các hoạt động về

ứng dụng CNTT trong dạy - học như:

- Tra cứu thông tin phục vụ công tác nghiên cứu, nâng

cao kiến thức chuyên môn và lấy tư liệu hỗ trợ soạn giảng

- Sử dụng các phần mềm hỗ trợ soạn giảng để tạo bài

giảng điện tử như PowerPoint, Violet, iSpring Presenter

và các phần mềm dựng phim, nhạc

- Sử dụng các phần mềm hỗ trợ làm đề thi/kiểm tra

và đánh giá kết quả học tập của HS như McMix, Quest,

MS Excel

- Sử dụng diễn đàn, mạng xã hội, email như một phương

tiện để giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với GV các trường

bạn trong cả nước (sinh hoạt chuyên môn trực tuyến)

- Triển khai các tiết học có ứng dụng CNTT, có sử

dụng bài giảng điện tử

2.4.2 Làm tốt công tác bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên

về kiến thức, kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin vào

dạy học

Xác định con người là một trong những yếu tố hàng

đầu quyết định sự thành công trong việc ứng dụng CNTT

vào trong quản lí và giảng dạy, do đó, nhà trường đặc biệt

quan tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học,

các kĩ năng ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV

Đẩy mạnh tuyên truyền cho GV thấy rõ hiệu quả và

yêu cầu mang tính tất yếu của ứng dụng CNTT trong đổi

mới phương pháp giảng dạy thông qua nhiều hình thức

như: triển khai các văn bản chỉ đạo của Bộ, ngành về ứng

dụng CNTT trong dạy học; họp hội đồng sư phạm, sinh

hoạt chuyên môn tổ, khối, hội thảo chuyên đề, bồi dưỡng

chuyên môn thường xuyên, Đặc biệt, để triển khai

thành công thì trước hết, lãnh đạo nhà trường phải nhận

thức đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, từ đó quan tâm, tạo điều kiện

và quyết tâm thực hiện Nếu chỉ phát động mà không quan tâm, không thể hiện quyết tâm và thực hiện những biện pháp bổ sung thì việc ứng dụng CNTT của GV cũng không thể mang lại kết quả như mong đợi

Có thể nói, một trong những khó khăn cơ bản của việc triển khai ứng dụng CNTT trong dạy học là tâm lí ngại khó, ngại thay đổi của GV (đặc biệt là GV đã lớn tuổi) Như vậy, muốn triển khai hiệu quả, muốn được tất cả các

GV đón nhận thì ngoài công tác tư tưởng, còn cần để GV thấy được việc ứng dụng CNTT không quá khó và họ có thể thực hiện được Để làm được điều đó, các nhà trường cần làm tốt việc bồi dưỡng cho đội ngũ GV về kĩ năng ứng dụng CNTT thông qua nhiều hoạt động, như:

- Xây dựng đội ngũ cốt cán: Phân công cho ít nhất một

GV có đủ năng lực và tâm huyết phụ trách công việc này, sẵn sàng tạo điều kiện cho GV học tập và tham gia các lớp tập huấn để nâng cao năng lực Với các tổ chuyên môn, mỗi

tổ cử một GV chịu trách nhiệm chính để được tập huấn và

hỗ trợ đồng nghiệp trong tổ công tác soạn giảng với CNTT

- Tổ chức tập huấn đại trà: Tổ chức các lớp bồi

dưỡng kĩ năng sử dụng máy tính và các phần mềm hỗ trợ soạn giảng Các lớp tập huấn này được tổ chức theo hình thức trao đổi giúp đỡ lẫn nhau, tập trung chủ yếu vào những kĩ năng mà GV cần sử dụng trong quá trình soạn giảng hàng ngày và phải bắt đầu từ những kĩ năng đơn giản nhất như cách tra cứu và tìm kiếm thông tin, cách chuyển đổi các loại phông chữ, cách sử dụng một số phương tiện như máy chiếu, máy quay phim, chụp ảnh, các bước soạn một bài trình chiếu, các phần mềm thông dụng, cách thiết kế bài kiểm tra, mà báo cáo viên chính

là đội ngũ cốt cán của trường

Điều quan trọng là phải có cách động viên GV tích cực

tự học, khiêm tốn học hỏi, sẵn sàng chia sẻ, luôn cầu thị tiến bộ, thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp; tạo ra một môi trường học hỏi chuyên môn tích cực Để làm được điều này, ngoài sự nhiệt tình của đội ngũ cốt cán thì ban giám hiệu phải luôn quan tâm sâu sát, đi đầu gương mẫu, cùng học hỏi, cùng làm với GV thì mới hiểu được họ yếu

ở điểm nào, gặp khó khăn ở khâu nào, cần giúp đỡ gì

- Tổ chức học tin học và bồi dưỡng kĩ năng ứng dụng CNTT trong học tập cho HS: Việc nâng cao kĩ năng cho

HS trong việc sử dụng CNTT để tìm hiểu kiến thức trong quá trình tự học, tự nghiên cứu sẽ giúp cho HS có sự chủ động trong việc học tập, biết đặt vấn đề cần trao đổi, làm

rõ với GV khi lên lớp Tuy nhiên, việc học tập của HS thông qua CNTT cũng cần có sự định hướng của GV và

sự giám sát của các bậc phụ huynh để tránh HS lạm dụng internet không đúng mục đích phục vụ quá trình học tập

Trang 4

2.4.3 Xây dựng môi trường thuận lợi, đảm bảo cơ sở vật

chất, trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ cho quá

trình dạy học

Đây là một điều kiện cần để việc ứng dụng CNTT

vào quá trình dạy học, quản lí giáo dục của các nhà

trường phổ thông được thực hiện, duy trì thường xuyên

và có hiệu quả Để làm tốt việc này, các nhà trường phổ

thông phải chủ động trong việc xây dựng nguồn kinh phí

đầu tư, phải biết huy động tổng hợp các nguồn lực từ nhà

nước, các tổ chức chính trị - xã hội, từ gia đình phụ huynh

và của chính nguồn lực nhà trường tạo ra

Bên cạnh đó, các nhà trường cũng cần làm tốt công

tác tập huấn sử dụng các trang thiết bị CNTT cho đội ngũ

GV, nhân viên phụ trách quản lí, sửa chữa; sử dụng có

hiệu quả nguồn trang thiết bị hiện có tốt, bền, tránh lãng

phí, sử dụng không đúng mục đích

3 Kết luận

Hiện nay, Nhà nước, Bộ GD-ĐT, cộng đồng xã hội,

đã đặc biệt quan tâm tới hoạt động giáo dục nói chung và

đổi mới giáo dục theo hướng ứng dụng CNTT nói riêng

trong mỗi nhà trường Đây là điều kiện thuận lợi để đẩy

mạnh việc ứng dụng CNTT trong các nhà trường phổ

thông Có một số biện pháp thực hiện ứng dụng CNTT

trong dạy học tại các nhà trường phổ thông như: xác định

rõ những nội dung ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học

ở trường phổ thông; làm tốt công tác bồi dưỡng cho đội

ngũ GV về kiến thức, kĩ năng ứng dụng CNTT vào dạy

học và xây dựng môi trường thuận lợi, đảm bảo cơ sở vật

chất, trang thiết bị CNTT phục vụ cho quá trình dạy học

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ GD-ĐT (2001) Chỉ thị số 29/2001/CT-BGDĐT

ngày 30/07/2001 về việc tăng cường giảng dạy, đào

tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành

giáo dục giai đoạn 2001-2005

[2] Phó Đức Hòa - Ngô Quang Sơn (2008) Ứng dụng

công nghệ thông tin trong dạy học tích cực NXB

Giáo dục

[3] Phan Thị Thanh Lê (2016) Quản lí ứng dụng công

nghệ thông tin trong dạy học ở các trường tiểu học

quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Tạp chí Giáo dục, số 6,

tr 22-24

[4] Phan Thanh Long - Lê Tràng Định (2008) Những vấn

đề chung của Giáo dục học NXB Đại học Sư phạm

[5] Phạm Thị Lệ Hằng (2016) Ứng dụng công nghệ

thông tin trong dạy học ở các trường trung học cơ

sở Thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới căn

bản, toàn diện giáo dục hiện nay Tạp chí Giáo dục,

số 12, tr 223-225

[6] Phạm Thị Lệ Hằng (2016) Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổ mới giáo dục hiện nay Tạp chí

Giáo dục số 6, tr 196-198

[7] Đỗ Mạnh Cường (2008) Giáo trình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học NXB Đại học Quốc

gia Thành phố Hồ Chí Minh

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC

(Tiếp theo trang 246)

tập ở trường phổ thông, nhất là ở bậc THPT BĐTD giúp cho giáo viên và học sinh cải thiện cách dạy học theo lối truyền thụ một chiều, thụ động và nhàm chán để chuyển sang một cách dạy học mới tích cực, năng động, sáng tạo và luôn có sự tương tác hai chiều giữa giáo viên và học sinh trong cả một giờ học Vì vậy, có thể nói sử dụng BĐTD là một trong những phương pháp hiệu quả, tích cực trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đã đưa ra một số cách sử dụng BĐTD trong dạy học Địa lí bậc THPT ở trên lớp (bao gồm giảng dạy bài mới, củng cố kiến thức sau mỗi bài học, kiểm tra, đánh giá kiến thức cũ, tổng kết kiến thức của một chương hay nhiều bài học, giao bài tập về nhà) như là một

sự gợi ý cho các giáo viên và học sinh sử dụng hiệu quả hơn BĐTD trong giảng dạy và học tập bộ môn Đồng thời, chúng tôi cũng nhấn mạnh một số điểm cần lưu ý khi sử dụng BĐTD khi dạy học, đó là cần căn cứ vào nội dung bài học, đối tượng học sinh, quỹ thời gian và điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học mà sử dụng BĐTD cho hợp lí, tránh tình trạng lạm dụng hay sử dụng chỉ mang tính hình thức; cần lựa chọn kết hợp BĐTD với các phương pháp và phương tiện dạy học tích cực khác để phát huy tối đa năng lực của người học và góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Địa lí ở các trường THPT ở Việt Nam hiện nay

Tài liệu tham khảo

[1] Tony Buzan (2007) The Mind Map book NXB

Tổng hợp TP Hồ Chí Minh

[2] Joyce Wycoff (2008) Ứng dụng bản đồ tư duy

NXB Lao động - Xã hội

[3] Trần Đình Châu - Đặng Thị Thu Thủy (2011) Dạy tốt học tốt các môn bằng bản đồ tư duy NXB Giáo

dục Việt Nam

[4] Đặng Văn Đức - Nguyễn Thị Thu Hằng (2003) Dạy học Địa lí theo hướng tích cực NXB Đại học Sư phạm [5] Bộ GD-ĐT (2017) Địa lí 10 NXB Giáo dục Việt Nam [6] Bộ GD-ĐT (2017) Địa lí 11 NXB Giáo dục Việt Nam [7] Bộ GD-ĐT (2017) Địa lí 12 NXB Giáo dục Việt Nam

Ngày đăng: 22/01/2019, 10:26

w