1. Trang chủ
  2. » Tất cả

50nguyen-thi-thanh

4 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầu Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, năng lực giải quyết vấn đề GQVĐ là một trong các năng lực cốt lõi mà ở các cấp học và các môn học đều hướng tới hình thành và phát triể

Trang 1

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT (SINH HỌC 10)

Nguyễn Thị Thanh - Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Ngày nhận bài: 08/08/2018; ngày sửa chữa: 13/08/2018; ngày duyệt đăng: 24/08/2018

Abstract: Problem-solving competency is a general one that needs to be formed and developed

for students at all levels in general school In the process of teaching in each subject, teachers are

responsible for formation and development for students this competency In this article, based on

research on difinition and structure of problem-solving competency, we define the process of

building and using learning case study to develop problem solving competency in teaching

Microorganism module (Biology 10) Through preliminary experimentations on students in Grade

10, we want to demonstrate that building and using appropriate case studies will help to develop

problem-solving competency for students

Keywords: Competency, problem-solving competency, case study, situation exercises, microorganism

1 Mở đầu

Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, năng lực

giải quyết vấn đề (GQVĐ) là một trong các năng lực cốt

lõi mà ở các cấp học và các môn học đều hướng tới hình

thành và phát triển cho người học Do vậy, mỗi giáo viên

(GV) đều cần phải thiết kế các hoạt động học tập hướng

tới phát triển năng lực này Tuy nhiên, hầu hết GV vẫn

còn khó khăn khi rèn luyện năng lực GQVĐ do chưa biết

cách xây dựng quy trình cũng như các biện pháp rèn

luyện Cần phải có các nghiên cứu sâu hơn cũng như tập

huấn cho GV các cấp về cách thức rèn luyện cũng như

đánh giá năng lực này Trong phạm vi nghiên cứu, bài

viết giới thiệu một trong những biện pháp hữu hiệu có

thể sử dụng để rèn luyện năng lực GQVĐ cho học sinh

(HS) đó là xây dựng và sử dụng bài tập tình huống

(BTTH)

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Năng lực giải quyết vấn đề

2.1.1 Định nghĩa năng lực giải quyết vấn đề

Theo OECD (2012) định nghĩa, “năng lực GQVĐ là

khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống

có vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng Nó

bao hàm sự sẵn sàng tham gia vào các tình huống tương

tự để đạt được tiềm năng của mình như một công dân

tích cực và xây dựng” [1]

Theo tác giả Phan Khắc Nghệ (2016), năng lực

GQVĐ là khả năng cá nhân vận dụng những hiểu biết và

xúc cảm để phát hiện vấn đề và tìm ra giải pháp, tiến hành

GQVĐ một cách hiệu quả, tự đánh giá, điều chỉnh quá

trình GQVĐ [2] Theo tác giả Phan Thị Thanh Hội và

Nguyễn Thị Phương (2018), năng lực GQVĐ trong học

tập là khả năng người học phát hiện được vấn đề, xây

dựng giả thuyết, lập kế hoạch và GQVĐ học tập [3]

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa năng lực GQVĐ theo các tác giả Phan Thị Thanh Hội và Nguyễn Thị Phương (2018)

2.1.2 Cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề

Theo tác giả Lê Đình Trung và Phan Thị Thanh Hội (2016), cấu trúc của năng lực GQVĐ gồm 4 thành tố chính: Phát hiện vấn đề; Hình thành giả thuyết khoa học; Lập kế hoạch và tiến hành GQVĐ; Đánh giá và phản ánh giải pháp [4] Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng BTTH để rèn luyện năng lực GQVĐ nên chúng tôi xác định năng lực GQVĐ bao gồm 4 thành tố như sau: Phát hiện vấn đề; Hình thành giả thuyết khoa học; GQVĐ; Rút ra kết luận

2.2 Bài tập tình huống

Theo tác giả Phan Đức Duy (1999), “BTTH dạy học

là những tình huống khác nhau đã, đang và có thể xảy ra trong quá trình dạy học, được cấu trúc lại dưới dạng bài tập, khi sinh viên giải bài tập ấy vừa có tác dụng củng cố kiến thức, vừa rèn luyện được những kĩ năng dạy học cần thiết” [5] Theo Nguyễn Như An (1992), “BTTH sư phạm

là một dạng bài tập nêu tình huống giả định hay thực tiễn trong quá trình dạy học - giáo dục, một tình huống khó khăn căng thẳng về trí tuệ, đòi hỏi sinh viên phải nhận thức được và cảm thấy có nhu cầu giải đáp bằng cách huy động vốn tri thức và kinh nghiệm sáng tạo của họ để giải quyết theo quy trình hợp lí, phù hợp với nguyên tắc, phương pháp và lí luận dạy học - giáo dục đúng đắn” [6]

Tóm lại, BTTH là một dạng bài tập trong đó có chứa tình huống học tập hoặc thực tiễn gây mâu thuẫn nhận thức cho HS, đòi hỏi HS phải vận dụng kiến thức, kĩ năng hoặc tìm hiểu thêm kiến thức mới nhằm giải quyết tình huống qua đó chiếm lĩnh kiến thức và hình thành kĩ năng, năng lực Khi sử dụng BTTH, GV yêu cầu HS nghiên cứu và giải quyết tình huống qua đó có thể rèn luyện

được năng lực GQVĐ cho HS

Trang 2

2.3 Xây dựng và sử dụng bài tập tình huống nhằm

phát triển năng lực giải quyết vấn đề

2.3.1 Xây dựng bài tập tình huống trong dạy học phần

Sinh học vi sinh vật (Sinh học 10)

Đã có nhiều tác giả đề xuất quy trình xây dựng BTTH,

như tác giả Phan Đức Duy (1999) [5]; Phan Thị Thanh Hội

và Khưu Thanh Tuyết Lê (2012) [7], tuy nhiên, trong

nghiên cứu này, việc thiết kế BTTH nhằm rèn luyện năng

lực GQVĐ tập trung vào các BTTH xuất phát từ vấn đề

thực tiễn, do vậy, quy trình xây dựng BTTH nhằm rèn

luyện năng lực GQVĐ gồm các bước sau:

 Bước 1) Xác định mạch nội dung chủ đề

Bước này xác định các mạch lớn về nội dung của mỗi

chủ đề, làm cơ sở để xác định các mục tiêu/yêu cầu cần

đạt cụ thể cho mỗi mạch nội dung

Ví dụ: Chủ đề Virut và bệnh truyền nhiễm

Mạch nội dung chủ đề gồm:

- Khái quát về virut;

- Chu trình nhân lên của virut trong tế bào chủ;

- Vai trò và tác hại của virut;

- Bệnh truyền nhiễm và miễn dịch

 Bước 2) Xác định các yêu cầu cần đạt cho các

mạch nội dung ở mức vận dụng và vận dụng cao Khi xác định yêu cầu cần đạt, thông thường có 4 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tập trung vào việc thiết kế các BTTH gắn với thực tiễn nhằm rèn luyện năng lực GQVĐ, do đó chỉ tập trung xác định yêu cầu cần đạt của mỗi mạch nội dung ở mức vận dụng và vận dụng cao

 Bước 3) Từ mỗi yêu cầu cần đạt, xây dựng các

BTTH: Từ các yêu cầu cần đạt, tìm kiếm các thông tin liên quan, từ đó xây dựng các BTTH với các mâu thuẫn nhận thức giữa cái HS đã biết và cái HS cần tìm

Ví dụ 1) Yêu cầu cần đạt: Giải thích được vì sao các

bệnh do virut gây nên thường không có thuốc đặc trị”

Xây dựng các BTTH:

- Khi đọc về các bệnh do virut gây ra, một HS đọc

được thông tin: các bệnh do virut gây ra thường không

thể sử dụng kháng sinh để điều trị được Bằng kiến thức

của mình về virut, bạn hãy giải thích tại sao?

- Có ý kiến cho rằng “Bệnh do virut gây ra thường

nguy hiểm hơn bệnh do các tác nhân khác” Theo bạn ý

kiến đó đúng hay sai? Vì sao?

Mạch

Khái quát

virut

- Giải thích được vì sao virut không được xếp vào giới sinh vật hoặc virut chưa được coi là một cơ thể sống

- Dựa vào đặc điểm virut giải thích được vì sao không thể sử dụng được một số loại kháng sinh để tiêu diệt virut như vi khuẩn

- Giải thích được vì sao các bệnh do virut gây nên thường không có thuốc đặc trị

- Giải thích được tại sao những bệnh gây nên

do virut rất dễ biến thể

Chu trình

nhân lên của

virut trong tế

bào chủ

- Dựa vào chu trình nhân lên của virut, giải thích được tại sao người nhiễm HIV có thể sống trong thời gian từ 10-15 năm

- Giải thích được thời gian ủ bệnh cúm/bệnh Ebola

Giải thích cơ sở khoa học của việc sử dụng các chất ức chế sự nhân lên của virut

Vai trò và tác

hại của virut

- Xác định được một số bệnh do virut gây nên trên thực vật, côn trùng qua các triệu chứng cụ thể

- Phân tích được cơ sở khoa học của việc chữa bệnh

do virut ở thực vật và động vật

- Giải thích được cơ sở khoa học của việc sản

xuất vacxin thế hệ mới

- Phân tích được vai trò quan trọng của đấu tranh sinh học trong việc xây dựng một nền nông nghiệp an toàn và bền vững

Bệnh truyền

nhiễm và

miễn dịch

- Phân tích được nguyên tắc sản xuất một số chế phẩm thế hệ mới dùng trong y học và nông nghiệp

- Phân tích được cơ chế phòng bệnh của cơ thể dựa vào các hình thức miễn dịch

- Giải thích được các triệu chứng của người bị bệnh cúm, HIV/AIDS, sởi, Ebola

- Giải thích được việc cần thiết phải tiêm vacxin đầy

đủ để phòng bệnh

- Giải thích được cơ sở của một số biện pháp phòng

và điều trị một số bệnh truyền nhiễm

- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh truyền nhiễm và tuyên truyền cách phòng tránh cho cộng đồng

- Thực hiện các biện pháp phòng tránh HIV/AIDS, và tuyên truyền cách phòng tránh cho cộng đồng

Trang 3

Ví dụ 2) Yêu cầu cần đạt: Giải thích được tại sao người

nhiễm HIV có thể sống trong thời gian từ 10-15 năm

Xây dựng BTTH: Thực trạng trên thế giới và ở Việt

Nam hiện nay, một số người bị nhiễm HIV nhưng họ lại

không biết mình bị nhiễm Vì sao lại có hiện tượng như

vậy? Điều đó nguy hiểm như thế nào đối với xã hội?

Ví dụ 3) Yêu cầu cần đạt: Dựa vào đặc điểm virut giải

thích được vì sao không thể sử dụng được một số loại

kháng sinh để tiêu diệt virut như vi khuẩn

Xây dựng BTTH: Bệnh đốm trắng ở tôm Sú là một

dịch bệnh virut truyền nhiễm làm tôm chết hàng loạt

Virut này có bộ gen là ADN và vật chủ là các loài tôm,

cua Có người cho rằng, khi tôm bị bệnh nên sử dụng

kháng sinh penicillin để trị bệnh Điều này có đúng

không? Vì sao?

2.3.2 Sử dụng bài tập tình huống phát triển năng lực giải

quyết vấn đề cho học sinh

Mục tiêu xây dựng BTTH nhằm phát triển năng lực

GQVĐ, do vậy BTTH được sử dụng theo quy trình sau:

Bước 1) HS tiếp nhận BTTH: GV yêu cầu HS hoạt

động cá nhân hoặc nhóm để giải quyết BTTH, có thể sử

dụng BTTH nhằm dạy học kiến thức mới hoặc củng cố

kiến thức hoặc kiểm tra, đánh giá

Bước 2) HS trả lời các câu hỏi GQVĐ trong BTTH:

GV thiết kế các nhiệm vụ HS cần thực hiện tương ứng

với các câu hỏi, HS trả lời các câu hỏi sẽ rèn luyện được

các thành tố của năng lực GQVĐ (xem bảng sau):

Câu hỏi Các thành tố

năng lực GQVĐ Câu 1: Hãy chỉ ra mâu thuẫn

trong tình huống

Câu 2: Vấn đề trọng tâm cần

giải quyết trong tình huống

Phát hiện vấn đề

Câu 3: Hãy đưa ra giả thuyết

cho vấn đề

Hình thành giả thuyết khoa học Câu 4: Hãy vận dụng kiến thức

để giải thích vấn đề GQVĐ

Câu 5: Hãy rút ra kết luận về

vấn đề Rút ra kết luận

Bước 3) HS thảo luận và rút ra kết luận: Một số HS

báo cáo kết quả đã thực hiện trước nhóm, lớp hoặc HS

chấm bài lẫn nhau Sau đó, các em rút ra kết luận vấn đề

nghiên cứu từ BTTH

2.3.3 Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề

Để đánh giá năng lực GQVĐ, GV sử dụng công cụ là

các BTTH HS thực hiện giải các BTTH như yêu cầu trong

quá trình rèn luyện ở Bước 2 Để đánh giá HS có mức độ

năng lực GQVĐ, GV sử dụng bảng chấm điểm như sau:

Các thành tố Biểu hiện Điểm

Phát hiện vấn đề

Chỉ ra mâu thuẫn trong tình huống

Nêu được vấn đề trọng tâm cần giải quyết trong tình huống

1

Hình thành giả thuyết khoa học

Đưa ra được giả thuyết cho vấn

GQVĐ Giải thích vấn đề đúng, rõ ràng

và chi tiết 2 Rút ra

kết luận Rút ra được kết luận về vấn đề 1 Tổng điểm cao nhất HS đạt được là 5 điểm, trong đó, thành tố GQVĐ là quan trọng nhất, do đó đánh giá 2 điểm Các thành tố khác mỗi thành tố 1 điểm Dựa theo mức độ đạt được của HS mà GV chấm điểm tối đa hay không Từ tổng số điểm có thể chia mức độ năng lực

GQVĐ thành 4 mức: Yếu: 1 ≤ 2 điểm; Trung bình 2≤ 3 điểm; Khá 3 ≤ 4 điểm; Tốt 4 > 4 điểm

2.3.4 Thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm được tiến hành trên 30 HS lớp 10 Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên trong năm học 2017-2018 Số lần đánh giá là 03 bài kiểm tra, sử dụng BTTH Kết quả thu

được như sau (xem biểu đồ trang bên):

Từ biểu đồ trên cho thấy ở lần kiểm tra 1, HS đạt điểm cao nhất là 3,5, không có HS nào đạt được điểm 4 hoặc

5, trong khi đó, số HS đạt điểm dưới 2 điểm là 12 HS Điều này cho thấy, ở lần kiểm tra 1: không có HS đạt mức 4 và mức 3 năng lực GQVĐ, trong khi đa số HS đạt mức 1 là (19 HS) Ở lần kiểm tra 2, số HS đạt mức 3 là 7

HS, số HS đạt mức 2 là 15 HS, số HS đạt mức 1 giảm xuống chỉ còn 8 HS Ở lần 3, đã có 2 HS đạt mức 4, không còn HS nào đạt mức 1, gần một nửa (14 HS) đạt mức 3 Từ đó, cho thấy, thông qua rèn luyện bước đầu bằng BTTH, HS đã phát triển được năng lực GQVĐ Điều này đã cho phép kết luận sơ bộ, sử dụng BTTH có thể phát triển được năng lực GQVĐ cho HS

3 Kết luận

Trên cơ sở phân tích định nghĩa, cấu trúc năng lực GQVĐ, chúng tôi đề xuất quy trình xây dựng và sử dụng BTTH trong dạy học Sinh học vi sinh vật (Sinh học 10) nhằm phát triển năng lực GQVĐ Bước đầu thực nghiệm

sư phạm trên 30 HS lớp 10C tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THPT huyện Điện Biên cho phép kết luận, xây dựng và sử dụng BTTH một cách hợp lí sẽ phát triển được năng lực GQVĐ cho HS

Trang 4

Tài liệu tham khảo

[1] OECD (2010), PISA (2012), Field Trial Problem

Solving Framework

[2] Phan Khắc Nghệ (2016) Rèn luyện năng lực giải

quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học di truyền

học ở trường chuyên Luận án tiến sĩ Khoa học giáo

dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

[3] Phan Thị Thanh Hội - Nguyễn Thị Phương (2018)

Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học

Sinh học trung học phổ thông Báo cáo khoa học về

Nghiên cứu và giảng dạy Sinh học ở Việt Nam lần

thứ 3 NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ, tr

1239-1249

[4] Lê Đình Trung - Phan Thị Thanh Hội (2016) Dạy học

theo định hướng hình thành và phát triển năng lực

người học ở trường phổ thông NXB Đại học Sư phạm

[5] Phan Đức Duy (1999) Sử dụng bài tập tình huống

sư phạm để rèn luyện cho sinh viên kĩ năng dạy học

sinh học Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Trường Đại

học Sư phạm Hà Nội

[6] Nguyễn Như An (1992) Giải bài tập tình huống sư

phạm Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 11, tr 8-12

[7] Phan Thị Thanh Hội - Khưu Thanh Tuyết Lê (2012)

Sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kĩ năng

phân tích, so sánh, tổng hợp cho học sinh trong dạy

học phần tiến hóa - Sinh học 12 trung học phổ thông

Tạp chí Giáo dục, số 293, tr 54-56

DẠY HỌC CHỦ ĐỀ AXIT - BAZƠ

(Tiếp theo trang 218)

kiến thức lí thuyết với đời sống thực tế, ứng dụng các tiến

bộ khoa học kĩ thuật Đây là một hoạt động trải nghiệm

giúp HS hình thành năng lực thực nghiệm, khả năng vận

dụng kiến thức vào thực tiễn, khả năng giải quyết vấn đề,

tăng động lực học tập trong môn Hóa học Kết quả thực

nghiệm sư phạm đã xác nhận sự tiến bộ NLGQVĐ của

HS lớp TN sau tác động cao hơn so với trước tác động là

có ý nghĩa thống kê và nghiên cứu này có hệ số ảnh hưởng ở mức độ có thể nhân rộng được

Tài liệu tham khảo

[1] Thủ tướng Chính phủ (2017) Chỉ thị số 16/CT-TTg

về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4

[2] Sở Thông tin và truyền thông tỉnh Bắc Ninh (2017)

Đề án triển khai chương trình giáo dục STEM tại tỉnh Bắc Ninh

[3] Bộ GD-ĐT (2017) Chương trình giáo dục phổ

thông - Chương trình tổng thể

[4] Lê Xuân Quang (2017) Dạy học môn Công nghệ

phổ thông theo định hướng giáo dục STEM Luận án

tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội

[5] Robert M Capraro - Mary Margaret Capraro -

James R Morgan (2013) STEM project-based

learning: An integrated science, technology, engineering, and mathematics (STEM) approach

Sense Publishers

[6] Alekha Dash (2002) Evaluation of red cabbage dye

as a potential natural color for pharmaceutical use

International Journal of Pharmaceutics, Vol 241,

pp 293-299

[7] Maimoona Khan - Swapanil Yadav - Namita

Chauhan - Aquil Ahmad (2010) Use of red cabbage

(Brassica oleraceavar capitata f rubra) as nutritional food Asian Journal of Bio Science, Vol

5, Issue 2, pp 249-250

0

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

5 4,5 4 3,5 3 2,5 2 1,5 1

Lần 1 Lần 2 Lần 3

Ngày đăng: 22/01/2019, 10:26

w