1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CẢNH QUAN ĐÔ THỊ

60 174 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất nước về quy mô cũng như tiềm lực kinh tế với vai trò trung tâm hạt nhân, động lực phát triển kinh tế xã hội trong vùng kinh tế phía Nam và Nam bộ. Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế, sản lượng công nghiệp, nguồn thu ngân sách, vốn đầu tư nước ngoài luôn cao của thành phố đã góp phần tích cực vào thành tựu chung của nền kinh tế đất nước. Điều này khẳng định vị trí vai trò đầu tàu của thành phố nhưng đồng thời cũng xuất hiện nguy cơ dẫn tới tốc độ đô thị hóa quá nhanh, tình trạng tập trung dân cư quá mức, cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng bộ với tốc độ phát triển kinh tế xã hội, quản lý bất cập không theo kịp thực tế, thiếu nhà ở, chất lượng cuộc sống của người dân không cao... Đây là những biểu hiện của việc phát triển chưa mang tính bền vững. TP.HCM, đã và đang có những thay đổi về cảnh quan, các kiến trúc không gian xanh tạo cho con người có cảm giác thân thiện hòa mình vào thiên nhiên ở giữa lòng thành phố đầy khói bụi. Và đây cũng là một nhu cầu cần thiết cho con người khi mà nền kinh tế phát triển cuộc sống cũng phát triển theo thì các vấn đề về môi trường và sức khỏe cũng được con người chú ý tới. Tuy nhiên vẫn có một bộ phận dân cư ở đây chỉ muốn phát triển kinh tế mà không quan tâm đến không gian sinh sống và họ đã chặt phá cây trái phép để xây nhà, khu vực buôn bán, khách sạn,…. Vậy nên vấn đề quản lý cảnh quan đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh là một vấn đề vô cùng cần thiết và cấp bách hiện nay mà TP.HCM cần thực hiện.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

1 Nguyễn Thị Thùy Dung 14059831 ĐHQLMT10A

2 Tạ Thị Mỹ Duyên 14035811 ĐHQLMT10A

3 Võ Thùy Giang 14104511 ĐHQLMT10A

4 Nguyễn Thị Minh Tâm 14109521 ĐHQLMT10A

5 Quách Thị Thu 14102971 ĐHQLMT10A

6 Hồ Thị Vi Tố 14074481 ĐHQLMT10A

TP.HCM, 13 tháng 11 năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

Sinh viên thực hiện MSSV Lớp

1 Nguyễn Thị Thùy Dung 14059831 ĐHQLMT10A

2 Tạ Thị Mỹ Duyên 14035811 ĐHQLMT10A

3 Võ Thùy Giang 14104511 ĐHQLMT10A

4 Nguyễn Thị Minh Tâm 14109521 ĐHQLMT10A

5 Quách Thị Thu 14102971 ĐHQLMT10A

6 Hồ Thị Vi Tố 14074481 ĐHQLMT10A

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC HÌNH 5

DANH MỤC BẢNG 5

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG 2

CẢNH QUAN ĐÔ THỊ 2

1.1 CÁC KHÁI NIỆM 2

1.1.1 Cảnh quan, phân loại cảnh quan 2

1.1.2 Môi trường cảnh quan đô thị, phân loại cảnh quan đô thị 2

1.1.3 Kiến trúc cảnh quan đô thị 4

1.2 VAI TRÒ CỦA CÂY XANH TRONG VIỆC CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ 4 1.2.1 Cây xanh làm giảm sự nhiễm bẩn môi trường không khí 4

1.2.2 Cây xanh có tác dụng điều hòa nhiệt độ không khí 6

1.2.3 Cây xanh cản bớt tiếng ồn 8

1.2.4 Cây xanh góp phần bảo tồn và làm tăng đa dạng sinh học cho khu vực 9

1.2.5 Cản bớt tốc độ gió bão 9

1.2.6 Ngăn đỡ hạt mưa, bảo vệ môi trường, chống xói mòn đất và các công trình kiến trúc khác 9

1.2.7 Cây xanh trong kiến trúc cảnh quan đô thị 10

1.2.8 Các lợi ích khác của cây xanh đối với môi trường đô thị 10

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG MẢNG XANH VÀ TỔ CHỨC KIẾN TRÚC CẢNH QUAN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 12

2.1 MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA CÂY XANH TẠI TP.HCM 12

2.1.1 Không gian sinh trưởng của cây xanh 12

2.1.2 Kích thước của cây 12

2.1.3 Đất trồng cây 13

2.1.4 Tiểu khí hậu 13

Trang 4

2.2 PHÂN LOẠI HỆ THỐNG MẢNG XANH ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ

CHÍ MINH 14

2.2.1 Phân loại theo mục đích sử dụng 14

2.2.2 Phân loại theo nhóm cây và đặc điểm thực vật 14

2.2.3 Phân loại theo độ cao 15

2.3 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG MẢNG XANH TẠI TP HCM 15

2.4 TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KIÊN TRÚC CẢNH QUAN TẠI TP.HCM 17

CHƯƠNG 3 CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CẢNH QUAN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 20

3.1 QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG MẢNG XANH ĐÔ THỊ VÀ KIẾN TRÚC CẢNH QUAN TẠI TP.HCM 20

3.1.1 Mục đích – yêu cầu quy hoạch phát triển hệ thống mảng xanh kiến trúc cảnh quan đô thị tại TP.HCM 20

3.1.2 Quy hoạch trồng cây ở một số khu vực trong đô thị tại TP.HCM 21

3.2 QUẢN LÝ HỆ THỐNG MẢNG XANH ĐÔ THỊ TẠI TP.HCM 29

3.2.1 Nguyên lý về mô hình quản lý cây xanh đô thị tại TP.HCM 29

3.2.2 Nguyên tắc quản lý cây xanh đô thị tại TP.HCM 29

3.2.3 Kế hoạch phát triển và quản lý 30

3.2.4 Công cụ quản lý 32

3.2.5 Tổ chức quản lý nhà nước về công viên và cây xanh đô thị tại TP.HCM34 3.2.6 Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước 35

3.3 QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CẢNH QUAN ĐÔ THỊ TẠI TP.HCM 40

3.3.1 Những nguyên tắc chung quản lý môi trường cảnh quan đô thị trên địa bàn thành phố 40

3.3.2 Công tác quản lý môi trường cảnh quan đô thị tại tp hcm 41

CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CẢNH QUAN ĐÔ THỊ VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HIỆU QUẢ CẢNH QUAN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 47

4.1 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CẢNH QUAN ĐÔ THỊ TẠI TP.HCM 47

4.1.1 Công tác quản lý rừng và mảng xanh trên địa bàn thành phố 47

Trang 5

4.1.2 Công tác quản lý kiến trúc cảnh quan của thành phố 49 4.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CẢNH QUAN ĐÔ THỊ TẠI TP.HCM 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

KĐTM Khu đô thị mới

QHDT Quy hoạch đô thị

QCVN Quy chuẩn Việt Nam

BTNMT Bộ tài nguyên môi trường

TCN Trước công nguyên

QĐ-UBND Quyết định - Ủy Ban Nhân Dân

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Cảnh quan đường phố tại Thủ Đức, TPHCM 3 Hình 2 Quảng trường Nguyễn Huệ tại Quận 1, TP HCM 4 Hình 3 Ảnh hưởng của khoảng cách và vành đai cây cối đối với sự suy giảm tiếng ồn 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Lượng ước tính các hạt kim loại được cây sao đen đường kính 20 cm, chiều cao 9 m, với 2 độ che tách khỏi bầu không khí ô nhiễm trong 1 năm 6 Bảng 2 Kết quả đo nhiệt độ, độ ẩm tại công viên 23/9, TP.HCM năm 2005 7 Bảng 3 Sự suy giảm tiếng ồn ở các loại cây khác nhau cách nguồn tiếng ồn 100m 8

Trang 8

MỞ ĐẦU

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất nước về quy mô cũng như tiềm lực kinh

tế với vai trò trung tâm hạt nhân, động lực phát triển kinh tế - xã hội trong vùng kinh tế phía Nam và Nam bộ Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế, sản lượng công nghiệp, nguồn thu ngân sách, vốn đầu tư nước ngoài luôn cao của thành phố đã góp phần tích cực vào thành tựu chung của nền kinh tế đất nước Điều này khẳng định vị trí vai trò đầu tàu của thành phố nhưng đồng thời cũng xuất hiện nguy cơ dẫn tới tốc độ đô thị hóa quá nhanh, tình trạng tập trung dân cư quá mức, cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng bộ với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, quản lý bất cập không theo kịp thực tế, thiếu nhà ở, chất lượng cuộc sống của người dân không cao Đây là những biểu hiện của việc phát triển chưa mang tính bền vững

TP.HCM, đã và đang có những thay đổi về cảnh quan, các kiến trúc không gian xanh tạo cho con người có cảm giác thân thiện hòa mình vào thiên nhiên ở giữa lòng thành phố đầy khói bụi Và đây cũng là một nhu cầu cần thiết cho con người khi mà nền kinh tế phát triển cuộc sống cũng phát triển theo thì các vấn đề về môi trường và sức khỏe cũng được con người chú ý tới Tuy nhiên vẫn có một bộ phận dân cư ở đây chỉ muốn phát triển kinh tế mà không quan tâm đến không gian sinh sống và họ đã chặt phá cây trái phép để xây nhà, khu vực buôn bán, khách sạn,… Vậy nên vấn đề quản lý cảnh quan đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh là một vấn đề vô cùng cần thiết và cấp bách hiện nay mà TP.HCM cần thực hiện

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG

CẢNH QUAN ĐÔ THỊ

1.1 CÁC KHÁI NIỆM

1.1.1 Cảnh quan, phân loại cảnh quan

Theo từ điển môi trường thì cảnh quan là một khu vực rộng rãi có thể nhìn thấy từ một điểm[1].Còn theo quan điểm sinh thái học thì cảnh quan là một khu vực không đồng nhất được cấu thành bởi một cụm của các hệ sinh thái tương tác với nhau, được lặp lại trong không gian, với các kích thước, hình dáng, và quan hệ không gian khác nhau trong khắp cảnh quan Mỗi cảnh quan có các kiểu địa hình, kiểu thảm thực vật, và kiểu kiến trúc khác nhau

Một cách thức khác về mặt sinh thái thì một cảnh quan được xem như một thể khảm của các đám sinh cảnh mà qua đó sinh vật di chuyển, cư trú, sinh sản, và cuối cùng chết và trở về với đất

❖ Phân loại cảnh quan

Tùy theo lịch sử hình thành mà cảnh quan được phân ra thành cảnh quan thiên nhiên hay cảnh quan nhân tạo:

- Cảnh quan thiên nhiên được tạo dựng trong quá trình hình thành và biến đổi của

tự nhiên, ví dụ như: Vịnh Hạ Long, Ruộng bậc thang (Sa Pa), Bãi dài Phú Quốc, Công viên khủng Long (Canada), Thác Niagara (biên giới Mỹ và Canada), Công viên Torres del Paine (Chile), Hồ District (Anh), Ống khói cổ tích (Thổ Nhĩ Kỳ), Rừng Amazon, Dải đại san hô (Úc),

- Cảnh quan nhân tạo là do con người cải tạo từ thiên nhiên hay tạo dựng mới, ví

dụ như: Tháp Ephen (Pháp), Kim Tự Tháp (Ai Cập), Chùa một cột (Việt Nam), nhà thờ Đức Bà (TP.HCM), Vạn lý trường thành (Trung Quốc), Đảo nhân tạo Palm (Dubai), Đường dẫn nước Segovia (Tây Ban Nha), Đường sắt xuyên Siberia (Nga), Cầu Akashi Kaikyo (Nhật Bản),

1.1.2 Môi trường cảnh quan đô thị, phân loại cảnh quan đô thị

Môi trường cảnh quan đô thị là khung cảnh bao gồm các thành phần của một hệ sinh thái cùng tồn tại liên kết, sắp xếp và tương tác với nhau trong một không gian nhất định của một độ thị và khung cảnh đó cũng được xem xét với quang cảnh chung quanh

Trang 10

rộng lớn hơn Hệ sinh thái ở đây là hệ sinh thái nhân tạo, do con người tác động vào, cải tạo hoặc hoàn toàn tạo dựng nhằm đáp ứng những nhu cầu cuộc sống của con người Theo điều 3 luật Quy hoạch đô thị (QHDT)[2]: Môi trường cảnh quan đô thị là không gian cụ thể có nhiều hướng quan sát ở trong đô thị như không gian trước tổ hợp kiến trúc, quảng trường, đường phố, vỉa hè, đường đi bộ, công viên, thảm thực vật, vườn cây, vườn hoa, đồi, núi, gò đất, đảo, cù lao, triền đất tự nhiên, dải đất ven bờ biển, mặt

hồ, mặt sông, kênh, rạch trong đô thị và không gian sử dụng chung thuộc đô thị

❖ Phân loại cảnh quan đô thị

Các loại hình cảnh quan đô thị được phân ra làm các loại sau:

- Cảnh quan đường phố: Bao gồm các boulevard - dải không gian xanh rộng ở giữa hoặc bên lề đường phố chính, đường bờ sông dùng để đi bộ và nghỉ ngơi chốc lát Dải các cây cách ly giữa đường phố chính và khu nhà ở chứa đựng các yếu tố hoàn thiện

đô thị như vỉa hè, đường, biển báo giao thông,

Nguồn: The One Land

Hình 1 Cảnh quan đường phố tại Thủ Đức, TPHCM

- Cảnh quan quảng trường: Bao gồm các vườn cảnh và không gian có các yếu tố hoàn thiện trên quảng trường giao thông, quảng trường đô thị

Trang 11

Nguồn: The One Land

Hình 2 Quảng trường Nguyễn Huệ tại Quận 1, TP HCM

- Cảnh quan vườn – công viên: Bao gồm các vườn hoa công cộng và công viên cấp đô thị, cấp khu vực

- Cảnh quan khu xây dựng: Bao gồm các khu đất xây dựng có chỉ số độ cao trung bình, để thể hiện quy mô của khối xây dựng

1.1.3 Kiến trúc cảnh quan đô thị

Kiến trúc cảnh quan đô thị là tổ hợp các vật thể trong đô thị, bao gồm các công trình kiến trúc, kỹ thuật, nghệ thuật, quảng cáo mà sự tồn tại, hình ảnh, kiểu dáng của chúng chi phối hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan đô thị (theo Điều 3 Luật QHĐT)

1.2 VAI TRÒ CỦA CÂY XANH TRONG VIỆC CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG

ĐÔ THỊ

1.2.1 Cây xanh làm giảm sự nhiễm bẩn môi trường không khí

Ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người, động vật, cây cối và các vật chất khác Đối với con người, động vật có thể gây nên các bệnh ung thư

da, mù giác mạc, hen suyễn… hay như làm chết cây, biến đổi sắc tố khác thường cho cây cối…

Kết quả quan trắc năm 2015 của Chi cục Bảo vệ môi trường TP.HCM cho thấy

ô nhiễm chất lượng không khí trên địa bàn TP.HCM chủ yếu là do bụi lơ lửng và mức

Trang 12

ồn do các hoạt động giao thông gây ra (với 61,29% số liệu bụi quan trắc tại 10 vị trí giao thông vượt QCVN 05:2013/BTNMT và 90,27% số liệu mức ồn quan trắc được tại

10 vị trí giao thông vượt QCVN 26:2010/BTNMT)[3] Nồng độ các chất ô nhiễm quan trắc được tại khu vực ngã tư An Sương, Gò Vấp, ngã tư Huỳnh Tấn Phát – Nguyễn Văn Linh và khu vực ngã tư Đinh Tiên Hoàng – Điện Biên Phủ có giá trị cao nhất trong

15 vị trí quan trắc chất lượng không khí Cụ thể: Nồng độ trung bình giờ của CO dao động trong khoảng 4,16 mg/m3 – 14,55 mg/m3; hàm lượng trung bình giờ của bụi lơ lửng quan trắc được trong năm 2015 ta ̣i 15 vi ̣ trí dao động từ 172,30 – 560,88 μg/m3; nồng đô ̣ PM10 trung bình 24 giờ trong năm 2015 dao động trong khoảng 69,11 – 140,05 μg/m3; nồng độ trung bình giờ của NO2 quan trắc năm 2015 dao động từ 25,73 – 90,45 μg/m3; nồng độ trung bình giờ SO2 năm 2015 là 20,93 μg/m3; mứ c ồn với 60,18% số liệu quan trắc không đạt quy chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT, dao động từ 54,70 – 79,30 dBA

Để khống chế ô nhiễm không khí người ta tiến hành nhiều giải pháp, trong đó vấn

đề tăng cường trồng cây xanh ở khu vực đô thị là một trong những giải pháp hữu hiệu Cây hấp thụ mùi hôi và các loại khí gây ô nhiễm (các oxit nitơ, amoniac, sulfur dioxide và ozone) và các hạt lọc ra khỏi không khí bằng cách giữ chúng trên lá và vỏ của chúng

Cây xanh với quá trình quang hợp của mình đã hấp thu một lượng lớn khí CO2, giúp giảm thiểu đáng kể lượng khí thải, đồng thời không ngừng làm gia tăng lượng khí

O2 cho khí quyển

Tuy nhiên mức độ làm giảm ô nhiễm không khí nhờ thảm thực vật còn phụ thuộc vào tình hình địa phương [7],nếu những khu vực trồng cây trên những mảng lớn và ở khắp các nơi như các khu công viên, đường phố, khu rừng du lịch, các rừng phòng hộ ngoại thành Theo Bernatzky (1983) báo cáo rằng có tới 85% ô nhiễm không khí trong công viên có thể được lọc ra, và lên đến 70% trên một con đường có nhiều cây cối Còn theo một số tài liệu cho biết 1 ha cây xanh có khả năng hấp thu 8 kg CO2 /h = lượng

CO2 do 200 người thải ra/h

Theo Nguyễn Hữu Tuyên (1983) thì một hàng rào cây xanh có khả năng làm giảm 85% chất chì và một hàng cây rộng 30 m có thể hấp thụ hầu như toàn bộ bụi Một ha cây xanh có thể lọc từ không khí 50 – 70 tấn bụi/ năm

Trang 13

Bảng 1 Lượng ước tính các hạt kim loại được cây sao đen đường kính 20 cm, chiều

cao 9 m, với 2 độ che tách khỏi bầu không khí ô nhiễm trong 1 năm

Kim loại ô nhiễm Lượng tích lại trong 1 năm (tấn)

Nguồn: Trung tâm nghiên cứu và DV sinh vật cảnh

1.2.2 Cây xanh có tác dụng điều hòa nhiệt độ không khí

Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới, mùa hè thường rất nóng, nhiệt độ không khí

có khi tới 34 – 35oC hay cao hơn (nhất là ở các vùng có gió Lào phải chịu nhiệt độ cao, khô khan) Vào mùa hè, dưới tán lá nhiệt độ có thể giảm từ 2 đến 4oC bằng cách tiết hơi nước qua khí khổng của lá, ngăn cản không cho ánh sáng mặt trời chiếu thẳng xuống mặt đất và giảm hấp thu nhiệt trên nhựa Trong khu vực đô thị nhiệt độ còn thường tăng cao do hoạt động của các khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Do sự bê tông hóa quá cao, do mật độ dân cư cao, các đô thị được xây dựng bằng các vật liệu như gạch,

bê tông, nhựa đường, tole… được xem là những ốc đảo nhiệt (Moll, 1991) nhất là khi thiếu cây xanh Nhiệt độ trong thành phố thường cao hơn nhiệt độ ở những vùng đất quanh thành phố, độ chênh lệch nằm trong khoảng 3 – 5oC (Moll, 1991) hoặc 0,5 – 1,5oC (Federer, 1970)

Cây xanh mặt nước trong đô thị có thể làm giảm nhiệt độ không khí từ 3,3oC đến 3,9oC, khi diện tích đất cây xanh đạt 20% đến 50% diện tích đất đô thị Hiệu quả tổng hợp của bóng mát và bay hơi có thể làm giảm đi 17% đến 57% năng lượng cần thiết khi tăng 25% diện tích che phủ thảm thực vật Cây xanh đô thị có thể làm giảm từ 40% đến 50% cường độ bức xạ mặt trời và hấp thụ 70% đến 75% năng lượng mặt trời

Sử dụng nhiệt ẩm kế để đo nhiệt độ, độ ẩm ở khu vực có và không có cây xanh trong công viên 23/9 TP.HCM, tháng 5 năm 2005, các số liệu được đo tại 9 vị trí với 3

vị trí ở lỗ trống, 3 vị trí dưới tán cây lớn, 3 vị trí dưới tán cây thấp (<3m) trong công viên 23/9 vào các khoảng thời gian 7h – 12h – 17h trong ngày cho kết quả bảng dưới đây

Trang 14

Bảng 2 Kết quả đo nhiệt độ, độ ẩm tại công viên 23/9, TP.HCM năm 2005

7h sáng 12h trưa 17h chiều

ToC Độ ẩm % ToC Độ ẩm % ToC Độ ẩm % Chỗ trống 30 79 36,5 74,7 28,2 81,7 Dưới tán cây lớn 29 83,7 33,2 83 27 82 Dưới tán cây nhỏ 30 79 34,2 75,2 27 82

Nguồn: Tạp chí cảnh quan đô thị, 2006

Tại những vị trí trống và nơi có cây có sự chênh lệch đáng kể về nhiệt độ tới 3,33oC, chênh lệch về ẩm độ là 8,3%, đặc biệt vào lúc 12 giờ trưa, sự chênh lệch là lớn nhất Tại khu vực Tân Sơn Nhất, nhiệt độ ở đoạn đường có 2 hàng cây sọ khỉ lớn tạo bóng râm khoảng hơn 95% chỉ là 30,50C trong khi ngoài nắng cách đó 10 m nhiệt độ là 33,3oC (lúc14giờ 50, nắng vừa và có mây)

Trong quá trình quang hợp, lá cây đã hấp thụ nhiệt năng của không khí, do đó làm cho nhiệt độ không khí giảm xuống Khối lượng lá xanh càng nhiều, làm giảm nhiệt độ càng hiệu quả Trong rừng cây nhiệt độ không khí thường thấp hơn bên ngoài < 30 oC Đồng thời quá trình thoát hơi nước qua khí khổng của lá cũng làm giảm nhiệt độ không khí xung quanh Thực tế lượng nước cây hút vào rất nhiều nhưng dùng cho quang hợp lại rất nhỏ, còn chủ yếu qua con đường thoát hơi nước (95 – 98%) Ví dụ rễ cây hút

1000 g nước, cơ thể chỉ tăng 3 g chất khô Sự thoát hơi nước lãng phí nhưng cần thiết này diễn ra thường xuyên, đảm bảo cho các hoạt động sinh lí bình thường của thực vật nhưng qua đó đã làm giảm đáng kể nhiệt độ không khí xung quanh Tiết kiệm năng lượng bằng trồng cây thay vì sử dụng các máy điều hòa nhiệt độ có thể đạt 10 – 50% đối với làm mát, và đạt 4 – 22% đối với sưởi nóng

Các vườn cây, rừng cây, rặng cây, bồn hoa, bãi cỏ… trong đô thị góp phần tạo nên không khí mát mẻ trong lành cho nhân dân nghỉ ngơi, tránh tạo nên những khu vực ẩm thấp, mất vệ sinh Tán cây làm giảm bức xạ mặt trời chỉ còn 5 – 40% Nhất là che chắn bức xạ nhiệt trên các nền bê tông, tường bê tông Cây xanh làm tăng sự lưu thông không khí nhờ sự trao đổi khí mát dưới tán cây và bên ngoài, tạo thành gió cục bộ, hay các luồng gió nhờ các hàng cây trồng dọc ven đường

Thời gian

Vị trí

Trang 15

1.2.3 Cây xanh cản bớt tiếng ồn

Bất kì loại tiếng ồn nào cũng có thể gây hại tới sức khỏe con người Các nhà nghiên cứu cho thấy, những người làm việc lâu trong những điều kiện ồn ào thường lười suy nghĩ, dễ nôn nóng, chóng mỏi mệt

Tiếng ồn là đặc điểm của các đô thị, nhất là các đô thị có nhiều nhà máy, lò cao, các phương tiện giao thông, công tác xây cất nhà, dụng cụ sinh hoạt trong gia đình (máy giặt, máy khác, radio…)

Cây xanh có khả năng hấp thu và làm khúc xạ tiếng ồn, giảm bớt tác hại của nó Nhiều nghiên cứu cho thấy vỏ cây, tán cây, thảm cỏ đều có tác dụng như vật liệu xốp,

lá cây và thân cây chia cắt nhỏ sóng âm thanh từ đó làm giảm được khoảng 30% tiếng

ồn Đường phố có cây sẽ làm giảm tiếng ồn 5 – 6 lần so với đường không có cây Theo nghiên cứu của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, nếu trồng đai rừng rộng 30 m và cây cao 12 m

có thể giảm 50% tiếng ồn Tuy nhiên hiệu qủa này còn phụ thuộc vào loài cây trồng, bố trí, mật độ, diện tích trồng cây

Để xác định tác động của cành cây, lá và tán của chúng đối với ô nhiễm tiếng ồn, các loại cây khác nhau từ rừng Chitgar ở Tehran đã được điều tra và so sánh vào mùa xuân và mùa thu

Bảng 3 Sự suy giảm tiếng ồn ở các loại cây khác nhau cách nguồn tiếng ồn 100m

Kiểu Pinus eldarica

(họThông)

Robinia pseudoacasia (cây Dương Hòe, họ Đậu)

Kết hợp cả hai loại

Mùa hè Mùa thu Mùa hè Mùa thu Mức suy giảm dB(A) 16,9 14,7 9,7 19,0 12,9 Mức giảm độ ồn

Hình 3 Ảnh hưởng của khoảng cách và vành đai cây cối đối với sự suy giảm tiếng ồn

Trang 16

1.2.4 Cây xanh góp phần bảo tồn và làm tăng đa dạng sinh học cho khu vực

Các khu công viên, vườn hoa, thảo cầm viên… không chỉ tạo nên bầu không khí mát mẻ, trong lành cho mọi người nghỉ ngơi mà ở đó còn là nơi để thưởng thức, nghiên cứu các bộ sưu tập nhiều loài cây phong phú từ mọi miền đất nước và của thế giới Những vườn cây cảnh, vườn hoa luôn được các nghệ nhân sưu tầm và lai tạo, sáng tạo thêm sự đa dạng, hấp dẫn của thiên nhiên Ví dụ riêng cây xanh đường phố thuộc khu vực nội thành Tp HCM đã có tới 49 họ thực vật, cây xanh công viên có tới 73 họ Riêng Thảo cầm viên có thành phần cây của 360 loài thuộc 64 họ Tao Đàn có 32 họ Những khu trồng hoa kiểng, bonsai như Gò Vấp, khu du lịch Đầm Sen, vào các dịp hội hoa xuân thể hiện rõ nét sự đa dạng của hệ thực vật trong thành phố Điều đó làm tăng gía trị khoa học của cả hệ thống rừng và cây xanh trong đô thị

1.2.5 Cản bớt tốc độ gió bão

Lớp không khí xung quanh ta luôn luôn chuyển động, ngoài chuyển động thẳng đứng, còn chuyển động ngang Chính chuyển động ngang này sinh ra gió Tốc độ gió mạnh nhưng nếu gặp vật cản, sẽ bị giảm một phần đáng kể Hàng cây cũng có tác dụng ngăn cản đó.” Những dải rừng cây có tác dụng mạnh mẽ trong một phạm vi bằng 20 –

30 lần độ cao ở phía trước rừng và 40 –50 lần độ cao ở phía sau rừng

Những hàng cây, rặng cây, đặc biệt những rừng cây phòng hộ, rừng cây cảnh quan

du lịch nằm ở xung quanh các đô thị góp phần quan trọng, cản trở tốc độ gió bão, hạn chế sự thiệt hại do gió bão gây nên

Hiệu lực phòng hộ này tùy thuộc giống cây, bố trí, số lượng cây trồng Những cây

có thân cao, gỗ tốt, sức chịu đựng gió khỏe, có bạnh vè, trồng thành nhiều lớp sẽ có hiệu quả cao, không chỉ ngăn cản bớt tốc độ gió mà còn hạn chế được những luồng gió lạnh như ở phía bắc vào các thời kì có gió mùa đông bắc

1.2.6 Ngăn đỡ hạt mưa, bảo vệ môi trường, chống xói mòn đất và các công trình kiến trúc khác

Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới, nắng to, mưa nhiều lại tập trung vào một số tháng trong năm Có những trận mưa lớn làm hư hỏng đường sá, gây xói mòn, sụt lở đường đi, ảnh hưởng xấu tới các công trình xây dựng Đặc biệt ở những nơi có địa hình dốc như nhiều thành phố ở nước ta, việc trồng cây phân tán và tập trung sẽ có tác dụng chế ngự dòng chảy rất lớn

Trang 17

Ở các vùng ngoại ô rừng phòng hộ không chỉ có tác dụng bảo vệ khỏi gió bão, mưa lũ gây ra cho vùng nội thành, mà ở nơi này diện tích canh tác còn nhiều do vậy cây xanh ở đây còn có tác dụng chống xói mòn đất, bảo vệ mùa màng, bảo vệ các hệ thống thủy lợi, nhà cửa của người dân

Cây xanh có thể làm chậm sự bốc hơi nước, tăng độ ẩm không khí Rễ cây có tính thấm hút nước tốt Vì thế khi đến mùa mưa bão, cây có thể giúp giữ nước và cản trở quá trình chảy ào ạt của dòng nước, thổi ào ạt của gió, từ đó hạn chế tình trạng bão,lũ lụt, xói mòn đất do nước chảy mạnh Lượng nước do rễ cây giữ lại có thể được tái tạo

và trở thành các mạch nước ngầm Chính vì thế trồng nhiều cây xanh để giúp người dân giảm bớt các thiệt hại do thiên tai mang lại

1.2.7 Cây xanh trong kiến trúc cảnh quan đô thị

Từ xa xưa cây xanh đã được đưa vào trồng ở đô thị xen các kiến trúc nhà ở, vườn,

ở các đình chùa như ở Trung Quốc, Hy Lạp, Tây Á, trong đó phải kể tới công trình nổi tiếng là vườn treo Babylon cách đây 600 năm TCN

Cây xanh làm tăng mĩ quan chung của đô thị, bên cạnh đó việc bố trí, sắp xếp cây thế nào cho được hài hòa giữa chúng với nhau, giữa chúng với các công trình khác tại từng khu vực Việc chọn lựa loài cây, bố trí cây trồng, chăm sóc cây cảnh… là những công trình nghệ thuật thực sự Nó không chỉ mang đến gía trị về tính đa dạng sinh học quí báu, mà còn thể hiện nghệ thuật thẩm mĩ phong phú của mỗi đô thị, mỗi dân tộc, thậm chí của từng nhà sáng tạo Những công trình cây xanh thực sự làm tăng nét văn hóa – nghệ thuật của đô thị Mặc dù vấn đề cây trồng đô thị diễn ra ở mọi nơi trên thế giới, nhưng các nhà chuyên môn vẫn luôn mong muốn gìn giữ nét văn hóa nghệ thuật độc đáo riêng của mỗi vùng, mỗi con đường, mỗi vườn hoa, mỗi dân tộc …có sự kết hợp hài hòa và mang được tính hiện đại

1.2.8 Các lợi ích khác của cây xanh đối với môi trường đô thị

❖ Vai trò tinh thần

Những mảng xanh trong đô thị tạo ra môi trường mát mẻ, trong lành, giúp cho con người thư giãn, nghỉ ngơi sau những giờ làm việc, học tập căng thẳng góp phần nâng cao hiệu quả làm việc Việc tham gia trồng, chăm sóc bảo vệ cây xanh cũng làm thắt chặc tình cảm giữa mọi người, giữa con người với thiên nhiên; nâng cao tác dụng giáo

Trang 18

dục, nhận thức cho trẻ em về giá trị, vai trò cây xanh và vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái Cây xanh đô thị còn tạo nét văn hóa, đặc sắc riêng từng vùng

❖ Những nguồn lợi kinh tế trực tiếp và gián tiếp của cây xanh

- Nguồn lợi kinh tế trực tiếp

Mặc dù vấn đề kinh tế không phải là mục tiêu chủ yếu của việc trồng cây xanh đô thị, nhưng thực tế nó đã góp phần không nhỏ vào nguồn lợi này Thu hoạch hoa cung cấp cho công nghiệp nước hoa như hoa lan, hoa hồng, thiên lý, thu hoạch quả như dừa,

vú sữa, me, sấu,…Qua việc chặt tỉa, chăm sóc cây hàng năm đã cung cấp một lượng củi, vật liệu xây dựng đáng kể cho người dân

- Nguồn lợi kinh tế gián tiếp

Cây xanh đô thị cũng là nguồn cung cấp hạt giống đáng kể nhờ khả năng dễ kiểm soát tốt hơn việc tuyển chọn cây giống cũng như chất lượng hạt giống như hệ thống cây

ở các vườn bách thảo, vường sưu tập Nhất là đối với loài cây hiện còn rất ít, hay ở các rừng sâu, hiểm trở khó khăn cho việc thu hái hạt giống và nghiên cứu

Một nguồn lợi kinh tế đáng kể khác đó là các loài động vật hoang dã, chim, ong… trở lại sinh sống và phát triển trong các công viên, rừng phòng hộ, rừng cảnh qua Các nguồn thu từ thủy sản gia tăng khi thực hiện kết hợp làm giàu rừng ven đô, các dự án nông lâm kết hợp

Đặc biệt nguồn lợi kinh tế thông qua du lịch sinh thái tham quan các công viên tới các Công viên như Công viên Đầm sen, Thảo Cầm Viên TP.HCM Hay nguồn thu từ các cuộc triển lãm hội hoa xuân

❖ Góp phần vào quốc phòng, an ninh

Những rừng cây ven đô có vai trò rất lớn đối với vấn đề an ninh quốc phòng Các rừng sát ven đô Tp HCM trước đây từng được lực lượng kháng chiến sử dụng làm địa bàn hoạt động để tiếp cận về thành phố Khi các rừng ven đô được phát triển, người dân sống ổn định tại nơi đây sẽ giúp tăng cường an ninh cho thành phố

Trang 19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG MẢNG XANH VÀ TỔ CHỨC KIẾN TRÚC CẢNH QUAN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA CÂY XANH TẠI TP.HCM

2.1.1 Không gian sinh trưởng của cây xanh

Không gian sinh trưởng là yếu tố quan trọng nhất trong việc thiết kế địa điểm cây trồng đô thị Không gian sinh trưởng của cây xanh ở đây bị giới hạn bởi các nhà cao tầng, cây kế bên, đường dây điện, lề đường và các công trình ngầm dưới đất như cống thoát nước, ống dẫn nước, cáp quang, cáp điện ngầm, các chân móng tường nhà… Và

cả những hạn chế do không gian cần thiết cho thiết kế tầm nhìn giao thông, biển báo, đèn đường, khoảng cách dành cho người đi bộ… Vấn đề này khiến nhà thiết kế cây trồng phải cân nhắc khi chọn loài cây và vị trí trồng cây cũng như giải pháp kỹ thuật phù hợp cho việc tỉa, cắt cành nhánh sau khi cây trưởng thành Đồng thời để thực hiện các dự án phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng, cây xanh còn bị chặt bỏ để lấy làm cao ốc, trung tâm thương mại và dự án cải tạo nâng cấp đường, dẫn đến không gian sống sinh trưởng của cây xanh bị suy kiệt đến mức báo động đỏ

2.1.2 Kích thước của cây

Các tuyến đường lớn có vỉa hè rộng trên 5m trồng các loại cây khi trưởng thành

có độ cao tối đa khoảng 15m

Các tuyến đường hẹp có vỉa hè rộng từ 3m đến 5m trồng các loại cây khi trưởng thành, có độ cao tối đa khoảng 12m

Tùy theo chủng loại, khoảng cách giữa các cây trồng trên đường phố có thể từ 7m đến 10m

Cây trồng phải cách trụ điện 2m, cách miệng hố ga 2m, cách giao lộ 5m, cách đầu dải phân cách 3m Vị trí trồng bố trí theo đường ranh giới giữa 2 nhà

Các tuyến đường có lưới điện trung cao thế chạy dọc bên trên vỉa hè hoặc vỉa hè

có diện tích hẹp, có công trình ngầm chỉ được trồng các loại cây cao không quá 4m hoặc trồng hoa, trồng kiểng, trồng dây leo có hoa đẹp

Các tuyến đường có chiều dài dưới 2 km chỉ được trồng một loại cây Các tuyến đường dài trên 2 km có thể trồng từ 1 đến 3 loại cây khác nhau

Các dải phân cách có bề rộng từ 2m trở xuống chỉ được trồng các loại kiểng hoặc loại cây bụi thấp dưới 1m5 Các dải phân cách có bề rộng từ 2m trở lên có thể trồng các

Trang 20

loại cây thân thẳng với chiều cao phân cành từ 5m trở lên Bề rộng của tán, nhánh cây không rộng hơn bề rộng của dải phân cách

Trồng dây leo ở các bờ tường, trụ cầu của hệ thống đường dẫn, cầu vượt để tạo thêm nhiều mảng xanh trên đường phố, cần có khung với chất liệu phù hợp cho dây leo

và bảo vệ tường, trụ cầu

2.1.3 Đất trồng cây

Đất trồng cây trong đô thị thường bị thay đổi do việc xây dựng như cát xây dựng, hoá chất, đá và các vật thải từ quá trình xây dựng Đất bị nén chặt, khả năng thoát nước trao đổi khí kém Các yếu tố đó đã gây khó khăn cho các quá trình trao đổi nước, khí, dinh dưỡng của hệ rễ cây, ảnh hưởng tới sinh trưởng bình thường của cây Ngoài ra sự cân bằng nước, khí trong đất bị vi phạm gây ảnh hưởng tới hệ vi sinh vật trong đất, từ

đó cũng gây ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây Vì vậy trong kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xanh đô thị, kế hoạch xử lý đất được lên thiết kế cụ thể và kiểm tra chặt chẽ trước khi trồng cây mới mong làm giảm những hạn chế như đã nêu Cách tốt nhất là nên thay đất mới khi trồng cây, bổ sung lượng phân bón có nhiều chất hữu cơ, đất đen, tro trấu, bánh dầu vừa cải thiện được lý tính cho đất vừa thúc đẩy hoạt động của hệ vi sinh vật giúp cây trồng sinh trưởng thuận lợi, hoặc có thể bổ sung thêm các dạng phân bón giàu NPK với đất quá nghèo dinh dưỡng, cần thúc đẩy cây sinh trưởng nhanh hơn

2.1.4 Tiểu khí hậu

Sự bê tông hóa của đô thị, các hướng xây dựng nhà cửa, các công trình kiến trúc, đường đi, độ cao và khoảng cách giữa các khu nhà cao tầng … đã tạo nên tiểu khí hậu trong đô thị Chế độ tiểu khí hậu có thể thay đổi ở mỗi khu vực ngay trong đô thị Ví dụ nhiệt độ tăng lên trong khu vực có nhiều nhà máy công nghiệp Giữa các dãy phố cao tầng có thể tạo ra các các hiệu ứng đường hầm và gây nên hiện tượng gió xoáy trên đường đi, hay sự che chắn của các khu nhà cao tầng theo hướng đông - tây làm hạn chế chế độ chiếu sáng cho cây xanh trong ngày…

Trang 21

2.2 PHÂN LOẠI HỆ THỐNG MẢNG XANH ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.2.1 Phân loại theo mục đích sử dụng

Cây xanh sử dụng mục đích công cộng tất cả các loại cây xanh được trồng trên đường phố và ở khu vực sở hữu công cộng (công viên, vườn thú, vườn hoa, vườn dạo, thảm cỏ tại dải phân làn, các đài tưởng niệm, quảng trường)

Cây xanh sử dụng hạn chế là cây xanh phục vụ hạn chế cho các khu công nghiệp, kho tàng, trường học, công trình y tế, khu thể dục, thể thao, văn hóa, thông tin, tôn giáo…, cây ở các hộ dân cư, chủng loaì phong phú (cây bóng mát, cây cảnh, cây ăn trái), tuy nhiên số cây xanh này không tham gia trong thống kê qũy cây xanh công cộng, nhưng chúng đóng góp vào bảo vệ môi trường tại chỗ Ở TP.HCM, số cây xanh này chiếm khoảng 699,48 ha (không bao gồm phần cây hộ dân cư)

Cây xanh chuyên dụng là cây xanh tổ chức theo nhu cầu riêng như sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học (TP.HCM chưa có, hiện đang sử dụng tại Thảo Cầm Viên), vườn thực vật, vườn ươm, khu cây xanh cách ly (nghĩa trang, khu để xử lý nước thải, các dải phân cách khu công nghiệp và dân cư)

2.2.2 Phân loại theo nhóm cây và đặc điểm thực vật

- Cây bóng mát

Cây bóng mát là những cây có thân gỗ lớn, lá thường xanh hay rụng Chúng có chiều cao từ 5 – 50 m, sống lâu 30 – 40 năm Có loài sống hàng nghìn năm Cây bóng mát có nhiều loại, thừơng được chọn trồng ở đường phố, khu nhà ở, công sở, trường học, vườn hoa…Trong cây bóng mát có thể chia ra các loại: cây bóng mát thường, cây bóng mát có hoa đẹp, ăn qủa, hay có hoa thơm

- Cây trang trí là những cây thân gỗ nhỏ mọc bụi, hay riêng lẻ, cây leo giàn và cây thân thảo Chúng thường được trồng làm cảnh để trang trí ở tầng thấp, trồng trong chậu trưng bày trong nhà, trồng dàn leo Nhóm này thường gồm các loại:

- Nhóm cỏ:

Cỏ là mảng màu trang trí tầng thấp Cỏ có chức năng làm “nền” cho đất xanh, có tác dụng tạo nên một không gian rộng lớn hơn thực tế, tạo nên cảm giác yên tĩnh Mặt khác cỏ còn có tác dụng rõ rệt để chống xói mòn đất, giữ ẩm, lắng lọc bụi bặm Ở nước

ta hiện nay trồng phổ biến các loại cỏ gà, cỏ lá tre, cỏ gừng, một số loại được nhập về

Trang 22

trồng tại các sân thể thao Mặt khác, trồng cỏ cũng tham gia vào việc giảm nhiệt độ tới

30C giữa nơi có trồng cỏ và đất trống

2.2.3 Phân loại theo độ cao

Độ cao cây có ảnh hưởng tới sự tổ chức, phối cảnh Phân loại theo chiều cao cây

từ các taì liệu thực vật học (chiều cao tự nhiên trong điều kiện bình thường) kết hợp chiều cao tại nơi nghiên cứu chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác có thể gây ức chế như

độ sâu tầng đất, mực nước ngầm, ánh sáng, tác động nhiệt do bê tông hóa xung quanh…trên cơ sở đó nhằm xác định chiều cao trung bình của cây để phối hợp trồng cây tại khu vực đó hay kết hợp hài hòa với công trình kiến trúc tại đó

2.3 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG MẢNG XANH TẠI TP HCM

2.3.1 Thực trạng các loại rừng

Theo Quyết định số 3122/QĐ-UBND ngày 15 tháng 7 năm 2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc phê duyệt số liệu chi tiết diện tích rừng và đất lâm nghiệp đến ngày 31 tháng 12 năm 2009 có 41.634 ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng và cây lâm nghiệp ngoài quy hoạch là 38.954 ha: rừng trong quy hoạch 3 loại rừng

là 33.659 ha, cây lâm nghiệp ngoài quy hoạch là 5.295 ha, gồm:

- Huyện Bình Chánh: 832,91 ha trong quy hoạch và 1.790,46 ha ngoài quy hoạch với các loài cây tràm bông vàng, tràm cừ và bạch đàn;

- Huyện Cần Giờ: 31.967,48 ha trong quy hoạch, chủ yếu là cây đước và các loài cây rừng ngập mặn

- Huyện Củ Chi: 500,26 ha trong quy hoạch chủ yếu là các loài cây rừng mưa nhiệt đới, cộng với 2.765,62 ha ngoài quy hoạch với các loại cây tràm bông vàng, tràm cừ và bạch đàn;

- Huyện Hóc Môn: 305,41 ha trong quy hoạch chủ yếu các loài cây rừng mưa nhiệt đới, cộng với 540,15 ha ngoài quy hoạch với các loại cây tràm bông vàng, tràm cừ và bạch đàn;

- Quận 9: 56,61 ha trong quy hoạch và 198,62 ha ngoài quy hoạch với các loại cây tràm bông vàng, bạch đàn

2.3.2 Thực trạng mảng cây xanh thành phố

Trang 23

Theo Sở Giao thông vận tải, thực trạng mảng cây xanh thành phố và công tác quản

lý mảng cây xanh thành phố như sau:

- Cây xanh đường phố trên địa bàn thành phố theo thống kê có 72.334 cây trồng trên đường phố, do Sở Giao thông vận tải và các quận, huyện quản lý:

+ Khu vực 13 quận nội thành cũ trồng 39.273 cây xanh trên 660 tuyến đường, phân bố không đồng đều giữa các quận, số lượng cây tập trung nhiều nhất ở quận 1 (chiếm 20,1%), kế đến lần lượt là quận 5, quận 3, Tân Bình, Bình Thạnh (chiếm từ 9 - 10%) Ngoại trừ quận Bình Tân vừa hoàn tất công tác điều tra, đang phân loại cây xanh

để đưa vào quản lý, còn lại các quận có ít cây nhất là Phú Nhuận (chiếm 2,2%), tiếp theo là quận 4, quận 6, quận Gò Vấp (chiếm từ 3 - 5%) Về cơ cấu chiều cao: quận 1, 3

và 5 có tỷ lệ cây loại 3 (cao > 12m, kính > 50cm) nhiều hơn các quận khác Các loài cây gỗ phổ biến: Dầu con rái, Lim xẹt, Viết, Bằng lăng, Me chua, Me tây, Sao đen, Phượng vĩ, Sọ khỉ…

+ Khu vực 6 quận mới có khoảng 19.000 cây xanh trên khoảng 140 tuyến đường Cây xanh chủ yếu trồng tự phát, chưa ổn định và có nhiều chủng loại, các loại cây gỗ phổ biến là Keo lá tràm, Bàng, Dừa, Trứng cá, Keo mỡ, Viết, Sọ khỉ, Dầu, Phượng vĩ, Bạch đàn…

Trong những năm qua, đã có nhiều chương trình, dự án, công trình mở rộng các tuyến đường, cùng với việc trồng nhiều cây xanh đường phố, do vậy số lượng cây xanh phát triển rất nhanh; tuy nhiên, ở một số nơi, cảnh quan đường phố chưa đẹp do chủng loại, kích thước cây không đồng đều trên cùng một tuyến đường; ngoài ra một số cây xanh già cỗi chưa bảo đảm an toàn vào mùa mưa Một số loài cây không phù hợp với tiêu chuẩn cây trồng đường phố như cây Bàng do nhánh giòn dễ gãy, dễ nhiễm sâu bệnh; cây Bạch đàn, Keo lá tràm, Dừa…

+ Cây xanh tại các vòng xoay, tiểu đảo, mũi dùi: hiện có 27 điểm cây xanh đường phố tại các nút giao thông, tiểu đảo

- Cây xanh sử dụng công cộng: là diện tích công viên cây xanh sử dụng chung, phục vụ lợi ích công cộng, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa, rèn luyện thân thể và mỹ quan đô thị của đông đảo người dân thành phố Thành phố hiện có 609,18 ha công viên Chỉ tiêu diện tích cây xanh sử dụng công cộng toàn thành phố đạt 0,85 m2/người, trong đó khu vực nội thành cũ chỉ đạt 0,23 m2/người, khu vực quận mới 0,28 m2/người và ngoại thành 2,59 m2/người

Trang 24

- Các loại cây xanh khác bao gồm: cây lâu năm, khuôn viên, hoa kiểng… với diện tích năm 2009 là trên 42.000 ha; trong đó, diện tích cây lâu năm là 36.090 ha, hoa kiểng

và đồng cỏ chăn nuôi… là 6.097 ha Ngoài việc duy trì sản xuất nông nghiệp nâng cao đời sống của người dân đã góp phần rất lớn trong việc nâng độ che phủ của mảng xanh trên địa bàn thành phố

2.4 TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KIÊN TRÚC CẢNH QUAN TẠI TP.HCM

Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan (KTCQ) là một hoạt động định hướng của con người nhằm mục đích tạo dựng, tổ hợp và liên kết các không gian chức năng trên cơ sở tạo ra sự cân bằng và mối quan hệ tổng hòa của hai nhóm thành phần tự nhiên

và nhân tạo của KTCQ Trong đó thiên nhiên là nền của kiến trúc cảnh quan

Những nhân tố chính ảnh hưởng đến tổ chức không gian KTCQ bao gồm:

- Các thành phần của KTCQ: thành phần tự nhiên và thành phần nhân tạo

- Các yêu cầu của không gian KTCQ: yêu cầu sử dụng, yêu cầu thẩm mỹ, yêu cầu bền vững, yêu cầu kinh tế

- Quy luật tổ chức không gian:

Cơ sở bố cục cảnh quan: Giá trị thẩm mỹ của không gian KTCQ được con người cảm thụ thông qua các giác quan, trong đó cảm thụ bằng thị giác là chủ yếu Về mặt thị giác, ba yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả cảm nhận và là cơ sở cho bố cục cảnh quan gồm có: điểm nhìn, tầm nhìn và góc nhìn

Tạo hình không gian: Tất cả các không gian tự nhiên và không gian nhân tạo đều được tạo thành từ ba yếu tố cơ bản là: mặt nền, mặt trần và mặt đứng ngăn không gian Tuỳ theo thành phần về ba yếu tố trên, không gian nói chung có thể chia thành ba loại chính sau: không gian đóng, không gian mở và không gian nửa đóng nửa mở Tạo cho không gian một hình dáng phù hợp, quy mô, tính chất hợp lý với chức năng sử dụng và nhu cầu thẩm mỹ của con người là vấn đề quan trọng trong việc tổ chức không gian KTCQ

Các quy luật bố cục cơ bản như: Quy luật về đường trục bố cục, quy luật bố cục đối xứng, quy luật bố cục không đối xứng, quy luật tỷ lệ không gian, quy luật về sự đồng nhất và sự tương tự, quy luật về sự tương phản, quy luật sáng tối và quy luật về màu sắc

❖ Một vài ví dụ cụ thể tại TP.HCM

Trang 25

Tổ chức cảnh quan kiến trúc trục đường Mai Chí Thọ - Võ Văn Kiệt

Theo đồ án quy hoạch, trục đường Mai Chí Thọ - Võ Văn Kiệt có tổng diện tích nghiên cứu 650,96 ha, chiều dài tuyến đường 13,54 km đi qua khu vực Quận 1, Quận

4, Quận 5, Quận 6, Quận 8 và quận Bình Tân Điểm bắt đầu từ Cột cờ Thủ Ngữ, điểm kết thúc là nơi giao giữa Quốc lộ 1A với đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương Trục đường Mai Chí Thọ - Võ Văn Kiệt có tính chất là trục hành lang đô thị sông nước gắn kết với hệ thống giao thông xuyên tâm và giao thông công cộng

Ranh giới khu vực nghiên cứu nằm trong phạm vi hành lang khoảng 150m - 200m tính từ ranh lộ giới hai bên tuyến đường Mai Chí Thọ - Võ Văn Kiệt

Khu vực có 4 dạng không gian mở:

Không gian mở dọc theo kênh: Hình thành một không gian thích hợp tổ chức các hoạt động sinh hoạt ngoài trời cho người dân trong khu vực cũng như các hoạt động du lịch Tăng cường khả năng liên kết hai bên bờ kênh và tổ chức các hoạt động ngoài trời Không gian mở dọc các trục đường gồm: Khu vực thương mại dịch vụ với không gian đường phố có các tiện ích phục vụ các hoạt động mua sắm, giao thương với vỉa hè, lối đi có mái che (thường là khoảng lùi vào ở tầng trệt của các công trình thương mại), ghế ngồi,…, mặt tiền đường phố bắt mắt và tạo cảm giác an toàn, ấm cúng; Khu vực văn phòng tạo những không gian phục vụ nghỉ ngơi, giải trí và giao tiếp xã hội; Khu vực dân cư với không gian đường phố thân thiện, an toàn, và có bản sắc riêng của mỗi cộng đồng dân cư

Không gian công viên: Có chức năng là công viên văn hóa - thể thao - vui chơi giải trí đa chức năng, đồng thời kết hợp phát triển du lịch với tuyến du lịch dọc theo kênh Tàu Hủ - Bến Nghé Hệ thống công trình phụ trợ, các tiện ích công cộng cũng như các thiết kế kiến trúc, nghệ thuật cộng đồng có tỷ lệ tương thích với con người và với cảnh quan xung quanh, tạo cảm giác thân thiện và gần gũi với thiên nhiên, tạo thành hệ thống hành lang xanh có khả năng thoát nước bề mặt cao cùng với hệ thống hồ điều hòa làm tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho khu vực

Không gian mở trong nội bộ các ô phố: Đề án không đi vào chi tiết thiết kế, tuy nhiên, bố trí hệ thống không gian mở nội bộ giúp hình thành các đường đi bộ có khả năng liên kết giữa các khu vực chức năng, các nhà ga tuyến xe buýt nhanh (BRT) và các khu vực dân cư, các khu vực chức năng sử dụng đất hỗn hợp

Trang 26

Tổ chức cảnh quan kiến trúc trục đường Phạm Văn Đồng

Trục đường Phạm Văn Đồng có tính chất là trục giao thông mới phát triển đô thị quan trọng của thành phố kết hợp thương mại dịch vụ và phát triển giao thông công cộng, cải tạo cảnh quan kiến trúc đô thị

Định hướng không gian đô thị dọc theo Trục đường Tân Sơn Nhất - Bình Lợi - Vành đai ngoài (trục đường Phạm Văn Đồng) theo hướng hình thành trục phát triển đô thị hiện đại, hài hòa giữa cải tạo, chỉnh trang đô thị trên cơ sở di dời các cơ sở công nghiệp cũ, chỉnh trang các khu dân cư chưa được đầu tư đồng bộ về hạ tầng và cấu trúc

đô thị chưa hoàn thiện và phát triển các cụm công trình nhà ở kết hợp chức năng thương mại, dịch vụ, phát huy tốt lợi thế về giao thông, cải tạo không gian, cảnh quan và môi trường đô thị

Tổ chức không gian đô thị nén dần về hướng Tân Sơn Nhất (quận Tân Bình, quận Bình Thạnh) và giãn dần về hướng quận Thủ Đức, thể hiện qua hệ số sử dụng đất và tổ chức tầng cao xây dựng (đường chân trời)

Phát triển các cụm công trình chung cư cao tầng kết hợp thương mại dịch vụ tại các khu vực có quỹ đất chuyển đổi lớn thuận tiện về giao thông công cộng

Giữ lại và cải tạo nâng cấp một số khu dân cư hiện hữu có hạ tầng giao thông tương đối đồng bộ, mật độ xây dựng cao, cảnh quan và kiến trúc đô thị tương đối khang trang

Bảo tồn và phát huy những khu vực cảnh quan, các khu vực công trình có ý nghĩa

về lịch sử và văn hóa như: khu vực cảnh quan sông Sài Gòn, Làng mai, đường Kinh Lý,…

Trang 27

CHƯƠNG 3 CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CẢNH QUAN ĐÔ

Vấn đề tạo một môi sinh tốt cho cuộc sống và làm việc ở các đô thị nói chung và

TP HCM nói riêng là một yêu cầu lớn Trong đó yếu tố quan trọng để phát triển một môi trường, một cuộc sống tốt thì không thể thiếu cây xanh Tuy nhiên trong khu đô thị thì không thể để cây xanh mọc và phát triển một cách không có tổ chức được và cũng tùy theo khu vực mà sẽ trồng những loại cây khác nhau, cách bố trí khác nhau Vậy nên việc quy hoạch phát triển hệ thống mảng xanh tại TP.HCM là một công việc rất quan trọng vừa là sự tổng hợp khoa học vừa là sự sắp xếp , tổ chức không gian một cách nghệ thuật

❖ Yêu cầu

Khi tiến hành quy hoạch ta cần phải xét đến diện tích và số lượng cây xanh đảm bảo rằng không những các khu vực phân bố hợp lý về số lượng cây trồng mà còn tạo thuận lợi cho các hoạt động xã hội của con người như ở khu du lịch, trường học, bệnh viện hay khu nhà ở, nhà máy… Diện tích cây xanh từng khu vực cần tỉ lệ với mật độ người ở và đáp ứng được nhiệm vụ ở đó Mỗi khu vực có quy hoạch cây xanh riêng nhưng không đi chệch mục đích, yêu cầu chung, phải đảm bảo các điều kiện, vệ sinh,

mĩ quan, chỗ nghỉ ngơi tốt cho nhân dân

Chọn được càng nhiều giống cây khác nhau, càng tạo được nhiều phong cảnh tươi đẹp cho đô thị Mặt khác cây xanh kết hợp hài hòa, tôn tạo thêm vẻ đẹp, phát huy tác dụng của các công trình xung quanh như nhà ở cao tầng, biệt thự, bồn hoa, tượng đài… Vấn đề thiết kế cây xanh trong đô thị cần được tiến hành sớm và có kế hoạch rõ ràng ngay từ đầu Cần nghiên cứu, bố trí hợp lí, khoa học, tránh chắp vá, sửa đổi quá nhiều sau này cũng như tránh gây trở ngại cho các công trình khác Những phần diện tích nếu có kế hoạch cụ thể trước sẽ rất thuận lợi, chủ động cho việc thiết kế hệ thống cây xanh ở mỗi khu vực

Trang 28

❖ Các chỉ tiêu định mức phát triển mảng xanh tại TP.HCM

Việc xác định các chỉ tiêu định mức về phát triển mảng xanh tại bất kỳ một khu vực nào trong đô thị phải căn cứ vào quy mô dân số, điều kiện khí hậu, địa hình đất đai

Định mức phát triển mảng xanh tại TP.HCM như sau:

- Tiêu chuẩn đất cây xanh sử dụng công cộng: 12-15m2/người

- Tiêu chuẩn đất cây xanh công viên: 7-9 m2/người

- Tiêu chuẩn đất cây xanh vườn hoa: 3 – 3,6 m2/người

- Tiêu chuẩn đất cây xanh đường phố: 1,7 – 2 m2/người

Tuy nhiên về hệ thống mảng xanh trong đô thị còn cần kể đến các mảng xanh trong khuôn viên gia đình, mảng xanh trên các kênh rạch, ao hồ, mảng xanh thời vụ Những mảng xanh này phát triển góp phần làm tăng diện tích mảng xanh cho TP.HCM

3.1.2 Quy hoạch trồng cây ở một số khu vực trong đô thị tại TP.HCM

3.1.2.1 Trồng cây ở đường phố

Thông thường đối với các đường trục chính của đô thị, các đại lộ có vỉa hè rộng trên 3m, mặt đường trên 18m và đường đôi hai chiều có thể bố trí một hàng cây bụi thấp

ở giữa, trên mỗi vỉa hè trồng một hàng cây ví dụ như đường Phạm Văn Đồng, đường

Võ Văn Kiệt, đường Cộng Hòa….Cách bố trí này sẽ tăng khả năng che chắn giữa các hàng cây ,vừa trồng được nhiều cây, vừa đẹp mắt

Đối với đường đôi hai chiều, vỉa hè hẹp dưới 3m thì bố trí một hàng cây ở chính giữa mặt đường, còn vỉa hè trồng cây bụi thấp ví dụ như đường Trường Chinh, đường Xuyên Á,…

Trang 29

Đối với các đường rộng dưới 12m, bố trí một hàng cây trên mỗi vỉa hè, nếu vỉa hè rộng 3m Còn nếu vỉa hè rộng hơn có thể trồng hai hay nhiều hàng cây ví dụ như đường Nguyễn Thái Sơn,…

Đối với những đường hẹp, bố trí thế nào để ngọn cây hai bên đường khép thành một vòm cành lá che nắng cho người đi đường và tạo nên một cảnh quan vui mắt vi dụ như đường Võ Văn Tần, đường Trần Hưng Đạo,…

Ở những đoạn đường cong, nơi nhiều đường giáp nhau hai bên đầu cầu, nên dành một khoảng trống, không trồng cây tại mối đường giáp nhau đó để cho lái xe và người

đi đường nhìn đường dễ dàng khoảng cách an toàn đó rộng hẹp tùy tình hình từng nơi Nếu đường tốt, mặt đường rộng, xe chạy nhanh thì cần để khoảng cách rộng 100 –150

m Nếu đường xấu hẹp, tốc độ xe chạy chậm thì khoảng cách đó độ 30 – 50 m Trên khoảng cách an tòan đó có thể trồng cây hàng rào xén, cây bụi thấp có chiều cao dưới 0,5 – 0,6 m

Trong việc trồng cây đường phố lưu ý phải trồng thẳng hàng song song theo lề đường, không có cây nào chệch ra khỏi hàng để đề phòng tai nạn giao thông Khoảng cách giữa các cây tùy theo loài cây, mặt đường… thường từ 4 – 6 m

Một số tiêu chuẩn chọn cây trồng vỉa hè:

- Cây có thân thẳng tự nhiên, gỗ tốt, không giòn, dễ gãy bất thường gây tai nạn Cây có tán, cành lá gọn: sấu, chẹo, lát hoa…

- Rễ cái và phần lớn bộ rễ ăn sâu trong đất, giữ cây vững chắc, khó bị chúc đổ: muồng vàng nhạt, muồng vàng thẫm, nhội… Không có hoặc ít rễ ăn nổi gần mặt đất để tránh làm hư hại vỉa hè, mặt đường và công trình xây dựng xung quanh gốc cây

- Lá có bản rộng như tếch, trẩu, vàng anh…

- Hoa, qủa không hấp dẫn ruồi nhặng làm ảnh hưởng đến vệ sinh như cây đa, đề, trứng cá…

- Đời sống cây tương đối dài để đỡ tốn kém khi phải trồng lại Có sức lớn tương đối nhanh, không quá chậm để sớm phát huy tác dụng

- Cây có sức chống chịu tốt với điều kiện tự nhiên, và sâu hại phá hoại

- Cây có hoa thơm, đẹp hay có khả năng phóng chất phitonxít chống vi khuẩn trong không khí, cây có giá trị kinh tế

3.1.2.2 Trồng cây ở vườn hoa, công viên

Trang 30

Vườn hoa, công viên với mục đích tạo nơi nghỉ ngơi, giải trí cho nhân dân, mặt khác nơi đây thường được coi như là một cảnh thiên nhiên thu hẹp lại, trong đó cây cối

là thành phần quan trọng

Cây trồng gồm cây lớn, cây nhỏ, cây leo giàn, cỏ… Trong đó cây lớn thường giữ vai trò quan trọng hơn nên rất lưu ý khi chọn loài cây này đáp ứng yêu cầu của mỗi công viên, vườn hoa Ở đây tiêu chuẩn lựa chọn khá phong phú: cây xanh quanh năm, rụng lá theo mùa, lá rộng, cây sống lâu năm… vì vậy rất dễ lựa chọn, phụ thuộc khả năng phối cảnh, thẩm mĩ của các nhà thiết kế như công viên Lê Văn Tám, công viên Bạch Đằng, công viên 23/9,… đa dạng cây trồng như Vạn tuế, câu Sao Đen, cây huyết

dụ, cau bụi, cau lùn, cau ta, trúc đào, liễu, cây cọ,…

Các vườn hoa, công viên cũng thường có nhiều công trình kiến trúc, tượng đài, vì vậy cần có sự phối hợp hài hòa giữa thiết kế cây xanh với các công trình xây dựng, kiến trúc đó Tạo nên cảnh quan đẹp và nét độc đáo riêng cho mỗi công viên, vườn hoa như công viên Hoàng Văn Thụ, công viên 30/4,… kết hợp phun nước, cây trồng dc trồng xung quanh vòng xoay

Đối với công viên văn hóa, nặng về các hoạt động văn hóa quần chúng, tổ chức vui chơi, giải trí, nên chọn những loài cây to có cành lá sum suê cho diện tích che bóng rộng nhưng chiếm diện tích đất ít hoặc xanh quanh năm như muồng, bằng lăng tím, ngọc lan, lan tua, bưởi… hay chọn cây có tuổi thọ cao, dáng đẹp như bàng, sấu, cau… Đối với các vườn chơi cho trẻ em, tránh trồng các cây có hoa, lá, qủa có chất độc, thu hút ruồi nhặng hay cây rụng lá nhiều, độc như trúc đào, bã đậu, đa… như cv gia định cây bao bọc khu vui chơi tạo bóng mát cho trẻ em chủ yếu cây tán rộng như cây Lim sẹt, cây Sò Đo Cam, cây Hoa Sữa, cây cọ,…

Ở công viên nên chọn cây có bóng mát rộng, hoa thơm, đẹp, cây khỏe ít gãy đổ và nên trồng hàng rào cách ly với xung quanh Ngoài ra, công viên cần có thêm thảm cỏ nơi để sinh hoạt vui chơi như công viên Hồ Bán Nguyệt,công viên Nhật Bản,…

3.1.2.3 Cây trồng ở các danh lam thắng cảnh

Các di tích lịch sử phần lớn là những thắng cảnh đẹp hay cần bảo tồn, là nơi cho

du khách tham quan, nghiên cứu Thông thường ở đây đã có sẵn những cảnh thiên nhiên được chăm sóc, tôn tạo từ lâu Khi trồng cây ở đó phải cân nhắc, không làm thay đổi phong cảnh cũ ở đó Đặc biệt những cây già cỗi cần thay thế thì nên sử dụng cây cùng

Ngày đăng: 10/01/2019, 14:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w