Cùng với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đã đang gây ra nhiều áp lực cho môi trường xung quanh và tình hình kinh tế xã hội hiện nay. Tốc độ đô thị hóa tăng thì cũng là một trong những nguyên nhân làm thay đổi các tính chất và đặc tính của môi trường, gây ra các tác động đến môi trường. Một trong những vấn hiện nay đang được quan tâm là BĐKH toàn cầu, bên cạnh đó vấn đề đang xảy ra hiện nay và cần có biện pháp khắc hiệu quả đó là vấn đề ngập lụt. Vấn đề ngập lụt đô thị không chỉ có ở những đô thị của Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng mà đây là “vấn nạn” của nhiều đô thị trên thế giới, nhất là đô thị ở các nước đang phát triển nơi đang có quá trình đô thị hóa quá nhanh nhưng thiếu những giải pháp quy hoạch quản lý và công trình hạ tầng thích ứng. Ngập lụt đô thị đã gây nên những tác động không nhỏ đến sinh hoạt của người dân: ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, ô nhiễm môi trường sống. Những năm gần đây tình hình ngập lụt tại Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng đang diễn ra theo chiều hướng xấu, tình trạng ngập nước trên các con đường hàng giờ đồng hồ gây tắc nghẹn giao thông và thậm chỉ gây ra sạt lở lồi lõm trên mặt đường do bị nước rửa trôi và nguyên nhân chính là do hệ thống thoát nước của thành phố hoạt động kém hiệu quả, biến đổi khí hậu, rác thải dân cư làm tắc nghẽn đường. Với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấp tổng thể, ý thức một số người dân lại quá kém trong nhận thức và bảo vệ môi trường chung... Vì vậy, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường rất lớn. Tình trạng ngập lụt trong trung tâm thành phố đang ở mức báo động cao, xảy ra cả trong mùa khô. Diện tích khu vực ngập lụt khoảng 140 km2 với 85% điểm ngập nước nằm ở khu vực trung tâm thành phố. Thiệt hại do ngập nước gây ra ước tính 8 tỷ đồng mỗi năm. Nguyên nhân là do hệ thống cống thoát nước được xây cách đây 50 năm đã xuống cấp. Ngoài ra, việc xây dựng các khu công nghiệp và đô thị ở khu vực phía nam – khu vực thoát nước của thành phố này đã làm cho tình hình ngập càng nghiêm trọng hơn. Việc thoát nước ở Sài Gòn vốn dựa vào hệ thống sông và kênh, rạch tự nhiên nhưng khoảng 30% diện tích kênh rạch đã bị chính quyền thành phố ra lệnh lấp. Theo một nghiên cứu của Viện Khoa Học Thủy Lợi miền Nam thì chỉ trong 12 năm từ 1996 đến 2008, tại Sài Gòn đã có hơn 100 kênh, rạch với tổng diện tích khoảng 4000 hecta bị lấp và bị lấn chiếm. Vì vậy, cần phải có biện pháp được đề xuất để khắc phục vấn đề trên tránh gây ra các tác động đến con người và môi trường sống. Cho nên, nhóm đã lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Quản lý đô thị thích ứng với BĐKH – ngập lụt tại TPHCM”.
Trang 1VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
QUẢN LÝ KHU ĐÔ THỊ VÀ CÔNG NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ SỐ 6 QUẢN LÝ ĐÔ THỊ THÍCH ỨNG BĐKH – NGẬP LỤT, NGHIÊN CỨU CỤ THỂ TẠI TPHCM
Danh sách các thành viên: 1 Lê Thị Tiên 14103371
3 Nguyễn Thị Thu Thảo 14062501
4 Nguyễn Thị Mỹ My 14061211
5 Hoàng Lâm Băng Trâm
6 Lê Thị Thảo
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2017
VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TIỂU LUẬN MÔN HỌC QUẢN LÝ KHU ĐÔ THỊ VÀ CÔNG NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ SỐ 6 QUẢN LÝ ĐÔ THỊ THÍCH ỨNG BĐKH – NGẬP LỤT, NGHIÊN CỨU CỤ THỂ TẠI TPHCM
GVHD: TS Lê Việt ThắngNhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 6
3 Nguyễn Thị Thu Thảo xxxxxxx
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Trang 5MỞ ĐẦU
Cùng với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đã đang gây ra nhiều áplực cho môi trường xung quanh và tình hình kinh tế - xã hội hiện nay Tốc độ đô thị hóatăng thì cũng là một trong những nguyên nhân làm thay đổi các tính chất và đặc tính củamôi trường, gây ra các tác động đến môi trường Một trong những vấn hiện nay đangđược quan tâm là BĐKH toàn cầu, bên cạnh đó vấn đề đang xảy ra hiện nay và cần cóbiện pháp khắc hiệu quả đó là vấn đề ngập lụt
Vấn đề ngập lụt đô thị không chỉ có ở những đô thị của Việt Nam nói chung vàTPHCM nói riêng mà đây là “vấn nạn” của nhiều đô thị trên thế giới, nhất là đô thị ở cácnước đang phát triển - nơi đang có quá trình đô thị hóa quá nhanh nhưng thiếu những giảipháp quy hoạch quản lý và công trình hạ tầng thích ứng Ngập lụt đô thị đã gây nênnhững tác động không nhỏ đến sinh hoạt của người dân: ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế, ô nhiễm môi trường sống Những năm gần đây tình hình ngập lụt tại Việt Nam nóichung và TPHCM nói riêng đang diễn ra theo chiều hướng xấu, tình trạng ngập nước trêncác con đường hàng giờ đồng hồ gây tắc nghẹn giao thông và thậm chỉ gây ra sạt lở lồilõm trên mặt đường do bị nước rửa trôi và nguyên nhân chính là do hệ thống thoát nướccủa thành phố hoạt động kém hiệu quả, biến đổi khí hậu, rác thải dân cư làm tắc nghẽnđường
Với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấptổng thể, ý thức một số người dân lại quá kém trong nhận thức và bảo vệ môi trườngchung Vì vậy, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễmmôi trường rất lớn Tình trạng ngập lụt trong trung tâm thành phố đang ở mức báo độngcao, xảy ra cả trong mùa khô Diện tích khu vực ngập lụt khoảng 140 km2 với 85% điểmngập nước nằm ở khu vực trung tâm thành phố Thiệt hại do ngập nước gây ra ước tính 8
tỷ đồng mỗi năm Nguyên nhân là do hệ thống cống thoát nước được xây cách đây 50năm đã xuống cấp Ngoài ra, việc xây dựng các khu công nghiệp và đô thị ở khu vực phíanam – khu vực thoát nước của thành phố này đã làm cho tình hình ngập càng nghiêmtrọng hơn Việc thoát nước ở Sài Gòn vốn dựa vào hệ thống sông và kênh, rạch tự nhiênnhưng khoảng 30% diện tích kênh rạch đã bị chính quyền thành phố ra lệnh lấp Theomột nghiên cứu của Viện Khoa Học Thủy Lợi miền Nam thì chỉ trong 12 năm từ 1996
Trang 6đến 2008, tại Sài Gòn đã có hơn 100 kênh, rạch với tổng diện tích khoảng 4000 hecta bịlấp và bị lấn chiếm Vì vậy, cần phải có biện pháp được đề xuất để khắc phục vấn đề trêntránh gây ra các tác động đến con người và môi trường sống Cho nên, nhóm đã lựa chọnnghiên cứu vấn đề “Quản lý đô thị thích ứng với BĐKH – ngập lụt tại TPHCM”.
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ THÍCH ỨNG
BĐKH - NGẬP LỤT TẠI TPHCM
1.1 Sơ lược về BĐKH
1.1.1 Các khái niệm và thuật ngữ
Thời tiết là trạng thái khí quyển ở một thời điểm tại một nơi nhất định được xác địnhbằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa,…
Khí hậu là tổng hợp của thời tiết được đặc trưng bởi các trị số thống kê (trung bình,xác suất các cực trị v.v ) của các yếu tố khí tượng biến động trong một khu vực địa lý.Thời kỳ trung bình thường là vài thập kỷ
Định nghĩa chính thức của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) “Tổng hợp các điềukiện thời tiết ở một khu vực nhất định đặc trưng bởi thống kê dài hạn các biến số củatrạng thái khí quyển ở khu vực đó”
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bìnhvà/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập
kỷ hoặc dài hơn BĐKH là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khíquyển hay trong khai thác sử dụng đất
Khả năng dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ thống (tựnhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứngvới những tác động bất lợi của BĐKH, kể cả biến đổi tự nhiên và cực trị Tổn thương làhàm của tính chất, mức độ và tốc độ của biến đổi và biến động khí hậu mà một hệ thốngphát lộ ra cùng với độ mẫn cảm và năng lực thích ứng của nó
Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học về sự tiến triển trong tương laicủa các mối quan hệ giữa kinh tế-xã hội, phát thải khí nhà kính, BĐKH và nước biểndâng Lưu ý rằng kịch bản BĐKH khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó chỉđưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển kinh tế-xã hội và hệ thống khí hậu.Kịch bản phát thải là một cách trình diễn hợp lý sự phát triển tương lai về lượng phátthải của các thực thể có hoạt động bức xạ tiềm năng, tức các khí nhà kính (KNK),aerosols, dựa trên một loạt giả định nội tại nhất quán và chặt chẽ về động lực (chẳng hạnphát triển dân số, kinh tế xã hội, thay đổi kỹ thuật) và quan hệ giữa chúng
Trang 8Phát thải nhân tạo là phát thải các KNK, tiền KNK hoặc aerosols liên quan với cáchoạt động nhân tạo bao gồm đốt nhiên liệu hóa thạch, khai phá rừng, thay đổi sử dụngđất, súc vật, phân bón.
Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không baogồm triều, nước dâng do bão,…Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặcthấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và cácyếu tố khác
Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảmnhẹ các tác nhân gây ra BĐKH
Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đốivới hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương doBĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại
Giảm nhẹ biến đổi khí hậu là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phátthải khí nhà kính
Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào các kế hoạch phát triển của ngành là hoạt độngđiều chỉnh, bổ sung kế hoạch phát triển đó, bao gồm chủ trương, chính sách, cơ chế, tổchức có liên quan đén việc thực hiện kế hoạch phát triển cho phù hợp với xu thế BĐKH,các hiện tượng khí hậu cực đoan và những tác động trước mắt và lâu dài của chúng đốivới kế hoạch phát triển
- Báo cáo đánh giá lần thứ hai (1994) là cơ sở để thảo luận và thông qua Nghị định thưKyoto tại Hội nghị lần thứ 3 các Bên Công ước (1997)
- Báo cáo đánh giá lần thứ ba (2001), sau 10 năm thông qua Công ước Khung của LiênHợp Quốc về Biến đổi khí hậu
- Báo cáo đánh giá lần thứ tư (2007), sau 10 năm thông qua Nghị định thư Kyoto và một
Trang 9năm trước khi bước vào thời kỳ cam kết đầu tiên theo Nghị định thư (2008 - 2012), đểchuẩn bị cho việc thương lượng về thời kỳ cam kết tiếp theo.
Mỗi lần đánh giá đều có những tiến bộ mới về nguồn số liệu và phương pháp, làmgiảm đáng kể những điều chưa chắc chắn tồn tại trước đây, do đó, nâng cao rõ rệt mức độtin cậy của những kết luận về biến đổi khí hậu trong quá khứ cũng như tương lai
Sau đây là những kết luận chính trong báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC được công
bố tháng 2 năm 2007:
- Sự nóng lên toàn cầu của hệ thống khí hậu hiện nay là chưa từng có và rất rõ ràng từnhững quan trắc nhiệt độ và đại dương trung bình toàn cầu, sự tan chảy của băng và tuyếttrên phạm vi rộng lớn và sự dâng lên của mực nước biển trung bình toàn cầu:
- Xu thế tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 100 năm (1906 - 2005) là 0,740C; Xu thế tăngnhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,13 0C/1 thập kỷ, gấp 2 lần xu thế tăng của 100 nămqua
- Nhiệt độ trung bình ở Bắc cực đã tăng với tỷ lệ 1,50C/100 năm, gấp 2 lần tỷ lệ tăng trungbình toàn cầu, nhiệt độ trung bình ở Bắc cực trong 50 năm cuối thế kỷ XX cao hơn bất kỳnhiệt độ trung bình của 50 năm nào khác trong 500 năm gần đây và có thể là cao nhất, ítnhất là trong 1300 năm qua
- Nhiệt độ trung bình ở đỉnh lớp băng vĩnh cửu ở Bắc bán cầu đã tăng 30C kể từ năm 1980
- 11 trong số 12 năm gần đây (1995 - 2006) nằm trong số 12 năm nóng nhất trong chuỗiquan trắc bằng máy kể từ năm 1850
- Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8 mm/năm trong thời kỳ
1961 - 2003 và tăng nhanh hơn với tỷ lệ 3,1 mm/năm trong thời kỳ 1993 - 2003 Tổngcộng, mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,31 m trong 100 năm gần đây
- Chính sự tan băng ở Greenland, Bắc cực và Nam cực đã làm cho mực nước biển tăngnhanh hơn trong thời kỳ 1993 - 2003 Ngoài ra, nhiệt độ trung bình của đại dương toàncầu tăng lên (ít nhất là tới độ sâu 300m) cũng góp phần vào sự tăng lên của mực nướcbiển
- Số liệu vệ tinh cho thấy, diện tích biển băng trung bình năm ở Bắc Cực đã thu hẹp2,7%/thập kỷ Riêng mùa hè giảm 7,4%/thập kỷ Diện tích cực đại của lớp phủ băng theo
Trang 10mùa ở Bắc bán cầu đã giảm 7% kể từ năm 1990, riêng trong mùa xuân giảm tới 15%.Mới đây, tại Hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu họp tại Bruxen (Bỉ), các báo cáokhoa học cho biết, ở Bắc cực, khối băng dày 2 dặm (khoảng trên 3km) đang mỏng dần và
đã mỏng đi 66 cm Ở Nam Cực, băng cũng đang tan với tốc độ chậm hơn và những núibăng ở Tây Nam cực đổ sụp Những lớp băng vĩnh cửu ở Greenland tan chảy Ở Alaska(Bắc Mỹ, trong những năm gần đây nhiệt độ đã tăng 1,50C so với trung bình nhiều năm,làm tan băng và lớp băng vĩnh cửu đã giảm 40%, những lớp băng hàng năm dày khoảng1,2 m đã giảm 4 lần, chỉ còn 0,3 m Báo cáo cũng cho biết, các núi băng trên cao nguyênThanh Hải (Trung Quốc) ở độ cao 5000 m mỗi năm giảm trung bình 7% khối lượng và
50 – 60 m độ cao, uy hiếp nguồn nước của các sông lớn ở Trung Quốc Trong 30 nămqua, trung bình mỗi năm, diện tích lớp băng trên cao nguyên Tây Tạng bị tan chảykhoảng 131 km2, chu vi vùng băng tuyết bên sườn cao nguyên mỗi năm giảm 100 – 150
m, có nơi tới 350 m Diện tích các đầm lầy trong khu vực này cũng giảm 10% Tất cảđang làm cạn kiệt hồ nước Thanh Hải, một hồ lớn nhất Trung Quốc, đe dọa hồ sẽ bị biếnmất trong vòng 200 năm tới Nếu nhiệt độ trái đất tiếp tục tăng, khối lượng băng tuyết ởkhu vực cao nguyên sẽ giảm 1/3 vào năm 2050 và chỉ còn 1/2 vào năm 2090
1.1.3 Nguyên nhân gây ra BĐKH
1.1.3.1 Nguyên nhân tự nhiên
Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên bao gồm thay đổi cường độ sáng của Mặttrời, xuất hiện các điểm đen Mặt trời (Sunspots), các hoạt động núi lửa, thay đổi đạidương, thay đổi quỹ đạo quay của trái đất Với sự xuất hiện các Sunspots làm cho cường
độ tia bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất thay đổi, nghĩa là năng lượng chiếu xuống mặtđất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất
Thay đổi cường độ sáng của Mặt trời
Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt trời cũng gây ra sự thay đổi năng lượng chiếuxuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất Cụ thể là từ khi tạo thànhMặt trời đến nay gần 4,5 tỷ năm cường độ sáng của Mặt trời đã tăng lên hơn 30% Nhưvậy có thể thấy khoảng thời gian khá dài như vậy thì sự thay đổi cường độ sáng mặt trời
là không ảnh hưởng đáng kể đến BĐKH
Các hoạt động núi lửa
Trang 11Núi lửa phun trào - Khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí quyển mộtlượng cực kỳ lớn khối lượng sulfur dioxide (SO2), hơi nước, bụi và tro vào bầu khíquyển Khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều năm Các hạtnhỏ được gọi là các sol khí được phun ra bởi núi lửa, các sol khí phản chiếu lại bức xạ(năng lượng) mặt trời trở lại vào không gian vì vậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độlớp bề mặt trái đất.
Thay đổi đại dương
Đại dương ngày nay - Các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu.Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh Thay đổi trong lưuthông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vàotrong khí quyển
Thay đổi quỹ đạo quay của trái đất
Thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất - Trái đất quay quanh Mặt trời với một quỹ đạo.Trục quay có góc nghiêng 23,5o Thay đổi độ nghiêng của quỹ đạo quay trái đất có thểdẫn đến những thay đổi nhỏ Tốc độ thay đổi cực kỳ nhỏ có thể tính đến thời gian hàng tỷnăm, vì vậy có thể nói không ảnh hưởng lớn đến BĐKH
Có thể thấy rằng các nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên đóng góp mộtphần rất nhỏ vào sự BĐKH và có tính chu kỳ kể từ quá khứ đến hiện nay Theo các kếtquả nghiên cứu và công bố từ Ủy Ban Liên Chính Phủ về BĐKH thì nguyên nhân gây raBĐKH chủ yếu là do các hoạt động của con người
1.1.3.2 Nguyên nhân nhân tạo
Khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính
Khí quyển là lớp không khí bao quanh trái đất, với 80% lượng khí tập trung chủ yếu
từ mặt đất đến độ cao khoảng 10 km, càng lên cao càng loãng và không có mép ngoài cốđịnh Thành phần của khí quyển gồm: 78% Nitơ (N2), 21% Oxy (O2), 1% hơi nước và cáckhí như: CO, CO2, N2O, CH4, O3,…
Sự phân bố của các khí tạo tính đa năng của khí quyển: (1) Cho phép một phần nănglượng ánh sáng mặt trời đến được bề mặt trái đất; (2) Ngăn không cho bức xạ nhiệt từ tráiđất thoát ra ngoài không trung giữ ấm trái đất Hiện tượng này gọi là hiệu ứng nhà kínhgiúp duy trì nhiệt độ thích hợp cho sự sống và (3) Các khí có tác tác dụng giữ nhiệt trong
Trang 12khí quyển được gọi là khí nhà kính, gồm: CO2, N2O, CH4, O3
- Khí carbonic (CO 2 ): là khí nhà kính phát thải nhiều nhất - đây là nguyên nhân chính làm
gia tăng hiệu ứng nhà kính gây ấm lên toàn cầu Khí carbonic còn được gọi là thán khí –
là khí do con người và động vật thở ra khi hô hấp hoặc khi có sự cháy
Trong tự nhiên, cây xanh hấp thụ khí carbonic trong quá trình quang hợp và giảiphóng oxy trở lại khí quyển Chặt phá rừng làm tăng lượng carbonic trong không khí, các
bề mặt đại dương cũng hấp thu khí carbonic
Các nguồn phát thải carbonic gồm: đốt nhiên liệu hóa thạch (khí gas, xăng dầu, thanđá) dùng cho sản xuất năng lượng, phương tiện giao thông, cháy rừng, đốt than, củi,rơm…và chăn nuôi
- Metan (CH 4 ): Có tiềm năng làm nóng trái đất cao hơn CO2 (gấp 72 lần trong khoảng thờigian 20 năm), CH4 thúc đẩy sự oxy hóa hơi nước trong khí quyển, sự gia tăng hơi nướcgây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn nhiều so với hiệu ứng trực tiếp của CH4.
CH4 được dùng làm khí đốt (biogas), nó là thành phần chính của khí tự nhiên, khí dầu
mỏ, khí đầm ao, đầm lầy CH4 được sinh ra từ quá trình khai thác, vận chuyển sử dụngdầu mỏ, than đá, các quá trình sinh học như men hóa đường ruột của các gia súc, phângiải kị khí ở đất ngập nước, ruộng lúa, cháy rừng
- Các khí clorolfuorocacbon (CFC): là những hóa chất tổng hợp, có mặt trong khí quyển từ
khi công nghiệp làm lạnh, mỹ phẩm phát triển Bên cạnh khả năng làm nón trái đất mạnh(hơn CO2 gấp 11.000 lần trong thời gian 20 năm), CFC ở sang sol khí thường làm tổn hạitầng ozon Nếu chấm dứt phát thải ngay thì khoảng 100 năm sau mới phân hủy hết lượngCFC hiện có
- Khí oxit nito (NO 2 ): chiếm một lượng nhỏ trong thành phần các khí nhà kính, nhưng khả
năng làm nóng trái đất cao (gấp 289 lần trong khoảng thời gian 20 năm) và làm tổn hạitầng ozon Do nó có thời gian tồn tại trong khí quyển lâu dài, nên lượng oxit nitơ thải ratiếp tục gây ấm lên toàn cầu và kéo dài đến thế kỷ sau
Các nguồn phát thải khí oxit nito gồm: sản xuất phân bón, hóa chất, đốt nhiên liệuhóa thạch, cháy rừng, đốt rơm rạ, xử lí nước thải, quá trình nitrat hóa các loại phân bónhữu cơ, vô cơ trong nông nghiệp
- Ôzôn (O 3 ) được tạo ra tự nhiên do các phản ứng trong khí quyển và do hoạt động của con
Trang 13người, như từ xe cộ và các nhà máy năng lượng Ở tầng cao của khí quyển, tầng ôzôn hấpthu bức xạ tia cực tím bảo vệ trái đất, trong khi sự gia tăng ôzôn ở tầng thấp của khíquyển góp phần làm trái đất nóng lên Do có thời gian tồn tại trong khí quyển ngắn, nênôzôn chủ yếu gây nóng lên ở quy mô khu vực nhiều hơn là gây ấm lên toàn cầu.
Gia tăng khí nhà kính trong khí quyển do hoạt động của con người, làm cho trái đấtnóng lên gây biến đổi khí hậu
Trong hơn 100 năm công nghiệp hóa và phát triển, các hoạt động của con người nhưđốt nhiên liệu hóa thạch (xăng, dầu, than đá, khí đốt tự nhiên), phá rừng và thay đổi sửdụng đất như phát triển đô thị, sản xuất, làm đường…đã thải một lượng lớn khí nhà kínhvào trong khí quyển, như CO2, CH4, CFC, và N2O Sự gia tăng khí nhà kính đẩy mạnhhiệu ứng nhà kính làm cho trái đất nóng hơn – hay còn gọi là ấm lên toàn cầu
Nhiệt độ trên trái đất tăng kéo theo những thay đổi khác trong hệ thống khí hậu: (1)Băng tan; (2) Mực nước biển dâng – do giãn nở nhiệt trong đại dương và băng tan; (3)Thay đổi lượng mưa – do nhiệt độ tăng, lượng nước bốc hơi nhiều hơn; (4) Thay đổi mùa
- ảnh hưởng đến đời sống con người, sinh vật, mùa màng; (5) Thiên tai bão lũ, hạn hán xuất hiện thường xuyên, mạnh hơn và khó đoán hơn
Tình hình phát thải khí nhà kính
- Toàn cầu
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ủy Ban Liên Chính Phủ về biến đổi khí hậu(IPCC), phát thải khí nhà kính toàn cầu tăng từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng năm1750) và tăng 70% trong giai đoạn 1970 – 2004 Hàm lượng CO2, CH4 và N2O trong khíquyển do hoạt động của con người từ năm 1750 đến nay, đã vượt xa mức tích tụ tự nhiêntrong hàng nghìn năm Căn cứ theo số liệu nghiên cứu lõi băng ở Greenland và Nam cực.Đến năm 2005, nồng độ khí CO2 và CH4 trong khí quyển cao hơn gấp nhiều lần so với
650 năm trước Cụ thể về các nguồn phát thải và mức đóng góp vào việc làm nóng tráiđất như sau: (1) Gia tăng CO2 chủ yếu do sử dụng nhiên liệu hóa thạch (trong ngành nănglượng, công nghiệp, giao thông ) và có sự đóng góp đáng kể của việc thay đổi sử dụngđất, phá rừng; (2) Gia tăng CH4 do hoạt động nông nghiệp va sử dụng nhiên liệu hóathạch; (3) Gia tăng N2O do hoạt động nông nghiệp
Trang 14Hình 1.1: Phát thải Khí nhà kính theo lĩnh vực
Riêng CO2 là loại khí nhà kính quan trọng nhất phát thải do hoạt động của con người,chủ yếu là do sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đóng góp gần một nửa vào việc gây ấm lêntoàn cầu Lượng CO2 phát thải hàng năm từ 1970 – 2004 tăng 80% và chiếm 77% tổnglượng khí nhà kính phát thải của năm 2004
Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới70% tổng lượng phát thải khí CO2 trên toàn cầu Thứ tự các nước phát thải cao năm 2004như sau: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Ấn độ, Nhật Bản, CHLB Đức, Canada,Anh Tốc độ phát thải khí CO2 của các nước đang phát triển cũng tăng khá nhanh trongkhoảng 15 năm qua
Tuy nhiên có sự chênh lệch lớn về dân số và mức phát thải giữa các nước giàu và cácnước nghèo: Các nước giàu: chiếm 15% dân số thế giới, tổng lượng phát thải chiếm 45%tổng lượng phát thải toàn cầu Các nước châu Phi và cận Sahara: chiếm 11% dân số thếgiới, tổng lượng phát thải chiếm 2% tổng lượng phát thải toàn cầu Các nước kém pháttriển: chiếm 1/3 dân số thế giới, tổng lượng phát thải chiếm 7% tổng lượng phát thải toàncầu
1.1.4 Biểu hiện biến đổi khí hậu toàn cầu
Theo đánh giá lần thứ 4 của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2007) đãnhận định rằng sự nóng lên của hệ thống khí hậu trái đất hiện nay là chưa từng có, điều
đó đã được minh chứng từ những quan trắc về sự tăng lên của nhiệt độ không khí và đại
Trang 15của mực nước biển trung bình toàn cầu.
Hình 1.2: Tác động của biến đổi khí hậu
- Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,740C trong thời kỳ 1906 - 2005, tốc độ tăngcủa nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đây Hai năm đượccông nhận có nhiệt độ trung bình toàn cầu cao nhất từ trước đến nay là 1998, 2005; 11/12năm gần đây (1995 - 2006) nằm trong số 12 năm nóng nhất trong chuỗi số liệu quan trắc.Nhiệt độ trên lục địa tăng rõ rệt và nhanh hơn hẳn so với nhiệt độ trên đại dương với thời
kỳ tăng nhanh nhất là mùa đông (tháng XII, I, II) và mùa xuân (tháng III, IV, V) Nhiệt độcực trị cũng có chiều hướng biến đổi tương tự như nhiệt độ trung bình;
- Lượng mưa có chiều hướng tăng lên trong thời kỳ 1900 - 2005 ở phía Bắc vĩ độ 30ºN,tuy nhiên lại có xu hướng giảm đáng kể từ năm 1970 ở vùng nhiệt đới Lượng mưa ở khuvực từ 10ºN đến 30ºN tăng lên từ năm 1900 đến 1950 ở vùng nhiệt đới và giảm trong thời
kỳ sau đó Nhìn chung, lượng mưa có xu hướng biến đổi theo mùa và theo không gian rõrệt hơn hẳn so với nhiệt độ Hiện tượng mưa lớn có dấu hiệu tăng lên trong thời gian gầnđây;
- Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8 mm/năm trong thời kỳ
1961 - 2003 và với tỷ lệ 3,1 mm/năm trong thời kỳ từ năm 1993 - 2003 Trong nhữngnăm gần đây, tổng cộng mực nước biển đã dâng 0,31 m (± 0,07 m)
Trang 16Diện tích băng biển trung bình năm ở Bắc cực đã thu hẹp với tỷ lệ 2,7%/1 thập kỷ.Diện tích cực đại của lớp phủ băng theo mùa ở bán cầu Bắc đã giảm 7% kể từ 1990, riêngtrong mùa xuân giảm tới 15%.
Các báo cáo tại Hội nghị Quốc tế về BĐKH tại Brucxen (Bỉ) cho biết trung bình mỗinăm, các núi băng trên cao nguyên Thanh Hải (Trung Quốc) bị giảm 7% khối lượng và50m - 60m độ cao Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm cao nguyên Tây Tạng bị tanchảy khoảng 131km2 , chu vi vùng băng tuyết bên sườn cao nguyên mỗi năm giảm 100 -150m có nơi tới 350m;
- Hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ năm 1970.Nguyên nhân chính của sự gia tăng này là lượng mưa giảm và nhiệt độ tăng dẫn đến bốchơi tăng Khu vực thường xuyên xảy ra hạn hán là phía Tây Hoa Kỳ, Úc, Châu Âu;
- Hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới, đặc biệt là các cơn bão mạnh gia tăng từ những năm
1970 và ngày càng có xu hướng xuất hiện nhiều hơn các cơn bão có quỹ đạo bất thường.Điều này có thể thấy trên cả Ấn Độ Dương, Bắc và Tây Bắc Thái Bình Dương, số cơnbão ở Đại Tây Dương ở mức trung bình trong khoảng 10 năm gần đây;
- Có sự biến đổi trong chế độ hoàn lưu quy mô lớn trên cả lục địa và đại dương, biểu hiện
rõ rệt nhất là sự gia tăng về số lượng và cường độ của hiện tượng El Nino và biến độngmạnh mẽ của hệ thống gió mùa
Như vậy BĐKH đã và đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, biểu hiện của chúng có thểkhác nhau giữa các khu vực nhưng có thể kết luận một số đặc điểm chung là nhiệt độtăng lên, lượng mưa biến động mạnh mẽ và có dấu hiệu tăng lên vào mùa mưa, giảm vàomùa ít mưa, hiện tượng mưa lớn gia tăng, hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn, hoạtđộng của bão và áp thấp nhiệt đới phức tạp hơn, hiện tượng El Nino xuất hiện thườngxuyên hơn và có biến động mạnh
1.2 Thực trạng về quản lý đô thị thích ứng BĐKH - ngập lụt tại TPHCM
1.2.1 Tình hình BĐKH - ngập lụt tại TPHCM
Theo kết quả nghiên cứu của Ủy ban Liên Quốc gia về biến đổi khí hậu (IPCC), cùngvới những chuổi quan trắc số liệu thực đo như nhiệt độ, mưa, triều, và mực nước tại khuvực thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận, có thể nhận thấy rằng khu vực TP Hồ
Trang 17Chí Minh trong những năm qua đã có những biểu hiện rõ nét về biến đổi khí hậu và thiêntai bất thường.
Nhiệt độ tăng cao
Các báo cáo của IPCC và trung tâm nghiên cứu có uy tín hàng đầu thế giới công bố,nhiệt độ trung bình trên mặt địa cầu ấm lên 10C trong vòng 80 năm ( từ 1920 đến 2005)
và đang tăng nhanh trong khoảng 25 năm gần đây (từ 1980 đến 2005)
Nguyên nhân chính được đại đa số các nhà khoa học nhất trí, đó là gia tăng hàmlượng khí CO2 và các loại khí thải gây hiệu ứng nhà kính do hoạt động con người gây ra
Mưa thay đổi bất thường
Theo IPCC thì sự nóng lên của khí hậu trái đất làm cho mưa trở nên thất thường hơn.Những vùng mưa nhiều, lượng mưa trở nên nhiều hơn, cường độ mưa lớn hơn Các vùnghạn trở nên hạn hơn Tần suất và cường độ hiện tượng El NiNo tăng đáng kể, gây lũ lụt
và hạn hán ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Xu thế biến đổi của lượng mưa khôngnhất quán giữa các thời kì và khu vực Tổng lượng mưa năm không tăng nhưng cường độmưa, thời gian mưa từng cơn đang có xu hướng tăng lên rõ rệt Bên cạnh đó những cơnmưa lớn ngày càng một dày đặc hơn với lượng mưa trung bình năm sau cao hơn nămtrước 0,8 mm Năm nào cũng có những cơn mưa với lượng mưa 100 mm Riêng vớinhững cơn mưa có lượng mưa lớn hơn 100 mm, nếu như trước đây cứ 5 năm mới xuấthiện nay 3 năm đã xảy ra
Theo tài liệu thực đo mưa tại trạm đo mưa Tân Sơn Nhất từ năm 1907 đến nay chothấy, tổng lượng mưa năm tại khu vực này có xu hướng giảm dần tới năm 1960 sau đótăng nhẹ vào những năm gần đây
Hậu quả của biến đổi khí hậu dẫn tới tình trạng mưa cực đoan, tổng lượng mưa nămkhông tăng, nhưng cường độ mưa tăng, thời gian mưa tập trung hơn điều nay sẽ kéo theohạn hán khốc liệt hơn, thành phố bị ngập lụt nhiều hơn, nguy hiểm hơn
Trường hợp mưa cực đoan, gây sự cố vỡ đập chứa trên một bậc thang thủy điện ởphía dưới thượng nguồn, sẽ dẫn tới hiệu ứng dây chuyền và TP Hồ Chí Minh sẽ có nguy
cơ bị san phẳng hàng tỷ m3 nước từ trên cao 100 m đổ xuống
Nước biển dâng
Hệ quả tất yếu của tình trạng bề mặt Trái Đất nóng lên là bang tan hai đầu địa cực vàtrên đỉnh những dãy núi cao, thể tích nước biển dãn nở do nhiệt là mực nước biển dâng
Trang 18cao, và như vậy nhiều hòn đảo, nhiều vùng đồng bằng có cao trình thấp ven biển bị chìmngập Các số liệu quan trắc mực nước biển ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy trong vòng
50 – 100 năm qua mực nước biển mỗi năm tăng thêm 1,8 mm Nhưng trong vòng 12 nămgần đây, các số liệu đo đạc của vệ tinh NASA cho thấy xu thế nước biển dâng đang tăngrất nhanh, với tốc độ trung bình khoảng 3 mm/năm Theo báo cáo của IPCC, đến cuối thế
kỉ XXI, nhiệt độ bề mặt Trái đất sẽ tăng thêm 1,4 đến 40 C, mực nước biển sẽ tăng thêmkhoảng 28 – 43 cm Cũng theo tổ chức này mực nước biển dâng trong tương lai còn phụthuộc vào cách ứng xử của con người đối với thiên nhiên đối với mức xả thải khí nhàkính
Dự báo mực nước trung bình đỉnh triều lớn nhất năm cho 100 năm sau, năm 2107 là từ
142 – 186 cm, nghĩa là tăng thêm so với hiện nay từ 6 – 50 cm Mực nước triều tăng lànhân tố chính làm gia tăng mực nước trong khu vực tp Hồ Chí Minh gây hiện tượng ngậplụt, ảnh hưởng đến giao thông cũng như là con đường lan truyền các dịch bệnh gây chocon người
Mực nước biển dâng cao không chỉ gây ngập thành phố nhiều hơn, nặng hơn mà cònlàm cho lưu lượng trên các kênh tăng lên, vận tốc dòng chảy thay đổi gây xói lở, bồi lắngkhó kiểm soát Khi nước biển dâng cao ranh giới mặn trên thành phố cũng thay đổi gâykhó khăn cho sản xuất và đời sống
Ranh giới mặn 4 g/l (giới hạn trên lúa chịu măn) cũng tiến sâu hơn Khi mực nướctriều tăng lên 50 cm ranh giới mặn 4g/l trên sông Sài Gòn tiến sâu 3,5 km và trên sôngĐồng Nai tiến sâu hơn 2 km Khi nước triều tăng lên 100 cm ranh giới mặn 4g/l trên sôngSài Gòn tiến sâu hơn 8 km và trên sông Đồng Nai vào sâu hơn 4,8 km
Ranh giới mặn 0,25 g/l (tiêu chuẩn cấp nước cho sinh hoạt cũng tiến sâu hơn Khimực nước triều tăng lên 50 cm ranh giới mặn 0,25 g/l trên sông Sài Gòn sâu hơn 1,5 km
và trên sông Đồng Nai vào sâu hơn 0,8 km Khi mực nước triều tăng lên 100 cm ranhgiới mặn 0,25 g/l trên sông Sài Gòn tiến sâu hơn 3,5 km và trên sông Đồng Nai vào sâuhơn 1,8 km
Biến đổi khí hậu dẫn tới nước biển dâng sẽ là nguyên nhân làm thay đổi hệ sinh thái rừngngập mặn Cần Giờ Đó là vấn đề được các nhà khoa học và các bên lãnh đạo quan tâm
Trang 19Hình 1.3: Bản đồ các trạm thủy văn trên lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn
(Nguồn: Hồ Long Phi, 2010)
Gió bão
Biến đổi khí hậu toàn cầu dẫn đến trái đất nóng lên, nhiệt độ bề mặt Đại Dương tănglên và phân bố theo quy luật trước đây và như vậy gió bão sẽ xảy ra khó lường Biểu hiệnbất thường của gió bão trong những năm qua là xảy ra những trận bão lớn tràn vào vùngđất Nam Bộ Đây chính là nguy cơ dẫn đến thiệt hại lớn với TP Hồ Chí Minh, nơi ngườidân chưa có kinh nghiệm tránh bão, nơi có nhà ổ chuột không có khả năng đững vữngtrước những cơn bão nhỏ
Trang 20Hiện nay, tình trạng nước biển dâng do tác động của biến đổi khí hậu ở khu vực TP
Hồ Chí Minh trong những năm qua đã gây khó khăn lớn cho sinh hoạt, kìm hãm pháttriển tốc độ phát triển kinh tế, xã hội, nhiều vùng thành phố đã bị ngập vào những ngàytriều cường
Hàng trăm cống thoát nước thành phố nằm sâu dưới mực nước triều, làm giảm nănglực tiêu thoát nước Vào thời điểm triều lớn gặp mưa kéo dài thành phố gần như bị tê liệt,nhiều đường phố bị ngập lâu, ngập sâu lan truyền ô nhiễm rất đáng báo động TạiTPHCM, diễn biến triều cường tăng liên tục và đỉnh triều kỉ lục 1,55 m là minh chứng rõnét nhất cho hệ quả tất yếu của biến đổi khí hậu
Tại TPHCM khi lũ năm 2000 xảy ra là 130 ngàn ha, ngập chủ yếu là các huyện CầnGiờ, Bình Chánh, Nhà Bè, Củ Chi, Quận 7… Với lũ năm 2000, nhưng tính cho kịch bảnnước biển dâng cao thêm 100 cm (các điều kiện khác không thay đổi), thì diện tích ngậptoàn thành phố lên tới 160 ngàn ha Đợt triều cường giữa tháng 11 năm 2008 đỉnh triềuđạt 1,54 m đã làm vỡ 10 đoạn bờ bao, dài 64 m Trên địa bàn thành phố đã có 30 đoạn bờbao bị vỡ với tổng chiều dài 150 m và tràn bờ một số đoạn có cao trình thấp (do lún tựnhiên) ảnh hưởng trực tiếp đến 13 phường – xã của 7 quận huyên
Vào mùa mưa năm 2016 TPHCM có hơn 10 trận mưa gây ngập trên các tuyến đường.Đặc biệt, cơn mưa kéo dài hơn 2 tiếng vào chiều 26/9 đã khiến 59 tuyến đường và khuvực tại Thành phố Hồ Chí Minh ngập nặng với độ ngập từ 0,1m – 0,5 m, diện tích ngập
từ 100m2 đến 30.000 m2 gây ùn tắc giao thông cục bộ do đúng giờ tan tầm Ngoài nhữngđiểm ngập quen thuộc như Nguyễn Hữu Cảnh, Ung Văn Khiêm, Đinh Bộ Lĩnh (quậnBình Thạnh), Quang Trung, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Chiêu (quận Gò Vấp), Gò Dầu, TânQuý (quận Tân Phú)…, thì nay còn ngập ở nhiều tuyến đường, khu vực trung tâm trướcđây ít ngập như Lê Lợi, Hàm Nghi, Cống Quỳnh, Nguyễn Cư Trinh, Trần Hưng Đạo(quận 1), Nguyễn Thiện Thuật, Kỳ Đồng (quận 3), Tôn Đản (quận 4), Tô Hiến Thành(quận 10) Đáng lưu ý, tình trạng ngập diễn ra trên diện rộng, thậm chí ở cả những vị trílâu nay ít ngập
Trang 21Hình 1.4: Triều cường gây ngập đường thành phố
Theo thống kê của Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước thành phố
Hồ Chí Minh TPHCM có 66 điểm ngập được thống kê, nhưng chỉ là các điểm ngoàiđường phố, còn các điểm ngập trong con hẻm và khu dân cư vẫn chưa được liệt kê Sốliệu cho thấy một số tuyến đường có hơn 2 điểm ngập, nên thực ra TP có đến 77 vị tríngập, trong đó bao gồm tổng số ngập từ 0,2m trở lên
1.2.2 Tình hình quản lý đô thị thích ứng BĐKH - ngập lụt tại TPHCM
Đánh giá được tầm quan trọng trong việc giải quyết vấn đề ngập nước tại khu vựctrung tâm thành phố, từ năm 2011, TP Hồ Chí Minh đã xác định đây là một trong 6chương trình đột phá Hiện vấn đề giảm ngập, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biểndâng là một trong 7 chương trình trọng điểm, đột phá ưu tiên thực hiện đến năm 2020 củathành phố được Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X thông qua Qua đó, thể hiện quyếttâm chính trị rất cao của lãnh đạo thành phố trong công tác giải quyết vấn đề này
Theo UBND TP Hồ Chí Minh, tính đến đầu năm 2016, số tuyến đường ngập do mưatrên địa bàn thành phố còn 17 tuyến đường hiện hữu và 23 tuyến đường đã xử lý tạmbằng giải pháp cấp bách trước đây cần đầu tư nâng cấp hệ thống thoát nước để giải quyếtcăn cơ Cùng với đó, trên địa bàn còn 179 tuyến hẻm bị ngập Trong giai đoạn 2016-
2020, đầu tư 68 dự án nâng cấp, xây dựng mới, cải tạo hệ thống thoát nước để giải quyếtcác điểm ngập còn lại này
Tại Hội nghị lần thứ 7 của Thành ủy TP Hồ Chí Minh khóa X diễn ra vào tháng 9 vừaqua đã tập trung thảo luận và thống nhất về Chương trình hành động thực hiện Nghịquyết Đảng bộ thành phố lần thứ X về Chương trình giảm ngập nước giai đoạn 2016-
2020 đã đề ra 5 nhóm giải pháp chủ yếu
Trang 22Cụ thể, thành phố tập trung nâng cao chất lượng quy hoạch và hiệu quả quản lý quyhoạch, xây dựng; triển khai quy chế giải pháp liên kết giữa các địa phương trong Vùngkinh tế trọng điểm phía Nam; tăng cường quản lý sau san lấp và xây dựng công trình trênsông, kênh rạch, hồ công cộng, xây dựng các hồ điều tiết nhằm giảm sự gia tăng dòngchảy mặt để hỗ trợ tiêu thoát nước Đồng thời, nghiên cứu, rà soát những vùng thấp trũng
dễ bị ngập nước do mưa, triều cường để điều chỉnh quy hoạch theo hướng dành để trữnước, tạo cảnh quan tự nhiên vùng ven; củng cố, tăng cường khả năng thoát nước của hệthống cống, kênh rạch kết hợp với hồ điều tiết, công viên đa chức năng đối với nhữngkhu vực nội thị nhưng cốt nền thấp
Cùng với việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hệ thống thoát nước, xử lýnước thải và các công trình kiểm soát triều để quản lý ngập do biến đổi khí hậu, nướcbiển dâng, Thành phố tập trung thực hiện các giải pháp công trình để giải quyết trìnhtrạng ngập nước gồm nhóm giải pháp ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, kết hợp chặt chẽ vớicác Chương trình đột phá chỉnh trang và phát triển đô thị, giảm ô nhiễm môi trường,giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2016-2020
Ngoài ra, tiếp tục quản lý hệ thống thoát nước, xử lý cấp bách các điểm ngập do hệthống cống bị hư hại, lún sụt, tiết diện nhỏ bằng các giải pháp kỹ thuật hoặc các dự ánquy mô nhỏ; nạo vét thông thoáng dòng chảy tại các cửa xả, kênh rạch Rà soát, bổ sungcác van ngăn triều, xây dựng bờ bao bảo vệ các khu vực bị ảnh hưởng do triều cườngtrong khi các dự án lớn chưa hoàn thành Theo đó, trung và dài hạn là tập trung đầu tưcác công trình thoát nước và xử lý nước thải theo quyết định 752 và đầu tư các công trìnhchống ngập do triều theo quyết định 1547
Thành phố cũng tập trung tăng cường liên kết, hợp tác khoa học và công nghệ, nângcao năng lực dự báo phục vụ công tác giảm ngập nước Trong đó, ưu tiên đầu tư các thiết
bị, công nghệ mới, hiện đại, đảm bảo sử dụng lâu dài và có khả năng đồng bộ với cácthiết bị đang sử dụng; đầu tư nâng cao năng lực quan trắc, dự báo theo hướng hiện đại,đồng bộ, kết quả dự báo có độ tin cậy cao, phục vụ hiệu quả công tác điều hành của chínhquyền, cung cấp thông tin cho người dân để ứng phó kịp thời trước diễn biến bất lợi của
Chương trình giảm ngập nước kết hợp với Chương trình đột phá về chỉnh trang và pháttriển đô thị cũng được thành phố thúc đẩy thực hiện Bên cạnh đó, thành phố kiên quyết
Trang 23nước và không gian trữ nước Các dự án phát triển đô thị, xây dựng khu dân cư mới phảiđược quy hoạch cốt nền phù hợp, xây dựng hệ thống thoát nước riêng, kết nối đồng bộvới hệ thống thoát nước của khu vực.
TP Hồ Chí Minh cũng tập trung triển khai quy chế, giải pháp liên kết giữa các địaphương trong Vùng để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, thực hiện các công trình
đê bao, cống kiểm soát triều, xây dựng phương án hành lang thoát lũ, triển khai quy chếphối hợp việc vận hành liên hồ chứa nước Trị An, Dầu Tiếng, Phước Hòa trên lưu vựcsông Đồng Nai - Sài Gòn; thực hiện các giải pháp phi công trình như bảo vệ và phát triểnrừng ngập mặn Cần Giờ, tăng cường mảng xanh đô thị, tạo mặt bằng thẩm thấu nướcmưa, giải pháp thu gom nước mưa tạm thời đối với những trận mưa lớn trong thời gianngắn
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực thì các giải pháp thích ứng với biến đổi khíhậu phòng chống ngập lụt của TPHCM vẫn còn nhiều hạn chế và không đạt được kết quảmong muốn do công tác quy hoạch và quản lí đô thị còn lỏng lẻo Công tác quy hoạch đôthị không theo kịp tốc độ gia tăng dân số Trong quá trình xây dựng, một số tuyến đườngchính được nâng cao theo đúng cao trình quy hoạch (2m), nhưng đa số nhà dân có cốtnền thấp hơn, hệ thống thoát nước lại không được đấu nối đồng bộ dẫn đến nước chảytràn vào nhà dân mỗi khi mưa lớn Cùng với đó, quản lý đô thị diễn ra lỏng lẻo để nhiều
dự án san lấp rạch nhưng không xây hồ điều tiết khiến nhiều khu vực trữ nước tự nhiên bịthu hẹp Tình trạng bê tông hóa hạ tầng kỹ thuật giao thông đường bộ ngày càng cao, làmgiảm khả năng điều tiết nước, hạn chế diện tích thẩm thấu
Trang 24CHƯƠNG 2 NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA BĐKH
-NGẬP LỤT TẠI TPHCM
2.1 Nguyên nhân gây ngập lụt
Tình trạng ngập lụt ở TP.HCM đang gây ra nhiều khó khăn, bức xúc trong việc sinhhoạt của người dân Một trong những vấn đề đang được sự quan tâm nhiều nhất củangười dân, giới khoa học và lãnh đạo chính quyền thành phố là việc xác định đượcnguyên nhân gây ngập
Có thể chia làm hai nhóm nguyên nhân: khách quan và chủ quan
2.1.1 Nguyên nhân khách quan
- Nguyên nhân đầu tiên, có thể kể đến là do mưa ngày càng tăng, nếu trước đây cứ 5 nămmới có những cơn mưa trên 100 mm, thì nay chỉ 3 năm đã thấy xuất hiện, còn những cơnmưa khoảng 100 mm thì năm nào cũng có! Điều đáng lưu ý, do chịu tác động của nhiềunhân tố khác nhau
Hình 2.5: Lượng mưa trong năm của TP.HCM quan trắc tại trạm Tân Sơn Hòa
Trang 25Hình 2.6: Mực mước cao nhất sông Sài Gòn đo tại Trạm Phú An
- Nguyên nhân thứ hai là do ảnh hưởng của triều cường, mực nước triều lớn nhất ngàycàng gia tăng TP.HCM chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều, mực nướctriều lớn nhất ngày càng gia tăng (từ 1,48 m năm 2009 đến 1,68 m năm 2013) Như vậy,diện tích đất có cao độ nhỏ hơn mực nước này, nếu không có hệ thống thoát nước thìthường xuyên bị ngập Diện ngập và độ sâu ngập sẽ lớn hơn khi có triều cường truyềnvào kênh rạch, kết hợp với lũ từ các công trình trên thượng lưu xả về và mưa lớn cùngxảy ra
Lâu nay nhiều người vẫn cho rằng nguyên nhân biến đổi khí hậu làm mực nước biểndâng cao Nhưng thực tế, theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng của TrungTâm Động Lực Học Thủy Khí Môi Trường Việt Nam năm 2015 Theo kịch bản RCP4.5,vào cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa: 58 cm (33 cm ÷ 83 cm); thấp nhất ở khu vực Móng Cái đến Hòn Dáu: 53 cm
Trang 26(32 cm ÷ 75cm) Theo kịch bản RCP8.5, vào cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng cao nhất
ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa: 78 cm (52 cm ÷ 107 cm); thấp nhất ở khu vựcMóng Cái đến Hòn Dáu: 72 cm (49 cm ÷ 101 cm Do địa hình tự nhiên của thành phố ởven biển lại thấp trũng, quá trình đô thị hóa tăng nhanh, nhiều kênh rạch tự nhiên bị sanlấp làm giảm khả năng điều tiết triều tạo nên nguy cơ dồn ứ nước vào vùng trũng là rấtlớn Các hiệu ứng tự nhiên ngày càng bất lợi cho việc thoát nước như biến đổi của lượngmưa, cường độ mưa theo không gian và thời gian, mực nước triều ngày càng cao, đất lúnnhiều hơn Ngập úng cũng sẽ nghiêm trọng hơn
- Nguyên nhân thứ ba là ngập do lũ Tây Nam bộ, Đông Nam bộ TP.HCM nằm ở hạ lưusông Sài Gòn - Đồng Nai và sông Vàm Cỏ trực tiếp ăn thông ra biển Lũ lớn từ các sôngtrên từng gây ngập lụt nghiêm trọng cho thành phố Triều cao bất thường, nước dâng dogió bão cũng xảy ra liên tục Việc xả tràn từ các hồ Trị An, Dầu Tiếng, Phước Hòa, ThácMơ,… tạo nên một khối lượng nước khổng lồ đổ về, cùng lúc đó triều cường qua cửaLòng Tàu, Soài Rạp từ biển ập vào vùng đất thấp phía nam thành phố tiếp giáp với biểnkhoảng từ 75 - 80 km Khối lượng nước dồn ứ từ nguồn và biển này tất nhiên là nguyênnhân và áp lực gây ngập cho thành phố ở tất cả vùng thấp trũng, chiếm một tỷ trọng diệntích rất cao
TP.HCM cũng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng Theo kịch bảnbiến đổi khí hậu và nước biển dâng của Trung Tâm Động Lực Học Thủy Khí Môi TrườngViệt Nam năm 2015: Nếu nước biển dâng 1m thì có khoảng 17,84% diện tích Tp Hồ ChíMinh có nguy cơ bị ngập
- Nguyên nhân thứ tư là do địa hình của TP.HCM tạo thành một “Đô thị ngập triều”.TP.HCM là vùng đất thấp, nguyên là vùng đầm lầy ngập mặn, có nhiều cửa sông rạchchảy ra biển Mặt đất từ xưa có độ dốc tự nhiên thấp dần từ phía bắc xuống phía nam Độcao trung bình từ 5 - 9 m từ huyện Củ Chi phía bắc thấp dần xuống huyện Nhà Bè, CầnGiờ ở phía nam, dần gần với độ cao của mặt biển.TP.HCM nằm ở hạ lưu hệ thống sôngĐồng Nai - Sài Gòn nên được gọi là “Đô thị ngập triều” với 61% diện tích là vùng đấtthấp trũng và gần 7.900 km hệ thống kênh rạch chằng chịt, cũng là hệ thống thoát nước
2.1.2 Nguyên nhân chủ quan
- Đô thị hóa
Trang 27KTS Lưu Đức Cường, Phó viện trưởng Viện quy hoạch đô thị và nông thôn Việt
Nam, thừa nhận mưa, lũ và triểu cường đang là nguyên nhân trực tiếp gây ra tình trạngngập úng cho đô thị TPHCM nhưng đó không phải là các nguyên nhân chính Theo ông,quá trình đô thị hóa thiếu kiểm soát mới là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng ngậplụt ở TPHCM hiện nay
Mực nước biển dâng, triều cường cao có tác động tiêu cực đến hiện tượng ngập lụtnhưng chính xu hướng phát triển đô thị về phía Nam (vùng đất thấp, yếu) và phát triển tựphát sát hai bờ sông Sài Gòn phía thượng nguồn (làm biến mất hàng ngàn héc ta diện tíchchứa nước), cùng quá trình đô thị hóa vùng ven đô (vốn trước kia sử dụng cho mục đíchnông nghiệp) mới chính là nguyên nhân dẫn đến ngập lụt ở TPHCM
Diện tích, ao, hồ, mương rạch bị san lấp nhiều nên khả năng chứa nước tại chỗ củacác khu vực này giảm sút - tỉ lệ diện tích bề mặt tự nhiên giảm, tỉ lệ bê tông hóa cao làmlượng nước chảy bề mặt gia tăng do không thấm được vào lòng đất Chính điều này đãlàm giảm lượng nước ngầm gây lún cho đô thị; đồng thời tạo ra hiện tượng đảo nhiệt - sựthay đổi về nhiệt độ bề mặt và không khí làm gia tăng cả về số lượng và quy mô củanhững cơn mưa nhiệt đới trong khu vực
Trang 28Hình 2.7: Bản đồ thể hiện diện tích bê-tống hóa bề mặt và nhiệt độ tối đa bề mặt tại
TP HCM
(Nguồn: Trần Thị Vân và Hà Lê Dương Bảo 2007)Theo ông Cường, TPHCM trong quá trình đô thị hóa 15 năm qua đã san lấp 47 conrạch và nhiều ao hồ, trong đó có hồ Bình Tiên - san lấp 7,4 ha - một hồ chứa nước quantrọng của đô thị này Và, chỉ trong vòng 8 năm, từ 2002 - 2009, khả năng chứa nước của
hệ thống ao, hồ và vùng ngập nước của TPHCM giảm xuống gần 10 lần
Nghiêm trọng hơn, sự mất diện tích bề mặt tự nhiên không chỉ diễn ra đối với đấtnông nghiệp ở vùng ven mà đồng thời xảy ra đối với diện tích công viên, cây xanh trongnội đô Nhiều diện tích đất dành cho mảng xanh bị sử dụng cho mục đích khác… Theothống kê, năm 1998, TPHCM có 1.000 héc ta công viên, cây xanh thì hiện nay chỉ cònkhoảng 535 héc ta
Trong khi đó, hệ thống thoát nước không theo kịp tốc độ đô thị hóa lan tỏa, hệ thốngthoát nước tự nhiên (mương rạch) bị thu hẹp dòng chảy (rạch Ông Kích, rạch Bà Lài,rạch Cụt…), bề mặt đất bị lún (do mực nước ngầm hạ thấp từ 2-3 cm mỗi năm cũng như
do sức nặng của các công trình xây dựng)…
- Hệ thống thoát nước
Lượng nước quá lớn, vượt xa tần suất thiết kế hệ thống thoát nước hiện nay nên gâyngập trên diện rộng Thậm chí, một số tuyến đường đã được đầu tư, nâng cấp hệ thốngthoát nước vẫn bị ngập như: Phan Xích Long, Trường Sơn, Song hành quốc lộ 22, PhanVăn Hớn, Nguyễn Ảnh Thủ, Tô Ngọc Vân
Theo Quyết định 752 của Thủ tướng về Phê duyệt Quy hoạch tổng thế hệ thống thoát nước TP HCM đến năm 2020 đối với tuyến cống cấp cao nhất đạt trên 95 mm trong 3
giờ, triều cường theo thiết kế là trên 1,3 m Trong khi đó, những năm gần đây, tình trạngbiến đổi khí hậu khiến lượng mưa ngày càng lớn và đỉnh triều trên sông ngày càng cao
Cụ thể, các cơn mưa có vũ lượng trên 100 mm xuất hiện ngày càng nhiều (mỗi năm 3lần) và triều cường năm sau luôn cao hơn năm trước, hiện là 1,68 m so với 10 năm trướcđây chỉ là 1,5m
Trang 29Tháng 5/2015, đề cập tới giải pháp giảm ngập cho Sài Gòn, Phó bí thư Thường trựcThành ủy TP.HCM Tất Thành Cang chỉ ra một trong những nguyên nhân khiến tình trạngngập ngày càng trầm trọng hơn là do nhiều con đương làm xong không chú ý đến hệthống thoát nước.
PGS.TS Nguyễn Trọng Hòa – nguyên viện trưởng vện nghiên cứu và phát triểnTP.HCM đồng tình với nhận định của lãnh đạo TP.HCM khi cho rằng “ đường ngập là dokhông có cống” Thừa nhận, đó là một nguyên nhân và thực tế trên là đúng nhưng đó mớichỉ là câu nói dễ nhất để lý giải cho tất cả các nguyên nhân
Chỉ ra nhiều lý do, PGS Nguyễn Trọng Hòa cho hay, ở dây là bài toán tiêu chuẩn hóa
hạ tầng đô thị hay vấn đề quy hoạch đô thi đang được thực hiện như thế nào?
“Nếu theo đúng quy định và tiêu chuẩn đô thị thì đầu tư trên mặt đất một phải đầu tưdưới đấy gấp 3 lần mới đàm bảo được” Các nhà đầu tư luôn tính toán làm sao cho lợinhất cho mình, do đó, mới có tình trạng làm trên không làm dưới Nên tình trạng ngậpkhi đường đi vào hoạt động là không thể tránh khỏi
- Xả rác bừa bãi, kênh rạch bị lấn chiếm
Tình trạng người dân xả rác xuống hệ thống thoát nước (miệng thu hầm ga, kênhrạch) còn phổ biến Nên khi mưa lớn, áp lực nước cao sẽ cuốn rác vào lưới chắn, cản trởdòng chảy "Trước khi xuất hiện mưa, chúng tôi đã triển khai vớt rác trước miệng thunước và bố trí người trực những nơi có khả năng gây ngập nhưng cũng chỉ hạn chế đượcmột phần", đại diện Trung tâm chống ngập cho biết
Thành phố nhiều lần quyết liệt về xử phạt hành vi "Đổ rác, chất thải hoặc bất cứ vật
gì khác vào hố ga, hệ thống thoát nước công cộng, trên vỉa hè, lòng đường" Tuy nhiêntrên thực tế, hầu như rất ít người bị phạt do không bắt được quả tang
Tình trạng lấn chiếm hệ thống thoát nước, cửa xả, kênh rạch còn phổ biến nhưng việc
xử lý còn quá chậm dù chính quyền thành phố đã chỉ đạo xử lý nhiều lần Trong chuyếnkhảo sát các tuyến kênh thoát nước cho sân bay Tân Sơn Nhất mới đây của Chủ tịchUBND TP HCM Nguyễn Thành Phong, đoàn đã ghi nhận hàng loạt công trình nhà dân
Trang 30xây lấn chiếm bờ kênh Dưới lòng kênh cũng có lượng lớn rác thải và vật liệu xây dựngnằm ngổn ngang, chắn ngang dòng chảy, bít kín cửa thoát nước khiến nước tù đọng, bốcmùi khó chịu.
- Dự án chống ngập 'rùa bò'
Nhiều dự án đã được triển khai để xóa các điểm ngập còn lại (giai đoạn 2016-2020)nhưng tiến độ chậm do vướng thủ tục, như: Dự án cải tạo rạch Xuyên Tâm, Cải tạo rạchÔng Búp, Kênh tiêu Liên Xã Hoặc thi công chậm như: Xa lộ Hà Nội (chân cầu RạchChiếc), Nguyễn Văn Quá (quận 12)
Chẳng hạn, dự án cải tạo rạch Xuyên Tâm với tổng số vốn hơn 5.100 tỷ đồng nhằmgiúp thoát nước, giảm ngập úng cho 700 ha tại nhiều khu vực ở các quận Bình Thạnh, GòVấp được giao cho một công ty tư nhân đầu tư từ năm 2015 hiện giậm chân tại chỗ Mớiđây, báo cáo UBND thành phố, các sở ngành cho biết vẫn chưa có động tĩnh gì từ phíanhà đầu tư chốt lại thời điểm khởi động, hoàn thành dự án cải tạo tuyến rạch huyết mạchvùng nội thành thành phố này
- Chưa thực hiện các dự án hỗ trợ thoát nước
Dù đã được quy hoạch từ lâu, song các dự án hỗ trợ thoát nước trong điều kiện ảnhhưởng biến đổi khí hậu, diễn biến thủy văn phức tạp tại thành phố đã được Thủ tướngphê duyệt 8 năm trước chưa thể triển khai thi công Hiện, chỉ mới xây dựng được mộttrong 10 cống kiểm soát triều (Nhiêu Lộc - Thị Nghè) và hơn 40% hệ thống đê bao (60
km đê bao trong tổng số 149 km)
"Chậm trễ là do thiếu vốn Để triển khai các quy hoạch chống ngập cần số tiền lênđến hàng trăm nghìn tỷ đồng nhưng thực tế thành phố mới đầu tư được 25.000 tỷ, nênkhối lượng công việc còn rất hạn chế Bên cạnh đó, việc giải phóng mặt bằng quá chậmcũng ảnh hưởng đến tiến độ thi công các dự án chống ngập", báo cáo của UBND TPHCM cho biết
- Dự án thoát nước đang triển khai ngăn dòng chảy
Trang 31Một số công trình thoát nước đang thi công cũng được cho là một trong nhữngnguyên nhân làm ảnh hưởng đến khả năng thoát nước của tuyến cống hiện hữu Ngoài ra,theo Trung tâm chống ngập, có những tuyến đường đã xử lý ngập bằng giải pháp tạm(đấu nối mở thêm hướng thoát nước mới, cải tạo miệng thu…) trong khi chờ các dự ánlớn triển khai đã xuất hiện ngập khi mưa to.
2.2 Hậu quả
Theo dự báo của các tổ chức trên thế giới và các chuyên gia về BĐKH, Thành phố
Hồ Chí Minh sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Tổnthương do BĐKH đến TPHCM được đánh giá là nghiêm trọng hơn cả trên phạm vi cảnước do là nơi tập trung dân số đông nhất và mức độ đầu tư hạ tầng rất cao đặc biệt trongbối cảnh thành phố đang có kế hoạch phấn đấu trở thành một trong những thành phố tầm
cỡ quốc tế của khu vực Đông Nam Á Có thể nói biến đổi khí hậu là nguy cơ thiên tai lớnnhất từ trước đến nay của TPHCM
Tuy nhiên, vấn đề BĐKH còn rất mới mẻ, chưa được nhìn nhận sâu sắc và triển khai
cụ thể dẫn đến các tác động lớn đến sử phát triển kinh tế và xã hội
2.2.1 Đối với tình hình phát triển kinh tế
Công nghiệp
- Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm công nghiệp lớn với nhiều ngành nghề quantrọng và đặc biệt có một bộ phận quan trọng của đầu tư nước ngoài tại đây Về diện tíchphân bố công nghiệp, thì đa phần các doanh nhiệp lớn và vừa đều nằm trong các khucông nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao
- Mô hình phát triển công nghiệp TPHCM từ nay đến năm 2025 dựa trên 4 nhóm ngànhcông nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao (cơ khí, điện tử -công nghệ thông tin, hóadược - cao su, chế biến tinh lương thực thực phẩm) và các ngànhcông nghệ sinh học, công nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng Về phân bố không gian lãnhthổ, thành phố quy hoạch phát triển 22 khu chế xuất – khu công nghiệp với tổng diện tích5.918 ha, quy hoạch phát triển khu công nghệ cao với tổng diện tích 913 ha, Công viên