1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nhà nước trong quản lí môi trường nước ở đô thị

43 846 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của nhà nước trong quản lí môi trường nước ở đô thị
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 227,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nước là tài sản chung của nhân loại, là một trong bốn nhân tố tạo nên môi trường, nó có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự sống của con người và sinh thực vật

Trang 1

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU 3

B PHẦN NỘI DUNG 5

Chương I: Vai trò của nhà nước trong quản lí môi trường nước ở đô thị 1.QLNN về môi trường nước ở đô thị 5

1.1.Quản lí môi trường nước ở đô thị 5

1.2.Quản lí nhà nước về môi trường nước ở đô thị 6

1.3.Chức năng, nội dung của QLNN về môi trường nước ở đô thị 6

2.Những công cụ quản lí môi trường nước ở đô thị 8

2.1.Công cụ kinh tế 8

2.2.Công cụ pháp lí 13

2.3.Công cụ kĩ thuật 17

2.4.Công cụ giáo dục và truyền thông 21

3.Tính tất yếu khách quan của QLNN về môi trường nước ở đô thị 23

ChươngII:Thực trạng môi trường nước ở đô thị & nguyên nhân 1.Thực trạng 26

1.1.Cấp nước 26

1.2.Úng ngập đô thị 28

1.3.Nước thải 30

2.Nguyên nhân 31

2.1.Nguyên nhân ô nhiễm từ nguồn nước thải 31

2.2.Nguyên nhân tình trạng úng ngập 34

ChươngIII: Giải pháp của nhà nước trong QLMT nước ở đô thị 1.Sử dụng các công cụ quản lí vào quản lí môi trường nước ở đô thị 36

1.1.Sử dụng công cụ pháp lí 36

1.2.Sử dụng công cụ kĩ thuật trong quản lí môi trường nước 36

Trang 2

1.3.Sử dụng công cụ kinh tế 37

1.4.Sử dụng công cụ giáo dục và truyền thông 38

2.Kiến nghị với cơ quan nhà nước 39

2.1.Về vấn đề xử lí nước thải ở đô thị 39

2.2.Về vấn đề giải quyết úng ngập 40

2.3.Về vấn đề cung cấp nước sạch 40

2.4 Về vấn đề xử lý vi phạm nguồn nước ở đô thị 40

C PHẦN KẾT LUẬN 42

D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 3

Nước là tài sản chung của nhân loại, là một trong bốn nhân tố tạo nênmôi trường, nó có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự sống của conngười và sinh thực vật Không có nước thì sự sống của muôn loại trên hànhtinh không thể tồn tại được Con người khai thác từ nguồn tự nhiên và sửdụng cho nhiều mục đích khác nhau như phục vụ ăn uống, sinh hoạt của chínhcon người, nước dùng cho sản xuất công nghiệp, cho sản xuất nông nghiệp vàcho rất nhiều hình thức dịch vụ khác…Nước sử dụng cho những mục đíchtrên lại thải vào chính nguồn nước nơi mà con người đã khai thác cho mụcđích sử dụng của mình Tất cả những hoạt động đó do thiếu quản lí hay hiểubiết đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước và ở nhiều nơi đã trở nên trầmtrọng.

Nước có vai trò quan trọng đối với sự sống nhưng nước không phải là

vô tận Khoảng 97% khối lượng nước trên bề mặt trái đất là nước mặn chỉ cómột phần nhỏ lượng nước ngọt phục vụ cho nhu cầu của con người Nguồnnước ngọt vốn đã hạn chế đối với nhu cầu ngày càng gia tăng của con ngườivậy mà tại nhiều khu vực kể cả nước mặt lẫn nước ngầm đang bị ô nhiễmnghiêm trọng: như nước thải không được xử lí từ các nhà máy, xí nghiệp, từcác loại dịch vụ và các khu đô thị…vào các nguồn nước nhận Đã có rất nhiều

ví dụ về sự ô nhiễm nước tại một số khu vực và thành phố lớn đặc biệt là cáckhu đô thị và khu công nghiệp lớn như Hà nội, Thành phố Hồ Chí Minh, HảiPhòng, Hà Đông…

Sự phát triển các đô thị cùng với việc gia tăng tỷ lệ dân số đô thị gây áplực rất lớn đến môi trường đô thị, bên cạnh sự phát triển mạnh ngành côngnghiệp một mặt góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế nhưng lại gây ảnhhưởng môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường nước Ở Việt Nambảo vệ tài nguyên nước và tránh sự ô nhiễm ở các khu đô thị gây ảnh hưởng

Trang 4

sạch, nước thải chưa qua xử lí đã thật sự là vấn đề nan giải cần giải quyết Đã

có rất nhiều chính sách, biện pháp được áp dụng nhằm bảo vệ nguồn nước,ngăn chặn hành vi gây ô nhiễm nguồn nước của nhà nước ta, song vì để giảiquyết vấn đề phức tạp này đòi hỏi phải có sự quản lí thật chặt chẽ của nhànước phối hợp với ý thức bảo vệ môi trường nước của toàn dân, nó đòi hỏimột thời gian khá dài và nguồn lực rất lớn…nên hiện nay vấn đề về môitrường nước vẫn còn tồn tại và nhiều bất cập

Để góp phần nghiên cứu các giải pháp của nhà nước trong việc giảiquyết các vần đề về môi trường nước đô thị hiện nay tôi đã lựa chọn đề tài :

“Thực trạng và giải pháp của nhà nước trong việc giải quyết vấn đề môi

trường nước ở đô thị hiện nay’’.

Mục tiêu của đề tài nghiên cứu là:

Thứ nhất, tìm hiểu về vai trò của nhà nước trong quản lí môi trườngnước ở đô thị

Thứ hai, các công cụ quản lí môi trường nước áp dụng vào quản lí môitrường nước ở các khu đô thị

Thứ ba, thực trạng môi trường nước các khu đô thị hiện nay và nguyênnhân của tình trạng đó

Thứ tư, các giải pháp của nhà nước để giải quyết vấn đề môi trườngnước ở đô thị

Thứ năm, kiến nghị với cơ quan nhà nước về công tác quản lí môi

trường nước ở đô thị hiện nay

Trong quá trình tìm hiểu về đề tài tôi đã nhận được sự hướng dẫn của T.S Phạm Vũ Thắng và góp phần cho Đề án của tôi hoàn thiện hơn, tôi xin gửi lời cảm ơn đến T.S Phạm Vũ Thắng!

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

Chương I VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÍ MÔI

TRƯỜNG NƯỚC Ở ĐÔ THỊ

1.Quản lí nhà nước về môi trường

1.1 Quản lí môi trường nước

Quản lý môi trường nước là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chínhsách Kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trườngnước ở các khu đô thị nhằm đảm bảo đời sống kinh tế - xã hội cho đời sốngdân cư đô thị và phát triển kinh tế gắn liền với phát triển bền vững1

Xét về đối tượng của quản lí môi trường nước: Thực chất của quản límôi trường nước là quản lí các hoạt động phát triển, thường xuyên diễn ra lienquan đến môi trường nước và có tác động tích cực và tiêu cực đến trạng thái

ổn định của nó Nhưng hoạt động phát triển không tự thân chúng tiến hành

mà đều do con người với những mục đích, lợi ích khác nhau thực hiện Bởithế quản lí môi trường nước chính là quản lí hành vi cá nhân, tập thể conngười trong hoạt động sản xuất, tiêu thụ, sinh hoạt,v.v…, là điều tiết các lợiích sao cho hài hoà trên nguyên tắc ưu tiên lợi ích quốc gia, của toàn xã hội Mục tiêu quản lí môi trường là ba mục tiêu cơ bản sau :

Một là, phải khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trườngnước phát sinh trong hoạt đống sống của con người

Hai là, phát triển kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một

xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất và được tuyên bố Johannesburg,Nam Phi về phát triển bền vững (9/2002) tái khẳng định

1 Giáo trình kinh tế và quản lí môi trường – NXB Thống kê- PGS.TS Nguyễn Thế Chinh Tr338

Trang 6

Ba là, xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lí môi trường nước ở các

khu đô thị Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương

và cộng đồng dân cư.2

1.2 Quản lí nhà nước về môi trường nước ở đô thị

Quản lý nhà nước về môi trường nước ở đô thị là quản lý nhà nước vềbảo vệ môi trường xác định rõ chủ thể là nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ

và quyền hạn của mình đưa ra các bịên pháp, luật pháp, chính sách Kinh tế, kĩthuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường nước và phát triểnbền vững kinh tế - xã hội đô thị

Như vậy, chúng ta thấy rằng Quản lí nhà nước về môi trường nước xét

về bản chất khác với những hình thức quản lí khác như: Quản lí môi trườngnước do các tổ chức phi chính phủ đảm nhiệm; Quản lí môi trường nước dựatrên cơ sở cộng đồng; quản lí môi trường nước có tính chất tự nguyện… Hìnhthức quản lí nhà nước về môi trường nước chủ yếu là điều hành và kiểm soát.3

1.3.Chức năng, nội dung của quản lí nhà nước về môi trường nước

Thứ hai, chức năng tổ chức: nhằm hình thành các nhóm chuyên mônhoá, các phần tử cấu thành môi trường nước để góp phần vào hệ thống địnhhướng cho các mục tiêu mong muốn trước mắt và lâu dài

2 Giáo trình quản lí môi trường bằng công cụ kinh tế - NXB Lao động- Trần Thanh Lâm Tr 21

3 Giáo trình kinh tế và quản lí môi trường – NXB Thống kê- PGS.TS Nguyễn Thế Chinh Tr 342

Trang 7

Thứ ba, chức năng điều khiển: nhằm phối hợp hoạt động chung củanhóm, của phân hệ trong việc giải quyết vấn đề liên quan đến môi trườngnước.

Thứ tư, chức năng kiểm tra: nhằm phát hiện kịp thời những sai sót trongquá tình hoạt động và các cơ hội đột biến liên quan đến môi trường nước ởcác khu đô thị Đây là chức năng quan trọng nhất của cá nhân người lãnh đạo,chủ thể quản lí môi trường nước

Thứ năm, chức năng điều chỉnh: nhằm sửa chữa những sai sót nảy sinhtrong quá trình hoạt động phát triển, tận dụng các cơ hội để thúc đẩy, bảo đảmcho hệ thống cung cấp nước, thoát nước, xử lí nước thải… hoạt động pháttriển một cách bình thường 4

Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường nước bao gồm nhữngnội dung cơ bản sau:

Thứ nhất: Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ,các hệ thống tiêu chuẩn về môi trường nước

Thứ hai: Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môitrường, kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái, sự cố môi trường nước,xây dựng,quản lý các công trình bảo vệ môi trường nước

Thứ ba: Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thông quan trắc, định kì đánh giáhiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường nước

Thứ tư: Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường nước của các

dự án và các cơ sở sản xuất, kinh doanh

Thứ năm: Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường nướcThứ sáu: Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo

vệ môi trường, giải quyết các tranh chấp, xử lý các vi phạm pháp luật liênquan đến bảo vệ môi trường nước ở các khu đô thị

4 Giáo trình quản lí môi trường bằng công cụ kinh tế - NXB Lao động- Trần Thanh Lâm Tr 26

Trang 8

Thứ bảy: Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường nước, giáodục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về môi trường nước.

Thứ tám: Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệtrong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cấp nước và thoát nước

2 Những công cụ quản lí môi trường nước ở đô thị

Công cụ quản lí môi trường nước là các phương thức hay biện pháphành động thực hiện công tác quản lí môi trường nước của Nhà nước, các tổchức khoa học và sản xuất Công cụ quản lí môi trường nước rất đa dạng, mỗicông cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợlẫn nhau5

Có thể phân loại công cụ quản lí môi trường nước theo chức năng hoặctheo bản chất của công cụ Phân loại theo bản chất của công cụ ta có các loạicông cụ sau:

2.1.Công cụ kinh tế

Trước tiên, chúng ta nên hiểu về khái niệm công cụ kinh tế trong quản límôi trường: Công cụ kinh tế là các công cụ chính sách được sử dụng nhằmtác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động kinh tế của các cá nhân và tổchức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhânkinh tế theo hướng có lợi cho môi trường nước6 Các công cụ kinh tế trongquản lí môi trường là: Phí/ lệ phí môi trường, thuế môi trường, giấy phép môttrường, hệ thống đặt cọc hoàn trả, kí quỹ môi trường

Công cụ kinh tế trong quản lí môi trường nước được cụ thể hoá bằng hệthống lệ phí ô nhiễm nước Các lệ phí ô nhiễm này là công cụ quan trọng, bổsung cho các công cụ pháp lí, kiểm soát ô nhiễm trực tiếp, nhằm khuyếnkhích những người gây ô nhiễm môi trường nước giảm bớt lượng xả thải ô

5 Giáo trình quản lí môi trường bằng công cụ kinh tế - NXB Lao động- Trần Thanh Lâm Tr 52

6 Giáo trình kinh tế và quản lí môi trường – NXB Thống kê- PGS.TS Nguyễn Thế Chinh Tr 422

Trang 9

nhiễm Áp dụng phổ biến hiện nay là hai loại phí mà các nước khác đã sửdụng là phí xả thải nước và phí người sử dụng

2.1.1.Phí xả thải nước :

Phí xả nước thải là khoản thu của nhà nước nhằm bù đắp một phần chiphí thường xuyên và không thường xuyên về xây dựng, bảo dưỡng, tổ chứcquản lí hành chính của nhà nước đối với hoạt động của người nộp thuế

Ở Trung Quốc, theo quy định của nhà nước, tất cả các xí nghiệp hoặcbất kì cơ sở nào xả chất ô nhiễm vào môi trường nước đều phải trả phí thảinước Phí này là phí mua quyền sử dụng môi trường tiếp nhận các chất ônhiễm xả thải Phí xả thải nước được xác định trên số lượng, nồng độ và tínhchất của các chất ô nhiễm trong nước thải Đối với trường hợp các chất thảicủa nguồn thải vượt qúa tiêu chuẩn môi trường cho phép thì các cơ sở sảnxuất còn phải trả thêm các phí nước thải bổ sung, đồng thời phaỉ có tráchnhiệm trong một thời hạn nhất định phải áp dụng biện pháp kiểm tra và xử lí ônhiễm cho đạt tiêu chuẩn môi trường Tiền thu phí này được tách một phầnnhỏ để chi phí cho công tác quản lí môi trường, số còn lại sẽ nộp vào qũy môitrường, dùng để hỗ trợ, cho vay nhẹ lãi và khuyến khích các cơ sở đầu tư vàothiết bị xử lí ô nhiễm môi trường

Các phí người sử dụng :

Lệ phí sử dụng nguồn nước là khoản thu bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức ở các khu đô thị được hưởng một lợi ích hoặc được sử dụng một dịch vụnào đó do nhà nước cung cấp

Đối với các nguồn xả thải nước gây ô nhiễm môi trường từ các hộ giađình và các cơ sở sản xuất nhỏ thì rất khó xác định lượng xả thải chất ô nhiễmcủa các hộ, các cống nước thải của mỗi hộ Chúng ta nên học tập cách tính phícủa Thuỵ Điển: loại phí này được chia làm hai phần: Phần phí cố định, tínhđồng đều cho các hộ và phần phí thay đổi, liên quan đến mức tiêu dùng nướccủa mỗi hộ Loại phí này còn có tác dụng khuyến khích các hộ gia đình, cũng

Trang 10

như các hộ sản xuất nhỏ tiết kiệm sử dụng nước sạch, nhưng lại làm tăngnồng độ chất ô nhiễm trong nước thải Hay như Trung Quốc, tiền phí nướcthải ra cống đối với mỗi hộ gia đình hay cơ sở sản xuất được tính gộp với tiềnmua nước sạch, tức là trong giá mua nước cấp đã bao gồm cả phí xả thải nước

ra cống Cách thức thu phí này tránh được sự thất thu phí xả thải nước ônhiễm đối với các hộ hay cơ sở sản xuất trốn tránh sự kiểm tra và đổ thảinứơc thải bất hợp pháp vàp sông ngòi, cống rãnhrường, quỹ môi trường, trợcấp môi trường và nhãn sinh thái

2.1.2.Thuế môi trường nước

Thuế môi trường nước được sử dụng khá phổ biến tại các nước côngnghiệp phát triển (OECD), đó là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trườngvào giá sản phẩm theo nguyên tắc “ người gây ô nhiễm phải trả tiền” Thuếmôi trường nước nhằm hai mục đích chủ yếu: Khuyến khích người gây ônhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường nước ở đô thị, hạn chế cáctổn thất tài nguyên trong quá trình sử dụng, và tăng nguồn thu cho Ngân sáchnhà nước

Trên thực tế, thuế môi trường nước được áp dụng dưới nhiều hình thứckhác nhau tuỳ thuộc mục tiêu và đối tượng ô nhiễm như: Thuế đánh vào ônhiễm, Thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm, thuế đánh vào sản phẩm gây ônhiễm, phí đánh vào người sử dụng Thuế môi trường nước ở các khu đô thịcũng được áp dụng tương tự như thuế môi trường nói chung

2.1.2.Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường nước( Cota gây ô nhiễm )

Đây là một loại giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng mà thông qua

đó nhà nước công nhận quyền các nhà máy, xí nghiệp v.v… được phép thảicác chất gây ô nhiễm vào môi trường nước Nhà nước xác định tổng lượngchất gây ô nhiễm tối đa có thể cho phép thải vào môi trường nước, sau đóphân bổ cho các nguồn thải bằng cách phát hành những giấy phép thải gọi là

Trang 11

cota gây ô nhiễm và chính htức công nhận quyền được xả một lượng nướcgây ô nhiễm nhất định vào môi trường nước chung trong một giai đoạn xácđịnh cho các nguồn thải.

2.1.3.Hệ thống đặt cọc hoàn trả:

Đặt cọc - hoàn trả được sử dụng trong hoạt động bảo vệ môi trườngnước ở đô thị bằng cách quy định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm cókhả năng gây ô nhiễm môi trường nước phải trả thêm một khoản tiền (đặtcọc) khi mua hàng, nhằm đảm bảo cam kết sau khi tiêu dùng sẽ đem sảnphẩm đó ( hoặc phần còn lại của sản phẩm đó ) trả lại cho các đơn vị thu gomrác thải hoặc tới những địa điểm quy định để tái chế, tái sử dụng hoặc tiêuhuỷ theo cách an toàn đối với môi trường Nếu thực hiện đúng, người tiêudùng sẽ nhận lại khoản đặt cọc do các tổ chức thu gom hoàn trả lại

2.1.4.Kí quỹ môi trường

Kí quỹ môi trường nước là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt độngkinh tế có tiềm năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường nước ở đô thị.Nguyên lí hoạt động của hệ thống kí quỹ môi trường nước cũng tương tự như

hệ thống đặt cọc hoàn trả Nội dung chính của kí quỹ môi trường nước là yêucầu các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi tiến hành mộthoạt động đầu tư phải kí gửi một khoản tiền tại ngân hàng hay tổ chức tíndụng, nhằm đảm bảo sự cam kết về thực hiện các biện pháp để hạn chế ônhiễm, suy thoái môi trường nước Mục đích chính của việc kí quỹ là làm chongười có khả năng gây ô nhiễm luôn nhận thức được trách nhiệm của họ, từ

đó tìm ra các biện pháp thích hợp ngăn ngừa ô nhiễm

2.1.5.Quỹ môi trường nước:

Quỹ môi trường nước ở đô thị là một thể chế hoặc một cơ chế tài chínhđược thiết kế để nhận tài trợ vốn từ các nguồn khác nhau, và từ đó phân phốicác nguồn này để hỗ trợ quá trình thực hiện dự án hoặc các hoạt động cảithiện môi trường nước

Trang 12

Nguồn thu này có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như:Phí và lệ phí môi trường nước, đóng góp tự nguyện của mỗi cá nhân và doanhnghiệp ở đô thị, đóng góp của các tổ chức tài trợ quốc tế, tiền lãi và các khoảnthu được từ hoạt động của quỹ, tiền xử phạt hành chính do vi phạm quy định

về bảo vệ môi trường nước

Ở Việt Nam với quyết định của thủ tướng chính phủ số TTg ngày 26/06/2002 về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo vệmôi trường Việt Nam là cơ hội tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong

82/2002/QĐ-nỗ lực giảm thiểu ô nhiễm, có nguồn tài chính cho các doanh nghiệp có cơ hộivay để khắc phục những vấn đề về môi trường với lãi suất ưu đãi

2.1.6.Nhãn sinh thái

Nhãn sinh thái là một danh hiệu nhà nước cấp cho các sản phẩm khônggây ra ô nhiễm môi trường nước trong quá trình sản xuất hoặc quá trình sửdụng sản phẩm đó Được dán nhãn sinh thái là một sự khẳng định uy tín chấtlượng sản phẩm và nhà sản xuất Các sản phẩm có nhãn sinh thái thường cósức cạnh tranh cao và giá bán ra thị trường cũng thường cao hơn các sảnphẩm cùng loại Như vậy, nhãn sinh thái là công cụ kinh tế tác động vào nhàsản xuất thông qua phản ứng và tâm lí khách hàng Rất nhiều nhà sản xuất đã

và đang đầu tư để sản phẩm của mình được công nhận là sản phẩm “ xanh ’’được dán nhãn sinh thái và điều kiện để dán nhãn sinh thái ngày càng khắtkhe hơn Nhãn sinh thái thường được xem xét và dán cho các sản phẩm táichế từ phế thải, các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm có tác động xấu đếnmôi trường, hoặc các hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm có ảnh hưởngtích cực với môi trường ở đô thị Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinhdoanh…ở đô thị có thể áp dụng phổ biến công cụ này

2.1.7.Các khoản trợ cấp:

Trợ cấp môi trường nước là công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng rấtnhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển Trợ cấp

Trang 13

môi trường có thể dưới dạng sau: Trợ cấp không hoàn lại, các khoản cho vay

ưu đãi, cho phép khấu hao nhanh, ưu đãi thuế ( miễn, giảm…)

Chức năng chính của trợ cấp môi trường nước ở đô thị là giúp đỡ cácngành công nghiệp ở đô thị khắc phục ô nhiễm môi trường nước trong điềukiện khi tình trạng ô nhiễm môi trường nước quá nặng nề hoặc khả năng tàichính của doanh nghiệp không chịu đựng được Trợ cấp còn khuyến khích các

cơ quan nghiên cứu và triển khai là các công nghệ sản xuất có lợi cho môitrường nước hoặc các công nghệ xử lí ô nhiễm Tuy nhiên, trợ cấp môi trườngnước chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc kéo dài sẽdẫn đến phi hiệu quả kinh tế, vì trợ cấp đi ngược với nguyên tắc người gây ônhiễm phải trả tiền, vì thế cần có một chương trình có hoạch định và kiểmsoát rõ ràng, thường xuyên

Ở nhiều nước trên thế giới đã dành các khoản trợ cấp, các khoản vay lãisuất thấp hoặc giảm nhẹ thuế để khuyến khích các cơ sở sản xuất đầu tư kĩthuật để ngăn chặn hoặc giảm nhẹ ô nhiễm môi trường nước Thí dụ như ởPhilippin, theo Luật môi trường, giảm 50% thuế đối với các thiết bị kiểm soát

ô nhiễm nhập khẩu, luật này cũng quy định miễn thuế cho tất cả thiết bị xử lí

ô nhiễm môi trường được sản xuất trong nước Ở nước ta hiện nay cũng đã cóquy định miễn thuế nhập khẩu, áp dụng những hình thức trợ cấp hoặc chovay với lãi suất rất thấp đối với các cơ sở sản xuất đầu tư cải tiến, đổi mớicông nghệ để giảm lượng thải chất ô nhiễm, hoặc đối với nhà máy gây ônhiễm trầm trọng phải di chuyển địa điểm từ nội thành ra các khu côngnghiệp ở ngoại thành

2.2.Công cụ pháp lý7

Công cụ pháp lý trong quản lí môi trường nước ở đô thị hay còn gọi làcông cụ luật pháp, chính sách bao gồm : các văn bản về luật quốc tế, luật quốcgia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch, chiến lược và chính sách liên

7 Giáo trình kinh tế và quản lí môi trường – NXB Thống kê- PGS.TS Nguyễn Thế Chinh Tr 417

Trang 14

quan đến môi trường nước ở đô thị của một quốc gia, các ngành kinh tế vàcác địa phương.

2.2.1.Quy hoạch, kế hoạch hoá bảo vệ môi trường nước đô thị

Bảo vệ môi trường nước đô thị là công tác được tiến hành trên quy môlãnh thổ lớn, trong thời gian dài, có liên quan đến nhiều ngành, nhiều đốitượng khác nhau trong xã hội Vì vậy công tác này chỉ có thể được thực hiêntốt trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch hoá Nội dung cơ bản của quy hoạch, kếhoạch hoá bảo vệ môi trường nước ở đô thị là:

Điều tra cơ bản về chất lượng môi trường nước ở đô thị, trữ lượng tàinguyên, thu thập số liệu để làm cơ sở cho việc lập quy hoạch

Bảo vệ môi trường nước ở đô thị là làm sao phải duy trì được môitrường nước cơ bản, nhằm tạo điều kiện tái tạo môi trường nước ở đô thị, pháthuy đặc điểm tự điều chỉnh của hệ thống môi trường nước ở đô thị Vì vậyphải đặt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong kế hoạch chung, phù hợpvới điều kiện bảo vệ và duy trì môi trường nước cơ bản, nhằm hướng tới sựphát triển bền vững

Quy hoạch, kế hoạch hóa môi trường nước ở đô thị phải đảm bảo tínhđồng bộ, cân đối với mục tiêu và nguồn lực, gắn chặt với chính sách đầu tưphát triển

2.2.2.Về pháp luật

Thông thường, hệ thống luật của mỗi quốc gia bao gồm hai bộ phậnchính là luật chung ( Luật Bảo vệ môi trường nước ở đô thị ) và luật về cácthành phần của môi trường nước ở đô thị

Quy định là những văn bản dưới luật nhằm cụ thể hoá hoặc hướng dẫnthực hiện các nội dung của luật liên quan đến môi trường nước ở đô thị

Chế định là các quy định về chế độ, thể chế tổ chức quản lí bảo vệ môitrường nước ở đô thị Chẳng hạn quy định chức năng nhiệm vụ và quyền hạncủa các cơ quan Bộ, Sở tài nguyên và môi trường

Trang 15

Hệ thống văn bản pháp luật về quản lí nhà nước về môi trường nước ở

đô thị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong bảo vệ môi trường nước ở đôthị và phát triển tài nguyên Đây là công cụ hay biện pháp mang tính pháp lí

do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các hoạt động phát triển của cá nhân,doanh nghiệp, cộng đồng, các ngành ,các cấp, các địa phương sao cho phùhợp với mục đích bảo vệ môi trường nước ở đô thị, đảm bảo cân bằng sinhthái, thông qua hàng loạt các văn bản pháp quy đối với việc sản xuất và tiêuthụ sản phẩm, tức là thực thi các biện pháp bắt buộc hoặc cưỡng chế đối vớingười gây ô nhiễm phải huỷ bỏ hay hạn chế bớt một số hoạt động gây tổn thấtcho môi trường nước ở đô thị

Một trong những công cụ pháp lí quan trọng trong quản lí môi trườngnước mặt là xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn, quy định về bảo vệ môitrường nước

Ở Mỹ và một số nước phát triển từ lâu đã thực hiện quy định : tất cả các

cơ sở sản xuất công nghiệp cần phải có giấy phép xả thải vào hệ thống thoátnước chung của đô thị hoặc đổ thải vào nguồn nước mặt Các giấy phép xảthải được cấp cho từng thời kì 5 năm và sau đó phải xin gia hạn hoặc cấp giấyphép mới mới được tiếp tục xả thải Những cơ sở sản xuất xả nước thải thựchiện ghi chép lưu trữ hồ sơ và tiến hành tự quan trắc giám sát nước thải củamình Ở Anh, giấy phép xả thải được cấp hai năm một lần, trong giấy phép xảthải thường quy định rõ lượng nước thải tối đa cho phép và các giới hạn đốivới chỉ tiêu: BOD, COD, độ pH, nhiệt độ và một số kim loại nặng Các cơquan quản lí nhà nước về môi trường nước ở đô thị định kì đến kiểm tra các

cơ sở đổ thải nước, nếu phát hiện các cơ sở không tuân thủ tiêu chuẩn môitrường nước ở đô thị và các quy định trong giấy phép thì thực hiện ngay cácbiện pháp tương ứng như cảnh cáo, xử phạt, thu hồi giấy phép, bắt cơ sở tạmngừng sản xuất, thậm chí là đóng cửa nhà máy Mức độ xử phạt đến 400 USD

Trang 16

đến 20,000 USD Thực tế ở nhiều nước phát triển chứng tỏ sử dụng hiệu quảcông cụ pháp lí này trong quản lí môi trường nước.

Tuỳ theo tình hình cụ thể ở mỗi địa phương mà bổ sung thêm hoặc chitiết hoá các quy định và tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường nước Trong nhiềutrường hợp giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường các dòng sông, cácthuỷ vực cần có sự phối hợp giữa các địa phương với nhau, giữa các tỉnh,thành trong cùng khu vực, các địa phương ở đầu nguồn nước( thượng lưu)phải có trách nhiệm đối với bảo vệ môi trường nước ở hạ lưu

2.2.3.Về chính sách

Chính sách bảo vệ môi trường nước ở đô thị là công cụ chỉ đạo toàn bộhoạt động bảo vệ môi trường nước ở đô thị trên một phạm vi lãnh thổ rộnglớn như một vùng hay một quốc gia trong thời gian dài (10 – 15 năm trở lên).Chính sách phải nêu lên mục tiêu và định hướng lớn để thực hiện mục tiêu.Chính sách đó phải hợp lí, có cơ sở vững chắc về khoa học và thực tiễn Phải

có chiến lược để cụ thể hoá chính sách ở một mức độ nhất định, chọn các mụctiêu khả thi, xác định các phương hướng biện pháp thực hiện các mục tiêu đềra

Đây vừa là nhiệm vụ quan trọng vừa là công cụ trong quản lí nhà nước

về môi trường nước ở đô thị Vì vậy, Đảng và nhà nước ta đã đề ra chính sáchbảo vệ môi trường nước ở đô thị gắn liền với chính sách phát triển kinh tế - xãhội, trên cơ sở đó, Chính phủ đã xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường nướcquốc gia theo từng giai đoạn phát triển của đất nước Trên cơ sở chiến lượcbảo vệ môi trường, các cơ quan quản lí nhà nước về tài nguyên và môi trườngnước ở đô thị tiến hành nhiệm vụ cụ thể sau đây:

2.2.4.Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường nước ở đô thị

Nhà nước thực hiện chính sách xã hội hoá bảo vệ môi trường nước ở đôthị bằng pháp luật và các văn bản pháp lý, để huy động cộng đồng tham giavào các hoạt động quản lí môi trường các cấp, vào việc ra quyết định của các

Trang 17

cơ quan nhà nước bằng các phong trào quần chúng như phong trào tự quản vệsinh - môi trường, phân loại phế thải tại nguồn, làng sinh thái, làng văn hoá,thông tin môi trường nước ở đô thị cho cộng đồng…theo hướng thân thiện vớimôi trường nước ở đô thị Đầu tư bảo vệ môi trường nước ở đô thị phải được

đa dạng hoá về hình thức và nguồn vốn nhằm huy động được mọi nguồn lựctrong xã hội Hình thức đầu tư bao gồm đầu tư bằng trí lực, vật lực, ngày cônglao động hữu ích và bằng tiền Đây là công cụ được nghiên cứu áp dụng rộngrãi do được đánh giá là có hiệu quả vì nó huy động nhiều nguồn lực cho quản

lí và bảo vệ môi trường nước ở đô thị

2.3.Công cụ kĩ thuật quản lí môi trường nước ở đô thị

Các công cụ kỹ thuật quản lí môi trường nước ở đô thị thực hiện vai tròkiểm soát và giám sát Nhà nước về chất lượng và thành phần môi trườngnước ở đô thị, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trườngnước ở đô thị

Công cụ kĩ thuật có thể bao gồm các đánh giá môi trường nước ở đô thị,kiểm toán môi trường nước ở đô thị, các hệ thống quan trắc môi trường , xử líchất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải Các công cụ kĩ thuật được coi lànhững công cụ hành động quan trọng của các tổ chức trong công tác bảo vệmôi trường nước ở đô thị

Thông qua việc thực hiện các công cụ kĩ thuật, các cơ quan chức năng

có thể có những thông tin đầy đủ, chính xác về hiện trạng và diễn biến chấtlượng môi trường nước ở đô thị, đồng thời có những biện pháp, giải pháp phùhợp để xử lí, hạn chế những tác động tiêu cực đối với môi trường nước ở đôthị

Các công cụ kĩ thuật cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tuânthủ các tiêu chuẩn, quy định về bảo vệ môi trường nước ở đô thị

Trang 18

Đây là công cụ thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về sựhình thành và phân bố ô nhiễm Công cụ kĩ thuật quản lí bao gồm các biệnpháp chính sau đây:

Thứ nhất, tăng cường thu thập thông tin giữ liệu môi trường nước :Công cụ bao gồm hệ thống quan sát, đo đạc, các thông số kĩ thuật vềmôi trường nước, tạo nên cơ sở dữ liệu thống nhất quốc gia Các công cụ này

có vai trò quyết định tính đúng đắn, độ chính xác của việc đánh giá hiệntrạng, dự báo diễn biến môi trường nước trong tương lai

Thứ hai, tổ chức bộ máy quản lí: Quản lí nguồn nước ở đô thị được tổchức kết hợp theo ngành và lãnh thổ, cụ thể là:

Ở Trung ương có Bộ Tài nguyên và Môi trường bao quát quan hệ vĩ mô

về môi trường nước, thực hiện các hoạt động điều chỉnh trong cả nước

Bộ Tài chính, với tư cách là chủ sở hữu, đại diện cho nhà nước quản línguồn tài nguyên nước

Bộ Kế hoạch và đầu tư làm tham mưu cho nhà nước trong việc huyđộng, sử dụng tài nguyên môi trường nước hợp lí, phù hợp với quá trình xâydựng đất nước, cũng như tư vấn trong việc giao trọng trách khai thác đúng đốitượng

Các Bộ kinh tế như Bộ công nghiệp, xây dựng …được nhà nước giaotrách nhiệm quản lí các doanh nhân, các học giả được phép hay thuê mướncác hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên nước phải tuân thủpháp luật, các điều khoản hợp đồng mà họ đã cam kết với nhà nước

Ở mỗi địa phương, các khu đô thị lớn đều có cơ quan quản lí tương ứnglàm chức năng quản lí nhà nước về môi trường

Lực lượng bảo vệ môi trường nước, trực tiếp làm sạch môi trường nướcrộng khắp và quan trọng là nhân dân, đựơc chính quyền cơ sở tổ chức, chỉđạo Đồng thời, trong các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp và các tổ chức

Trang 19

công dân đều có lực lượng làm nhiệm vụ vệ sinh môi trường nước công sở, cơquan.

Thứ ba, nghiên cứu và triển khai khoa học kĩ thuật:

Trước tiên là phát triển hệ thống thoát nước và hệ thống xử lí nước thải

đô thị và công nghiệp đầy đủ và phù hợp:

Tách hệ thống thoát nước mưa và hệ thống thoát nước bẩn thành hai hệthống riêng Xây dựng các trạm xử lí nước thải sinh hoạt đô thị tập trung chotừng khu vực Tất cả các nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện, khách sạn, các cơ sởdịch vụ có lượng nước thải lớn đều phải có trạm xử lí nước thỉ đảm bảo tiêuchuẩn môi trường mới được thải ra hệ thống thoát nước chung

Trong phát triển đô thị phải dành đất để xây dựng các trạm xử lí nước đôthị tập trung Luôn luôn quan tâm bảo vệ an toàn hệ thống thoát nước đô thị,

vì trong quá trình phát triển đô thị, hệ thống thoát nước đô thị bị lấn chiếm và

hư hỏng, như san lấp hai bên bờ để mở rộng đất ở, mở rộng đường, sân bãixây dựng nhà cửa đè lên hệ thống thoát nước, làm nứt gãy hệ thống thoátnước, đổ chất thải xây dựng vào kênh mương làm tắc nghẽn dòng chảy

Thứ tư, phổ biến kinh nghiệm chọn lựa công nghệ xử lí nước thải đô thịthích hợp8:

Tuỳ theo tính chất ô nhiễm và khối lượng nước thải khác nhau mà cầnlựa chọn các công nghệ thích hợp Thông thường, hệ thống công nghệ và xử línước thải bao gồm kĩ thuật xử lí bậc 1, bậc 2 và bậc 3, trong một số trườnghợp cần đến kĩ thuật xử lí bậc 4 Xử lý bậc 1 và bậc 2( xử lí cơ học và sinhhọc) chủ yếu là tập trung vào việc làm giảm cặn, vi khuẩn và kử các chất hữu

cơ dễ phân huỷ Xử lí bậc 3 thường là bước xử lí hoá học để khử photpho.Trong một số trường hợp cần đến xử lí bậc 4 là bước tinh lọc - để giảm thiểutriệt để các chất ô nhiễm dinh dưỡng trước khi nước chảy vào nguồn nướcmặt Xử lí hoá học để khử photpho (bậc3) nên được áp dụng ở các khu đô thị

8 Quản lí môi trường – NGUYỄN ĐỨC HIỂN-NXB LĐ-XÃ HộI.tr 278

Trang 20

lớn, phương pháp này bổ sung cùng với phương pháp xử lí cơ học và sinhhọc.

Thứ năm, cần phải có biện pháp ngăn chặn để các cơ sở công nghiệpkhông thải ra các chất nguy hiểm, có thể làm ảnh hưởng đến tới quá trình xử

lí nước thải ở các trạm xử lí nước thải tập trung của thành phố Các biện phápphòng ngừa trong việc này cụ thể :

Phải thực hiện quá trình tiền xử lí ở các cơ sở công nghiệp trước khi đưanước thải về trạm xử lí nước tập trung là một cách tiếp cận theo cách chi phíhiệu quả

Biểu thuế xử lí theo thang đối chiếu thuế dựa vào cường độ liên quancủa chất thải được đưa vào hệ thống thải thành phố - là cách tiếp cận khuyếnkhích tiền xử lí

Hạn chế sử dụng các hoá chất gây ô nhiễm môi trường trong quá trìnhsản xuất công nghiệp và sinh hoạt đô thị

Thứ sáu, thanh tra và giám sát môi trường nước :

Việc thanh tra, giám sát phải diễn ra thường xuyên và trung thực Đoànthanh tra có quyền:

Yêu cầu các tổ chức, các nhân có liên quan cung cấp tài liệu và trả lờinhững vấn đề cần thiết

Tiến hành các biện pháp kiểm tra kĩ thuật thực tế tại các doanh nghiệp

và nguồn nước thải bệnh viện…

Quyết định tạm đình chỉ các cơ sở sản xuất và trường hợp làm ô nhiễmmôi trường nước quá lớn

Xử lí theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩmquyền xử lí các vi phạm về môi trường nước

Trang 21

2 4.Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường nước ở đô thị 9

Giáo dục môi trường nước ở đô thị là một quá trình thông qua các hoạtđộng giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp con người có được

sự hiểu biết, kĩ năng và giá trị, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triểnmột xã hội bền vững về sinh thái

Mục đích của giáo dục môi trường nước ở đô thị là nhằm vận dụngnhững kiến thức và kĩ năng vào giữ gìn, bảo tồn và sử dụng môi trường nước

ở đô thị theo cách bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai Giáo dục môitrường nước ở đô thị cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những côngnghệ mới nhằm tăng sản lượng kinh tế và tránh những thảm hoạ môi trườngnước Hơn nữa, giáo dục môi trường bao hàm cả việc đạt được những kĩ năng,

có những kỹ năng, có những động cơ và cam kết hành động, dù với tư cách cánhân hay tập thể, để giải quyết những vấn đề môi trường nước ở đô thị hiệntại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh

Giáo dục môi trường nước ở đô thị bao gồm, những nội dung chủ yếu :

- Đưa giáo dục môi trường nước ở đô thị vào trường học

- Cung cấp thông tin cho những người có quyền ra quyết định

- Đào tạo chuyên gia về môi trường nước ở đô thị

Truyền thông môi trường nước ở đô thị là một quá trình tương tác xã hộihai chiều nhằm giúp cho những người có liên quan hiểu được các yếu tố môitrường nước ở đô thị then chốt, mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng

và cách tác động vào vấn đề có liên quan một cách thích hợp để giải quyết cácvấn đề về môi trường nước ở đô thị

Thông tin cho người bị tác động bởi các vấn đề môi trường nước biếttình trạng của họ, từ đó giúp họ quan tâm đến việc tìm kiếm cá giải pháp khắcphục

9 Giáo trình kinh tế và quản lí môi trường – NXB Thống kê- PGS.TS Nguyễn Thế Chinh Tr 439.

Ngày đăng: 15/04/2013, 08:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w