1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý về môi trường tại khu đô thị mới định công

32 302 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do tốc độ phát triển ở mức cao việc khai thác các nguồn tài nguyên thiếutính toán, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh, chưa có một quy hoạch đô thị và khu công nghiệp

Trang 1

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời gian gần đây vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêmtrọng, nó không bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, một khu vực mà là vấn đề được cảthế giới đặc biệt quan tâm

Việt Nam trong thời gian gần đây với cơ chế thị trường đã có sự phát triển mạnh

mẽ về kinh tế Do tốc độ phát triển ở mức cao việc khai thác các nguồn tài nguyên thiếutính toán, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh, chưa có một quy hoạch

đô thị và khu công nghiệp hoàn chỉnh đã làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề môi trườngnhư: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm chất thải rắn và độc hại.v.v…

Việc quản lý môi trường đô thị đang là một vấn đề bức xúc Sự ô nhiễm môitrường đô thị có tác động xấu đối với sức khỏe con người (đặc biệt là gây ra các bệnhđường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng nhà kính,mưa axít và suy giảm tầng ôzôn), Công nghiệp hóa càng mạnh, đô thị hóa càng pháttriển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng

không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, thực trạng này đặt ra cho các nhà quản lý, nhà

khoa học những nhiệm vụ nặng nề trong việc xử lý và kiểm soát tình trạng ô nhiễm Đểlàm tốt vấn đề này, rất cần sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành, doanh nghiệp vàcủa từng người dân trong xã hội

Riêng Thành phố Hà Nội là một trung tâm kinh tế và cũng là một trung tâm vănhóa, khoa học kỹ thuật, giao lưu quốc tế của cả nước Với sự tập trung đông đúc của dân

cư và các nhà máy, xí nghiệp, Thành phố đang đứng trước những trở ngại rất lớn về tìnhtrạng ô nhiễm môi trường

Ngăn cản ô nhiễm môi trường là việc làm cần thiết và cấp bách nhưng phải đảmbảo duy trì tốc độ phát triển kinh tế Để đạt được điều đó cần phải có biện pháp quyhoạch và quản lý môi trường thích hợp

Trang 2

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý môi trường, chúng e đã chọn

đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu lực Quản lý về môi trường tại khu đô thị mới Định Công” để nghiên cứu

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung:

Thông qua việc nghiên cứu thực tế hoạt động quản lý môi trường tại KĐT mớiĐịnh công, tìm ra các giải pháp nâng ca hiệu lực Quản lý về môi trường tại khu đô thịmới Định Công nói riêng và Thực trạng quản lý trong các khu đô thị mới ở Việt NamHàNội nói chung

Mục tiêu cụ thể:

Nghiên cứu hiện trạng và tình hình quản lý ô nhiễm môi trường tại Thành phố HàNội, phân tích các nguyên nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm từ đó đề xuất sơ bộ các giải phápkhắc phục, góp phần làm lành mạnh hóa môi trường Thành phố, đảm bảo cho sự pháttriển kinh tế bền vững

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

II NỘI DUNG

Chương 1: KHÁI NIỆM CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG KHU

ĐÔ THỊ

Trang 3

1 Khái niệm về Quản lý môi trường

"Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ

thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia".

Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm:

+ Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạtđộng sống của con người

+ Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hộibền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm:Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ônhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xãhội

+ Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnhthổ Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dâncư

2 MỘT SỐ ĐIỀU KIỆNCÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CÓ TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG

2.1 Điều kiện tự nhiên:

2.1.1 Vị trí địa lý

Nằm ở phía tây bắc của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có vị trí từ20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với cáctỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, BắcNinh và Hưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây Sau đợt mở rộng địagiới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km², nằm ở cả haibên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn

2.1.2 Địa hình:

Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với

độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Nhờ phù sabồi đắp, ba phần

tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sôngHồng và chi lưu các con sông khác Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc cáchuyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh như Ba Vì cao 1.281 m, Gia

Dê 707 m, Chân Chim 462 m, Thanh Lanh 427 m, Thiên Trù 378 m Khu vực nộithành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng

Trang 4

2.1.3 Đặc điểm khí tượng khí hậu ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội và môi

trường:

Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới giómùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa Thuộc vùng nhiệt đới, thành

phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ Mặt Trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao Và do tác

động của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một

năm Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa

nóng, lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung

bình 28,1 °C Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt độ

trung bình 18,6 °C Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10, thành phố

có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông

Khí hậu Hà Nội cũng ghi nhận những biến đổi bất thường Vào tháng 5 năm 1926,nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức kỷ lục 42,8 °C Tháng 1 năm 1955, nhiệt độ

xuống mức thấp nhất, 2,7 °C Đầu tháng 11 năm 2008, một trận mưa kỷ lục đổ xuống các

tỉnh miền Bắc và miền Trung khiến 18 cư dân Hà Nội thiệt mạng và gây thiệt hại cho

Lượng mưa mm (inch) 20.1 (0.79) 30.5 (1.20) 40.6 (1.60) 80 (3.15) 195.6 (7.70) 240 (9.45) 320 (12.6) 340.4 (13.4) 254 (10.0) 100.3 (3.95) 40.6 (1.60) 20.3 (0.80)

Nguồn: The Weather Channel[28] và Asia for Visitors [29] 27 tháng 12 năm 2008

2.1.4 Nguồn nước - thủy văn:

Hiện nay ngoài nước ngầm, Hà Nội đã có thêm nguồn nước sạch thứ hai đượccấp từ Nhà máy nước sạch Sông Đà Theo UBND TP Hà Nội, hiện các khu vực

tây nam TP Hà Nội đang được cung cấp nước sạch từ nguồn nước này, bao gồm

khoảng 50.000 hộ dân thuộc toàn bộ khu vực quận Thanh Xuân, một phần quận

Hoàng Mai, một phần huyện Từ Liêm

Sông Hồng là con sông chính của thành phố, bắt đầu chảy vào Hà Nội ở huyện Ba

Vì và ra khỏi thành phố ở khu vực huyện Phú Xuyên tiếp giáp Hưng Yên Đoạn sông

Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông

này trên đất Việt Nam Hà Nội còn có Sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ,

hợp lưu với dòng sông Hồng ở phía Bắc thành phố tại huyện Ba Vì Ngoài ra, trên địa

phận Hà Nội còn nhiều sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ,

Trang 5

Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, lànhững đường tiêu thoát nước thải của Hà Nội

Hà Nội cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của các dòngsông cổ Trong khu vực nội thành, hồ Tây có diện tích lớn nhất, khoảng 500 ha, đóng vaitrò quan trọng trong khung cảnh đô thị, ngày nay được bao quanh bởi nhiều khách sạn,biệt thự Hồ Gươm nằm ở trung tâm lịch sử của thành phố, khu vực sầm uất nhất, luôngiữ một vị trí đặc biệt đối với Hà Nội Trong khu vực nội ô có thể kể tới những hồ nổitiếng khác như Trúc Bạch, Thiền Quang, Thủ Lệ Ngoài ra, còn nhiều đầm hồ lớn nằmtrên địa phận Hà Nội như Kim Liên, Liên Đàm, Ngải Sơn - Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù,Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn,

Do quá trình đô thị hóa mạnh mẽ từ năm 1990 đến nay, phần lớn các sông hồ HàNội đều rơi vào tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng Sông Tô Lịch, trục tiêu thoát nước thảichính của thành phố, hàng ngày phải tiếp nhận khoảng 150.000 m³ Tương tự, sông KimNgưu nhận khoảng 125.000 m³ một ngày Sông Lừ và sông Sét trung bình mỗi ngày cũng

đổ vào sông Kim Ngưu khoảng 110.000 m³ Lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệpnày đều có hàm lượng hóa chất độc hại cao Các sông mương nội và ngoại thành, ngoàivai trò tiêu thoát nước còn phải nhận thêm một phần rác thải của người dân và chất thảicông nghiệp Những làng nghề thủ công cũng góp phần vào gây nên tình trạng ô nhiễmnày

3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI.

Trang 6

Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km² Mật độ dân số cao nhất

là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyện như ngoạithành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ dưới 1.000 người/km²

Về cơ cấu dân số, theo số liệu 1 tháng 4 năm 1999, cư dân Hà Nội và Hà Tây chủyếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ 99,1% Các dân tộc khác như Dao, Mường, Tày chiếm0,9%.[5] Năm 2009, người Kinh chiếm 98,73 % dân số, người Mường 0,76 % và ngườiTày chiếm 0,23 %[35]

Năm 2009, dân số thành thị là 2.632.087 chiếm 41,1%, và 3.816.750 cư dân nôngthôn chiếm 58,1 %

3.2

Lao động:

Lao động trên 15 tuổi 2005 2007 2008 2009 Sơ bộ 2010

3.3Tăng trưởng kinh tế:

Theo Cục thống kê Thành phố Hà Nội, 6 tháng đầu năm 2011, tổng sản phẩm nội địa(GDP) Hà Nội tăng 9,3% so cùng kỳ năm trước, mặc dù thấp hơn tốc độ tăng trưởng của

6 tháng đầu năm 2010 nhưng vẫn là một kết quả đáng khích lệ, trong đó:

Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 5,1% (đóng góp 0,3% vàomức tăng chung)

Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp - xây dựng 6 tháng đầu năm tăng 10,4% (đónggóp 5,1% vào mức tăng chung), thấp hơn một chút so với tốc độ tăng của 6 tháng đầunăm 2010

Giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ tăng 8,7% so cùng kỳ (đóng góp 3,9% vào mứctăng chung)

4. Hiện trạng môi trường ở thủ đô Hà Nội

Trang 7

TNHH Nhà nước một thành viên Môi trường đô thị với khối lượng khoảng 3000tấn/ngày, một số doanh nghiệp thu gom vận chuyển rác thải các huyện ngoại thành.

Tại khu vực nông thôn ngoại thành đã có 361/435 xã, thị trấn thành lập tổ thu gomrác, trong đó đã có 148 xã chuyển rác đi xử lý Rác thải chủ yếu được vận chuyển đi chônlấp hợp vệ sinh tại bãi rác Nam Sơn ( Sóc Sơn ) với khối lượng trung bình khoảng 3000tấn /ngày, bãi rác Kiêu kỵ ( Gia Lâm ), bãi Xuân Sơn ( Sơn Tây), Núi Thông ( HuyệnChương Mỹ ), và nhà máy xử lý rác Cầu Diễn, Seraphin Sơn Tây

Chất thải công nghiệp ước khoảng 750 tấn / ngày, mới thu gom khoảng 85 – 90%,trong đó chất thải nguy hại khoảng 97 – 112 tấn / ngày ( chiếm 13 – 15 % ) mới chỉ thugom khoảng 58 – 78,4 tấn / ngày ( chiếm 60-70% ) Chất thải được thu gom và vậnchuyển về bãi rác Nam Sơn để xử lý, tiêu huỷ

Chất thải rắn y tế nguy hại của một số bệnh viện đã được thu gom và xử lý tậptrung tại lò đốt chất thải rắn y tế Cầu Diễn với công xuất 5 tấn / ngày, phần tro xỉ đượcđóng rắn và chôn lấp, một số bệnh viện huyện có lò đốt rác thải y tế nhưng hoạt độngcầm chừng

Phế thải xây dựng trên 1000 tấn / ngày chưa được thu gom triệt để

Vấn đề bức xúc chất thải rắn gây ô nhiễm là: Công cụ, phương tiện, nhân lực,phương thức thu gom vận chuyển còn hạn chế, chưa triệt để nên còn rác thải tồn đọng ở

đô thị cũng như ở nông thôn, nhiều bãi chôn lấp rác ở vùng nông thôn không hợp vệ sinhgây ô nhiễm môi trường, 3 trong 5 bãi chôn lấp rác của thành phố sắp lấp đầy, như vậyviệc thiêu bãi chôn lấp rác là một khó khăn rất lớn trong việc xử lý chất thải rắn

4.2Chất lượng môi trường nước:

Nước mặt, nước thải và nước ngầm của thành phố đều đang bị ô nhiễm ở mức độkhác nhau:

Hà Nội được mệnh anh là thành phố của các sông hồ, có nhiều dòng sông chẩyqua Môi trường nước sông đang chịu tác động mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế xã hộinhư: sự ra đời hàng loạt các khu đô thị, các khu công nghiệp cùng vơí các hoạt động tiểuthủ công nghiệp và chất thải bệnh vện, các khu dân cư đông đúc, các làng nghề… Nướcthải ô nhiễm của các hoạt động đó hầu như chưa được xử lý và đổ thẳng ra sông, hồ đãlàm chất lượng môi trường nuớc sông biến đổi theo chiều hướng tiêu cực và xu thế bị ônhiễm mỗi ngày một tăng cao

Các sông nội thị ( 4 con sông thoát nước phía nam) và sông Cầu Bây ( Gia Lâm ):tiếp nhận khoảng 700.000m3/ngày đêm nước thải đô thị và sản xuấ Chất lượng nước ởhầu hết các con sông nội thành hà Nội ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng ( BOD5 sông

Tô lịch vượt 7,13 lần, sông Kim Ngưu vượt 6,64 lần, sông Sét vượt 2,84 lần, sông Lừvượt 5,28 lần ) và xu thế tiếp tục bị ô nhiễm do nước thải chưa được xử lý và đổ thẳng rasông Dự kiến đến năm 2020 mức ô nhiễm moi trường nước của các sông nội thành HàNội sẽ tăng gấp 2 lần nếu không có giải pháp hiệu quả

Nước Sông Hồng : Kết quả phân tích chất lượng nước Sông Hồng tại thành phố

Hà Nội cho thấy, chất lượng nước Sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội các chỉ tiêu quantrắc đều đạt TCVN 5942-1995 (loại B) ngoại trừ chỉ tiêu BOD5, COD, NH4+, Coliform vàdầu mỡ khoáng tại hạ lưu mương thoát nước của trạm bơm Yên Sở , vị trí cầu Long Biên

Trang 8

(do nước thải từ chợ Long Biên và từ khu dân cư tập trung ) Kết quả này cho thấy nướcSông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội chưa bị ảnh hưởng lớn bởi nước thải công nghiệp, sinhhoạt của thành phố xả vào qua trạm bơm Yên Sở Hơn nữa Sông Hồng có lưu lượng lớn,khả năng tự pha loãng cao nên đã tự làm sạch lượng nước của thành phố xả vào sông.

Nước Sông Nhuệ : Sông Nhuệ có tổng chiều dài là 74 km, bề rộng trung bình từ30-40m Chất lượng nước sông không đạt tiêu chuẩn do hàm lượng nitrit vẫn rất cao (từ0,88 đến 1mg/l), BOD cao trên mức tiêu chuẩn cho phép với chất lượng nước loại A.Như vậy chất lượng nước sông khi chảy ra khỏi Hà Nội (địa phận tỉnh Hà Tây cũ) vẫnkhông đạt tiêu chuẩn cho phép trong phục vụ sinh hoạt, mới chỉ đạt ở mức tiêu chuẩn chophép đối với nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Nước Sông Đáy : Chất lượng nước sông Đáy thay đổi thất thường, phụ thuộc rấtnhiều vào chất lượng nước các kênh, mương, sông nhánh dồn vào trên suốt chiều dài củasông Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra ô nhiễm nguồn nước sông Đáy và từ đódẫn đến làm giảm chất lượng môi trường sống trên toàn lưu vực Nguyên nhân chủ yếu là

do dòng chính sông Đáy phải tiếp nhận rất nhiều nguồn nước thải, từ nước thải sản xuấtđến nước thải sinh hoạt trên phạm vi rộng Chất lượng nước sông Đáy đang bị ô nhiễmbởi các thành phần hữu cơ và vô cơ như COD vượt tiêu chuẩn cho phép 3,54 lần,BOD5 vượt 3,2 lần

Nước Sông Bùi : Sông Bùi bắt nguồn từ Thuỷ Xuân Tiên (Chương Mỹ) đến BaThá (Ứng Hoà) hợp lưu với sông Đáy Nước sông Bùi bị ô nhiễm do nước thải sản xuất

và sinh hoạt từ thị xã Hoà Bình đổ về

Nước Sông Tích : Chất lượng nước sông Tích bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ

và kim loại nặng Một số chỉ tiêu phân tích như BOD5 vượt 1,05 lần, Fe vượt 1,41 lần

Trên địa bàn Hà Nội có tổng số 156 hồ các hồ nội thành có độ sâu trung bình 3m, có khả năng tự làm sạch khá lớn Tuy nhiên có một số hồ bị ô nhiễm nặng vì phảitrực tiếp nhận nước thải xả vào Cao độ đáy hồ dần dần bị nâng lên do lớp bùn bị lắngđọng tích luỹ dần, đạt tới chiều dày 0,5-1m Diện tích hồ bị thu hẹp dần, điển hình là các

2-hồ Văn Chương, Linh Quang và 2-hồ Giám

Các hồ ở đầu hệ thống thoát nước do phải tiếp nhận trực tiếp nước thải nên bịnhiễm bẩn nặng, thường ở mức độ polyxaprophit và a- mezoxaprophit, điển hình là các

hồ Văn Chương, Giám, Linh Quang, Ngọc Khánh, Trúc Bạch… ở vùng đầu hồ,BOD5thường lớn trên 40-50mg/l, DO<2mg/l Vùng giữa hồ BOD5 : 20-30mg/l ; DO thấpdưới 5mg/l

Một số hồ có mức độ ô nhiễm thuộc loại b- mezoxaprophit, như hồ Giảng Võ,Thành Công, Bảy Mẫu, Thanh Nhàn … Những hồ này, ở giữa hồ thường có BOD5 : 15-20mg/l ; DO : 5-7mg/l

Các Hồ Hoàn Kiếm, Thủ Lệ, Đống Đa… do lượng nước thải xả vào ít, dung tích

hồ lại khá lớn nên mức độ ô nhiễm thuộc loại Oligoxaprophit

Hồ Tây có diện tích mặt nước lớn (446 ha) và có lượng nước thải xả vào khôngđáng kể, nên phần lớn chất lượng nước hồ ở vùng Oligoxaprophit (ở giữa hồ BOD5 từ 15-20mg/l, DO >6mg/l) Nhưng ở vùng ven bờ, đặc biệt là khu vực gần cống xả từ hồ TrúcBạch sang, BOD5 có thời điểm đạt tới 25-28mg/l

Trang 9

Các hồ ở ngoại thành (hồ Yên Sở, Linh Đàm, Hạ Đình, Pháp Vân…) thường được

sử dụng để nuôi cá Do việc bơm trực tiếp nước thải từ các sông mương vào nên vùngđầu hồ thường có BOD5 lớn (trên 30mg/l), hàm lượng NH4+ từ 5-15mg/l Trong hồ, nướcthải được pha loãng để làm giảm lượng BOD5 và NH4 đồng thời làm tăng DO nhằm đạtchất lượng nước nuôi cá

Sự nhiễm bẩn nước dưới đất (NDĐ) xảy ra cả ở tầng chứa nước Holocen (tầngtrên) và tầng chứa nước Pleistocen (tầng dưới-tầng sản phẩm) Các kết quả nghiên cứuchỉ ra rằng nước ngầm đang bị ô nhiễm bởi các hợp chất vô cơ, các hợp chất hữu cơ vànhiễm bẩn vi sinh, mà chủ yếu là ammoni (NH4+), phân bố trên diện rộng với hàm lượngcao Diện tích nhiễm bẩn và hàm lượng các chất bẩn tăng dần theo thời gian

Ô nhiễm các hợp chất vô cơ: Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Quy hoạch và

điều tra tài nguyên nước 6 tháng cuối năm 2008 qua phân tích thành phần hoá học nướcdưới đất thì trong cả hai tầng Holocen (qh) và Pleistocen (qh) chứa nước ngầm vùng HàNội cho thấy, tại khu vực Hoài Đức có hàm lượng asen cao đến trên 0,2mg/l; tại khu vực

Hà Đông có hàm lượng amoni cao trên 100mg/l

Tầng nước ngầm dưới (cách mặt đất từ 45-60m) là nguồn cung cấp cho các nhàmáy cũng bị nhiễm bẩn Hiện các nhà máy nước Hạ Đình, Tương Mai, Pháp Vân, LinhĐàm đã bị nhiễm amoni và có hàm lượng sắt cao 1,2-1,95mg/l Nước từ các nhà máyđang đứng trước nguy cơ nhiễm bẩn bởi vẫn chưa có hạng mục xử lý amoni Duy nhất,nhà máy nước Nam Dư đang xây dựng hệ thống này với chi phí khoảng 40 tỉ đồng

Ô nhiễm các hợp chất hữu cơ: Tổng các hợp chất hữu cơ được nghiên cứu đồng

thời với việc nghiên cứu các hợp chất nitơ ở phía nam sông Hồng thông qua độ oxy hoá

Độ ôxy hoá trung bình của nước ngầm luôn cao hơn tiêu chuẩn cho phép (2mg/l), trong

đó tầng chứa nước qh cao hơn qp và đều có xu hướng tăng lên theo thời gian chứng tỏnước ngầm đã và đang bị nhiễm bẩn và nhiễm bẩn từ trên xuống Vùng bị nhiễm bẩncũng là ở phía nam thành phố

Ô nhiễm bẩn vi sinh: Trong cả hai tầng chứa nước hàm lượng vi sinh đều lớn hơn

tiêu chuẩn cho phép, chứng tỏ nước ngầm bị nhiễm bẩn trong đó tầng qh bẩn nặng hơntầng qp ; mùa khô bẩn nặng hơn mùa mưa Nước bị nhiễm bẩn chủ yếu bởi Fecalcoliform

Ô nhiễm kim loại nặng: Nhiễm bẩn các kim loại nặng đáng chú ý là hàm lượng

asen

4.3Ô nhiễm nước thải

Nước thải công nghiệp Thành phố hiện có 26 khu công nghiệp, có khoảng 40cụm và trên 50 điểm công nghiệp làng nghề đã và đang được xây dựng Tổng khối lượngnước thải công nghiệp khoảng 100 000 – 120 000m3/ngày đêm, lượng nước thải của các

cơ sở công nghiệp cũ nằm phân tán mới được xử lý 20 – 30% Chỉ có 3 khu công nghiệptập trung mới ( khu Bắc Thăng Long, Phú nghĩa và Quang Minh 1), 2 cum công nghiệp( Ngọc Hồi và Phùng Xá ) có hệ thống xử lý nước thải tập trung , còn lại phần lớn các cơ

sở sản xuất đều không có trạm xử lý nước thải

Nước thải sinh hoạt Tổng lượng nước thải sinh hoạt khu vực nội thành nội thịkhoảng 700 000m3/ ngày đêm Nước thải sinh hoạt phần lớn chỉ được xử lý sơ bộ tại các

Trang 10

bể tự hoại trước khi xả vào các tuyến cống chung hoặc kênh, mương, ao hồ Hiện tại trênđịa bàn thành phố có 4 trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung với công xuất thiết kế đạt

48 5000m3/ngày đêm chiếm 6,9% là : Kim Liên, Trúc Bạch, Bắc Thăng Long- Vân Trì,Khu đô thị mới Mỹ Đình

Nước thải bệnh viện Tổng số 48 bệnh viện và trung tâm Y tế do thành phố quản

lý mới chỉ có 8 cơ sở có hệ thống xử lý nước hải đang hoạt động, mọt số bệnh viện đangtrong giai đoạn xây dựng hệ thống xử lý, còn lại lượng nước thải bệnh viện không được

xử lý, thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung

Nước thải từ các làng nghề, khu vực nông thôn Thành phố Hà Nội hiện có 1310làng nghề, trong đó có 310 làng đã được công nhận theo tiêu chí làng nghề, lượng nướcthải làng nghề đều không qua xử lý Lượng nước thải không nhỏ từ sản xuất nông nghiệp( hoạt động chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại….) cũng là nguồn gây ô nhiễm môi trường cầnđược quan tâm giải quyết

4.4Chất lượng môi trường không khí

Môi trường không khí bị ô nhiễm ở khu vực nội thành Hà Nội theo thứ tự mức độ

từ cao đến thấp như sau : Nặng nhất là khu Thượng Đình, tiếp theo là Mai Động, các khuvực khác như xung quanh các nhà máy Dệt kim Thăng Long, Giấy Trúc Bạch , ngoài ra

ô nhiễm bụi, khí thải cao do hoạt động giao thông nội thị tại nhiều tuyến đường như vànhđai II, III, Nguyễn Trãi, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng, Giải Phóng, Vĩnh Tuy, MinhKhai…

Khu dân cư và huyện ngoại thành Hà Nội đang gia tăng ô nhiễm không khí dolượng khí thải lớn từ các phương tiện giao thông đang xâm hại nghiêm trọng đến chấtlượng không khí Hà Nội

Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường không khí do bụi trên địa bàn thành phố

Hà Nội đang ở mức “báo động đỏ” Nồng độ bụi lơ lửng ở các quận nội thành đều vượtquá tiêu chuẩn cho phép từ 2-3 lần Ngoài ô nhiễm do bụi, môi trường không khí còn bịảnh hưởng bởi các loại khí thải như SO2, CO2, CO, NOx… Tuy nhiên nồng độ các khí nàyvẫn nằm dưới TCCP

Hà Nội đang trong quá trình đô thị hoá, nhiều khu đô thị mới được hình thành,nhiều dự án cải tạo, xây dựng mới được triển khai nhưng ý thức giữ gìn vệ sinh môitrường của nhiều nhà đầu tư, chủ công trình chưa cao, thời gian thi công kéo dài và đây lànguồn bụi chủ yếu gây ra ô nhiễm bụi không khí hiện nay

Các phương tiện vận chuyển đất thải, phế thải, vật liệu xây dựng không được chechắn theo đúng quy định, làm rơi vãi vật liệu trên đường; các xe chở cát, sỏi, phế liệukhông được rửa sạch trước khi rời khỏi khu vực bãi tập kết vật liệu và công trường xâydựng đã gây bụi và mất mỹ quan đường phố

Theo kết quả quan trắc 6 tháng đầu năm 2009 cho thấy tại 250 điểm đo kiểm có

180 điểm đo có hàm lượng bụi lơ lửng vượt tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5937-2005)(chiếm 72%) Cụ thể đường Nguyễn Trãi có vị trí vượt TCCP 11 lần, đường Nguyễn VănLinh vượt TCCP 10,8 lần; ngã ba đường Tam Trinh-Lĩnh Nam nồng độ bụi vượt TCCP5,2 lần; đường Phạm Văn Đồng nồng độ bụi vượt TCCP 3,6 lần; giao của đường 71 vàđường 32 (huyện Đan Phượng) nồng độ bụi vượt TCCP 6,3 lần; giao của đường Láng-

Trang 11

Hoà Lạc và đường 21 (huyện Thạch Thất) nồng độ bụi vượt TCCP 4 lần; giao của đường428-Pháp Vân tại ngã ba Guột nồng độ bụi vượt TCCP 4,4 lần.

Trong những năm gần đây tốc độ phát triển các phương tiện giao thông cơ giới ở

Hà Nội tăng mạnh, trung bình lượng ôtô hàng năm tăng 10%, xe máy tăng xấp xỉ 15%

Sự gia tăng về số lượng của các phương tiện tham gia giao thông, đặc biệt là các phươngtiện chuyên chở vật liệu, đất đá phục vụ cho việc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng lànguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm khí thải giao thông Chất lượng cácphương tiện (xét về nồng độ khí thải) đang tham gia giao thông ở Hà Nội chưa cao Ýthức bảo vệ môi trường của các chủ phương tiện trong việc sử dụng, bảo dưỡng xe cơgiới còn nhiều hạn chế

Theo kết quả quan trắc năm 2008 có tới 6/34 ngã tư nồng độ khí CO trung bìnhvượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,03-1,55 lần, có tới 30/34 ngã tư có nồng độ SO2 vượt tiêuchuẩn cho phép từ 1,02-2 lần, có 32/34 ngã tư có nồng độ C6H6 vượt tiêu chuẩn cho phép

ồn vượt 1,18 lần, các ngã tư còn lại vượt 1,05 – 1,15 lần, nhưng tác hại ô nhiễm tiếng ồnvẫn lớn do đặc điểm kiến trúc thoáng mở của Việt Nam.2.2 Các yếu tố kinh tế - xh

(nêu vắn tắt các hoạt động kinh tế - xh tác động như thế nào đến môi trường, tối đa

2 trang)

5. Quản lý môi trường khu đô thị

Nêu đặc điểm cơ bản trong quản lý môi trường các KĐT

Gần một thập kỷ sau chính sách đổi mới năm 1986, sự khuyến khích kinh tế theo

xu hướng thị trường đã thúc đẩy Hà Nội phát triển vượt bậc vào đầu những năm 1990.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo xu hướng thị trường của đất nước, sự bùng

nổ các hoạt động thương mại và dịch vụ góp phần tạo nên những nhu cầu mới về nhà ở

đô thị

Từ năm 1994, khái niệm khu đô thị mới bắt đầu xuất hiện ở nước ta gắn liền với

sự ra đời của một số khu đô thị điển hình như Định Công, Bắc Linh Đàm, Trung Yên

Trang 12

Khu đô thị Linh Đàm (ảnh : Ashui.com)

Các khu đô thị mới trong thời kỳ này được xây dựng để giải quyết nhu cầu nhà ởcủa đông đảo người dân đô thị trong thời kỳ thành phố Hà Nội phát triển vượt bậc sau đổimới Ngoài việc quan tâm đầu tư xây dựng các công trình phục vụ sinh hoạt hàng ngàytrong các khu đô thị mới, nhà nước còn quan tâm tới việc xây dựng các công trình thươngmại dịch vụ cao cấp khác như: Khách sạn, trung tâm thương mại, trụ sở cơ quan Các khu

đô thị đa dạng về thể loại nhà ở (nhà liên kề, biệt thự, chung cư ) và đồng bộ hạ tầng kỹthuật, hạ tầng xã hội đã đáp ứng được phần lớn các yêu cầu về ở, sinh hoạt và nghỉ ngơicủa người dân đô thị

Đến năm 2006, Chính phủ chính thức

ra Nghị định số 02/2006/NĐ-CP ngày 05

tháng 01 năm 2006, quy định về Qui chế khu

đô thị mới, theo đó “Dự án khu đô thị mới” là

dự án đầu tư xây dựng một khu đô thị đồng bộ

có hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ

tầng xã hội, khu dân cư và các công trình dịch

vụ khác, được phát triển nối tiếp đô thị hiện

có hoặc hình thành khu đô thị tách biệt, có

ranh giới và chức năng được xác định phù hợp

với quy hoạch xây dựng đô thị đã được cơ

quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

thị Mỹ Đình (ảnh : Ashui.com)

Hiện nay ở Hà Nội, thuật ngữ “Khu đô

thị mới” thường được hiểu là một khu nhà ở

Trang 13

mới xây dựng tập trung theo quy hoạch được duyệt, có đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, baogồm hệ thống nhà ở và các công trình công công khác để sử dụng vào mục đích kinhdoanh hoặc không kinh doanh.

Từ 1994 đến nay, hàng trăm khu đô thị mới đã và đang được xây dựng trên địabàn thành phố Hà Nội Qua nghiên cứu, khảo sát, có thể thấy mặc dù rất khác nhau nhưng

về cơ bản các khu đô thị mới ở Hà Nội có thể chia theo 2 cách như sau:

Phân chia theo chức năng:

cư )

Phân chia theo đối tượng và cấp độ phục vụ:

Trong đó, khu ở chất lượng cao là loại hình phổ biến để đáp ứng nhu cầu ở vănminh hiện đại của người dân thành phố, khu ở chất lượng trung bình chủ yếu đáp ứng nhucầu cho thành phần cán bộ công nhân viên chức nhà nước, tiểu thương còn khu ở chấtlượng thấp là những khu đô thị mới với quy mô nhỏ để phục vụ mục đích di dân giảiphóng mặt bằng phục vụ các công trình và dự án trọng điểm của thành phố

Khu đô thị mơi Trung Hòa – Nhân Chính

Trên địa bàn Hà Nội, các khu đô thị mới phân bố chủ yếu ở một số khu vực sau:

Bắc sông Hồng, khu đô thị mới Bắc Thăng Long, khu đô thị mới Đại Mạch có vị trí độclập, cách xa khu vực trung tâm thành phố, thuận lợi để phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở,

Trang 14

gần các tuyến giao thông chính như tuyến quốc lộ, các đường vành đai và khu vực sânbay quốc tế Nội Bài nên có điều kiện để phát triển mạnh.

3 nhóm là: khu đô thị mới thuộc Quận Hoàng Mai, Huyện Thanh Trì; Nhóm các khu đôthị mới thuộc Quận Thanh Xuân, Cầu Giấy và Từ Liêm; Và các khu đô thị mới thuộc khuvực trung tâm với mục đích tái định cư tại chỗ

Nhìn chung các khu đô thị mới nằm ở phía Nam sông Hồng đa dạng hơn về chủngloại và quy mô

Về địa điểm xây dựng, hầu hết các khu đô thị mới ở Hà Nội đều được xây dựngngay cạnh các trục giao thông Có một số khu đô thị mới bám mặt đường quốc lộ hoặctiếp giáp 2 đến 3 tuyến đường chính gây mất an toàn giao thông và làm ô nhiễm môitrường ở của cư dân

Vị trí khu đô thị mới có thể chia làm 3 nhóm: Khu đô thị mới có vị trí độc lập, xâydựng tại những khu vực có diện tích đất rộng rãi và xa khu vực trung tâm thành phố; Khu

đô thị mới xây dựng xen kẽ với các khu cũ với mục tiêu giãn dân và tái định cư tại chỗ; Khu đô thị mới nằm ở vùng ven hoặc các khu vực đô thị mở rộng

Trang 15

Phân vùng các khu đô thị mới tại Hà Nội

Hệ thống công trình công cộng trong các khu đô thị mới có 3 kiểu bố trí:

phục vụ rõ ràng như khách sạn, siêu thị, bưu điện, bể bơi, câu lạc bộ, nhà văn hoá,chợ, các công trình hạ tầng xã hội bó trí dọc theo các trục đường chính, tạo điểmnhấn

phòng, dịch vụ buôn bán nhỏ, siêu thị nhỏ, trưng bày giới thiệu và bán sản phẩmphục vụ trực tiếp tại chỗ;

trong một công trình lớn Hiện nay hầu như chưa có loại hình này trong các khu đô

Trang 16

thị mới tại Hà Nội Đây là một loại hình mới cần thiết nghiên cứu và đầu tư bởi nó cónhiều ưu điểm như tiết kiệm quỹ đất, nhóm các công trình có cùng chức năng đểthuận lợi cho việc sử dụng, quản lý khai thác Loại hỗn hợp này thường áp dụng chocác khu đô thị mới có quy mô trung bình để đảm bảo bán kính phục vụ.

Ngày đăng: 29/08/2015, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w