Khu công nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển ở châu Á. Các khu công nghiệp phát triển nhanh chóng đem lại lợi ích về kinh tế rất lớn cho các quốc gia. Tuy nhiên, điều đáng nói nhất là tốc độ phát triển kinh tế của các khu công nghiệp và sự tập trung công nghiệp trong một khu vực nhất đinh đã kéo theo nhiều tác động tiêu cực đối với môi trường, sự phát triển của các KCN, KCX trong thời gian qua đã bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém cần được nghiêm túc khắc phục, đó chính là tình trạng ô nhiễm môi trường do các KCN, KCX gây ra, trong đó đáng kể đến là vấn nạn ô nhiễm nguồn nước và không khí. Trong quá trình vận hành máy móc, thiết bị nhằm phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, một bộ phận lớn các DN đã thiếu đi sự quan tâm đúng mức đến vấn đề BVMT trong và ngoài KCN, KCX, đã gây ra những hệ lụy về môi trường nghiêm trọng. Bên cạnh đó sự tồn đọng nhiều bất cập trong hệ thống pháp lý và quản lý lỏng lẻo của các cơ quan, ban, ngành tạo điều kiện cho ô nhiễm càng trầm trọng hơn. Bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình tăng trưởng kinh tế chính là yếu tố đảm bảo sự bền vững trong phát triển các KCN, KCX; là điều kiện tiên quyết để phát triển sản xuất, kinh doanh, đem lại hiệu quả kinh tế cao, bảo đảm cho sự thắng lợi của công cuộc CNHHĐH và hội nhập thành công. Do đó, bên cạnh việc khắc phục những tồn đọng và đẩy nhanh sự phát triển của các KCN một cách toàn diện theo hướng CNHHĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, cần coi trọng và giải quyết tốt hơn nữa vấn đề bảo vệ môi trường, nhất là công tác quản lý môi trường khu công nghiệp để đảm bảo cho các KCN có thể phát triển một cách bền vững.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TPHCM
GVHD: TS LÊ VIỆT THẮNG NHÓM: 4
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
Trang 2VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
CHUYÊN ĐỀ: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TPHCM
GVHD: TS LÊ VIỆT THẮNG
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2017
Trang 3FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
STHCN : Sinh thái học công nghiệp
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Một số khu chế xuất, khu công nghiệp tại TPHCM 12Bảng 2.2: Tổng hợp dự kiến điều chỉnh quy hoạch các khu công nghiệp - chế xuất thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2015, và định hướng đến năm 2020 16
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Qui hoạch và dự kiến phát triển các khu chế xuất và công nghiệp Tp Hồ Chí Minh đến năm 2020 15Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức ban quản lý KCN, KCX 26Hình 4.1 – Vị trí phân bố các KCN, KCX trên địa bàn TP.HCM 30
LỜI MỞ ĐẦU
Khu công nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng thúc đẩy quá trình côngnghiệp hóa ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển ởchâu Á Các khu công nghiệp phát triển nhanh chóng đem lại lợi ích về kinh tế rất lớncho các quốc gia
Tuy nhiên, điều đáng nói nhất là tốc độ phát triển kinh tế của các khu côngnghiệp và sự tập trung công nghiệp trong một khu vực nhất đinh đã kéo theo nhiều tácđộng tiêu cực đối với môi trường, sự phát triển của các KCN, KCX trong thời gian qua
Trang 5đã bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém cần được nghiêm túc khắc phục, đó chính là tìnhtrạng ô nhiễm môi trường do các KCN, KCX gây ra, trong đó đáng kể đến là vấn nạn ônhiễm nguồn nước và không khí Trong quá trình vận hành máy móc, thiết bị nhằmphục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, một bộ phận lớn các
DN đã thiếu đi sự quan tâm đúng mức đến vấn đề BVMT trong và ngoài KCN, KCX,
đã gây ra những hệ lụy về môi trường nghiêm trọng Bên cạnh đó sự tồn đọng nhiềubất cập trong hệ thống pháp lý và quản lý lỏng lẻo của các cơ quan, ban, ngành tạođiều kiện cho ô nhiễm càng trầm trọng hơn
Bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình tăng trưởng kinh tế chính là yếu tốđảm bảo sự bền vững trong phát triển các KCN, KCX; là điều kiện tiên quyết để pháttriển sản xuất, kinh doanh, đem lại hiệu quả kinh tế cao, bảo đảm cho sự thắng lợi củacông cuộc CNH-HĐH và hội nhập thành công Do đó, bên cạnh việc khắc phục nhữngtồn đọng và đẩy nhanh sự phát triển của các KCN một cách toàn diện theo hướngCNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, cần coi trọng và giải quyết tốt hơn nữa vấn đềbảo vệ môi trường, nhất là công tác quản lý môi trường khu công nghiệp để đảm bảocho các KCN có thể phát triển một cách bền vững
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
– Định nghĩa 1: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giớiđịa lý xác định, trong đó chủ yếu là phát triển các hoạt động sản xuất công nghiệp và
có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng; có dân cư sinh sống trong khu Ngoàichức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu này còn có chức năng quản lý hànhchính, quản lý lãnh thổ KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính –kinh tế đặc biệt như các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nướcTây Âu
– Định nghĩa 2: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở
đó tập trung các doanh nghiệp công nghệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không códân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khuvực lãnh thổ khác Theo quan điểm này, ở một số nước và vùng lãnh thổ như Malaysia,Indonesia, ….đã hình thành nhiều KCN với qui mô khác nhau và đây cũng là loại hìnhKCN nước ta đang áp dụng hiện nay
Những khái niệm về KCN còn đang gây nhiều tranh luận, chưa có sự thốngnhất và còn những quan niệm khác nhau về KCN.Ở Việt Nam khái niệm về KCN đãđược trình bày tại nhiều văn bản pháp luật như Quy chế Khu công nghiệp ban hànhtheo Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ; Luật Đầu tưnước ngoài năm 1996; Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao
Trang 7ban hành theo Nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 2 năm 1997 của Chính phủ, Luật đầu
tư năm 2005
Định nghĩa ban đầu về KCN được nêu trong Quy chế Khu công nghiệp banhành theo Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ thì KCNđược hiểu là KCN tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xácđịnh, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất côngnghiệp, không có dân cư sinh sống
Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 quyđịnh về KCN, KCX và KKT thì khái niệm về khu công nghiệp được hiểu như sau:
Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện cácdịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theođiều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ
Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiệndịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xácđịnh, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu côngnghiệp theo quy định của Chính phủ
Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trườnghợp quy định cụ thể
Khu công nghiệp là công cụ của chính sách công nghiệp nhằm thúc đẩy côngnghiệp hóa hướng về xuất khẩu, đồng thời cũng là địa bàn để thực hiện chiến lượcCNH, HĐH trên phạm vi lãnh thổ nhất định
Khu công nghiệp đối với nước ta còn là vấn đề mới mẻ, nhưng qua mấy nămxây dựng và phát triển, nó trở thành nhân tố rất quan trọng góp phần thực hiện mụctiêu CNH, HĐH
Tóm lại, KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong cácgiai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tậptrung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập.[1]
Trang 81.2 Phân loại các KCN
Có thể căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau:
• Căn cứ vào mục đích sản xuất, người ta chia ra khu công nghiệp và khu chế xuất Khucông nghiệp bao gồm các cơ sở sản xuất hàng công nghiệp để tiêu thụ nội địa và xuấtkhẩu Khu chế xuất là một dạng của khu công nghiệp chuyên làm hàng xuất khẩu
• Theo mức độ mới - cũ, khu công nghiệp chia làm 3 loại:
- Các khu công nghiệp cũ xây dựng trong thời kỳ bao cấp (từ trước khi có chủtrương xây dựng khu chế xuất năm 1990)
- Các khu công nghiệp cải tạo, hình thành trên cơ sở có một số xí nghiệp đanghoạt động
- Các khu công nghiệp xuất hiện trên địa bàn mới
• Theo tính chất đồng bộ của việc xây dựng, cần tách riêng 2 nhóm khu công nghiệp đãhoàn thành và chưa hoàn thành đầy đủ cơ sở hạ tầng và các công trình bảo vệ môitrường như hệ thống thông tin, giao thông nội khu, các công trình cấp điện, cấp nước,thoát nước mưa, nước thải, các nhà máy xử lý nước thải, chất thải rắn, bụi khói v.v
• Theo tình trạng cho thuê, có thể chia số khu công nghiệp thành ba nhóm có diện tíchcho thuê được lấp kín dưới 50%, trên 50% và 100%.(Các tiêu thức 3 và 4 chỉ là tạmthời: khi xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ tất cả các công trình và cho thuê hết diện tíchthì 2 tiêu thức đó không cần sử dụng nữa)
• Theo quy mô, hình thành 3 loại khu công nghiệp: lớn, vừa và nhỏ Các chỉ tiêu phân
bổ quan trọng nhất có thể chọn là diện tích tổng số doanh nghiệp, tổng số vốn đầu tư,tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng Các khu công nghiệp lớn được thành lập phải
có quyết định của Thủ tướng chính phủ Các khu công nghiệp vừa và nhỏ thuộc quyềnquyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố Trong giai đoạn đầu hiện nay ta chútrọng xây dựng các khu công nghiệp vừa và nhỏ để sớm khai thác có hiệu quả
• Theo trình độ kỹ thuật, có thể phân biệt:
- Các khu công nghiệp bình thường, sử dụng kỹ thuật hiện đại chưa nhiều
- Các khu công nghiệp caoo, kỹ thuật hiện đại thuộc ngành công nghiệp mũinhọn như công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học v.v làm đầutàu cho sự phát triển công nghiệp, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội dàihạn
Trang 9• Theo chủ đầu tư, có thể chia thành 3 nhóm:
- Các khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước
- Các khu công nghiệp hỗn hợp bao gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trongnước và nước ngoài
- Các khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, các dự án 100% vốn đầu tưnước ngoài
• Theo tính chất của thực thể kinh tế xã hội, cần phân biêt 2 loại:
- Các khu công nghiệp thuần túy chỉ xây dựng các xí nghiệp sản xuất, chế biếnsản phẩm, không có khu vực dân cư
- Các khu công nghiệp này dần dần sẽ trở thành thị trấn, thị xã hay thành phố
vệ tinh Đó là sự phát triển toàn diện của các khu công nghiệp
• Theo tính chất ngành công nghiệp có Có thể liệt kê theo các ngành cấp I, như khu chếbiến nông lâm hải sản, khu công nghiệp khai thác quặng, dầu khí, hóa dầu, điện tử, tinhọc, khu công nghiệp điện, năng lượng, khu công nghiệp phục vụ vận tải, khu côngnghiệp vật liệu xây dựng v.v
• Theo lãnh thổ địa lý: phân chia các khu công nghiệp theo ba miền Bắc, Trung, Nam,theo các vùng kinh tế xã hội (hoặc theo các vùng kinh tế trọng điểm); và theo các tỉnhthành để phục vụ cho việc khai thác thế mạnh của mỗi vùng, làm cho kinh tế xã hộicủa các vùng phát triển tương đối đồng đều, góp phần bảo đảm nền kinh tế quốc dânphát triển bền vững
Quá trình phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng trong thế kỷ 21
sẽ đặt ra những yêu cầu mới, nhân vật mới, tạo ra những đặc trưng mới cho bộ mặt cáckhu công nghiệp.[2]
1.3 Vai trò của KCN
Các KCN có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tếquốc dân, nhất là các nước đang phát triển thì việc hình thành các Khu công nghiệp đãtạo ra được cơ hội phát triển công nghiệp và thực hiện công nghiệp hóa rút ngắn bởi cóthể kết hợp và học tập được những thành tựu mới nhất về khoa học công nghệ, về tổchức và quản lý doanh nghiệp, đồng thời tranh thủ được nguồn vốn đầu tư từ nướcngoài để phát triển, cụ thể:
Trang 10• Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nền kinh tế.
KCN với đặc điểm là nơi được đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ, hiệnđại và thu hút các nhà đầu tư cùng đầu tư trên một vùng không gian lãnh thổ do vậy đó
là nơi tập trung và kết hợp sức mạnh nguồn vốn trong và ngoài nước Với quy chếquản lý thống nhất và các chính sách ưu đãi, các KCN đã tạo ra một môi trường đầu tưkinh doanh thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài; hơn nữa việcphát triển các KCN cũng phù hợp với chiến lược kinh doanh của các tập đoàn, công ty
đa quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tranh thủ ưu đãi thuếquan từ phía nước chủ nhà, tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận và khai thác thị trườngmới ở các nước đang phát triển Do vậy, KCN giúp cho việc tăng cường huy động vốn
và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho phát triển kinh tế xã hội và là đầu mối quantrọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và là giải pháp hữu hiệu nhằmthu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là mộttrong những nhân tố quan trọng giúp quốc gia thực hiện và đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mặt khác sự hoạt động của đồng vốn cónguồn gốc từ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đã tác động tích cực thúc đẩy sự lưu thông
và hoạt động của đồng vốn trong nước
Việc khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước đầu tư vào KCN bằngnhiều hình thức, đa dạng sẽ thu hút được một nguồn vốn lớn trong nước tham gia đầu
tư vào các KCN Đây là nguồn vốn tiềm tàng rất lớn trong xã hội chưa được khai thác
và sử dụng hữu ích Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước tham gia xâydựng hạ tầng KCN và đầu tư sản xuất trong KCN sẽ tạo sự tin tưởng và là động lựcthu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào KCN Thực tế trong thời gian vừa qua,các KCN đã thu hút được khá nhiều các nguồn vốn cho mục tiêu đầu tư phát triển kinh
tế xã hội của quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng
• Đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu và giảm chi ngoại tệ và góp phần tăng nguồn thu ngân sách
Sự phát triển các KCN có tác động rất lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu Hàng hóa sản xuất ra từ cácKCN chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số lượng hàng hóa xuất khẩu của địa phương
Trang 11và của cả nước Khi các KCN mới bắt đầu đi vào hoạt động, lúc này nguồn thu ngoại
tệ của các KCN chưa đảm bảo vì các doanh nghiệp phải dùng số ngoại tệ thu được đểnhập khẩu công nghệ, dây chuyền, máy móc thiết bị … nhưng cái lợi thu được là nhậpkhẩu nhưng không mất ngoại tệ Khi các doanh nghiệp đi vào sản xuất ổn định, cóhiệu quả thì lúc đó nguồn thu ngoại tệ bắt đầu tăng lên nhờ hoạt động xuất khẩu củacác doanh nghiệp KCN Ngoài ra, hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua việc cung ứngnguyên vật liệu của các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp chế xuất hoạtđộng trong KCN và việc một số doanh nghiệp chế xuất tổ chức gia công một số chitiết, phụ tùng, một số công đoạn tại các doanh nghiệp trong nước góp phần vào quátrình nội địa hóa trong cơ cấu giá trị sản phẩm của các doanh nghiệp Ngoài ra, cácKCN cũng đóng góp đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương
và đóng góp chung cho nguồn thu của quốc gia
• Tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, phương pháp quản lý hiện đại và kích thích sựphát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và doanh nghiệp trong nước
Kinh nghiệm phát triển của nhiều nước trên thế giới cho thấy việc áp dụng tiến
bộ khoa học công nghệ tiên tiến của các nước đi trước là một trong những bí quyết đểphát triển và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa Việc tiếp cận và vận dụng linh hoạt
kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia là một trongnhững giải pháp mà các nước đang phát triển áp dụng nhằm rút ngắn thời gian của quátrình công nghiệp hóa Cùng với sự hoạt động của các KCN một lượng không nhỏ các
kỹ thuật công nghệ tiên tiến, dây chuyền sản xuất đồng bộ, kỹ năng quản lý hiện đại…
đã được chuyển giao và áp dụng thành công trong các ngành công nghiệp; Việcchuyển giao công nghệ của khu vực FDI tới các doanh nghiệp trong nước đã góp phầnthúc đẩy vào việc tăng năng suất, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong các ngành côngnghiệp KCN thúc đẩy sự phát triển năng lực khoa học công nghệ góp phần tạo ranhững năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới, công nghệ mới, sản phẩm mới, phươngthức sản xuất, kinh doanh mới… giúp cho nền kinh tế từng bước chuyển dịch theohướng kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế và phục vụ cho sự nghiệpCNH-HĐH của quốc gia
Trang 12KCN là nơi tập trung hóa sản xuất cao và từ việc được tổ chức sản xuất khoahọc, trang bị công nghệ kỹ thuật tiên tiến của các doanh nghiệp FDI, các cán bộ quản
lý, công nhân kỹ thuật làm việc tại các KCN sẽ được đào tạo và đào tạo lại về kinhnghiệm quản lý, phưong pháp làm việc với công nghệ hiện đại, tác phong công nghiệp
… Những kết quả này có ảnh hưởng gián tiếp và tác động mạnh đến các doanh nghiệptrong nước trong việc đổi mới công nghệ, trang thiết bị, nâng cao chất lượng sảnphẩm, thay đổi phương pháp quản lý … để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đạthiệu quả kinh tế cao Sự có mặt của các tập đoàn công nghiệp, các tập đoàn đa quốcgia, các công ty có uy tín trên thế giới trong các KCN cũng là một tác nhân thúc đẩyphát triển công nghiệp phụ trợ theo hướng liên doanh, liên kết Thông qua đó cho phépcác công ty trong nước có thể vươn lên trở thành các nhà cung cấp đạt tiêu chuẩn quốc
tế và trở thành những tập đoàn kinh tế mạnh, các công ty đa quốc gia
• Tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực
Xây dựng và phát triển KCN đã thu hút một lượng lớn lao động vào làm việctại các KCN và đã có tác động tích cực tới việc xóa đói giảm nghèo và giảm tỷ lệ thấtnghiệp trong cộng đồng dân cư đồng thời góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội do thấtnghiệp gây nên Phát triển KCN góp phần quan trọng trong việc phân công lại lựclượng lao động trong xã hội, đồng thời thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trườnglao động có trình độ và hàm lượng chất xám cao Quan hệ cung cầu lao động diễn ra ởthị trường này diễn ra gay gắt chính là động lực thúc đẩy người sử dụng lao động,người lao động phải rèn luyện và không ngừng học tập, nâng cao trình độ tay nghề.Như vậy, KCN đóng góp rất lớn vào việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyênmôn kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực vàquốc tế và hình thành đội ngũ lao động của nền công nghiệp hiện đại thông qua việcxây dựng các cơ sở đào tạo nghề, liên kết gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làmgiữa các doanh nghiệp KCN với nhà trường
• Thúc đẩy việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng và là hạt nhân hình thành đô thị mới
Trang 13Xây dựng và phát triển các KCN trong phạm vi từng tỉnh, thành phố, vùng kinh
tế và quốc gia là hạt nhân thúc đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa và hiện đại hóa kết cấu hạtầng trong và ngoài KCN tại các địa phương, cụ thể:
– Cùng với quá trình hình thành và phát triển KCN, kết cấu hạ tầng của cácKCN được hoàn thiện; kích thích phát triển kinh tế địa phương thông qua việc cảithiện các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực, gia tăng nhu cầu về các dịch vụphụ trợ, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sở kinh doanh, dịch vụtrong khu vực; góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch phát triển giữa nông thôn vàthành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân;
– Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hút các
dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô để tăngnăng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân cư, tạo điềukiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trường đô thị, tái tạo
và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của cộng đồng trong khu vực;
– Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảmbảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân cưmới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ… cáccông trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và cư dân trong khu vựcnhư: nhà ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí…;
– Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư vào các ngànhnhư điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động dịch
vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, phát triển thị trường địa ốc… đáp ứng nhu cầu hoạtđộng và phát triển của các KCN;
– Phát triển KCN là hạt nhân hình thành đô thị mới, mang lại văn minh đô thịgóp phần cải thiện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho khu vực rộng lớn được đô thịhóa
Phát triển KCN gắn với bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 14Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải khai thác và sử dụng hợp
lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Do vậy để một doanh nghiệpđơn lẻ xây dựng các công trình xử lý chất thải rất tốn kém, khó có thể đảm bảo đượcchất lượng nhất là trong điều kiện hiện nay ở nước ta phần lớn là doanh nghiệp vừa vànhỏ KCN là nơi tập trung số lượng lớn nhà máy công nghiệp, do vậy có điều kiện đầu
tư tập trung trong việc quản lý, kiểm soát, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường Chính
vì vậy việc xây dựng các KCN là tạo thuận lợi để di dời các cơ sở sản xuất gây ônhiễm từ nội thành, khu dân cư đông đúc, hạn chế một phần mức độ gia tăng ô nhiễm,cải thiện môi trường theo hướng thân thiện với môi trường phục vụ mục tiêu phát triểnbền vững
Ngoài ra, KCN còn là động lực thúc đẩy việc đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh
tế, hệ thống pháp luật, thủ tục hành chính, góp phần cơ cấu lại lĩnh vực phân phối, lưuthông và dịch vụ xã hội; tạo điều kiện cho các địa phương phát huy thế mạnh đặc thùcủa mình, đồng thời hình thành mối liên kết, hỗ trợ phát triển sản xuất trong từngvùng, miền và cả nước; từ đó tạo ra những năng lực sản xuất, ngành nghề và côngnghệ mới, làm cho cơ cấu kinh tế của nhiều tỉnh, thành phố và khu vực toàn tuyếnhành lang kinh tế nói chung từng bước chuyển biến theo hướng một nền kinh tế CNH,thị trường, hiện đại.[3]
1.4 Giới thiệu chung về KCN ở TPHCM
Tính đến 30/9/2015, 3 khu chế xuất và 13 khu công nghiệp thành phố Hồ ChíMinh có 1.387 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 9,043 tỷ USD,trong đó đầu tư nước ngoài 559 dự án, vốn đầu tư là 5,4 tỷ USD; đầu tư trongnước 828 dự án, vốn đầu tư đăng ký 54.641 tỷ VNĐ (tương đương 3,65 tỷ USD); kimngạch xuất khẩu tính đến nay là 46 tỷ USD với các thị trường chủ yếu là Mỹ, NhậtBản, châu Âu và Đài Loan; sản phẩm xuất đi trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đồngthời thu hút 280.778 lao động
Theo Quyết định 188/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về qui hoạchphát triển công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đến 2010 có tính đến 2020 xác địnhquỹ đất khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung là 7.000ha trong đó đã khai thác 4000
ha, diện tích đất còn lại là 3000 ha Hiện nay, định hướng phát triển khu chế xuất, khucông nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh chú trọng thu hút các nhà đầu tư vào các lĩnh
Trang 15vực kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến – đặc biệt là các ngành cơ khí, điện-điện tử vàhóa chất.
Thành phố Hồ Chí Minh được xem là một thành phố năng động với một nềntảng chính trị-xã hội ổn định, các ngành kinh tế phát triển nhanh chóng và lực lượnglao động dồi dào có chất lượng chuyên môn cao Đến nay, thành phố đóng góp 20% vềGDP, 30% giá trị sản xuất công nghiệp, 40% về kim ngạch xuất khẩu của cả nước vàtổng thu ngân sách đạt 91.305 tỷ đồng, đứng đầu về mức bình quân GDP trên đầungười, gấp gần 3 lần mức bình quân cả nước.[4]
Vì vậy, Quy chế khu chế xuất đã được ban hành kèm theo Nghị định số322/HĐBT ngày 18/10/1991 và khu chế xuất Tân Thuận - khu chế xuất đầu tiên của cảnước đã được thành lập theo Quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng số 394/CTngày 25/11/1991 nay là Chính phủ
Năm 1992 khu chế xuất Linh Trung, năm 1996 và 1997 liên tiếp 10 khu côngnghiệp của Thành phố có Quyết định thành lập của Chính phủ Đầu năm 2002, thêmmột khu công nghiệp nữa được thành lập theo quyết định của Chính phủ là khu côngnghiệp Phong Phú
Thành lập Ban quản lý
Ngay sau khi Quy chế khu chế xuất được ban hành và khu chế xuất Tân Thuậnđược thành lập, Ban quản lý khu chế xuất Tân Thuận đã được thành lập theo Quyết
Trang 16định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng số 62/CT ngày 26/2/1992, gồm 8 thành viên,Trưởng ban là ông Lữ Minh Châu - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Hợp tác vàđầu tư, Phó ban là ông Nguyễn Công Ái - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố HồChí Minh, các Ủy viên là Vụ trưởng, Vụ phó đại diện cho các Bộ: Thương mại, Tàichính, Công an, Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Hải quan và Ủy ban Nhân dân thànhphố Hồ Chí Minh.
Sau khi khu chế xuất Linh Trung ra đời, Ban quản lý đổi tên thành Ban quản
lý các khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh và được sử dụng con dấu có hình quốchuy theo Thông báo số 433/KTĐN ngày 27/10/1992 của Văn phòng Chính phủ
Sau khi một số khu công nghiệp được thành lập, Ban quản lý các khu chế xuấtthành phố Hồ Chí Minh được chuyển thành Ban quản lý các khu chế xuất và côngnghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 731/TTgngày 03/10/1996 Từ đó đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã bổ nhiệm các Phó Chủ tịch
Ủy ban nhân dân Thành phố kiêm nhiệm Trưởng ban quản lý là ông Trần Thành Long
- từ 1996 đến 1999, ông Trần Ngọc Côn - từ 1999 đến 2001 Từ 2001 ông NguyễnChơn Trung, Phó ban quản lý được bổ nhiệm Trưởng Ban quản lý
Bộ máy giúp việc của Ban quản lý hình thành từ cuối năm 1992, đến năm
1997 đã ổn định về tổ chức, gồm có 5 Phòng nghiệp vụ, Văn phòng và Trung tâm Dịch
vụ việc làm Từ năm 1999, Ban quản lý thực hiện thí điểm chê độ tự bảo đảm kinh phíhoạt động theo Công văn của Chính phủ số 15/CP-khu công nghiệp ngày 14/08/1998
và Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính số 45/1999/QĐ-BTC ngày 06/05/1999 Sốlượng cán bộ công nhân viên chức được Ban tổ chức Cán bộ Chính phủ giao chỉ tiêunăm 2000 là 50 người trong biên chế lương và 15 người làm việc theo hợp đồng laođộng
Từ tháng 10/2000, Ban quản lý được chuyển giao trực thuộc Ủy ban nhân dânThành phố theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 100/QĐ-TTg ngày17/08/2000 Ban quản lý chịu sự chỉ đạo và quản lý về Tổ chức, biên chế, chương trìnhcông tác và kinh phí hoạt động của Ủy ban nhân Thành phố, đồng thời chịu sự chỉ đạo
về nghiệp vụ chuyên môn của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản
lý ngành, lĩnh vực [5]
Trang 17CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG VÀ QUY HOẠCH CÁC KCN CỦA THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Hiện trạng các khu công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh
Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện tại có khoảng 20 khu công nghiệpđang hoạt động Với tổng diện tích khoảng 5746.2 ha và 23 cụm công nghiệp với diệntích khoảng 1493.31 ha, chủ yếu tập trung tại các quận ngoại thành như 2, 7, 8, 9, 12,Thủ Đức, Tân Bình, Huyện Nhà Bè, Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn
Bảng 2.1: Một số khu chế xuất, khu công nghiệp tại TPHCM
ST
Địa điểm tọa lạc
Loại hình khu công nghiệp
Diện tích thông vận tải Tuyến giao
Đa ngành, công nghiệpnhẹ
62ha(tỷ lệ lấp đầy:
92,02% )
Nằm ngay cạnh quốc lộ 1A, bến cảng gần nhất là Cát Lái,…
Lấy điện
từ trạm 110kV
3.000 m3/Ngày.Đêm
và lưu chuyển hànghóa
300ha(tỷ lệ lấp đầy: 80,63
%)
Quốc lộ gần nhất là NguyễnVăn Linh, bến cảng gần nhất
là cảng Tân Thuận, Bến Nghé,,…
Lưới điệnquốc gia 30.000 m
3/Ngày.Đêm
Trang 18Huyện Nhà
Bè, Thành phố
Hồ ChíMinh
Đa ngành (hạn chế cácngành ô nhiễm môi trường)
Giai đoạn 1: 311,4 ha(tỷ lệ lấp đầy:
95,5%)Giai đoạn 2: 597 ha (tỷ lệ lấp đầy:
17,93%)
Quốc lộ gần nhất là quốc lộ
1, bến cảng gần nhất là cảng Cảng TânCảng Hiệp Phước
500 KV
do Trạm biến thế Nhà Bè thuộc Tổng Công ty điện lực quốc gia cung cấp
45.000 m3/Ngày.Đêm
Đa ngành 343,9ha
(tỷ lệ lấp đầy:
100%)
Quốc lộ 1A và
kề bên đường cao tốc Sài Gòn – Trung Lương, bến cảng gần nhất
là cảng Sài Gòn
Được cấp
từ trạm biến áp 110/15
KV, đảm bảo cung cấp điện đầy đủ và
ổn định
Hệ thống nước máy Thành phố
Đa ngành 27,34 ha
(tỷ lệ lấp đầy:
100%)
Đường Bình Chiểu
Mạng điện chung của Tp
Hồ Chí Minh từ trạm Thủ Đức Bắc
Hệ thống nước máy Thành phố
87,73%)
Xa lộ Hà Nội
và cảng Cát Lái
Điện lực Thủ Thiêm
1.469m3/ngày.đêm
Đa ngành 207 ha
(tỷ lệ lấp đầy:
100%)
Quốc lộ 1A, bến cảng gần nhất là cảng Sài Gòn
Điện lướiquốc gia
Hệ thống nước máy Thành phố
Đa ngành 100 ha
(tỷ lệ lấp đầy:
100%)
Quốc lộ 1A, bến cảng gần nhất là cảng Sài Gòn
Điện lướiquốc gia Hệ thống nước máy
Thành phố
9 Khu
công
Quận 12
Trang 19Đa ngành 128,70 ha
(tỷ lệ lấp đầy:
100%)
Quốc lộ 1 và cảng Cát Lái
Điện lướiquốc gia
3.000 m3/ngày.đêm
97,25%)
Quốc lộ 22 và Cảng Sài Gòn
Điện lướiquốc gia
Hệ thống nước máy Thành phố
Đa ngành 123,51 ha
(tỷ lệ lấp đầy:
23,22%)
Quốc lộ 22 và Cảng Sài Gòn
Điện lướiquốc gia
300.000
m3/ngày.đêm
286,76 ha(tỷ lệ lấp đầy:
68,7%)
Đường Xuyên
Á và cảng Cát Lái
Mạng lưới cungcấp điện EVN
200.000
m3/ngày đêm
tử, các ngành công nghiệp phụ trợ…
99,34 ha(tỷ lệ lấp đầy: 21%)
Quốc lộ 22, quốc lộ 13 và cảng VIC, Bến Nghé
Điện lướiquốc gia 2.500 m3/ngày
Đa ngành, công nghiệpnhẹ
61,7 ha (tỷ lấp đầy:
100%)
Quốc lộ 1A và cảng Cát Lái
Điện lướiquốc gia
5.980 m3/ ngày đêm
Đa ngành 319,16 ha Quốc lộ 1A và
cảng Sài Gòn
Điện lướiquốc gia
Hệ thống nước máy Thành phố
Trang 20Đa ngành 219,51 ha
(tỷ lấp đầy:
0%)
Quốc lộ 1A và cảng Hiệp Phước
Điện lướiquốc gia 30.000 m3/ngày
100%)
Quốc lộ 52 và cảng Cát Lái
Điện lướiquốc gia
Hệ thống nước máy Thành phố
Đa ngành 148 ha Quốc lộ 50 Điện lưới
quốc gia Hệ thống nước máy
Quốc lộ 1A Điện lưới
quốc gia Hệ thống nước máy
Thành phố
2.2 Quy hoạch khu công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 21Hình 2.1: Qui hoạch và dự kiến phát triển các khu chế xuất và công nghiệp Tp Hồ
Chí Minh đến năm 2020
Theo quy hoạch phát triển đến năm 2020, Tp.Hồ Chí Minh sẽ có 23 khu chếxuất, khu công nghiệp (KCX-KCN) với tổng diện tích khoảng 6.038,8 ha Hiện nay,HEPZA đang quản lý 3 KCX và 13 KCN với tổng diện tích là 3.748,49 ha Hầu hếtcác khu này đều có tỷ lệ đất cho thuê từ đất 60% - 100% trên tổng diện tích đất chothuê
Bảng 2.2: Tổng hợp dự kiến điều chỉnh quy hoạch các khu công nghiệp - chế xuất
thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2015, và định hướng đến năm 2020
Trang 22KCN Tân Tạo - mở rộng Q Bình Tân 204,58
KCN Lê Minh Xuân - mở rộng H Bình Chánh 120,00
có quy mô hợp lý để tạo điều kiện phát triển công nghiệp, nhằm chuyển dịch cơ cấukinh tế tại những địa phương có tỷ trọng công nghiệp trong GDP thấp
Trang 23Đưa tỷ lệ đóng góp của các khu công nghiệp vào tổng giá trị sản xuất côngnghiệp từ trên 24% hiện nay lên khoảng 39 – 40% vào năm 2010 và tới trên 60% vàogiai đoạn tiếp theo Tăng tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghiệp của các khu công nghiệp từ19,2% giá trị xuất khẩu toàn quốc hiện nay lên khoảng 40% vào năm 2010 và cao hơnvào các giai đoạn tiếp theo.
TPHCM đang thực hiện đề án Điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển côngnghiệp đến năm 2020 để phù hợp hơn với tình hình phát triển thực tế, đẩy nhanh tiến
độ triển khai dự án cũng như thu hút đầu tư Sắp tới sẽ có nhiều sự thay đổi đối với cáckhu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN)
Trước đó, TP đã quy hoạch quỹ đất dành xây dựng các KCN là 7.000ha vàCCN là 1.900ha Trong quá trình thực hiện, KCN Phú Hữu (quận 9, diện tích 80ha) đãđược xóa quy hoạch để điều chỉnh thành khu dân cư
Nối tiếp KCN Phú Hữu, vừa qua UBND TP cũng đã chấp thuận xóa quyhoạch 3 KCN là Xuân Thới Thượng (Hóc Môn), Phước Hiệp và Bàu Đưng (Củ Chi),tổng diện tích 657ha, vì chậm bồi thường giải phóng mặt bằng, gây ảnh hưởng đến đờisống người dân trong khu vực Tuy nhiên, theo Quy hoạch xây dựng các KCN đếnnăm 2020, tầm nhìn 2025 thì tổng diện tích các KCN là 7.000ha Vì thế, để đảm bảoquỹ đất KCN, TP đã nghiên cứu và bổ sung KCN Phạm Văn Hai (Bình Chánh) diệntích 768ha, gồm 668ha đất công nghiệp và 100ha đất khu dân cư liền kề phục vụ KCN
Bên cạnh đó, khu vực dự kiến bố trí KCN Phạm Văn Hai bị chia cắt bởi tuyếnđường vành đai 3 và đường Tây Bắc mở rộng sẽ ảnh hưởng kết nối giao thông trongkhu, nên TPHCM cần khảo sát và nghiên cứu kỹ vị trí này Đồng thời, phải báo cáo rõ:Các loại hình công nghiệp dự kiến được hoạt động trong KCN này để làm cơ sở đềxuất giải pháp quy hoạch xây dựng phù hợp; các chỉ tiêu diện tích giao thông - câyxanh, phân định rõ đất cây xanh vườn hoa với đất cây xanh cách ly, cũng như đất câyxanh thuộc công trình đầu mối giao thông trong đô thị theo quy chuẩn kỹ thuật quốcgia về quy hoạch xây dựng Bộ Xây dựng cũng lưu ý TP về việc xác định rõ phạm viranh giới KCN và khu đô thị dịch vụ liền kề phục vụ KCN, để đảm bảo tuân thủ cácquy định về lưu trú, tạm trú trong KCN theo quy định của pháp luật
Ngoài việc xóa quy hoạch, TPHCM còn điều chỉnh giảm quy mô một số KCNkhác Cụ thể, UBND huyện Củ Chi cho hay đang phối hợp cùng các sở ngành liên
Trang 24quan xem xét để xin ý kiến chỉ đạo của UBND TP về việc điều chỉnh quy hoạch KCNTây Bắc Củ Chi mở rộng từ 173ha xuống còn 73ha KCN Tây Bắc Củ Chi phần mởrộng đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư vào năm 2005 vàUBND TP phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 vào năm 2011, do Công
ty cổ phần Đầu tư phát triển công nghiệp thương mại Củ Chi làm chủ đầu tư Nhưngcho đến nay, chủ đầu tư chưa thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng cũng như cácthủ tục đầu tư để triển khai dự án, trong khi một phần diện tích dự án có nhà ở hiệnhữu của người dân sinh sống ổn định Cuối năm 2016, chủ đầu tư có văn bản đề nghịđiều chỉnh quy hoạch theo hướng giảm quy mô phần mở rộng xuống 73ha, đưa khudân cư hiện hữu ra ngoài ranh dự án UBND huyện đã thống nhất hướng điều chỉnhnày Tương tự, KCN Hiệp Phước giai đoạn 3 cũng đang được rà soát, xem xét điềuchỉnh giảm diện tích
Còn đối với CCN, TPHCM điều chỉnh giảm từ 30 CCN (diện tích 1.900ha)xuống còn 6 CCN (331ha), trong đó chuyển 2 CCN An Hạ và Cơ khí ô tô thành KCN,đưa ra khỏi quy hoạch 22 CCN để chuyển thành chức năng sử dụng đất khác
CHƯƠNG 3 TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG KCN3.1 Vị trí chức năng
Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Khu Chế xuất TPHCM (sau đây viết tắt
là Ban Quản lý) là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân TPHCM, thực hiện chức năngquản lý nhà nước trực tiếp đối với các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố HCM
và tổ chức cung cấp dịch vụ hành chình công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đếnhoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong khu công nghiệp
Ban Quản lý chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình kếhoạch công tác và kinh phí hoạt động của Ủy ban nhân dân thành phố; chịu sự chỉ đạo,hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của các Bộ, ngành quản lý về lĩnhvực có liên quan
Trang 25Ban Quản lý có tư cách pháp nhân; có con dấu mang hình quốc huy và tàikhoản riêng; kinh phí quản lý hành chính nhà nước, kinh phí hoạt động sự nghiệp vàvốn đầu tư phát triển do ngân sách nhà nước cấp theo kế hoạch hàng năm.
3.3 Cơ cấu tổ chức và biên chế
a) Lãnh đạo Ban Quản lý bao gồm Trưởng ban và không quá 03 (ba) PhóTrưởng ban
- Trưởng ban là người đứng đầu Ban Quản lý, chịu trách nhiệm trước Ủy bannhân dân thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố và trước pháp luật về việcthực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Quản lý; chịu trách nhiệm báocáo trước Hội đồng nhân dân thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố và Bộ Kế hoạch
và Đầu tư theo quy định
- Phó Trưởng ban là người giúp Trưởng Ban phụ trách một số mặt công táccủa Ban Quản lý, chịu trách nhiệm trước Trưởng Ban và trước pháp luật về các nhiệm
vụ
được phân công
- Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật,miễn nhiệm, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế các chế độ chính sách khác đốivới Trưởng ban và Phó Trưởng ban do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố quyết địnhtheo quy định của pháp luật
b) Cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý:
- Văn phòng
1 Tham mưu, quản lý về công tác tổ chức, cán bộ
2 Tham mưu xây dựng các quy chế, quy định nội bộ của Ban Quản lý
Trang 263 Tham mưu công tác bảo vệ bí mật nhà nước.
4 Tham mưu, dự toán ngân sách, kinh phí hoạt động hàng năm của Ban Quảnlý; hướng dẫn, giám sát kế toán tài chính các đơn vị trực thuộc Ban Quản lý
5 Tham mưu, tổ chức, theo dõi phong trào thi đua – khen thưởng Ban Quản
lý, doanh nghiệp KCN
6 Tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác cải cách hành chính nhànước về lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Ban Quản lý
7 Điều hành Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
8 Tổ chức thực hiện công tác văn thư, lưu trữ; quản lý và sử dụng con dấu của
cơ quan
9 Rà soát văn bản đi trước khi trình Lãnh đạo Ban ký
10 Tham mưu quản lý, điều hành hệ thống mạng LAN, hệ thống quản lý vănbản và điều hành, trang thông tin điện tử của Ban Quản lý, các công tác liên quan đếnứng dụng công nghệ thông tin;
11 Theo dõi công tác xây dựng, áp dụng và cải tiến hệ thống quản lý chấtlượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001: 2008 Ban Quản lý
12 Triển khai, theo dõi công tác dân chủ cơ sở, cơ quan văn hóa và các côngtác về nề nếp làm việc, tinh thần trách nhiệm của cán bộ công chức
13 Chủ trì tham mưu tổ chức các cuộc họp giao ban với các doanh nghiệptrong KCN; giao ban định kỳ của Ban Quản lý
14 Tổng hợp báo cáo tuần, báo cáo giao ban và thông báo kết luận giao banhàng tháng của Lãnh đạo Ban
15 Thực hiện công tác công tác lễ tân, tổ chức hội nghị, hội thảo và các hoạtđộng lễ hội của Ban Quản lý, các cấp phát động
16 Quản lý điều hành các phương tiện, đầu mối quản lý tài sản trang thiết bịcủa cơ quan
17 Thực hiện các công việc khác do Lãnh đạo Ban giao
- Phòng Kế hoạch tổng hợp
Trang 271 Chủ trì xây dựng chương trình, kế hoạch công tác dài hạn, 05 năm và hàngnăm về phát triển KCN; kế hoạch công tác hàng tuần, tháng, quý, 6 tháng, năm.
2 Xây dựng, triển khai thực hiện các chính sách, đề án, chương trình, kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội của các cấp có liên quan đến quy hoạch phát triểnKCN
3 Xây dựng, triển khai thực hiện các chương trình hành động mang tính tổngthể có liên quan đến đầu tư phát triển KCN, nhằm triển khai thực hiện các Chỉ thị,Nghị quyết của Đảng và Nhà nước
4 Chủ trì góp ý các cơ chế, chính sách, chương trình, pháp luật, dự án liênquan đến phát triển KCN
5 Tổng hợp, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình hoạt động chung củaKCN
6 Tổng hợp thông tin về dự án hoạt hộng trong KCN
7 Thực hiện công tác pháp chế của cơ quan
8 Phối hợp với các phòng công tác thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, phổbiến các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án, cơ chế chính sách vềKCN; theo dõi việc tổ chức thực hiện và thi hành pháp luật về KCN
9 Tham mưu công tác phòng chống tham nhũng; công tác thực hành tiết kiệmchống lãng phí
10 Tham mưu xây dựng kế hoạch, triển khai công tác phòng chống lụt bãotrong KCN
11 Phối hợp với các phòng kiểm tra tình hình ANTT, PCCC, môi trường, xâydựng, đầu tư và hoạt động của dự án trong KCN
12 Thực hiện các công việc khác do Lãnh đạo Ban giao
- Phòng Quản lý đầu tư
1 Xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư
2 Hướng dẫn, hỗ trợ hoạt động tìm hiểu, thực hiện thủ tục đầu tư