Trong vài thập kỉ gần đây, đã bùng nổ các nhu cầu khai thác tại nguyên như vũ bão, nhu cầu sử dụng năng lượng rất lớn và nhiều ngành sản xuất mới ra đời, sản xuất công nghiệp hàng loạt với quy mô vô cùng to lớn, chúng đã tác động mạnh mẽ tới điều kiện sống và sinh hoạt của con người và nhiều hệ sinh thái không chỉ trong một phạm vi nhỏ như một nhà máy, mà cả một cộng đồng to lớn như một đô thị, một vùng và cả một quốc gia hay cả thế giới. Tài nguyên thiên nhiên bị đe dọa cạn kiệt và bị phá hoại. Môi trường thiên nhiên bị biến đổi theo chiều hướng xấu, nhất là từ khi con người phát hiện ra những trận mưa axit, hiện tượng suy giảm tầng ozon, hiện tượng tăng dần nhiệt độ của trái đất và tần suất thiên tai, mưa, bão, lũ lụt ngày càng tăng, số người chết vì các bệnh hiểm nghèo do ô nhiễm môi trường gây ra ngày càng lớn v.v… Vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Không thể có được một xã hội, một nền kinh tế phát triển lành mạnh, bền vững, trong một thế giới có quá nhiều sự nghèo đói và suy thoái môi trường. Công nghiệp là ngành kinh tế đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào. Nó là động lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế, là cơ sở của các ngành dịch vụ, thương mại, là yếu tố trung tâm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho các quốc gia, nâng cao vị thế, hình ảnh của các quốc gia. Tuy nhiên bên cạnh những vai trò to lớn đó, các khu công nghiệp (KCN) cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt như tác động đến đời sống, sức khoẻ, sinh hoạt của dân cư làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến phát triển bền vững. Các KCN, các công nghệ tiên tiến ra đời, chiến tranh vì những mỏ dầu, tài nguyên thiên nhiên, các KCN xuất hiện và khai thác một cách bừa bãi mặc kệ thiên nhiên có xảy ra điều gì. Quá trình công nghiệp hóa sẽ kéo theo quá trình đô thị hóa, từ đó kéo theo những hệ lụy về kinh tế, an ninh xã hội và ô nhiễm môi trường. Vậy làm thế nào để chúng ta có thể giải quyết được một vấn đề mang tính toàn cầu này? Ở mỗi quốc gia sẽ có những chính sách quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp khác nhau phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó. Vì vậy, nhóm năm sẽ tìm hiểu kĩ hơnvề chính sách quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp, từ đó khái quát lại: “Những bài học kinh nghiệm quản lí môi trường đô thị và khu công nghiệp ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam” .
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC HÌNH ẢNH iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
Chương 1 1
MỞ ĐẦU 1
Chương 2 3
TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP 3
2.1 Giới thiệu sơ lược về đô thị, khu công nghiệp 3
2.1.1 Khái niệm, vai trò của đô thị và khu công nghiệp 3
2.1.1.1 Khái niệm, vai trò của đô thị 3
2.1.1.2 Khái niệm, vai trò của khu công nghiệp 4
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của đô thị và khu công nghiệp 8
2.1.2.1 Lịch sử phát triển của các đô thị 8
2.1.2.2 Lịch sử phát triển của các khu công nghiệp tại Việt Nam 9
2.2 Công nghiệp hóa – Đô thị hóa và sự hình thành của công tác quản lý môi trường 11
2.2.1 Các vấn đề môi trường phát sinh từ Công nghiệp hóa – Đô thị hóa 11
2.2.2 Công tác Quản lý môi trường (QLMT) 13
2.2.2.1 Định nghĩa QLMT 13
2.2.2.2 Sự xuất hiện của công tác quản lý môi trường 13
Chương 3 15
PHƯƠNG CÁCH, KINH NGHIỆM VÀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP 15
3.1 Phương cách quản lý môi trường Đô thị và Khu công nghiệp 15
3.1.1 Phương cách sử dụng công cụ pháp lý 15
3.1.2 Phương cách sử dụng công cụ kinh tế 17
3.1.3 Phương cách quản lý hỗn hợp mmoi trường đô thị 19
Trang 23.2.1 Một số bài học về kinh nghiệm, mô hình quản lý đô thị trên thế giới 20
3.2.1.1 Thái Lan 20
3.2.1.2 Trung Quốc 22
3.2.1.3 Singapore 24
3.2.1.4 Nhật Bản 26
3.2.1.5 Úc 29
3.2.1.6 Pháp 30
3.2.2 Kinh nghiệm QLMT đô thị của Việt Nam 31
3.3 Quản lý môi trường khu công nghiệp 33
3.3.1 Xu thế chung trong quản lý môi trường khu công nghiệp 33
3.3.2 Kinh nghiệm và mô hình quản lý môi trường khu công nghiệp bền vững của một số nước 34
3.3.2.1 Trung quốc 34
3.2.2.2 Nhật bản 35
3.2.2.3 Mỹ 36
3.2.2.4 Các nước Châu Âu 37
3.3.3 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển hệ thống QLMT khu công nghiệp bền vững ở nước ta 39
3.3.3.1 Các biện pháp quản lý đã được thực hiện 39
3.3.3.2 Hạn chế 40
3.4 So sánh hiệu quả, ưu nhược điểm của một số mô hình QLMT đô thị và Khu công nghiệp 42
3.4.1 Singapore 42
3.4.2 Trung Quốc 43
3.4.3 Nhật Bản 45
3.4.4 Việt Nam 46
3.4.5 Tổng kết 47
3.5 Những hạn chế, khó khăn trong quá trình thực hiện QLMT đô thị và KCN 47 3.5.1 Trong quản lý môi trường đô thị 47
3.5.2 Trong quản lý môi trường KCN 49
Chương 4 52
Trang 3ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN, ĐỔI MỚI NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ VÀ KCN 52
4.1 Trong quản lý môi trường đô thị 52
4.2 Trong quản lý môi trường KCN 53
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 56
1 Kết luận 56
2 Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 4DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Triển vọng đô thị hóa thế giới theo Liên Hợp Quốc, 2004 122
Hình 3.1: Đô thị hóa ở Singapore 255
Hình 3.2 : Hệ thống cung cấp năng lượng mặt trời tại Fujisawa 28
Hình 3.3: Khu sinh thái Clichy-Batignolles 31
Hình 3.4: KCN Kalundborg, Đan Mạch 39
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1 So sánh ưu nhược điểm mô hình quản lí đô thị và KCN của Singapore 433 Bảng 3.2 So sánh ưu nhược điểm mô hình quản lí đô thị và KCN của Trung Quốc 433 Bảng 3.3 So sánh ưu nhược điểm mô hình quản lí đô thị và KCN của Nhật Bản 455 Bảng 3.4 So sánh ưu nhược điểm mô hình quản lí đô thị và KCN của Việt Nam 46
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
KCN : Khu công nhiệp
KCX : Khu chế xuất
QLMT : Quản lý môi trường
ĐTM : Đánh giá tác động môi trường
ĐMC : Đánh giá môi trường chiến lược
CBM : Cam kết bảo vệ môi trường
CEO : Tổng giám đốc điều hành
EPA : Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ
NCEID : Trung tâm phát triển sinh thái công nghiệp quốc gia
DIET : Designing Industrial Ecosysems Tool
HĐBT : Hội đồng Bộ trưởng
NGO : Non Governmental Organization– Tổ chức phi chính phủ
Trang 7Chương 1
MỞ ĐẦU
Trong vài thập kỉ gần đây, đã bùng nổ các nhu cầu khai thác tại nguyên như vũ bão, nhu cầu sử dụng năng lượng rất lớn và nhiều ngành sản xuất mới ra đời, sản xuất công nghiệp hàng loạt với quy mô vô cùng to lớn, chúng đã tác động mạnh mẽ tới điều kiện sống
và sinh hoạt của con người và nhiều hệ sinh thái không chỉ trong một phạm vi nhỏ như một nhà máy, mà cả một cộng đồng to lớn như một đô thị, một vùng và cả một quốc gia hay cả thế giới Tài nguyên thiên nhiên bị đe dọa cạn kiệt và bị phá hoại Môi trường thiên nhiên
bị biến đổi theo chiều hướng xấu, nhất là từ khi con người phát hiện ra những trận mưa axit, hiện tượng suy giảm tầng ozon, hiện tượng tăng dần nhiệt độ của trái đất và tần suất thiên tai, mưa, bão, lũ lụt ngày càng tăng, số người chết vì các bệnh hiểm nghèo do ô nhiễm môi trường gây ra ngày càng lớn v.v… Vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại Không thể có được một xã hội, một nền kinh tế phát triển lành mạnh, bền vững, trong một thế giới có quá nhiều sự nghèo đói và suy thoái môi trường
Công nghiệp là ngành kinh tế đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào Nó là động lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế, là cơ sở của các ngành dịch vụ, thương mại, là yếu tố trung tâm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho các quốc gia, nâng cao vị thế, hình ảnh của các quốc gia Tuy nhiên bên cạnh những vai trò to lớn
đó, các khu công nghiệp (KCN) cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt như tác động đến đời sống, sức khoẻ, sinh hoạt của dân cư làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến phát triển bền vững Các KCN, các công nghệ tiên tiến ra đời, chiến tranh vì những mỏ dầu, tài nguyên thiên nhiên, các KCN xuất hiện và khai thác một cách bừa bãi mặc kệ thiên nhiên có xảy ra điều gì Quá trình công nghiệp hóa sẽ kéo theo quá trình đô thị hóa, từ đó kéo theo những hệ lụy về kinh tế, an ninh xã hội và ô nhiễm môi trường Vậy làm thế nào
để chúng ta có thể giải quyết được một vấn đề mang tính toàn cầu này? Ở mỗi quốc gia sẽ
có những chính sách quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp khác nhau phù hợp với
Trang 8về chính sách quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp, từ đó khái quát lại: “Những bài học kinh nghiệm quản lí môi trường đô thị và khu công nghiệp ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam”
Trang 9Chương 2 TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP 2.1 Giới thiệu sơ lược về đô thị, khu công nghiệp
2.1.1 Khái niệm, vai trò của đô thị và khu công nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm, vai trò của đô thị
a) Khái niệm về đô thị
✓ Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp (Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Hà Nội, 1995)
✓ Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị (Giáo trình quy hoạch đô thị, ĐH Kiến trúc, Hà Nội)
✓ Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông nghiệp, cơ sơ
sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy
sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, của một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện (Thông
tư 31/TTLD, ngày 20/11/1990 của liên Bộ Xây dựng và ban tổ chức cán bộ chính phủ)
Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở tích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, của cả một miền đô thị, của một đô thị, một huyện hoặc một đô thị trong huyện [1]
b) Vai trò của đô thị
Vào bất kì giai đoạn nào trong lịch sử phát triển xã hội, thì các đô thị luôn được coi
là nơi nắm giữ các quyền lực về chính trị, kinh tế quan trọng của xã hội và có sức chi phối mạnh mẽ, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của vùng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đóng góp của đô thị về phương diện kinh tế là rất lớn Các đô thị thường là các trung tâm và là động lực cho sự phát triển kinh tế của đất nước, của vùng Các đô thị là nơi đóng góp phần lớn giá trị GDP, giá trị ngành công nghiệp - dịch vụ, và giá trị tăng trưởng nền kinh tế Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hiện nay, trên thế giới đã hình thành các trung
tâm đô thị lớn được mệnh danh là “thành phố toàn cầu” chi phối nền kinh tế thế giới như
Trang 10chính, các văn phòng luật, các trụ sở quốc tế, các loại hình dịch vụ chuyên môn hóa phục
vụ cho các công ty và các tập đoàn xuyên quốc gia Các tập đoàn, công ty có các cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ phân bố phân tán trên toàn thế giới nên sự ảnh hưởng của nó
là rất lớn Vì vậy, có thể coi các thành phố toàn cầu này là trung tâm quyền lực chi phối nền kinh tế toàn thế giới
Bên cạnh đó, có những đô thị không quá lớn về kinh tế nhưng lại có khả năng chi phối và điều khiển đời sống xã hội, đời sống tâm linh của con người, đó là các đô thị có các trung tâm tôn giáo lớn như Rome, Jerusalem,…
Ở Việt Nam, khu vực đô thị đóng góp tới 70,4% GDP cả nước, 84% GDP trong ngành công nghiệp – xây dựng, 87% GDP trong ngành dịch vụ và 80% trong ngân sách Nhà nước Nước ta nhiều đô thị lớn có vai trò là đầu tầu kinh tế, như thành phố Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội …
Trong phạm vi một quốc gia, các cơ quan chính trị quan trọng của đất nước thường được đặt ở những đô thị lớn của đất nước, đặc biệt là ở thủ đô Vì vậy, thông thường các thủ đô là các đô thị quan trọng bậc nhất, chi phối toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị xã hội của đất nước Ở Việt Nam, các cơ quan chính trị quan trọng của Nhà nước thường được đặt ở hai đô thị lớn nhất cả nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các cơ quan chính trị của tỉnh thường được đặt ở các thành phố và thị xã trực thuộc, các cơ quan chính trị của huyện thường được đặt ở các thị trấn, …
Với vai trò quan trọng như vậy, thì định hướng phát triển đô thị, không gian đô thị chiếm vị trí rất quan trọng trong quy hoạch xây dựng đô thị Nó quyết định hướng đi đúng đắn của cả quá trình phát triển [2]
2.1.1.2 Khái niệm, vai trò của khu công nghiệp
a) Khái niệm khu công nghiệp
Trên thế giới loại hình KCN đã có một quá trình lịch sử phát triển hơn 100 năm nay bắt đầu từ những nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ cho đến những nước có nền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,…và hiện nay vẫn đang được các quốc gia học tập và kế thừa kinh nghiệm để tiến hành công nghiệp hóa Tùy điều kiện
Trang 11khác nhau nhưng chúng đều mang tính chất và đặc trưng của KCN Hiện nay trên thế giới
có hai mô hình phát triển KCN, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về KCN Những khái niệm về KCN còn đang gây nhiều tranh luận, chưa có sự thống nhất và còn những quan niệm khác nhau về KCN
Định nghĩa 1: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giới địa lý xác định, trong đó chủ yếu là phát triển các hoạt động sản xuất công nghiệp và có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng; có dân cư sinh sống trong khu Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu này còn có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính – kinh tế đặc biệt như các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu
Định nghĩa 2: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác Theo quan điểm này, ở một số nước và vùng lãnh thổ như Malaysia, Indonesia,… đã hình thành nhiều KCN với qui mô khác nhau và đây cũng là loại hình KCN nước ta đang
áp dụng hiện nay
Ở Việt Nam khái niệm về KCN đã được trình bày tại nhiều văn bản pháp luật như Quy chế Khu công nghiệp ban hành theo Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ; Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996; Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao ban hành theo Nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 2 năm 1997 của Chính phủ, Luật đầu tư năm 2005
✓ Định nghĩa ban đầu về KCN được nêu trong Quy chế Khu công nghiệp ban hành
theo Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ thì “KCN được hiểu
là KCN tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống”
✓ Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 quy định
về KCN, Khu chế xuất (KCX) thì khái niệm về khu công nghiệp được hiểu như sau: “Khu
Trang 12xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự
và thủ tục quy định của Chính phủ Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp theo quy định của Chính phủ” Khu công nghiệp, khu chế
xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định cụ thể
Tóm lại, KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập [3]
b) Vai trò của khu công nghiệp
Đối với xã hội
Giúp cho việc lập kế hoạch và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Đem lại sự cân bằng trong phân phối sản xuất và tuyển dụng lao động
Mang lại lợi ích kinh tế cho các khoản đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng công cộng
Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa
Rút dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn
Tăng cường bảo vệ hệ sinh thái thiên nhiên, sử dụng hiệu quả tài nguyên
Giảm bớt rủi ro đối với sức khỏe con người, an toàn do sự cố công nghiệp
Cải thiện sức khỏe công nhân, dân cư
Đối với doanh nghiệp
Các doanh nghiệp xây dựng trong hàng rào KCN sẽ thụ hưởng hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ đồng bộ
Giảm chi phí vận hành, chi phí xử lý và vận chuyển chất thải
Thừa hưởng các chính sách ưu đãi phát triển KCN
Giảm bớt các chi phí trách nhiệm quản lý về môi trường
Những ưu thế của quá trình tập hợp doanh nghiệp mang lại mà một doanh nghiệp đơn lẻ không có cơ hội
Trang 13 Thu nhập có tiềm tàng từ bán các phế liệu
Đối với công nghiệp:
Giảm chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng
Giảm chi phí vận chuyển
Tiết kiệm chi phí sản xuất do tăng hiệu quả hoạt động
Giảm tổn thất và rủi ro về môi trường
Duy trì uy tín doanh nghiệp
Giảm chi phí xử lý chất thải
Xây dựng được các chiến lược thị trường mới mẻ
Đối với môi trường
Việc phân bổ một cách tối ưu các khu công nghiệp và doanh nghiệp riêng lẻ có thể làm giảm hoặc loại trừ hẳn những vấn đề môi trường
Việc giảm thiểu số lượng nguyên liệu đầu vào và chất thải công nghiệp ở đầu ra
Gia tăng khả năng thu gom và xử lý chất thải
Gia tăng khả năng tái chế, tái sử dụng chất thải
Giảm chi phí xử lý chất thải
Những biện pháp chống ô nhiễm áp dụng cho các doanh nghiệp riêng lẻ sẽ trở nên
có hiệu quả hơn khi được đem áp dụng trong các khu công nghiệp
Làm việc với một hệ thống được cơ cấu chặt chẽ của các ngành sẽ đem lại hiệu quả cao so với làm việc với một nhóm đông các ngành riêng lẻ
Phối hợp những xem xét về môi trường ở tất cả các cấp trong khâu ra quyết định, lập kế hoạch và quản lý đối với khu công nghiệp sẽ tạo nên một nền tảng công nghiệp bền vững hơn
Cải thiện tính hiệu quả trong các hoạt động môi trường và phát triển công nghiệp
Tăng cường bảo vệ hệ sinh thái
Đảm bảo các nhà máy công nghiệp không được xây dựng tại những khu vực nhạy cảm (khu vực đông dân cư, khu bảo tồn động vật hoang dã, công viên…)
Trang 14 Đảm bảo các nhà máy công nghiệp được bố trí xây dựng hợp lý, nhờ đó có thể sử dụng chung hệ thống thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, dễ dàng tái sử dụng rác thải công nghiệp và các phụ phế phẩm [4]
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của đô thị và khu công nghiệp
2.1.2.1 Lịch sử phát triển của các đô thị
a) Lịch sử phát triển của các đô thị trên Thế giới
– Năm 1800 chỉ 2% dân số thế giới sống trong các thành phố Tới đầu thế kỷ 20, 47% dân số sống trong các thành phố Năm 1950, có 83 đô thị có dân số vượt quá 1 triệu người; nhưng tới năm 2007, con số này đã tăng lên 468 Các nhà nghiên cứu cho biết, nếu khuynh hướng này tiếp tục, dân số thành thị của thế giới sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 38 năm Liên hiệp quốc dự báo dân số thành thị hiện nay là 3.2 tỷ người sẽ tăng lên gần 5 tỷ năm 2030, khi
ấy ba trong số năm người dân sẽ sống trong các thành phố
Mức tăng mạnh nhất là tại các nước và lục địa nghèo và kém đô thị hoá nhất, Châu
Á và Châu Phi Các dự báo cho thấy hầu hết sự gia tăng đô thị trong vòng 25 năm tới sẽ diễn ra tại các nước đang phát triển Một tỷ người, một phần sáu dân số thế giới, hay một
phần ba dân số đô thị, hiện sống trong các khu đô thị tồi tàn, vốn được coi là "mảnh đất màu mỡ" cho các vấn đề xã hội như tội phạm, nghiện ma tuý, nghiện rượu, nghèo đói và
thất nghiệp Ở nhiều nước nghèo, các khu nhà ổ chuột có tỷ lệ bệnh dịch cao vì các điều kiện vệ sinh kém, suy dinh dưỡng và thiếu dịch vụ chăm sóc y tế cơ sở
Năm 2000, có 18 siêu đô thị – vùng đô như Tokyo, Seoul, Mexico City, Mumbai
(Bombay), São Paulo và New York City – có dân số vượt quá 10 triệu người Đại Tokyo
đã có 35 triệu người, đông dân hơn cả nước Canada
Tới năm 2025, theo Thời báo Kinh tế Viễn Đông, chỉ riêng châu Á đã có ít nhất 10
đô thị với 20 triệu dân hay hơn, gồm Jakarta (24.9 triệu người), Dhaka (25 triệu), Karachi (26.5 triệu), Thượng Hải (27 triệu) và Mumbai (33 triệu) Lagos đã có số dân tăng từ 300,000 năm 1950 lên ước tính 15 triệu người hiện tại, và chính phủ Nigeria ước tính đô thị này sẽ mở rộng lên 25 triệu người năm 2015 Các chuyên gia Trung Quốc dự báo rằng các đô thị Trung Quốc sẽ có 800 triệu người năm 2020 [5]
Trang 15b) Lịch sử phát triển của các đô thị Việt Nam
Tại Việt Nam quá trình đô thị hóa được gắn liền với công cuộc công nghiệp hóa đất nước
Do chú trọng quá nhiều vào việc công nghiệp hóa cộng với chất lượng quy hoạch không cao, nên quá trình này đang bộc lộ nhiều bất cập đáng lo ngại Cụ thể là:
– Số lượng các đô thị tăng lên nhanh chóng: Trong những năm gần đây, số lượng đô thị ở nước ta tăng nhanh, nhất là ở các thành phố thuộc tỉnh Năm 1986 cả nước có 480 đô thị, năm 1990 là 500 đô thị, đến năm 2007 là 729 đô thị và đến năm 2012 cả nước đã có
755 đô thị Trong đó, có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh), 13 đô thị loại I trong đó có 03 thành phố trực thuộc Trung ương (Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ) và
10 thành phố trực thuộc tỉnh, 10 đô thị loại II còn lại là các đô thị loại III, IV và V Tuy vậy, việc xếp loại đô thị vẫn còn nhiều tiêu chí chưa đáp ứng như quy mô đô thị, kinh tế -
xã hội, cơ cấu kinh tế, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật
– Sự gia tăng dân số đô thị: Quy mô dân số đô thị ở nước ta liên tục tăng, đặc biệt là
từ sau năm 2000 Tính đến năm 2010, dân số đô thị tại Việt Nam là 25.584,7 nghìn người, chiếm 29,6% dân số cả nước Sự gia tăng dân số đô thị cả nước do 3 nguồn chính đó là: (i) Gia tăng tự nhiên ở khu vực đô thị; (ii) Di cư từ khu vực nông thôn ra thành thị; (iii) Quá trình mở rộng địa giới của các đô thị Khi các đô thị của Việt Nam ngày càng phát triển mở rộng, thì dân số càng tăng, dòng dịch cư càng lớn (nhóm di dân có 80% thời gian sống ở
đô thị cũng đang tăng nhanh tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh) dẫn đến sự quá tải trong sử dụng hệ thống hạ tầng cơ sở sẵn có Bên cạnh đó là việc hình thành các khu dân cư nghèo quanh đô thị gây ô nhiễm môi trường và nguy an mất an toàn lương thực không ngừng tăng cao
2.1.2.2 Lịch sử phát triển của các khu công nghiệp tại Việt Nam
Sau khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng lên rất nhanh, song hầu hết tập trung vào lĩnh vực dịch vụ như khách sạn, nhà làm việc, tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Đầu tư nước ngoài vào công nghiệp, nhất là công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu gặp 2 khó khăn chính là: cơ sở
hạ tầng yếu kém, thủ tục xin giấy phép đầu tư và triển khai dự án đầu tư phức tạp, mất
Trang 16chế xuất để làm thí điểm một mô hình kinh tế nhằm thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI năm
1986
Vì vậy, Quy chế khu chế xuất đã được ban hành kèm theo Nghị định số 322/HĐBT ngày 18/10/1991 và khu chế xuất Tân Thuận - khu chế xuất đầu tiên của cả nước đã được thành lập theo Quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng số 394/CT ngày 25/11/1991 nay là Chính phủ
Năm 1992 khu chế xuất Linh Trung, năm 1996 và 1997 liên tiếp 10 khu công nghiệp của Thành phố có Quyết định thành lập của Chính phủ Đầu năm 2002, thêm một khu công nghiệp nữa được thành lập theo quyết định của Chính phủ là khu công nghiệp Phong Phú
Ngay sau khi Quy chế khu chế xuất được ban hành và khu chế xuất Tân Thuận được thành lập, Ban quản lý khu chế xuất Tân Thuận đã được thành lập theo Quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng số 62/CT ngày 26/2/1992, gồm 8 thành viên, Trưởng ban
là ông Lữ Minh Châu - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và đầu tư, Phó ban
là ông Nguyễn Công Ái - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, các Ủy viên là Vụ trưởng, Vụ phó đại diện cho các Bộ: Thương mại, Tài chính, Công an, Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Hải quan và Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
Sau khi khu chế xuất Linh Trung ra đời, Ban quản lý đổi tên thành Ban quản lý các khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh và được sử dụng con dấu có hình quốc huy theo Thông báo số 433/KTĐN ngày 27/10/1992 của Văn phòng Chính phủ
Sau khi một số khu công nghiệp được thành lập, Ban quản lý các khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh được chuyển thành Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 731/TTg ngày 03/10/1996 Từ đó đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã bổ nhiệm các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố kiêm nhiệm Trưởng ban quản lý là ông Trần Thành Long - từ 1996 đến 1999, ông Trần Ngọc Côn - từ 1999 đến 2001 Từ 2001 ông Nguyễn Chơn Trung, Phó ban quản lý được bổ nhiệm Trưởng Ban quản lý
Trang 17 Bộ máy giúp việc của Ban quản lý hình thành từ cuối năm 1992, đến năm 1997 đã
ổn định về tổ chức, gồm có 5 Phòng nghiệp vụ, Văn phòng và Trung tâm Dịch vụ việc làm
Từ năm 1999, Ban quản lý thực hiện thí điểm chê độ tự bảo đảm kinh phí hoạt động theo Công văn của Chính phủ số 15/CP-khu công nghiệp ngày 14/08/1998 và Quyết định của
Bộ trưởng Bộ Tài chính số 45/1999/QĐ-BTC ngày 06/05/1999 Số lượng cán bộ công nhân viên chức được Ban tổ chức Cán bộ Chính phủ giao chỉ tiêu năm 2000 là 50 người trong biên chế lương và 15 người làm việc theo hợp đồng lao động
Từ tháng 10/2000, Ban quản lý được chuyển giao trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 100/QĐ-TTg ngày 17/08/2000 Ban quản lý chịu sự chỉ đạo và quản lý về Tổ chức, biên chế, chương trình công tác và kinh phí hoạt động của Ủy ban nhân Thành phố, đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ chuyên môn của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý ngành, lĩnh vực
2.2 Công nghiệp hóa – Đô thị hóa và sự hình thành của công tác quản lý môi trường
2.2.1 Các vấn đề môi trường phát sinh từ Công nghiệp hóa – Đô thị hóa
Năm 1800 chỉ có khoảng 2% dân số thế giới sống ở các khu vực thành thị Đó là một điều đáng ngạc nhiên Nhưng chỉ trong 200 năm, dân số đô thị trên thế giới đã tăng
từ 2 phần trăm lên gần 50% của tất cả mọi người Ví dụ nổi bật nhất của quá trình đô thị hóa trên thế giới là các siêu đô thị của 10 triệu người trở lên
Trang 18Hi ̀nh 2.1 Triển vọng đô thị hóa thế giới theo Liên Hợp Quốc, 2004 [6]
Quá trình đô thị hóa đẫn đến tình trạng gia tăng dân sô một cách mất kiểm soát cũng như kéo theo hàn loạt các hệ lụy về môi trường Cùng với đô thị hóa sự phát triển của các KCN cũng gây ra các vấn đề môi trường nghiêm trọng Sự gia tăng về qui mô cũng như sô lượng các KCN trên thế giới đã và đang làm suy thoái môi trường sống như:
• Ô nhiễm không khí, tiếng ồn
• Ô nhiễm thủy vực và biển
• Ô nhiễm môi trường dất dẫn đến tình trạng suy thoái nơi cư trú hay mất khả năng
sử dụng
• Gia tăng các rủi ro từ chất nguy hiểm, tiếp xúc hóa chất
• Gia tăng lượng khí nhà kính tầng Ozone gây biến đổi khí hậu
• Gia tăng lượng chất thải ra môi trường
• Mức tiêu thụ năng lượng cao làm gia tăng nhiệt độ khu vực và cạn kẹt nguồn tài nguyên Sự kết hợp giữa mức tiêu thụ năng lượng tăng và sự khác biệt trong albedo (bức xạ) góp phần làm tăng mức độ ô nhiễm trong khí quyển Mây và sương mù xảy
ra với tần suất lớn hơn, lượng mưa cũng cao hơn
• Gây ngập lụt và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực hạ lưu do tình trạng bê tông hóa ở
Trang 19khu vực đô thị làm giảm khả năng thoát nước tự nhiên của khu vực
• Quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa làm giảm diện tích bề mặt che phủ của thực vật [10]
Ngoài ra, còn làm cản trở sự phát triển của rễ ở thực vật và ức chế sự phát triển của động vật bởi các chất độc hại, xe cộ, sự mất mát môi trường sống và nguồn thức ăn.[6]
2.2.2 Công tác Quản lý môi trường (QLMT)
2.2.2.1 Định nghĩa QLMT
Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về QLMT Tuy nhiên, theo một số tác giả, thuật ngữ về QLMT bao gồm hai nội dung chính:
• Quản lý Nhà nước về môi trường
• Quản lý của các doanh nghiệp, khu vực dân cư về môi trường
Trong đó, nội dung thứ hai có mục tiêu chủ yếu là tăng cường hiệu quả của hệ thống sản xuất (hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000) và bảo vệ sức khỏe của người lao động, dân cư sống trong khu vực chịu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất
Phân tích một số định nghĩa, có thể thấy quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp thích hợp, tác động và điều chỉnh các hoạt động của con người, với mục đích chính là giữ hài hòa quan hệ giữa môi trường và phát triển, giữa nhu cầu của con người và chất lượng
môi trường, giữa hiện tại và khả năng chịu đựng của trái đất nhằm đảm bảo cho “phát triển bền vững”
Như vậy, “Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh
tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia"
Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình, [7]
2.2.2.2 Sự xuất hiện của công tác quản lý môi trường
Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 19 đã có quan niệm quy hoạch môi trường rộng rãi
trong công chúng Quy hoạch môi trường được thực sự chú ý từ khi xuất hiện “làn sóng môi trường” ở Mỹ vào những năm 60, khi mà các quốc gia phát triển trên thế giới quan
Trang 20tâm một cách nghiêm túc tới các thông số môi trường trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển Tuy nhiên, phải đến những năm 90 công tác quy hoạch môi trường mới được phổ biến và triển khai rộng rãi
Nhận thức được các vấn đề môi trường từ quá trình công nhiệp hóa – đô thị hóa các yếu
tố môi trường cũng đã dược đưa vào quy hoạch phát triển đô thị và KCN Tất cả các cố gắng của các nhà quy hoạch đều muốn tiến đến mục tiêu xây dựng các đô thị hiện đại, các KCN thân thiện với môi trường, đáp ứng được các nhu cầu phát triển của con người nhưng vẫn đảm bảo chất lượng môi trường theo tiêu chuẩn nhất định, đảm bảo sức khỏe của người dân đô thị, giảm thiểu phá vỡ cảnh quan tự nhiên, đồng thời bảo tồn được các nguồn tài nguyên thiên nhiên giới hạn trong KCN [8]
Trang 21Chương 3 PHƯƠNG CÁCH, KINH NGHIỆM VÀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ MÔI
TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP 3.1 Phương cách quản lý môi trường Đô thị và Khu công nghiệp
Phương cách quản lý môi trường Đô thị và KCN chủ yếu bao gồm :
- Phương cách sử dụng công cụ pháp lý (phương cách pháp lý): dựa trên nguyên tắc
CAC "Mệnh lệnh và kiểm soát”
- Phương cách sử dụng công cụ kinh tế, (phương cách kinh tế): dựa trên nguyên tắc
"Người gây ô nhiễm phải trả tiền", hay còn gọi là nguyên tắc 3P, hoặc PPP (Polluter Pays Principle) và nguyên tắc "Người hưởng lợi phải trả tiền" (Benefit Pays Principle), viết
tắt là BPP
- Một số phương cách phù trợ khác như là định giá, trợ giúp kỹ thuật, lựa chọn công nghệ, thương lượng và sức ép của dân chúng (phong trào xanh, tẩy chay, phản đối của cộng đồng v.v [9]
3.1.1 Phương cách sử dụng công cụ pháp lý
Phương cách này đã được sử dụng rất phổ biến, chiếm ưu thế trong thực hiện các chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường trên thế giới Trình tự tiến hành phương cách pháp lý QLMT là:
✓ Nhà nước định ra pháp luật các tiêu chuẩn, quy định, giấy phép,v.v về bảo vệ môi trường;
✓ Nhà nước sử dụng quyền hạn của mình tiến hành giám sát, kiểm soát, thanh tra và
xử phạt để cưỡng chế tất cả các đơn vị trong xã hội thực thi đúng các điều khoản trong luật pháp, tiêu chuẩn và quy định về bảo vệ môi trường đã được ban hành
Phương cách đòi hỏi Nhà nước phải đặt ra mục tiêu môi trường “lấy bảo vệ sức khỏe cộng đồng và các hệ sinh thái làm gốc”, quy định các tiêu chuẩn hoặc lượng các
chất ô nhiễm được phép thải bỏ, hoặc công nghệ mà người gây ô nhiễm có thể sử dụng để đạt được mục tiêu môi trường
Trang 22Phương cách quy định thời gian biểu cho việc đáp ứng các tiêu chuẩn, các thủ tục cấp phép và cưỡng chế thực thi đối với các cơ sở sản xuất, quy trách nhiệm pháp lý và những hình phạt đối với những người vi phạm
❖ Các công cụ dùng trong quản lý môi trường theo phương cách pháp lý:
- Các quy định và tiêu chuẩn môi trường: Việc xây dựng và ban hành các tiêu
chuẩn môi trường do Chính phủ trung ương; trong một số trường hợp Chính phủ trung ương chỉ đặt ra những quy định khung để các địa phương, tỉnh, thành, khu vực, quy định
cụ thể trong thực hiện Các tiêu chuẩn cấp bộ, ngành và cấp địa phương không được chặt chẽ và tổng quát, nhưng cụ thể và chi tiết hơn tiêu chuẩn quốc gia Các tiêu chuẩn luôn gắn với các quy định về hình phạt và truy cứu trách nhiệm (như tiền phạt đối với người vi phạm,
thu hồi giấy phép); những người gây ô nhiễm cũng có thể bị truy tố trước pháp luật
- Các loại giấy phép về môi trường : Giấy phép môi trường do các cấp chính quyền
hoặc các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp theo sự phân định của pháp luật, gồm giấy thẩm định môi trường, thỏa thuận môi trường, chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường, giấy phép thải chất ô nhiễm, giấy phép xuất nhập khẩu phế thải, Các loại giấy phép phải gắn với các tiêu chuẩn môi trường và phù hợp với quy phạm kỹ thuật
- Kiểm soát môi trường : Kiểm soát môi trường là khống chế được ô nhiễm, ngăn
ngừa ô nhiễm, làm giảm hoặc loại bỏ chất thải từ nguồn hay còn gọi là kiểm soát ô nhiễm đầu vào và làm sạch ô nhiễm, thu gom, tái sử dụng, xử lý chất thải, phục hồi môi trường
do ô nhiễm gây ra thiệt hại, hay còn gọi là kiểm soát ô nhiễm đầu ra Kiểm soát môi trường tập trung vào 3 vấn đề: Kiểm soát nguồn thải từ sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải; Kiểm soát sử dụng đất trong quá trình phát triển ĐT&KCN; Kiểm soát sử dụng nguồn nước
- Thanh tra môi trường: Thanh tra môi trường là biện pháp cưỡng chế sự tuân thủ
pháp luật, các quy định, hướng dẫn, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường đối với mọi thành phần trong xã hội, đồng thời cũng là biện pháp bảo đảm quyền tự do, dân chủ cho mọi người khiếu nại, khiếu tố về mặt môi trường
Trang 23- Đánh giá tác động môi trường (ĐTM): Là một công cụ quan trọng trong quản lý
môi trường theo phương cách pháp lý, nhằm phòng ngừa ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên thiên nhiên
- Ðánh giá môi trường chiến lược (ĐMC): là một hình thức đánh giá tác động môi
trường nhưng được mở rộng cho các chính sách, kế hoạch và chương trình ĐMC cho thấy một hình thức đề ra quyết sách ở trình độ cao hơn, có tính chất chiến lược hơn Đánh giá tác động môi trường chiến lược – ĐMC (SEA) nói một cách khác đó là việc liên kết các mối quan tâm về môi trường vào quy hoạch phát triển KT-XH của một vùng, tỉnh, thành
và khu vực không gian quy hoạch cụ thể, hay quy hoạch phát triển một ngành kinh tế của quốc gia ĐMC hỗ trợ cho ĐTM của dự án riêng lẻ: đặt dự án vào một bối cảnh phù hợp
về KT, MT; cung cấp bước đi đầu tiên trong việc xác định phạm vi các vấn đề MT quan trọng cần biết
- Cam kết bảo vệ môi trường (CBM): Là báo cáo phân tích, đánh giá, dự báo ảnh
hưởng đến môi trường của các dự án phát triển kinh tế xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp về BVMT
3.1.2 Phương cách sử dụng công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế thúc đẩy những người gây ô nhiễm có khả năng hoàn thành các mục tiêu môi trường bằng những phương tiện có hiệu quả, chi phí - hiệu quả nhất Phương cách
kinh tế dựa trên những nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả", và "người hưởng lợi phải trả" Phương cách kinh tế sử dụng các chi phí trực tiếp tính trên khối lượng xả thải
gây ô nhiễm; hoặc sử dụng các chi phí gián tiếp liên quan tới quá trình xử lý, xả thải về sau Phương cách kinh tế không thể loại trừ các quy định, luật lệ, cưỡng chế thi hành, các hình thức tham gia khác của Chính phủ Trong phần lớn các trường hợp, các công cụ kinh
tế bổ sung cho các quy định trực tiếp, theo đó sẽ đóng góp cho việc hoàn thành các mục
tiêu chính sách
Trong phương cách kinh tế, các hệ thống giám sát và thực thi nội dung giấy phép thường phức tạp và chi phí cao hơn so với các hệ thống mà các công cụ pháp lý cần đến Tuy nhiên, không phải là tất cả các công cụ kinh tế đều yêu cầu sự giám sát và thực thi tốn
Trang 24chất lượng môi trường Tác động trực tiếp của cả các loại phí và các giấy phép dùng làm biện pháp kích thích, là nhỏ bé Mặc dù Phương pháp kinh tế có đem lại nhiều lợi ích, không phải lúc nào các cơ quan chính phủ, những người gây ô nhiễm, nhà môi trường cũng ủng hộ phương cách kích thích
❖ Các công cụ dùng trong quản lý môi trường theo phương cách kinh tế:
- Các lệ phí ô nhiễm: Các lệ phí ô nhiễm đặt ra các chi phí phải trả để kiểm soát
lượng ô nhiễm tăng thêm, nhưng lại để cho mức tổng chất lượng môi trường là không cố định Lệ phí ô nhiễm gồm có các lệ phí thải nước hoặc thải khí, lệ phí người sử dụng, lệ
phí sản phẩm, lệ phí hành chính
dựa trên số lượng và hoặc chất lượng chất ô nhiễm do một cơ sở công nghiệp thải vào môi trường Lệ phí xả thải dựa trên một vài số đo ô nhiễm, xả thải vào môi trường
+ Phí không tuân thủ: đánh vào những người gây ô nhiễm khi họ xả thải ô nhiễm
vào môi trường vuọt quá mức quy định
+ Phí đối với người tiêu dùng: là khoản thu trực tiếp cho các chi phí xử lý ô nhiễm
cho cộng đồng
+ Lệ phí sản phẩm: là phí được cộng thêm vào giá các sản phẩm hoặc các đầu vào
của sản phẩm, gây ra ô nhiễm hoặc là ở giai đoạn sản xuất, hoặc ở giai đoạn tiêu dùng, hoặc vì nó phải thiết lập một hệ thống thải đặc biệt Lệ phí sản phẩm cho phép người dùng quyết định về các phương tiện chi phí - hiệu quả của mình nhằm làm giảm ô nhiễm
+ Các lệ phí hành chính: là các phí phải trả cho các cơ quan nhà nước vì những dịch
vụ như đăng ký hóa chất, hoặc việc thực hiện và cưỡng chế thi hành các quy định về môi trường
- Tăng giảm thuế: dùng để khuyến khích việc tiêu thụ các sản phẩm an toàn về môi
trường; và sử dụng kết hợp hai loại phụ thu, cộng vào các phí sản phẩm khác: phụ thu dương thu thêm đối với các sản phẩm gây ô nhiễm; và phụ thu âm đối với các sản phẩm thay thế sạch hơn Các hình thức tăng giảm thuế bao gồm ưu đãi thuế, khấu hao nhanh, miễn thuế
Trang 25thuế, để khuyến khích những người gây ô nhiễm thay đổi hành vi, hoặc giảm bớt chi phí trong việc giảm ô nhiễm mà những người gây ô nhiễm phải chịu
- Ký quỹ - hoàn trả: Công cụ này là những người tiêu dùng phải trả thêm một khoản
tiền khi mua các sản phẩm có nhiều khả năng gây ô nhiễm, khi hoàn trả các sản phẩm đó
họ được hoàn trả lại số tiền đã ký quỹ
- Các khuyến kích, cưỡng chế thực thi: là các công cụ kinh tế gắn với sự điều hành
trực tiếp để khuyến khích những người xả thải làm đúng các tiêu chuẩn, quy định về môi trường
- Đền bù thiệt hại: Luật BVMT quy định bên gây ô nhiễm môi trường và bên bị ô
nhiễm thoả thuận với nhau về mức bồi thường Trường hợp không tự thỏa thuận được thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về BVMT sẽ quyết định và buộc bên gây ô nhiễm phải bồi thường hoặc phải giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
- Tạo ra thị trường mua bán "quyền" xả thải ô nhiễm: là tạo ra thị trường trong
đó những người tham gia có thể mua "quyền" được gây ô nhiễm thực tế hay tiềm tàng,
hoặc họ có thể bán lại các quyền này cho những người tham gia khác dưới một hoặc hai hình thức: Các giấy phép có thể bán được; Bảo hiểm trách nhiệm
3.1.3 Phương cách quản lý hỗn hợp mmoi trường đô thị
Các công cụ kinh tế bổ sung cho các quy định môi trường trực tiếp, để nâng cao khoản thu nhập, nhằm tài trợ cho các hoạt động kiểm soát ô nhiễm hoặc các biện pháp môi trường khác, tạo ra sự kích thích để thực hiện các quy định tốt hơn và đổi mới kỹ thuật
Các công cụ kinh tế không thực hiện thành công được nếu không có các quy định pháp lý, các tiêu chuẩn môi trường thích hợp và năng lực tổ chức quản lý nhà nước trong giám sát và điều hành thực thi
Các phương cách quản lý MT được áp dụng tại điểm đầu vào sản xuất và qua sự thải bỏ cuối cùng vào môi trường xung quanh [9]
Trang 263.2 Quản lý môi trường đô thị
3.2.1 Một số bài học về kinh nghiệm, mô hình quản lý đô thị trên thế giới
3.2.1.1 Thái Lan
Thái Lan là trường hợp điển hình cho những nước công nghiệp mới Kinh tế phát triển nhanh chóng, kéo theo nhu cầu tập trung cao dân cư đô thị, trong khi hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất thấp Đây là nguyên nhân ô nhiễm chính nguồn nước, không khí và tiếng ồn
Các chính sách quản lý môi trường của Thái Lan quan tâm đặc biệt đến việc phục hồi, bảo tồn môi trường tự nhiên, và nâng cao khả năng quản lý các nguồn lực cụ thể: + Các nguồn lực tự nhiên phải được sử dụng và phát triển mang tính bền vững + Ô nhiễm nguồn nước, không khí, tiếng ồn và chất thải độc hại phải được giảm thiểu đến mức thấp nhất, hạn chế những mối nguy hiểm đến sức khỏe cộng đồng
+ Sự tham dự của cộng đồng được khuyến khích Chức năng của các NGO và tổ chức cộng đồng là trợ giúp điều hành và kiểm tra việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên và môi trường
❖ Chiến lược gồm 10 điểm được coi là những nguyên tắc quản lý quan trọng:
1 Sự tự chủ: việc quản lý môi trường đô thị là trách nhiệm chủ yếu của điạ phương, chính quyền thành phố phụ thuộc trung ương trong việc khởi xướng và cung cấp các nguồn lực nhưng phải nghĩ và làm một cách sáng tạo theo yêu cầu của địa phương mình
2 Sự phụ thuộc lẫn nhau: chính phủ trung ương là nguồn cung cấp tài chính và cố vấn chuyên môn, chứ không phải là cung ứng dịch vụ quản lý
3 Đào tạo: để chương trình quản lý môi trường đô thị hoạt động hiệu quả, chính quyền thành phố cần phải tổ chức nhiều khóa đào tạo phù hợp
4 Thu thập số liệu: tổ chức các nguồn cung cấp thông tin về những tồn tại và các nhu cầu của người dân địa phương Đây là yêu cầu quan trọng đối với các nhân viên của thành phố
5 Sự liên quan của cộng đồng: cộng đồng địa phương có liên quan phải được biết
Trang 27thành phố là phải huy động được toàn bộ các nguồn lực của địa phương tham gia quản lý môi trường đô thị
6 Phổ biến thông tin: giáo dục cộng đồng dân cư về các vấn đề môi trường là cách giúp việc quản lý môi trường đạt hiệu quả cao nhất Tất cả mọi loại phương tiện truyền thông phải được sử dụng, mọi tổ chức địa phương phải được huy động để nâng cao sự nhận thức và phổ biến các thông điệp về môi trường
7 Trao quyền cho cộng đồng dân cư địa phương: chính cộng đồng dân cư địa phương là những người giải quyết thành công nhất các vấn đề về môi trường tại khu vực của họ, còn chính quyền thành phố đóng vai trò là người cung cấp phương tiện, thông tin
và các nguồn lực căn bản khác
8 Sự phối hợp và hợp nhất: nhiệm vụ chủ yếu của chính quyền thành phố là phối hợp và hợp nhất các nguồn lực tài chính, vật chất, xã hội và các tổ chức khác Hầu hết các dịch vụ môi trường và hệ thống hạ tầng xã hội có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau : ví dụ quản
lý chất thải rắn tốt sẽ dẫn đến điều kiện vệ sinh và thoát nước tốt
9 Kiểm tra và đánh giá: chính quyền thành phố phải xác định những mục tiêu về môi trường hết sức rõ ràng Thướng xuyên đánh giá kết quả công việc và xác định những khó khăn phải vượt qua
10 Khung pháp lý: chính quyền thành phố phải đảm bảo một hệ thống luật pháp vững chắc cho chính sách môi trường của địa phương bao gồm cả các quy định về thu phí dịch vụ, phạt tiền và giam giữ đối với những hành vi phá hoại môi trường
❖ Chiến lược tổng thể cần đề cập 12 lĩnh vực phải được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo sự phát triển bền vững của đô thị:
1 Kiểm soát ô nhiễm nguồn nước
2 Thoát nước, tiêu thoát nước
3 Quản lý chất thải rắn
4 Quản lý chất thải đặc biệt
5 Kiểm soát ô nhiễm không khí
6 Chất lượng môi trường
Trang 288 Khoảng xanh trong thành phố
9 Môi trường xây dựng
10 Khu phổ chuột
11 Quy hoạch sử dụng đất
12 Quản lý các nguồn lực [11]
3.2.1.2 Trung Quốc
Việc chuyển đổi kinh tế của Trung Quốc trong ba thập kỷ qua mang lại giá trị kinh
tế to lớn cho người dân, nhưng cũng khiến môi trường tại quốc gia này trở nên ô nhiễm trầm trọng Nhận thức được vấn đề này, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều biện pháp đối phó tạm thời và cấp bách như tạm ngưng hoặc giảm bớt một số nhà máy, hạn chế số xe hơi lưu thông trên đường trong thời gian nhất định, đồng thời tăng cường hệ thống chuyên chở công cộng, trong đó có hệ thống tàu điện ngầm, để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân; khuyến cáo người dân hạn chế các hoạt động ngoài trời, học sinh có thể tiếp tục chương trình học thông qua Internet… vào các ngày ô nhiễm nghiêm trọng
Tuy nhiên, với chiến lược lâu dài, Trung Quốc đưa ra giải pháp là thay thế than đá bằng các loại khí đốt tự nhiên trong sinh hoạt, cũng như hoạt động thương mại Nồi hơi và
lò đốt sử dụng nhiên liệu là than đá, gỗ, hoặc các chất thải là nguồn phát sinh ô nhiễm lớn,
có hại tới sức khỏe và tuổi thọ người dân; đóng cửa một nửa số nhà máy điện chạy bằng than và thay thế chúng bằng nhiên liệu sạch hơn như khí đốt tự nhiên, điện hạt nhân và các dạng năng lượng tái tạo; đẩy mạnh loại bỏ các loại xe cơ giới cũ và gây ô nhiễm cao [18]
Trong định hướng phát triển chung, Trung Quốc định hướng tập trung phát triển các vùng có lợi thế trước (miền Đông, miền duyên hải), sau đó mới quay trở lại đầu tư phát triển cho các vùng hạn chế (miền Trung, miền Tây, miền Bắc) Quá trình quy hoạch mỗi thành phố, đã quan tâm đến sự phát triển cân bằng, hài hòa giữa các khu vực; giữa thành thị và nông thôn, nhằm đảm bảo sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm đất đai, tiết kiệm sử dụng đất nông nghiệp, phát huy vai trò và hỗ trợ nhau cùng phát triển Quy hoạch đô thị phải tính đến chuyển đổi ngành nghề; đảm bảo quỹ đất nông nghiệp, quỹ đất cây xanh sinh thái đô thị [13]
Trang 29Cách làm: Trung Quốc áp dụng đa dạng mô hình quản lý, chế độ quản lý, có nhiều
chính sách tập trung thu hút nguồn lực, tập trung giải quyết từng mục tiêu lớn, làm động lực phát triển lôi kéo các vùng chậm phát triển; trong quá trình triển khai, luôn luôn đổi mới, tìm tòi, điều chỉnh cách làm để phù hợp với từng điều kiện cụ thể Chính phủ Trung Quốc cho phép mỗi địa phương có cách làm riêng (Ví dụ: tại Thượng Hải ghép cơ quan quản lý quy hoạch xây dựng và quản lý đất đai thành một)
Hiện nay, Trung Quốc đang thực hiện nhất thể hóa đô thị – nông thôn (năm 2008 Trung Quốc ban hành Luật Quy hoạch đô thị – nông thôn thay cho Luật Quy hoạch đô thị năm 1990); đang đầu tư phát triển nông thôn mới, các vùng lân cận đô thị nhằm bảo vệ nông thôn, dãn dân cư nội thành (Thượng Hải); đang quy hoạch và khai thác hiệu quả không gian ngầm đô thị; đang tiến hành tổ chức lại mô hình các cơ quan quản lý quy hoạch
và quản lý đất đai, quản lý môi trường thành một; nhằm gắn kết chặt chẽ Quy hoạch đất đai – Quy hoạch đô thị – Quy hoạch cảnh quan môi trường (mô hình nhập các cơ quan quản lý đất đai với cơ quan quản lý quy hoạch) Trong quá trình phát triển, thường có sự đánh giá, điều chỉnh Quy hoạch đô thị theo Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm theo từng kỳ
kế hoạch (trong kỳ không điều chỉnh quy hoạch)
Ví dụ: Quy hoạch thành phố Thượng Hải (năm 2010): Đến nay Thượng Hải đã được lập và phê duyệt quy hoạch 5 lần: Năm 1953, 1959, 1986, 2001, 2010 Quy hoạch đã đánh giá và đề cập toàn diện về: Mục tiêu, bố cục không gian, phát triển không gian ngầm (xây dựng hạ tầng, giao thông, ga ra, kho tàng….), phát triển ngành nghề, giao thông tổng hợp, đảm bảo năng lượng và an ninh đô thị, môi trường sinh thái cảnh quan, phong cách diện mạo lịch sử văn hóa, phát triển nhà ở, phát triển xã hội và khoa học giáo dục Thực hiện quy hoạch nhất thể hóa đô thị – nông thôn, chuyển đổi ngành nghề mới, lấy việc thúc đẩy phát triển toàn diện con người làm hạt nhân, hình thành hệ thống tạo mới đô thị thích ứng với thời đại thông tin và kinh tế trí thức Công tác quản lý quy hoạch đô thị và đất đai của thành phố do một cơ quan thống nhất quản lý [13]
Trang 303.2.1.3 Singapore
Là một trong những quốc gia nổi tiếng về nền kinh tế cũng như chất lượng môi trường Singapore luôn chú trọng về các vấn đề liên quan đến môi trường Các chính sách quản lý môi trường tại đây được áp dụng vào các hầu hết các khía cạnh mà tiêu biểu là:
Khía cạnh pháp luật
Singapore quản lý môi trường bằng “kỷ luật thép” Việc ban hành luật ở Singapore
đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát ô nhiễm để bảo vệ môi trường Các biện pháp nêu trong luật thường xuyên đươc xem xét định kỳ để bổ sung cho chặt chẽ và hợp lý hơn
Các vấn đề về môi trường được đặt lên hàng đầu với các hình phạt nặng nề đối với việc xả rác bừa bãi Người xả rác bừa bãi lần đầu tiên sẽ bị phạt tối đa là 1.000 đôla Singapore, tái phạm thì mức phạt sẽ tăng lên 2.000 - 5.000 đôla và phải lao động công ích Trong khoảng vài giờ, người bị phạt trong bộ quần áo sáng màu đặc trưng sẽ phải làm sạch nơi công cộng, ví dụ như nhặt rác tại công viên, đôi khi phương tiện truyền thông địa phương được mời đến để ghi lại sự kiện Nhà chức trách muốn thông qua cảm giác bị xấu
hổ trước công chúng để nhắc nhở mọi người dân không xả rác bừa bãi Tác dụng tích cực của động thái trên chính là đường phố Singapore vô cùng sạch sẽ, ý thức bảo vệ môi trường của người dân cũng được nâng cao [16]
Khía cạnh cơ sở vật chất hạ tầng, giao thông
Hệ thống giao thông của Singapore khá phong phú và hiệu quả Phương tiện giao thông công cộng thuận tiện đến mức luôn thu hút người dân Singapore, vì thế giảm bớt sự phụ thuộc vào phương tiện di chuyển cá nhân Ít lệ thuộc vào phương tiện cá nhân đồng nghĩa áp lực áp lực hạ tầng giao thông sẽ giảm bớt, đồng thời, chất lượng môi trường cũng
sẽ được cải thiện
Trang 31Hình 3.1 Đô thị hóa ở Singapore
Khía cạnh khoa học công nghệ, xử lý chất thải
Singapore thành công trong việc quản lý hệ thống thoát nước và quản lý chất thải rắn Hệ thống thoát nước phục vụ tất cả các công trình công nghiệp và hơn 97% khu vực dân dụng Nước thải công nghiệp đều được xử lý và đạt tiêu chuẩn quy định trước khi đưa vào mạng đường ống chung Về quản lý chất thải rắn, dịch vụ thu gom chất thải rắn đô thị
ở Singapore đáng tin cậy nhờ đã áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý dịch vụ này Mọi chất thải rắn đều được thu gom và xử lý hàng ngày và hầu như đều phải thiêu đốt Đối với các chất thải không thể đốt được và tro từ các nhà máy đốt rác sẽ được xử lý tại bãi thải
vệ sinh lớn Chất đã làm sạch từ bãi này lại được thu gom và xử lý trước khi thải ra biển Bên cạnh đó, Singapore còn cho xây dựng hòn đảo Semakau Landfill – hòn đảo chôn rác nhân tạo đầu tiên trên thế giới Đặc biệt, nhiệt năng sinh ra trong khi đốt rác được dùng để chạy máy phát điện cung cấp nhu cầu điện của Singapore [17]
❖ Chiến lược bảo vệ môi trường đô thị của Singapore gồm bốn khâu thành phần:
1 Phòng ngừa
2 Cưỡng bách
3 Kiểm soát
Trang 32Những vấn đề cơ bản về phòng ngừa ô nhiễm được thực hiện thông qua kế hoạch
sử dụng đất đai hợp lý, chọn địa điểm công nghiệp thận trọng, kiểm soát gắt gao việc phát triển xây dựng, tăng cường trang bị phương tiện thu gom và xử lý chất thải Một khi đã thực hiện biện pháp phòng ngừa thì bắt buộc phải kiểm tra nghiêm ngặt, nhằm đảm bảo các phương tiện thu gom và xử lý chất thải được sử dụng và bảo trì hợp lý Việc kiểm soát thường xuyên môi trường không khí và môi trường nước trong đất liền và trên biển cũng được thực hiện để tiếp cận các chương trình kiểm tra ô nhiễm môi trường một cách đầy đủ
và có hiệu quả Việc thực hiện nhiều chương trình giáo dục dân chúng tham gia bảo vệ và quản lý môi trường cũng là một nội dung quan trọng trong chiến lược chung này
3.2.1.4 Nhật Bản
Trong thập niên 1960, tốc độ tăng trưởng kinh tế quá nhanh đã làm cho Nhật Bản phải chịu những áp lực lớn từ các vấn đề môi trường Nhật Bản đã thực hiện quyết liệt những giải pháp từ các chương trình bảo vệ môi trường khác nhau, và cũng phải trả giá từ nhiều nguồn lực để có được những thành tựu phát triển bền vững ngày hôm nay
Chính phủ Nhật Bản đã phải tiến hành các giải pháp để cải thiện hệ thống pháp luật
và thiết lập cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, nhằm giải quyết cùng lúc 3 vấn đề:
✓ Giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường
✓ Giảm được chi phí kiểm soát ô nhiễm và chi phí về sức khỏe của cộng đồng
✓ Giảm giá thành sản xuất và giảm chi phí năng lượng
Đây cũng chính là tư duy mới về quản lý sản xuất, nghĩa là: "Không phải chỉ lo xử
lý chất thải ở công đoạn cuối của sản phẩm, mà phải tính toán ngay từ đầu làm sao để sản xuất hợp lý nhất, phát thải ít nhất"
Chính từ tư duy là kiểm soát, sản xuất hợp lý, phát thải ít nhất ngay từ đầu vào, Chính phủ Nhật Bản đã:
✓ Ban hành những quy định pháp luật nghiêm ngặt về tiêu chuẩn phát thải chất thải, kiểm soát ô nhiễm nước, không khí và giám sát ô nhiễm chất độc hại
✓ Cải cách chính sách giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường
✓ Khuyến khích các doanh nghiệp và các tổ chtức nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát ô `
Trang 33Năm 1972, Luật Bảo tồn thiên nhiên chính thức được ban hành Hệ thống Luật Môi trường cơ bản được ban hành vào năm 1993, đã đưa ra Hệ thống kiểm soát ô nhiễm Năm
1995, Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng kế hoạch “Hành động xanh”
Tại Nhật, có hàng nghìn tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực môi trường, hàng trăm tờ báo chuyên về môi trường, về xử lý chất thải và bảo tồn đa dạng sinh học Khắp nơi đâu đâu cũng có các thông điệp về bảo vệ môi trường, tràn ngập trên các dãy phố, trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, tác động vào nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân Nhật Bản về tình yêu đối với môi trường và cuộc sống, vì một màu xanh cho thế
hệ mai sau.[12]
Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản yêu cầu các cơ quan trực thuộc chính phủ phải đưa nội dung chống ô nhiễm môi trường vào kế hoạch hàng năm của đơn vị; ở đó phải cụ thể
hóa các nội dung trong kế hoạch “Hành động xanh” của chính phủ, có các chương trình
tập huấn cán bộ nhân viên nâng cao nhận thức về việc bảo vệ môi trường thông qua các hành động cụ thể như tiết kiệm điện, nước, giảm làm việc ngoài giờ, giảm các cuộc họp, Đồng thời, Chính phủ Nhật Bản khuyến khích các bộ và các cơ quan liên quan xúc tiến các chương trình nghiên cứu, đánh giá tác động, nhất là định lượng hóa các tác động đến môi trường đối với các loại sản phẩm gắn với chu kỳ sống của chúng (sản xuất – phân phối – tiêu dùng – thải hồi) dựa trên tiêu chí của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO), khuyến khích việc phổ biến gắn nhãn hiệu môi trường cho doanh nghiệp và người tiêu dùng, hỗ trợ mạng lưới tiêu dùng xanh, xúc tiến mua các loại sản phẩm thân thiện với môi trường, ủng hộ và khuyến khích hợp tác bảo vệ môi trường giữa các nhóm công dân và doanh nghiệp, Chính quyền các địa phương cùng người dân ở nước này cũng đã có rất nhiều lỗ lực trong công tác bảo vệ môi trường như tích cực và chủ động trong công tác bảo vệ môi trường ở địa phương; phối hợp chặt chẽ với chính quyền trung ương nhằm thực thi có hiệu quả các biện pháp chống ô nhiễm môi trường và thúc đẩy hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể của từng địa phương
Ngày nay, Nhật Bản cũng đã thành công trong quy hoạch xây dựng mô hình Đô thị xanh, Đô thị thông minh, Đô thị hiện đại với các ưu điểm vượt trội như nhỏ gọn, thân