1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NCKH về đồng tính ở lứa tuổi THPT

63 264 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,85 MB
File đính kèm HOÀN CHỈNH - NCKH 2017-2018.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng tính ở lứa tuổi THPT là sinh lí giới tính hay trào lưu. Đồng tính ở lứa tuổi THPT – sinh lí giới tính hay trào lưu nhằm tìm hiểu những hiểu biết cũng như thái độ của học sinh về hiện tượng này. Đặc biệt, nghiên cứu còn nhằm tìm hiểu thực trạng đồng tính ở lứa tuổi THPT là do sinh lí giới tính (đồng tính thật) hay chỉ là trào lưu (đồng tính giả) để từ đó có những định hướng giáo dục giới tính phù hợp trong nhà trường.

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO AN GIANG TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC

-NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỒNG TÍNH Ở LỨA TUỔI THPT SINH LÍ GIỚI TÍNH HAY TRÀO LƯU

Người thực hiện 1/ Huỳnh Thị Bích – lớp 11A3 2/ Lê Hoàng My – lớp 12A1 Đơn vị: Trường THPT Nguyễn Trung Trực

Người hướng dẫn khoa học Giáo viên: Cao Thị Thu Hồng Đơn vị: Trường THPT Nguyễn Trung Trực

AN GIANG - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian nghiên cứu, đến nay chúng tôi đã hoàn thành nghiên cứu với đề

tài Đồng tính ở lứa tuổi THPT – Sinh lí giới tính hay trào lưu Nghiên cứu này được

hoàn chỉnh nhờ sự giúp đỡ của quý Cô, gia đình và bạn bè

Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người hướng dẫn khoa học, CôCao Thị Thu Hồng đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi trong quátrình hoàn thành nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các bạn học sinh khối 10,11,12trường THPT Nguyễn Trung Trực, THPT Ba Chúc, Phổ thông Cô Tô đã tạo điều kiệnsẵn sàng giúp đỡ chúng tôi

Xin chân thành cảm ơn!

Đồng tác giả Huỳnh Thị Bích + Lê Hoàng My

Trang 5

Trong những năm gần đây trên thế giới và ở Việt Nam, hiện tượng đồng tính pháttriển mạnh mẽ Những phong trào đòi quyền bình đẳng, đòi quyền được kết hôn chonhững người đồng tính luyến ái cũng xuất hiện thường xuyên hơn Còn ở Việt Nam, từsau thời điểm mở cửa giao lưu kinh tế, những luồng văn hoá tư tưởng nước ngoài đã xâmnhập và gây ra những ảnh hưởng không phải lúc nào cũng tốt cho lối sống và quan niệmtruyền thống của người dân Tầng lớp chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của nó chính làthanh niên Đây là thế hệ sinh ra sau chiến tranh, lớn lên trong nền kinh tế thị trường nênquan niệm và lối sống có phần nào khác với thế hệ cha ông Thêm nữa, tuổi trẻ thườngchưa đủ năng lực nhận thức, đánh giá nên dễ bị hấp dẫn bởi những điều mới lạ chưa rõtích cực hay tiêu cực Vì thế, hiện tượng đồng tính ở Việt Nam được quan niệm như mộtlối sống, một sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường khác đến những giá trị truyềnthống, nền tảng văn hoá của dân tộc

Trong thời gian gần đây, đã có rất nhiều bài báo viết về hiện tượng đồng tính, chỉ ra

những trường hợp coi đồng tính như một cái mode để đua theo, hoặc do đối tượng bị

cuốn hút bởi những miếng mồi vật chất của kẻ xấu Đồng thời đồng tính còn phát triểntrở thành một tệ nạn xã hội - đặc biệt là đồng tính luyến ái nam Chính vì thế dư luận xãhội thường không đồng tình và coi đây không chỉ là một loại bệnh lý thông thường màcòn phát triển thành một lối sống lệch lạc, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc Thêmnữa, người đồng tính luyến ái còn là nhóm nguy cơ cao về bệnh HIV do họ thườngxuyên thay đổi bạn tình, ảnh hưởng tới sức khoẻ của cả cộng đồng Gần đây, hiện tượngđồng tính trở nên rất phổ quát trong xã hội, nhiều bạn trẻ công khai, mạnh dạn thừa nhậnmình thuộc giới tính thứ ba và nhiều trong số đó họ bắt đầu có lối sống lệch lạc thay vì

Trang 6

sống thật với giới tính và có những hoạt động có ích như bao con người có giới tính bìnhthường khác.

Theo nghiên cứu gần đây của trường ĐH Sư phạm TP.HCM tiến hành trên 300 họcsinh (HS) của 3 trường THCS và THPT tại TP.HCM, có tới 25% em dự đoán rằng tỷ lệđồng tính ở trường mình là hơn 10% Trong khi đó, học sinh THPT thuộc trình độ trithức cao, đồng thời đây cũng là lớp người kế cận của đất nước, đòi hỏi họ phải luôn cónhững hiểu biết và cách nhìn đúng đắn với các hiện tượng xã hội xảy ra xung quanhmình Thêm nữa họ cũng là một bộ phận của thanh niên, những người rất dễ bị ảnhhưởng, bị cuốn theo những điều mới lạ Hiện tượng đồng tính luyến ái có thể xảy ra ở bất

kỳ giới nào, nghề nghiệp nào Vì thế, học sinh cần có những hiểu biết nhất định về đồngtính để có những định hướng đúng đắn cho tương lai cũng như tránh khỏi sự lôi kéo củanhững đối tượng xấu

Xuất phát từ nhận định như vậy, chúng tôi đã chọn đề tài "Đồng tính ở lứa tuổi THPT – sinh lí giới tính hay trào lưu" nhằm tìm hiểu những hiểu biết cũng như thái độ

của học sinh về hiện tượng này Đặc biệt, nghiên cứu còn nhằm tìm hiểu thực trạng đồngtính ở lứa tuổi THPT là do sinh lí giới tính (đồng tính thật) hay chỉ là trào lưu (đồng tínhgiả) để từ đó có những định hướng giáo dục giới tính phù hợp trong nhà trường

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đồng tính ở cả nam và nữ, về bản chất tâm lý không có tội dù rằng chưa thể hoàntoàn bình thường nếu xét theo hệ quy chiếu chuẩn mực xã hội Nguyên nhân dẫn đếnhiện tượng này rất phức tạp Có trường hợp là bẩm sinh như một loại bệnh lý nhưngnhiều khi đó là xuất phát từ ảnh hưởng của môi trường sống hoặc do lối sống, nhận thứccủa cá nhân Trong khi các nhà khoa học còn đang tranh cãi về nguyên nhân của hiệntượng này thì nó đã kịp gây ra những ảnh hưởng tới đời sống của toàn xã hội Nhómđồng tính luyến ái được coi là nhóm nguy cơ cao về lây truyền căn bệnh thế kỷHIV/AIDS, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người trên thế giới Thêm nữa, lối sống bấtbình thường của người đồng tính tạo nên những tác động tới nền văn hoá, đạo đức vàluật pháp của mỗi quốc gia

Ở nước ta, tuy rằng đồng tính vẫn chỉ tồn tại ở cá biệt một số nhóm đối tượng nhưngtrong thời gian gần đây, nó có xu hướng phát triển mạnh hơn Nhiều người, đặc biệt là

tầng lớp thanh niên coi đây như một thứ mode, một trào lưu hay một cách ăn chơi sành

điệu Thêm nữa, đồng tính nam cò dẫn đến tệ nạn mại dâm nam đã từng không ít lần gâyđau đầu cho các nhà quản lý Ở Hà Nội, trong thời gian vừa qua không ít lần báo chí đãphải đề cập đến những tụ điểm tụ tập của giới đồng tính ngay tại những nơi vui chơi giảitrí công cộng Không chỉ là một hiện tượng lạ, một loại bệnh lý, đồng tính ở Việt Namđược coi như sự đi xuống về đạo đức, trái với những giá trị văn hoá nước nhà Việc giảiquyết nó là một việc rất khó khăn bởi những người đồng tính vẫn được coi như những

Trang 7

thành viên trong xã hội, sự phát triển của họ gắn liền với sự phát triển của xã hội Dovậy, việc trước tiên của quá trình giải quyết hiện tượng này là tìm hiểu sự nhận thức vàhiểu biết cũng như thái độ của người dân Ở đây, đề tài nghiên cứu tập trung vào nhómhọc sinh THPT Bởi đây là nhóm tuổi tiêu biểu cho thanh niên, đối tượng dễ bị ảnhhưởng bởi các hiện tượng xã hội mới lạ trong đó có đồng tính luyến ái Học sinh lànhững người làm chủ đất nước tương lai nên càng cần có sự hiểu biết để giải quyết,phòng ngừa và ngăn chặn hiện tượng này

Chính vì thế, mục đích của chúng tôi khi thực hiện nghiên cứu là nhằm xác địnhkhuynh hướng giới tính thật sự của đối tượng đồng tính ở lứa tuổi THPT Hiện nay vẫnchưa có phương pháp kiểm tra nào có thể xác định được chính xác khuynh hướng giớitính của một người Do đó, phương pháp đáng tin cậy nhất chính là nhìn lại quá khứcũng như cảm xúc của chính chúng ta, từ đó đưa ra phán đoán ở mức tương đối chínhxác về đối tượng tìm hiểu

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu những hiểu biết cơ bản và thái độ của học sinh về hiện tượng đồng tính

- Tìm hiểu mức độ phổ biến của hiện tượng này ở nhà trường phổ thông

- Phân tích những yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến việc xác định giới tính của HS

- Định hướng giới tính cho những HS cho mình là đồng tính

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hiểu biết của HS THPT về hiện tượng đồng tính

- HS Trường THPT Nguyễn Trung Trực ở cả ba khối lớp 10, 11, 12

4.2 Phạm vi và địa bàn nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu: HS của ba trường THPT trên địa bàn huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang(THPT Nguyễn Trung Trực, Phổ Thông Cô Tô, THPT Ba Chúc)

- Phạm vi nghiên cứu:

Tìm hiểu nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trung Trực về hiện tượngđồng tính cũng như thái độ, hành vi tương ứng Đánh giá sự ảnh hưởng của cuộc sốngthực tại đến cách nhìn nhận sinh lí giới tính Đề tài chỉ tập trung vào sự hiểu biết và đánhgiá của học sinh về hiện tượng này và khía cạnh xã hội mà không đi sâu vào khía cạnhkhoa học Để từ đó làm rõ giả thuyết nghiên cứu: Đồng tính ở lứa tuổi THPT, sinh lí giớitính hay trào lưu

Trang 8

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nghiên cứu này, chúng tôi đã vận dụng một cách tổng hợp, linh hoạtcác phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp quan sát được sử dụng trong quá trình quan sát nhóm đối tượng đã nhậnmình đồng tính để tìm hiểu những biểu hiện của họ

+ THPT Nguyễn Trung Trực: 5 HS (2 HS khối 12 – NTT1, NTT2; 2 HS khối 11 –NTT3, NTT4, 1 HS khối 10 – NTT5)

+ Phổ thông Cô Tô: 3 HS (1 HS khối 12 – CT1; 1 HS khối 11 – CT2, 1 HS khối 10 –CT3)

+ THPT Ba Chúc: 3 HS (1 HS khối 12 – BC1; 1 HS khối 11 – BC2, 1 HS khối 10 –BC3)

- Phương pháp điều tra: chúng tôi sử dụng phiếu hỏi để khảo sát những hiểu hiết của họcsinh về hiện tượng đồng tính, thái độ của học sinh về người đồng tính trong nhà trường

và bên ngoài xã hội để từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm giúp các bạn HS có cái nhìnđúng đắn về hiện tượng đồng tính

Ngoài ra, các thao tác nghiên cứu cụ thể như: phân tích, thống kê, hệ thống, tổnghợp… cũng được chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu ở mức độ hợp lý

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Đồng tính là một hiện tượng rất phức tạp của xã hội hiện nay và đã được đa số học sinhbiết đến

- Học sinh có những hiểu biết tương đối về nguyên nhân, bản chất, biểu hiện cũng nhưđối tượng của hiện tượng này Từ nhận thức, họ có thái độ và quan điểm đánh giá tươngứng

- Nhiều học sinh chưa xác định đúng giới tính thật sự của mình và bạn bè xung quanh

Trang 9

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm giới và giới tính

Giới là khái niệm chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối

quan hệ xã hội Khái niệm giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trôngđợi được tạo nên với hai giới tính Giới là một sản phẩm của xã hội và liên quan đến quátrình xã hội hoá

Các đặc điểm của giới:

- Một phần vẫn bị quy định bởi yếu tố sinh học của giới tính

- Không mang tính di truyền, bẩm sinh mà được hình thành qua quá trình học tập, xãhội hoá cá nhân

- Đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức do sự đa dạng của xã hội, nền văn hoá

- Có thể biến đổi

Giới tính là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng sinh học của nam và nữ.

Những đặc trưng sinh học dường như là bất biến và đó là cơ sở cho những chuẩn mực vềvai trò giới sau này Sự chuyển đổi giới tính có thể do sinh học, văn hoá, kinh tế

Các đặc điểm của giới tính

- Là đặc trưng sinh học quy định hoàn toàn bởi gen qua cơ chế di truyền

- Bẩm sinh

- Đồng nhất vì đây là sản phẩm của sự tiến hoá sinh học nên không phụ thuộc vàokhông gian và thời gian

Sự khác nhau giữa “giới tính” và “giới”được thể hiện qua các nội dung sau:

- Giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, có sẵn

từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi (trừ trường hợp có sự can thiệp của y học)

Ví dụ nam giới có thể làm thụ thai, phụ nữ có thể sinh con và cho con bú

- Khác với giới tính, giới không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá trìnhsống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành Nói cách khác, giớiđược thể hiện thông qua các hành vi được hình thành từ sự dạy dỗ và thu nhận từ giađình, cộng đồng và xã hội, là vị trí, vai trò của nam và nữ mà xã hội mong muốn, kỳvọng ở phụ nữ và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác định thếnào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội

Trang 10

hay một nền văn hóa nhất định Ví dụ: phụ nữ làm nội trợ, thêu thùa, chăm sóc con cái,nam giới xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị,… Những hành vi này không phải làhành vi hay kỹ năng bẩm sinh mà do họ được xã hội, gia đình, cộng đồng dạy dỗ để làmviệc đó vì xã hội cho rằng như vậy là phù hợp với thiên chức phụ nữ hoặc nam giới.

1.1.2 Khái niệm vai trò giới

Vai trò xã hội là những mong đợi của xã hội đối với một cá nhân nào đó phù hợpvới địa vị của cá nhân đó Quyền lợi và nghĩa vụ là hai thành tố quan trọng nhất của vaitrò xã hội

Vai trò giới: là những mong đợi của xã hội với một chàng trai hay một cô gái về những

mô hình, hành vi ứng xử phù hợp với phụ nữ hay nam giới

Những vai trò của giới bao gồm:

Vai trò sản xuất: là những hoạt động do đàn ông hay phụ nữ thực hiện( theo quan niệmtruyền thống chủ yếu là nam giới) nhằm tạo ra của cải vật chất xã hội, hàng hoá dịch vụ

để sử dụng trao đổi

Vai trò tái sản xuất: là những hoạt động cần thiết đảm bảo tái sản xuất ra con người lực lượng sản xuất Những vai trò tái sản xuất bao gômg: sinh con, nuôi con, chăm sóccác thành viên trong gia đình đặc biệt là người già và trẻ em Theo quan niệm truyềnthống, vai trò này chủ yếu do phụ nữ đảm nhận

Vai trò cộng đồng: là hoạt động diễn ra ở cộng đồng như làng xã, thôn bản nhằm duytrì ổn định quan hệ xã hội trong cộng đồng đó Theo quan niệm truyền thống, vai trò nàyphụ nữ ít tham gia

1.2 Đồng tính và quan niệm về đồng tính

1.2.1 Khái niệm đồng tính

Trước khi tìm hiểu khái niệm về đồng tính chúng ta cần phân biệt một số thuật ngữ

- Heterosexual - Dị tính ái ( gốc từ Hy Lạp - heteros): dùng để chỉ những người cóquan hệ tình dục với người khác giới

Bisexual dùng để chỉ những người có quan hệ tình dục với cả hai giới (gốc từ bi hai)

Transgenderist dùng để chỉ những người có hành vi khác với giới của mình Nhưnam giới nhưng lại có cách phục trang, ứng xử, phong cách như nữ giới và ngược lại

- Transsexual - xuyên giới tính: dùng để chỉ những người sống hoàn toàn khác với giới

"trời cho" của mình

- Lưỡng giới - dùng để chỉ những người bẩm sinh có cả hai cơ quan sinh dục nam và

nữ và mang trong mình những yếu tố gen, hoócmôn của cả hai giới Đến một thời điểm

Trang 11

nào đó do sự phát triển của cơ thể và đôi khi là do sức ép từ môi trường bên ngoài (giađình, xã hội) bắt buộc họ phải có sự lựa chọn một giới tính và giới.

Trước năm 1994 trên thế giới người ta vẫn quan niệm rằng, đồng tính là một căn bệnhthuộc nhóm bệnh lệch lạc giới tính và có liên quan đến các biểu hiện suy đồi đạo đức.Thậm chí một số quốc gia còn liệt đồng tính là một bệnh thuộc bệnh tâm thần và cầntheo dõi sát sao Từ sau năm 1994, các nhà khoa học đã nhận ra sai lầm của mình nên từ

đó đồng tính không bị coi là một căn bệnh nữa Họ cho rằng đây là một hiện tượng, mộtthiên hướng tình dục bình thường Vì vậy:

Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam tập 1, đồng tính "là quan hệ luyến ái, tình dục

giữa những người cùng giới tính, đều có bộ phận sinh dục phát triển bình thường Trên thực tế thường gặp đồng tính luyến ái giữa nam với nam, ít gặp ở nữ hơn Đồng tính luyến ái tồn tại từ lâu ở các nước phương Tây, có nơi chấp nhận như hợp pháp Gần đây, được dư luận xã hội chú ý vì là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây lan tràn AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)".

Theo https://vi.wikipedia.org/wiki/Đồng tính luyến ái – ngày 27/9/2017, Đồng

tính hay đồng tính luyến ái là thuật ngữ chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu,tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính vớinhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài Với vai trò là một thiên hướng tìnhdục, đồng tính luyến ái là một mô hình bền vững của sự hấp dẫn tình cảm, tình yêu, hoặchấp dẫn tình dục một cách chủ yếu hoặc duy nhất đối với người cùng giới tính Đồngtính luyến ái cũng chỉ nhận thực của cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham giavào một cộng đồng có chung điều này

Xét từ khía cạnh bệnh lý, sinh học: có rất nhiều giả thuyết đưa ra nhưng những nhà

khoa học dường như đều nhất trí rằng đồng tính luyến ái là bẩm sinh chứ không phảimắc phải Người đồng tính luyến ái chẳng có gì khác so với người bình thường ngoại trừnhững lệch lạc về định hướng tình dục Các nhà bệnh lý học tâm thần xếp người đồngtính luyến ái vào nhóm lệch lạc đối tượng trong các bệnh lệch lạc tình dục Họ được coi

là "thiểu số tình dục"

Là một loại bệnh tâm thần, đồng tính luyến ái cần hội tụ 3 điều kiện:

- Có tính chất cưỡng chế, dù có ý thức hay không, họ cũng không thể cưỡng lại được

- Chủ yếu ở nam giới(nhưng hiện nay cũng đã có xuất hiện nhiều ở giới nữ)

- Xuất hiện sau tuổi trưởng thành

Xét từ khía cạnh tâm lý: các nhà tâm lý đều cho rằng ngoại trừ nhóm người đồng

tính luyến ái do yếu tố bẩm sinh thì một số lượng không nhỏ trong nhóm đối tượng này

có biểu hiện đồng tính luyến ái do những nguyên nhân về tâm lý

Trang 12

- Thứ nhất, đó là do cách giáo dục của gia đình không phù hợp, lệch lạc Một gia đìnhquá hà khắc và gia trưởng hay cách sống không lành mạnh có thể dẫn đến những tổnthương về tâm lý trong đứa trẻ Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành nhâncách và giới của đứa trẻ khi trưởng thành Và đặc biệt là nội dung, cách thức giáo dụcgiới tính trong gia đình còn chưa được quan tâm đến một cách đúng đắn.

- Thứ hai, đó là sự lạm dụng tình dục với trẻ em, đặc biệt là của người cùng giới vớichúng Điều này tạo nên một trạng thái ám ảnh suốt thời thơ ấu Và khi trưởng thành, nó

có thể trở thành một nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đồng tính luyến ái

Xét từ khía cạnh cá nhân và xã hội: Theo các nhà nghiên cứu hầu hết các hiện tượng

đồng tính luyến ái mà người ta ngộ nhận thường do yếu tố môi trường, bản thân chứ ítkhi là do bẩm sinh

- Thứ nhất : do sự tò mò của bản thân Hiện tượng này phổ biến ở lứa tuổi thanh niên,khi hiểu biết còn chưa đầy đủ nhưng lại dễ bị cuốn hút bởi những điều mới lạ

- Thứ hai: do sự lôi kéo hoặc đua đòi Dư luận xã hội về vấn đề này càng được mởrộng càng làm nảy sinh một số lượng người đồng tính luyến ái "dởm", a dua theo bạn bè

Họ coi đây là một thứ "mode" chứ không phải do bản chất Và cũng không ít nhữngtrường hợp những người bình thường tự biến mình thành người đồng tính luyến ái vì lợiích kinh tế hay những lợi ích khác

- Thứ ba: do ảnh hưởng của luồng văn hoá nước ngoài Nước ta từ khi mở cửa, giaolưu kinh tế đồng thời cũng bắt buộc phải " giao lưu" với những luồng văn hóa nướcngoài mà không ít trong số đó kém lành mạnh, đi ngược lại với những quan niệm, thuầnphong mỹ tục vốn có Sự ảnh hưởng của văn hoá có thể nhìn nhận rõ ràng qua cách sống,cách tiêu dùng văn hoá của người dân đặc biệt là tầng lớp thanh niên Văn hóa nướcngoài với cái nhìn khá "thoáng" về các vấn đề giới tính hay tình dục dễ dàng ảnh hưởngđến nhóm đối tượng còn chưa có nhiều hiểu biết và năng lực đánh giá này

Xét từ khía cạnh xã hội học: với cách tiếp cận xã hội học thì đồng tính luyến ái có

thể được coi là một hiện tượng lệch chuẩn Bởi lối sống của người đồng tính luyến ái đingược lại với những quan niệm đạo đức xã hội cũng như luật pháp của một số nước,nghĩa là trái với những chuẩn mực tồn tại trong xã hội

Dù chúng ta quan niệm như thế nào về đồng tính thì cũng cần phân biệt rõ đồng tínhluyến ái với dị tính luyến ái và song tính luyến ái

Là người có cảm giác hấp

dẫn về tình cảm, thể chất

Là người có cảm giác hấpdẫn về tình cảm, thể chất

Là người có cảm giác hấpdẫn về tình cảm, thể chất

Trang 13

với người cùng giới

Đồng tính có căn nguyên sinh học

Trong mỗi người chúng ta, có 2 loại hoocmon giới tính: Testosterone và Oestrogen.Testosterone hay còn gọi là hoocmon nam tính, có tác dụng hình thành hình hài ngườinam và nam tính ở người đàn ông Nếu bạn là một nam thực thụ thì lượng Testosteronekhông những đủ để hình thành hình hài của người nam mà còn thể hiện nam tính củangười đàn ông Nếu lượng Testosterone ở người nam chỉ đủ hình thành hình hài ngườinam thôi, chứ không đủ để thể hiện nam tính, trong khi đó lượng Oestrogen (hoocmon

nữ tính) có khuynh hướng gia tăng quá mức thì người nam đó sẽ có hình hài là namnhưng tính tình, cách hành xử và giọng nói thì ẻo lả như con gái, thích tiếp xúc với ngườinam hơn và họ nghĩ mình là nữ nên tìm một đối tượng là nam Vì thế, có hiện tượng làđồng tính nam (gay)

Ngược lại, nếu bạn là một người nữ, thì lượng Oestrogen phải cao để hình thành hìnhhài người nữ và nữ tính ở người phụ nữ Tuy nhiên, nếu lượng Oestrogen chỉ đủ để hìnhthành hình hài là nữ, trong khi đó lượng Testosterone lại có khuynh hướng gia tăng thìmặc dầu thân hình của bạn là nữ nhưng tính cách, cách hành xử và thích giao tiếp với nữnhiều hơn Bởi vì bạn đang nghĩ mình là nam chứ không phải là một nữ nên đối tượng họhướng đến là một người nữ và điều này dẫn đến hiện tượng đồng tính nữ (les) Đồng tính

có căn nguyên sinh học như đã trình bày ở trên có thể điều trị theo y học bằng cách duytrì việc bổ sung hoocmon và rèn luyện hành vi, thói quen trong giao tiếp và thậm chí cóthể chuyển đổi giới tính Bạn muốn biết mình có phải là người đồng tính có căn nguyênsinh học hay không thì có thể đến các bệnh viện để làm xét nghiệm về hoocmon giớitính Ở đó các bác sẽ làm các xét nghiệm có liên quan và sẽ có kết luận về hoài nghi củabạn

Đồng tính có căn nguyên tâm lý xã hội

Khi tiếp xúc với nhiều bạn trẻ là người đồng tính, hầu như các bạn đều thừa nhận vàkhăng khăng khẳng định rằng, mình là đồng tính thứ thiệt (có căn nguyên sinh học) chứ

Trang 14

không thừa nhận đó là do nguyên nhân tâm lý xã hội Đây chỉ là lý do để ngụy biện chotrào lưu mà mình đang theo đuổi chứ không phải là sự thật của vấn đề Vậy, người đồngtính có căn nguyên tâm lý là người như thế nào?

Đồng tính có căn nguyên tâm lý xã hội là loại đồng tính mà nguyên nhân xuất phát từcác yếu tố tâm lý xã hội Sau đây là một số nguyên nhân điển hình:

- Mong đợi của bố mẹ về giới tính của con trước khi sinh: Nhiều trường hợp, bố mẹmong có con trai nên trong giai đoạn thai giáo, việc giáo dục thai nhi được tiến hành theocách giáo dục cho nam Khi sinh ra đời, đứa trẻ là nữ chứ không phải là nam Tuy nhiên,cha mẹ vẫn muốn đứa trẻ đó là một người nam chứ không phải là nữ nên cho trẻ mặt đồcủa nam, chơi những trò chơi của nam và giáo dục theo cách với nam… Tất cả nhữngđiều này dần làm cho trẻ không thể định hướng giới tính của mình một cách chính xác

mà bị lệc lạc Trẻ nghĩ mình là một người nam trong khi thân thể là một người nữ Vìthế, trẻ có khuynh hướng gần gũi và thích tiếp xúc với nữ hơn và đối tượng trong tìnhyêu và hôn nhân đó là một nữ và ngược lại

- Gia đình có bố mẹ ly thân/ly hôn: Mặc dầu chưa có số liệu thống kê một cách chínhxác, tuy nhiên, qua tiếp cận lâm sàng một số trường hợp đồng tính có căn nguyên tâm lý

xã hội cho thấy, hầu hết trẻ rơi vào hoàn cảnh của những gia đình mà bố mẹ thườngxuyên xảy ra mâu thuẫn xung đột, ly thân và ly hôn Trẻ luôn chứng kiến những bất hòaxảy ra giữa bố mẹ chúng và không thể tin tưởng vào mối quan hệ tình cảm khác giới nhưmối quan hệ tình cảm của bố mẹ chúng hiện tại Trẻ có xu hướng làm ngược lại để tránh

sự đỗ vỡ như bố mẹ chúng Đó là tìm đến mối quan hệ đồng giới để được an toàn

- Khủng hoảng về hình mẫu: Trong gia đình, thông thường trẻ có khuynh hướng chọncho mình một mẫu người mà mình sẽ hướng tới Hình mẫu với bé trai đó có thể là: bố,ông nội/ngoại, chú, bác, anh, người hàng xóm hoặc là nam diễn viên/ca sĩ mà chúng thầntượng… Hình mẫu của bé gái đó là mẹ, chị gái, bà nội/ngoại, cô, dì, người hàng xóm,hoặc là một nữ diễn viên/ca sĩ mà trẻ thần tượng Cơ chế bắt chước đã giúp trẻ xây dựng

mô hình giới tính của mình theo hình mẫu mà chúng đã lựa chọn Tuy nhiên, vấn đề sẽkhác khi trẻ bị khủng hoảng về hình mẫu Bố, mẹ trong gia đình không phải là hình mẫucho trẻ hướng đến bởi vì bố, mẹ thì nghiện ngập, ngoại tình, đánh đập và hành hạ concái, sống ích kỷ…làm cho trẻ không tin tưởng, hoài nghi về bố mẹ, thậm chí là ghét/cămthù bố mẹ Trẻ cũng không chọn được ai để làm hình mẫu cho mình, vì thế trẻ có khuynhhướng làm ngược lại bằng cách chứng minh mình có thể làm người đàn ông tốt (trongkhi thân thể của mình là nữ) hay người phụ nữ tốt (trong khi cơ thể của trẻ là nam)

- Ảnh hưởng của tuổi thơ: Trẻ bị bạn bè trêu chọc là pê-đê khi còn nhỏ hoặc bị ngườiđồng tính lạm dụng tình dục hay cưỡng hiếp

Trang 15

- Tính tò mò của tuổi trẻ và bạn bè xấu rủ rê: Nhiều bạn trẻ bước vào thế giới đồng tínhchỉ vì bị bạn bè xấu rủ rê, lôi kéo hay vì tò mò, muốn khám phá, trải nghiệm cái mới màmọi người đang theo thử xem nó như thế nào nhưng khi bước vào rồi thì không cóđường ra Đây là nguyên nhân chính mà giới trẻ hiện nay bước vào thế giới thứ 3 theotrào lưu mới và không cân nhắc những tai hại đáng tiếc có thể xảy ra Đây là những trẻđáng trách hơn là đáng thương.

Những người đồng tính có căn nguyên sinh học là những người cần được sự quan tâm,chia sẻ, cảm thông và không bị sự kỳ thị của xã hội Bởi vì, bản thân họ không muốnđiều này Những người đồng tính có căn nguyên tâm lý mà những nguyên nhân đó khôngphải là mình mong muốn, đó là hệ quả của người lớn gây nên cũng cần được quan tâm

hỗ trợ của toàn xã hội Tuy nhiên, đồng tính bắt nguồn từ nguyên nhân là sự tò mò củagiới trẻ và bị bạn bè xấu rủ rê hay theo trào lưu mới của xã hội là những trường hợp đángtrách Bởi vì, chính các bạn đã lựa chọn và ý thức về sự lựa chọn của mình

Nếu bạn là người đồng tính hoặc là nạn nhân của những vấn đề đồng tính muốn tìm lối

ra khi lạc lối nhưng không biết cách hay đang băn khoăn về lựa chọn “có nên trở thànhngười đồng tính hay không?” thì việc tham khảo và tìm kiếm sự hỗ trợ từ các chuyên giatâm lý là điều thật sự cần thiết để bạn có quyết định chính xác Đôi điều chia sẻ cùng cácbạn trẻ Các bạn hãy cân nhắc cho những lựa chọn của mình về vấn đề này

1.2.3 Quan niệm về đồng tính ở Việt Nam

Trên thế giới, đồng tính đã phổ biến từ rất lâu Có rất nhiều cuộc biểu tình đòiquyền bình đẳng đối với người đồng tính ở nhiều nước như Mĩ, Pháp, Anh Sau nhiềucuộc biểu tình tại các thành phố lớn ở các nước mà việc bình đẳng đối với người đồngtính đã được chấp nhận Tiêu biểu là quyền được kết hôn giữa những người đồng giới đãtạo ra một luồn sóng mạnh mẽ và gây ảnh hưởng lớn đến đa số các nước khác trên thếgiới với các nền văn hóa khác nhau

Trang 16

Toà án tối cao Mỹ ngày 26/6/2015 đã thông qua luật hôn nhân đồng giới

http://kul.vn/the-danish-girl-danh-dau-them-mot-dau-son-trong-cong-dong-lgbt-26696.html

Ngày 03/07/2005, Tây Ban Nha trở thành quốc gia thứ 3 trên thế giới nói "Đồng ý"

với hôn nhân đồng giới

http://kenh14.vn/kham-pha/dieu-gi-da-xay-ra-khi-cac-quoc-gia-cong-nhan-hon-nhan-dong-gioi-20150627094322759.chn

Trang 17

Hàng trăm ngàn người đã xuống đường biểu tình ủng hộ dự luật cho phép hôn nhân đồng tính trên khắp nước Pháp trong

ngày 27.1.2013, theo báo Le Monde.

Trang 18

Ở Việt Nam, người ta bao hàm về đồng tính bằng cụm từ LGBT Gồm:

+ L trong lesbian chỉ về đồng tính nữ

+ G trong gay chỉ về đồng tính nam

+ B trong bisexual chỉ về người song tính

+ T trong transgeder hoặc transgeder people chỉ về người chuyển giới

Dù rằng Việt Nam là một trong những quốc gia "chịu" ảnh hưởng của làn sóng hônnhân đồng tính nhưng nước ta vẫn chưa có một luật hay một sự thông qua nào về hônnhân đồng tính Xét về nhiều khía cạnh như văn hóa-truyền thống-tập quán, tính nhảycảm về những vấn đề xã hội vv đối với người Việt hiện nay thì ban hành luật hôn nhâncho người đồng tính vẫn chưa phải là giai đoạn thích hợp.Việc tổ chức lễ cưới giữanhững người đồng tính dạo gần đây đã nhận phải nhiều chỉ trích từ cộng đồng do tínhnhạy cảm và văn hóa tập quán của người Việt

Người đồng tính rộn ràng xuống phố Hà Nội

Trang 19

vị vua Hán Văn Đế nổi tiếng là vị vua đam mê sắc đẹp của đàn ông Mặc dù có công laotạo dựng nên thời thịnh trị Văn Cảnh nhưng Hán Văn Đế cũng vô cùng nổi tiếng vớinhững mối tình đồng tính của mình Một trong những mối tình nổi tiếng của Hán Văn Đếchính là mối tình với chàng phu chèo thuyền Đặng Thông Ngược lại, ở Nhật Bản đồngtính thường xoay quanh về những samurai Đặc biệt là vào thời Edo

Đồng tính trong lịch sử Việt Nam hiếm được ghi nhận lại Từ thế kỷ 16 đến thời kìPháp thuộc thì có một số ghi chép về đồng tính Có một số ghi chép hiếm hoi trong thời

kì chế độ phong kiến về một vài vị vua chúa được cho là không thích gần gũi với phụ nữhoặc có sủng thần là đàn ông Vua Khải Định rất thích xem đàn ông đóng giả "đào" khidiễn tuồng dù ngài có đến trên dưới tất cả là 12 bà vợ Các hoạt động đồng tính tại ViệtNam được một lính quân y người Pháp tên Jacobus X vào thời Pháp thuộc ghi chép lại.Ông cho rằng đồng tính là một "hiện tượng" và bị ảnh hưởng bởi văn hóa của TrungHoa Ông đã ghi chép lại hoạt động mại dâm nam của người Pháp hoặc người TrungQuốc với các bé trai từ 7 đến 15 tuổi dù ông đã từng cho rằng người Pháp có hành độngđồng tính là do tránh gái mại dâm bị bệnh giang mai

Đồng tính và pháp luật

Việt Nam hiện nay vẫn chưa có quy định cấm quan hệ tình dục đồng giới Vào năm

2000, trong luật Hôn nhân và Gia đình cấm kết hôn giữa những người đồng tính Quyđịnh này kéo dài 14 năm và đến năm 2014 luật Hôn nhân và Gia đình có sửa đổi Đếnngày 1 tháng 1 năm 2015, quy định đó mới được bãi bỏ Nhưng điều không sửa đổi trongluật 2014 là quy định " không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới"(khoản 2,điều 8 trong luật Hôn nhân và Gia đình)

Trong khi đó, một số nước trên thế giới đã chấp nhận hôn nhân đồng tính như: Mĩ, Pháp,Anh…

Đồng tính trong nghệ thuật (âm nhạc, văn học, điện ảnh)

Khi nhắc đến nghệ thuật, người ta thường nghĩ đến những điều hướng về " chân, thiện,mỹ" Tức là sự chân thật, sự thiện chí và sự hoàn mỹ trong mắt của con người Nghệthuật lấy cảm hứng từ đời thường với nhiều phương diện khác nhau như sự yêu thươnglẫn nhau khi cùng chung quê hương hay đơn giản hơn là tình mẫu tử-phụ tử thiên liêngcao cả Nhưng có ai đã từng lấy cảm hứng từ những mối tình đồng giới? Ngày nay thìcảm hứng đó xuất hiện khá nhiều trong nghệ thuật nhưng ngày xưa thì khác Đối vớingười xưa, đồng tính là một sự trái với luân thường đạo lí, trái với tự nhiên và trái vớiđạo đức xã hội Dù rằng ngày xưa có những mối tình đồng giới thật sự đi chăng nữa thìcũng chẳng ai dám công khai hay tự nhận điều đó cả Tất cả là do suy nghĩ, những quanniệm chỉ trích tình yêu đồng giới Kể cả có một ai đó dám lên tiếng về "vấn đề đó" thìcũng bị xem là lối nghĩ bệnh hoạn hay nặng nề hơn là sẽ nguy hiểm đến tính mạng vì

Trang 20

dám nói những điều trái với luân thường đạo lí Vậy thì tự hỏi ai dám lên tiếng trong xãhội trước? Nhưng bây giờ thì khác Do sự hòa nhập giữa các nền văn hóa khác nhau vànhiều lí do khác đã thay đổi đa phần suy nghĩ về đồng tính theo hướng tích cực hơn mặc

dù vẫn còn nhiều ý kiến tiêu cực Nhưng nhìn chung thì lối suy nghĩ về đồng tính ở ViệtNam đã thoáng hơn so với lúc trước

Nghệ thuật thường được chia làm 3 lĩnh vực: âm nhạc, điện ảnh và văn học

Đồng tính trong âm nhạc của nước ta cũng chỉ được thể hiện mạnh mẽ qua những nămgần đây do nhạc sĩ hoặc ca sĩ công khai về chủ đề Nền âm nhạc Việt hiện nay đã "mạnhdạn" hơn rất nhiều khi nhắc về chủ đề đồng tính Đối với ngày trước, nhạc Việt chỉ thiên

về những chủ đề như lòng yêu nước, tình cảm nam nữ, và rất ít người thậm chí ta cóthể cho là chẳng có sản phẩm âm nhạc nào nói về chủ đề này cả Như đã nói, đồng tính ởViệt Nam chỉ mới được "du nhập" vào thời gian gần đây nên nếu so với những ngàytrước thì chủ đề này được cho là "quá nhạy cảm" hay thậm chí là trái với tự nhiên

Những bài hát như Tình tuyệt vọng của nhạc sĩ Thái Thịnh hay Chiếc bóng của Phương Uyên hoặc Tìm lại chính tôi được các nhạc sĩ công khai là viết về đề tài đồng tính Còn thông qua MV thì có Thanh Xuân của Đào Bá Lộc.

Điện ảnh Việt thường xây dựng hình ảnh cho các nhân vật đồng tính theo nhiều chiềuhướng "Môtíp" nhân vật thường khai thác về ngoại hình, giọng nói, tính cách ẻo lảgiống phụ nữ hoặc những hành vi thiếu nghiêm túc, lộ liễu của nhân vật khi theo đuổingười cùng giới Họ còn có thể xây dựng hình ảnh nhân vật theo chiều hướng tiêu cựcnhư " bệnh hoạn" hay "ghê sợ" nhằm gây cười để câu khách Điều tiêu cực trên đã phầnnào dẫn dắt xã hội nhìn về đồng tính một cách sai lệch, có phần kì thị, thậm chí thiếu tôntrọng đối với người đồng tính Điện ảnh Việt vẫn còn các biên kịch, các đạo diễn đã "cứu

rỗi" những nhìn nhận của xã hội về đồng tính được thể hiện qua những bộ phim như: Cô gái điếm và Con vịt, Chơi vơi, Điện ảnh nước ngoài nổi bậc nhất là bộ phim Cô Gái Đan Mạch - The Danish Girl Sự nuối tiếc, lòng thương cảm là cảm xúc chung củanhững ai từng biết đến câu chuyện có thật về Lili Elbe – người chuyển giới đầu tiên trên

thế giới, đồng thời là nguyên mẫu cho nhân vật chính của The Danish Girl Qua phim,

hành trình đầy dằn vặt của Lili Elbe khi quyết định từ bỏ danh phận, địa vị và cả người

vợ thương yêu 6 năm gắn bó để làm lại từ đầu một cuộc đời khác khiến khán giả thấycảm phục và ngưỡng mộ lòng can đảm của Einar - Lili Hành trình đầy nghị lực củaEinar vượt qua những định kiến, nỗi hổ thẹn để được sống đúng là chính mình sẽ khiếnchúng ta cảm phục Nhưng trên hết, sự bao dung, tình yêu cao thượng của Gerda khichấp nhận và tiếp tục đồng hành cùng người chồng khiếm khuyết trên hành trình đi tìm

lẽ sống mới là điều vô giá mà chúng ta sẽ rất bất ngờ khi theo dõi bộ phim

Ở Việt Nam trước đây, các nhà văn, nhà thơ thường hay quan ngại nên ít viết về đề tàinày Chúng ta có thể cho đó là né tránh dù từ trước đến nay đề tài đồng tính không bị

Trang 21

cấm Như đã nói ở phần quan niệm đồng tính về việc người Việt chưa thể chấp nhận hônnhân đồng tính cũng do một phần của văn chương trước đó - nền tảng của sự hình thành

tư tưởng nhân cách của mỗi con người Vì sao chúng ta lại đổ lỗi cho văn chương ở thờiđại trước ? Bởi vì trước đây, những người viết về đề tài đồng tính này thường khai thácsâu về mặt tiêu cực như bệnh tật, tệ nạn do thiếu thông tin Góp phần tiêu cực khiếnmọi người xa lánh, kì thị người đồng tính và khiến người đồng tính trở nên mặc cảm,khép lòng và khó bày tỏ cảm xúc thật

Nhưng hiện nay, các tác phẩm về đồng tính nổi lên như cồn Nhiều cuốn sách được rađời Gửi gắm vào đó là những suy nghĩ riêng của tác giả Mang đến cho người đọc một

ánh nhìn mới về cuộc đời của những người đồng tính Trong đó, Một thế giới không có đàn bà của nhà văn Bùi Anh Tấn là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam viết về người

đồng tính, được nhận giải A cuộc thi Tiểu thuyết và kí “Vì an ninh Tổ quốc – Vì cuộc

sống bình yên” Ngoài ra, anh còn viết Les-vòng tay không đàn ông cũng khai thác cùng

một mảng đề tài đã nói Bên cạnh đó, cũng có một số tác phẩm khác viết về đề tài đồng

tính như: Bóng – tự truyện Nguyễn Văn Dũng; 198X của Quỳnh Trang; Lạc giới – Thủy Anna; Xin lỗi em, Anh đã yêu anh ấy – Nguyễn Thơ Sinh… cũng đã cho thấy sự quan

tâm của xã hội đối với hiện tượng này

Đồng tính trong khoa học và nghiên cứu

Trên thế giới, những cuộc nghiên cứu khoa học về đồng tính bắt đầu từ thế kỉ XVIđến tận bây giờ Chưa dừng lại ở đó, họ còn có nhiều cuộc nghiên cứu đang dần có quy

mô lớn hơn chưa được công bố

Đã từng nói đồng tính chỉ phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây Dù vậy hiệnnay có khá nhiều nghiên cứu về đồng tính từ giới trẻ và các trường đại học Nhưng ta vẫnchưa có một cuộc nghiên cứu có chuyên môn hơn nhưng những nghiên cứu của cáctrường đại học cũng đã cho ta thấy được sự mở lòng của người Việt đối với người đồngtính

1.3 Quan niệm của xã hội về đồng tính

1.3.1 Thái độ của người thân

Ta có thể chia thành hai loại

+ Đã biết người thân mình có xu hướng đồng tính từ nhỏ Những người này thì họ đãquen với việc người thân mình là người đồng tính từ khi con nhỏ nên họ khá bình thảntrong việc này Nhưng chuyện kết hôn với người đồng giới thì vẫn còn là một trở ngại.+ Mới phát hiện hoặc người thân công khai với gia đình Thường thì họ sẽ bị một cú sốc(shock) khá lớn Đặc biệt là cha mẹ Việc công khai là người đồng tính đã gây cho họmột cú sốc lớn như vậy thì việc người thân họ kết hôn với người đồng giới thì sẽ ra sao

Trang 22

đây? Nhưng chắc chắn rằng việc đó sẽ càng khó khăn hơn vạn lần đối với những ngườiđồng tính khác.

Từ đó ta có thể thấy việc công khai của người đồng tính không phải là đơn giản nhưnói vài câu "tôi là người đồng tính" Mà việc công khai gặp phải rào cản lớn nhất chính

là từ phía gia đình và người thân

1.3.2 Thái độ của mọi người

Nhìn chung, những người ở lứa tuổi thanh niên đến trưởng thành thì dường như họ

có cách nhìn nhận về đồng tính thoáng hơn Còn những người ở thế hệ ông bà thì họthường không thể chấp nhận việc con cháu mình là người đồng tính Họ tôn trọng cái gọi

là "trời sinh" nên chuyện chấp nhận cho con cháu mình một giới tính khác thì với họ làmột sự khó khăn So với quốc tế thì nước ta vẫn chưa hẳn là hoàn toàn ủng hộ Nhưngchúng ta cũng nên vui vì trong khoảng thời gian gần đây có rất nhiều cuộc diễu hành, sựkiện dành cho người đồng tính và những người ủng hộ "thế giới thứ ba"

1.3.3 Thái độ của báo chí

Vào những năm trước, khi đồng tính được "du nhập" vào Việt Nam thì dường như

đa số báo chí thường có những tiêu đề trên báo mang tính đả kích chẳng hạn như: "Đồngtính là một lối sống bệnh hoạn?" hay "Giới trẻ đang đùa đòi học theo mốt 'đồng tính".Nhưng dần dần những nhà báo đã có cái nhìn tích cực hơn "Lặng người trước tâm thưchàng trai gửi người yêu đồng tính đã khuất" hoặc “phát hờn” trước hạnh phúc của cặpđồng tính đáng yêu nhất Thái Lan" Họ thường chúc phúc cho các cặp đôi hoặc chiabuồn với họ

1.4 Thái độ của chính người đồng tính: công khai – hạnh phúc là sống thật

Nhu cầu của con người là được sống thật với chính mình bởi khi đó chúng ta mớithật sự hạnh phúc Người đồng tính cũng vậy, nhưng quyết định sống thật và sống côngkhai không phải lúc nào cũng dễ dàng với người đồng tính vì còn có những định kiến vàhiểu lầm về người đồng tính đến từ chính bản thân họ, từ gia đình và xã hội Khi mộtngười phát hiện ra mình có tình cảm với người cùng giới, họ cảm thấy hoang mang lolắng vì điều đó không giống với số đông các bạn cùng trang lứa Họ mất một thời giantìm hiểu thông tin để có thể chấp nhận bản thân mình và sống thật với mình Rồi họ cũngphải tìm cách để nói với gia đình và những người xung quanh biết mình là người đồngtính Có người trải qua hành trình này một cách dễ dàng, có người mất vài ba năm Cónhững người không bao giờ đi hết hành trình Có những hành trình đầy nước mắt, vật vãđau khổ Có những hành trình kết thúc bằng niềm hạnh phúc Tất cả những điều đó phụthuộc rất nhiều vào sự hiểu biết của chính người trong cuộc, sự hỗ trợ của gia đình vàngười xung quanh Qua nhiều cuộc phỏng vấn từ các trang báo trẻ, ta thấy được nhữngngười đồng tính họ quyết định công khai dù biết rằng đó là một việc không hề dễ dàng gì

Trang 23

nhưng họ vẫn quyết định công khai Rồi cuối cùng khi vượt qua tất cả thì họ đã có đượchạnh phúc cho riêng mình

"Công khai – hạnh phúc là sống thật" là một thông điệp rất ý nghĩa dành cho nhữngngười đang lo lắng về việc công khai giới tính thật hay những người không có ý địnhcông khai Thông điệp này như một động lực, một cái đẩy lưng để người đồng tính bướcthêm một bước lớn để hoàn thiện bản thân mình Dù rằng biết phía trước đầy chông gainhững họ vẫn phải đi tiếp vì chính ước mơ của mình

Trang 24

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG HIỂU BIẾT

VỀ ĐỒNG TÍNH Ở LỨA TUỔI THPT

2.1 Vài nét về đặc điểm lứa tuổi HS THPT

Mỗi con người sinh ra và lớn lên ai cũng cần một không gian nhất định để phục vụcho các hoạt động sống như sinh hoạt, vui chơi, nghỉ ngơi, sản xuất của mình Khônggian đó chính là môi trường xung quanh chúng ta_nơi chứa đựng toàn bộ những yếu tố tựnhiên và yếu tố xã hội ảnh hưởng đến đời sống và nhân cách con người Ở mỗi giai đoạnphát triển của con người thì môi trường tác động đến nhân cách thông qua những giá trịvật chất và giá trị tinh thần khác nhau Lứa tuổi chịu sự tác động mạnh mẽ nhất của môitrường đến nhân cách là lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông Đây là giai đoạn mà các

em đã phát triển tương đối về mặt tâm lý, đang trong thời kỳ tích lũy kiến thức, tu dưỡngđạo đức để chuẩn bị cho cuộc sống trưởng thành, phần lớn các em đã biết định hướng chotương lai của mình, biết làm chủ suy nghĩ và hành động của mình Môi trường xungquanh cho các em những điều kiện tốt nhất để phát triển, để hòa nhập và chung sống vớicộng đồng, với xã hội Ngay từ khi còn bé đã biết giao lưu với người lớn, với môi trường

tự nhiên và xã hội dần dần nhân cách các em được hoàn thiện Việc quan tâm đến các em

ở lứa tuổi Trung học phổ thông là trách nhiệm không chỉ của gia đình, nhà trường mà còncủa toàn xã hội Trong sự phát triển nguồn nhân lực cho đất nước đang đổi mới hiện nay,

rõ ràng nổi lên yêu cầu cấp bách là nâng cao chất lượng người lao động, đào tạo nhân tài,đào tạo con người có nhân cách phù hợp với xã hội mới Các em là những con người mới,con người của thời đại, là những chủ nhân tương lai của đất nước vì vậy chúng ta cần tạocho các em một môi trường tốt nhất cho các em phát triển Tuy nhiên, trước sự phát triểncủa cuộc sống hiện đại, những tác động tiêu cực của xã hội ảnh hưởng đến sự phát triểnnhân cách của các em cũng là một điều đáng lo ngại

2.1.1 Đặc điểm lứa tuổi THPT

Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậythì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên được tính từ 15 đến 25 tuổi,được chia làm 2 thời kì:

+ Thời kì từ 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên

+ Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên)

Lứa tuổi học sinh THPT là thuộc giai đoạn đầu

Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng, nóđược giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vì khôngphải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng hợp vớicác thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có nghĩa là sự trưởng thành về mặt thể chất,

Trang 25

nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứatuổi Chính vì vậy mà các nhà tâm lý học Macxit cho rằng: Khi nghiên cứu tuổi thanhnên thì cần phải kết hợp với quan điểm của tâm lý học xã hội và phải tính đến quy luậtbên trong của sự phát triển lứa tuổi Do sự phát triển của xã hội nên sự phát triển của trẻ

em ngày càng có sự gia tốc, trẻ em lớn nhanh hơn và sự tăng trưởng đầy đủ diễn ra sớmhơn so với các thế hệ trước, nên tuổi dậy thì bắt đầu và kết thúc sớm hơn khoảng 2 năm

Vì vậy, tuổi thanh niên cũng bắt đầu sớm hơn Nhưng việc phát triển tâm lý của tuổithanh niên không chỉ phụ thuộc vào giới hạn lứa tuổi, mà trước hết là do điều kiện xã hội(vị trí của thanh niên trong xã hội; khối lượng tri thức, kỹ năng kỹ xảo mà họ nắm được

và một loạt nhân tố khác…) có ảnh hưởng đến sự phát triển lứa tuổi Trong thời đại ngàynay, hoạt động lao động và xã hội ngày càng phức tạp, thời gian học tập của các em kéodài làm cho sự trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến chậm Do đó có sự kéo dàicủa thời kì tuổi thanh niên và giới hạn lứa tuổi mang tính không xác định (ở mặt này các

em được coi là người lớn, nhưng mặt khác thì lại không)

Thanh thiếu niên hay còn gọi là Teen, xì-tin, tuổi ô mai là một giai đoạn chuyển tiếpthể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em vàtrưởng thành Sự chuyển tiếp này liên quan tới những thay đổi về sinh học (ví dụ dậythì), xã hội và tâm lý, dù những thay đổi về sinh học và tâm lý là dễ nhận thấy nhất Vềlịch sử, tuổi dậy thì thường gắn liền với tuổi teen (13-19) và sự bắt đầu của sự phát triểntuổi thiếu niên Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự bắt đầu giai đoạn dậy thì đã cómột sự gia tăng trong thiếu niên (đặc biệt là nữ, như được thấy với dậy thì sớm); thỉnhthoảng tuổi thiếu niên được kéo dài tới sau cả tuổi teen (đặc biệt ở nam) Những thay đổinày đã khiến việc định nghĩa một cách chắc chắn khung thời gian của tuổi thiếu niên trởnên khó khăn

Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát triểnthể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa cân đối Ở tuổi đầu thanhniên, học sinh THPT vẫn còn tính dễ bị kích thích ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cáchsống của cá nhân ở độ tuổi này Nhìn chung lứa tuổi THPT có sự phát triển về thể chất

ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tâm lí và nhân cách cũng như ảnh hưởngtới những lựa chọn trong cuộc sống

2.1.2 Phân tích đặt điểm lứa tuổi

Tuổi đầu thanh niên là tuổi của những người đang lớn nhưng chưa thành người lớn,những người thu nhận thông tin nhưng không phải là người uyên bác, những người ham

mê nhưng không phải say mê

Còn về đặc điểm nhận thức và phát triển trí tuệ ở học sinh THPT: nhận thức, hiểu biếtrộng và phong phú hơn Cụ thể:

Trang 26

– Tính độc lập và sáng tạo thể hiện rõ nét.

– Sự phân hóa hứng thú nhận thức rõ nét và ổn định hơn

– Sự phát triển trí tuệ đạt đến đỉnh cao Đặc biệt là tâm sinh lí, khi cơ thể đạt đến mức độphát triển nhất định thì nhu cầu về bản thân sẽ tăng cao

+ Muốn khám phá chính bản thân mình

+ Nhu cầu về giới tính sẽ được biểu lộ

+ Sự thỏa mãn về chính giới tính của mình được thể hiện

+ Tác động của hoocmon sinh học gây kích ứng nhu cầu bản thân

Về đặc điểm nhân cách của học sinh THPT: đặc điểm nổi bật trong nhân cách của HSthể hiện ở tự ý thức và cái tôi

– Tự ý thức là khả năng học sinh tự tách ra khỏi bản thân mình làm đối tượng của nhậnthức, để đánh giá Tự đánh giá là một khả năng được hình thành trong suốt quá trình pháttriển nhân cách và được coi là dấu hiệu cơ bản để nhận biết mức độ trưởng thành củanhân cách Ở học sinh THPT tự đánh giá thể hiện ở một số đặc điểm nổi bật sau:

+ Đối chiếu bản thân với chuẩn mực xã hội

+ Sự đánh giá có tính phê phán và đòi hỏi cao ở bản thân

+ Tự đánh giá có chiều sâu và khái quát hơn

Tuy gắn với trí tuệ phát triển thì đời sống tình cảm, ý chí và nhận thức lẫn nhu cầu củahọc sinh cũng có nhiều thay đổi như có tính phân hóa sâu, tính tự chủ và được điều tiếttốt hơn Những tình cảm như tính thẩm mỹ, tình bạn, tình yêu bộc lộ một cách rõ ràng.Tình yêu ở thời học sinh THPT dễ bị “hiệu ứng nhiễm sắc” – chỉ nhìn thấy nét đẹp củangười yêu và hiệu ứng “hiệu ứng phi cá tính hóa” – dễ dàng từ bỏ cái tôi của bản thânhay thay đổi chính bản thân qui về một giới nào đó để có thể đạt được mưu cầu

Qua đó có thể biết rằng lứa tuổi THPT, lứa tuổi thanh thiếu niên là lứa tuổi phát triểnmạnh mẽ nhất về nhân cách lẫn tâm sinh lí được tác động bởi yếu tố sinh học Lứa tuổiTHPT được đánh giá tạm thời là lứa tuổi thể hiện rõ về tính mất cân đối tạm thời gây ranhững khó khăn nhất định và để lại nhiều hậu quả về sau Học sinh THPT đã đạt đếnmức trưởng thành của cơ thể do có sự hoàn thiện về mặt cơ thể nên đã gây ra một số pháttriển về tâm lí nhất định ở thời kì này Học sinh ở lứa tuổi trung học phổ thông đã pháttriển tương đối ổn định về mặt tâm sinh lý, đang trong thời kỳ tích lũy kiến thức, chuẩn

bị cho cuộc sống trưởng thành Tuy nhiên, trước sự phát triển của cuộc sống hiện đại,những tác động tiêu cực của cuộc sống cũng phát triển một cách đáng lo ngại Nghiêncứu thực trạng cho thấy, có một số tồn tại trong lối sống của một bộ phận thanh thiếuniên Nhiều nhận xét cho rằng: việc học sinh vi phạm các chuẩn mực đạo đức đã đến

Trang 27

mức đáng lo ngại với những hành vi như bạo lực trong nhà trường, đe dọa hành hungthầy cô giáo, quay cóp bài, bỏ học… Ngoài ra, nhiều thanh thiếu niên còn sớm có biểuhiện của lối sống hưởng thụ, coi nặng giá trị vật chất, tiêu xài hoang phí, không tôn trọng

- Nội dung

+ Tìm hiểu các khái niệm liên quan

+ Tìm hiểu về đồng tính và quan niệm về đồng tính của HS THPT

+ Quan niệm của HS về đồng tính trong nhà trường

- Cách thức

Phát phiếu thăm dò (100 phiếu) và phỏng vấn trực tiếp (11 học sinh)

+ Trường THPT Nguyễn Trung Trực: 40 phiếu, phỏng vấn 5 HS

(biết) về hiện tượng đồng

tính luyến ái chưa?

- Đã nghe

- Có nghe vài lần

- Nghe nhưng không quan tâm lắm

- Chưa từng nghe, từng biết

2 Quan niệm của bạn về

Trang 28

- Chưa bao giờ

4 Theo bạn nguyên nhân nào

dẫn đến hiện tượng đồng

tính ?

- Do sinh lí bẩm sinh

- Do từ nhỏ bị người đồng giới lạm dụng

- Do đua đòi, bị người đồng tính lôi kéo

- Do ảnh hưởng của hoàn cảnh sống

- Do cách giáo dục của gia đình không phù hợp,lệch lạc

- Do tò mò

- Lí do khác

5 Bạn có mối quan hệ xã hội

với bao nhiêu người đồng

6 Vậy theo bạn, trong số họ

bao nhiêu người là đồng

- Chỉ chơi với người cùng giới

- Ăn mặc ứng xử không phù hợp với giới tính

- Họ công khai (thừa nhận) mình đồng tính

- Khác

8 Theo bạn, vì sao số người

không phải đồng tính lại

nhận là người đồng tính ?

- Theo trào lưu

- Bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh

- Khác

9 Giả sử bạn phát hiện bạn

thân của bạn là người

- Không tiếp xúc nữa

- Tiếp tục quan hệ nhưng không đả động gì đến

Trang 29

đồng tính thì thái độ của

bạn sẽ thế nào?

- Không quan tâm đến vấn đề này

- Ủng hộ vì đây là vấn đề tự do cá nhân

- Trò chuyện để tìm ra nguyên nhân và giúp đỡ

10 Theo bạn khi họ công khai

là người đồng tính, họ có

gặp khó khăn trong cuộc

sống và công việc không?

tính thường xảy ra ở đối

tượng nào là đa số ? vì sao

người đồng tính ? Tại sao?

- Thanh thiếu niên (lứa tuổi HS THPT)

- Trưởng thành

- Cao tuổi

14 Đồng tính ở lứa tuổi bạn

đã chọn là sinh lí giới tính

(do căn nguyên sinh học)

hay đơn thuần là trào

lưu ? Hãy cho ý kiến của

tính không ? Tại sao ?

CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Trang 30

3.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

Hiện nay, nhiều người đồng tính công khai lối sống khác thường của mình đãthu hút sự chú ý của dư luận xã hội cũng như của các nhà nghiên cứu khoa học Bởiviệc tìm hiểu bản chất cũng như nguyên nhân của hiện tượng này giúp ích rất nhiềucho việc đưa ra những giải pháp hạn chế những ảnh hưởng của nó đồng thời giúpcộng đồng có được một cách nhìn cảm thông và chia sẻ hơn với nhóm xã hội bấtthường này

Ở Việt Nam, dù đồng tính không còn xa lạ với xã hội nhưng việc nghiên cứu nóchính thức và sâu rộng còn rất ít Đa số báo chí đề cập đến đồng tính luyến ái nhưmột hiện tượng mới nổi lên, khác thường với quan niệm xã hội hay chỉ tập trung vàomột số nhóm xã hội cụ thể mà chưa đi sâu cung cấp những kiến thức cơ bản về hiệntượng này Điều này gây nhiều khó khăn cho việc nhận thức về bản chất cũng nhưnguyên nhân của hiện tượng

- Giới tính học trong bối cảnh Việt Nam - BS Trần Bồng Sơn - NXB Trẻ 2002 Đây

là một cuốn sách đi sâu vào những kiến thức khoa học về giới tính Vấn đề đồng tínhluyến ái cũng là một trong những nội dung nghiên cứu của nó Qua đó người đọc cóthể thu được những hiểu biết về nguyên nhân, bản chất của đồng tính luyến ái cũngnhư cách giải quyết đối với hiện tượng này

- Tạp chí AIDS và cộng đồng - Uỷ ban thường trực phòng chống AIDS quốc gia ( số1-12-2000) Trong tạp chí này, đồng tính luyến ái được nhắc đến như một nguyênnhân dẫn đến sự gia tăng căn bệnh HIV/AIDS, đặc biệt là với nhóm đồng tính luyến

ái nam

- Người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam - Sách do Tiến sĩ nhân họcVăn hoá - Xã hội Phạm Quỳnh Phương biên soạn dựa trên các nghiên cứu về đồngtính tại Việt Nam trong suốt thời gian qua Đây là tài liệu tổng hợp lại hàng chụcnghiên cứu từ trước đến nay tại Việt Nam về cộng đồng LGBT, bao gồm nhiều khíacạnh: kỳ thị xã hội, hình ảnh trên báo chí, bạo lực gia đình, y tế, giáo dục, pháp luật

Nó trở thành tài liệu hữu ích cho những người muốn nghiên cứu và tìm hiểu vềLGBT

biết những hiểu biết cơ bản về đồng tính

Trên thế giới, những nghiên cứu chính thức và tập trung về giới đồng tính luyến áiđược tiến hành rộng rãi nhằm cung cấp những hiểu biết về mọi mặt cuộc sống của họ

Trang 31

- Violence against lesbians and gaymen - David Comstock Đây là một nghiên cứu tậptrung về những vấn đề mà người đồng tính luyến ái gặp phải trong cuộc sống Tác giảđưa ra những số liệu về tệ nạn sử dụng bạo lực cũng như sự phân biệt đối xử đối vớingười đồng tính luyến ái tại Hợp chủng quốc Hoa kỳ qua nghiên cứu năm 1992

- Sociology of marriage and the family (gender, love and property) - Scott Coltraneand Randall Collins - NXB Wadsworth/ Thomson Learning 2001 Cuốn sách xã hộihọc về hôn nhân và gia đình này đã đề cập đến rất nhiều vấn đề về mọi mặt của đờisống hôn nhân cũng như các vấn đề về giới tính Trong đó đồng tính luyến ái cũngđược đề cập Chủ yếu nghiên cứu làm sáng tỏ sự xuất hiện và phát triển của hiệntượng này trong đời sống cá nhân, cách nhìn nhận của cộng đồng về nó

- Việc nghiên cứu hiện tượng đồng tính luyến ái dưới góc độ khoa học cũng như xãhội là rất cần thiết Bởi nhờ đó, cộng đồng sẽ có những hiểu biết để tìm cách giảiquyết cũng như xác định một thái độ thích hợp với những người thuộc nhóm xã hộinày

3.1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu đề cập đến sự hiểu biết của HS về các vấn đề liên quan đến hiện tượngđồng tính ở lứa tuổi THPT nhằm đi đến nhận định hiện tượng đồng tính ở lứa tuổi THPT

là sinh lí giới tính (đồng tính thật) hay chỉ là trào lưu (đồng tính giả) Việc chọn đối tượngnghiên cứu, khảo sát ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của nghiên cứu, vì vậy phải chọnđối tượng sao cho ngẫu nhiên, để kết quả khảo sát khách quan Vì vậy, 100 phiếu khảo sátđược phân bố ba trường trong cụm huyện Tri Tôn Năm học 2017 – 2018 HS cấp THPTcủa huyện tính đến ngày 08/9/2017 là 2495

Trường THPT Nguyễn Trung Trực là trường THPT của trung tâm huyện Tri Tôn, tỉnh

An Giang Trường có 34 lớp với khoảng dao động từ 1000 đến 1300 HS qua các năm học.Năm học 2017 – 2018 trường có 1270 học sinh Trong đó, có 10 lớp 12, 10 lớp 11 và 14lớp 10 HS của trường chủ yếu ở thị trấn Tri Tôn, số ít HS ở các xã Lương An Trà, LươngPhi, An Tức, Châu Lăng, Ô Lâm, Tân Tuyến, Tà Đảnh

Trường THPT Ba Chúc thuộc thị trấn Ba Chúc Trường có 29 lớp với khoảng 966 họcsinh Trong đó, có 296 lớp 12, 276 lớp 11 và 394 lớp 10 HS của trường ở các xã giápranh thị trấn Ba Chúc bao gồm thị trấn Ba Chúc; xã Lương Phi, Vĩnh Gia, Lạc Quới, VĩnhPhước, Lê Trì

Trường Phổ Thông Cô Tô thuộc xã Cô Tô, trường gồm cả HS THCS và HS THPT.Trường có 10 lớp cấp THPT với khoảng 333 học sinh Trong đó, có 96 lớp 12, 113 lớp 11

và 124 lớp 10 HS của trường chủ yếu tập trung ở xã Cô Tô, Tân Tuyến, Nũi Tô, Ô Lâm,

An Tức của huyện Tri Tôn

Ngày đăng: 26/09/2018, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w