1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việc giảng dạy về Việt Nam ở Đông Bắc Thái Lan - Trường hợp tỉnh Nakhon Phanom (giai đoạn 1946-2013

142 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 4,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

người Việt đã làm cho chính phủ Thái Lan lo lắng, khiến nhiều chính sách đối với người Việt được đưa ra, trong đó có nội dung liên quan đến việc cấm giảng dạy; Thứ hai, nếu việc giảng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội-2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

GIẤY XÁC NHẬN SỬA CHỮA LUẬN VĂN

Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ khoa học chuyên

ngành Quan hệ Quốc tế (Mã số: 60310206)

Tên em là Thouchanok Sattayavinit, học viên cao học khóa QH-2012-X, chuyên ngành Quan hệ Quốc tế, Khoa Quốc tế học Em đã hoàn thành bảo vệ Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Quan hệ Quốc tế, mã số 60310206 ngày 25

tháng 09 năm 2014 với đề tài: “Việc giảng dạy về Việt Nam ở Đông Bắc Thái Lan Trường hợp tỉnh Nakhon Phanom (Giai đoạn 1946-2013)”

Theo những đánh giá, nhận xét và kết luận của Hội đồng chấm luận văn ngày

25 tháng 09 năm 2014, sau khi thống nhất ý kiến với giáo viên hướng dẫn, luận văn của em đã được sửa chữa như sau:

1 Các lỗi chính tả và lỗi câu;

2 Bổ sung tổng hợp kết quả phỏng vấn Nội dung này được đưa vào cuối luận văn

3 Chuyển các ảnh sang phần Phụ lục theo yêu cầu của Chủ tịch hội đồng

4 Bổ sung, làm rõ thêm các nội dung trong phần Lịch sử nghiên cứu vấn đề

5 Về phần tác động của việc giảng dạy về Việt Nam đến chính sách của chính phủ Thái Lan đối với Việt kiều, học viên xin giữ nguyên quan điểm của mình bởi:

Thứ nhất, trong tư duy của giới lãnh đạo Thái Lan, việc giảng dạy của Việt

kiều là hoạt động cách mạng và nội dung giảng dạy là truyền bá tư tưởng cộng sản Với chính sách thân Mỹ của mình, hầu hết các chính phủ Thái Lan suốt từ giai đoạn 1947-1976 đều có chính sách chống cộng Do vậy, việc giảng dạy nói chung và việc giảng dạy về Việt Nam nói riêng của cộng đồng

Trang 4

người Việt đã làm cho chính phủ Thái Lan lo lắng, khiến nhiều chính sách

đối với người Việt được đưa ra, trong đó có nội dung liên quan đến việc cấm

giảng dạy;

Thứ hai, nếu việc giảng dạy của cộng đồng Việt kiều không có tác động tới

chính sách của chính phủ Thái Lan thì sau lệnh cấm giảng dạy đầu tiên sẽ

không có lệnh cấm tiếp theo Chính sách ban hành ngày 21/4/1970 là một ví

dụ Theo chính sách này, con cháu Việt kiều được phép học tại trưởng của

Thái Lan, đồng thời cấm Việt kiều mở lớp giảng dạy trong cộng đồng Nói

cách khác, chỉ khi việc giảng dạy này có ảnh hưởng tới nhà cầm quyền Thái

Lan thì chính phủ nước này, ở một mức độ nào đó, mới có thêm chủ trương

cấm việc giảng dạy của Việt kiều

Nay em làm đơn này kính đề nghị GS.Vũ Dương Ninh - Chủ tịch Hội đồng

xác nhận việc bổ sung nói trên của em đã tuân thủ theo đúng yêu cầu

Em xin trân trọng cảm ơn

Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2014

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Tiến sĩ Võ Xuân Vinh, người thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Quốc tế học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa học

Xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị em cùng lớp đã quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học

Xin cảm ơn các cô chú ở Hội Thái - Việt Nakhon Phanom, các cô thầy, bác chú, anh chị trong tỉnh Nakhon Phanom đã tạo điều kiện về tư liệu để tôi thực hiện luận văn này

Xin gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè và tất cả những người thân yêu đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội, tháng 9 năm 2014

Tác giả

Thouchanok Sattayavinit

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4

DANH MỤC CÁC ẢNH 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục tiêu nghiên cứu 11

4 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 11

5 Nguồn tư liệu 12

6 Phương pháp tiếp cận, nghiên cứu 13

7 Đóng góp của đề tài: 13

8 Bố cục của luận văn 14

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VIỆT KIỀU Ở VÙNG ĐÔNG BẮC THÁI LAN 15

1.1 Vài nét về tỉnh Nakhon Phanom 15

1.2.Về cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan 17

1.2.1 Giai đoạn trước năm 1946 17

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1946 đến năm 2013 24

1.3 Đời sống văn hóa, kinh tế của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan 34

Tiểu kết 38

CHƯƠNG 2: VIỆC GIẢNG DẠY VỀ VIỆT NAM Ở TỈNH NAKHON PHANOM 38

2.1 Khái quát về việc giảng dạy về Việt Nam ở Đông Bắc Thái Lan 39

2.2 Việc giảng dạy về Việt Nam ở tỉnh Nakhon Phanom 45

Trang 7

2.2.1 Giai đoạn trước năm 1946 45

2.2.2 Giai đoạn từ năm 1946 đến năm 2001 51

2.2.3 Giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2013 63

Tiểu kết 70

CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIẢNG DẠY VỀ VIỆT NAM Ở TỈNH NAKHON PHANOM 71

3.1.Tác động đến chính sách của chính phủ Thái Lan đối với Việt kiều 71

3.2.Tác động đến việc bảo tồn văn hóa Việt Nam trong cộng đồng Việt kiều 77

Tiểu kết 84

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 97

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

Thư viện điện tử

Biên bản ghi nhớ

Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á

Đô la Mỹ

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: So sánh cấp học và môn học của Việt kiều và của Thái Lan giai đoạn từ 1946 đến 1975 57

Trang 10

DANH MỤC CÁC ẢNH

Ảnh 2.1: Một số ảnh tài liệu môn hình ho ̣c của cô giáo Đào Thị Tâm chép tay từ tư liệu Việt Nam ngày 25 tháng 4 năm 1965, ở tỉnh Nakhon

Phanom 55

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thái Lan và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 6/8/1976 nhưng thực tế, mối quan hệ quốc tế giữa hai nước đã có từ lâu trong lịch sử Chúng ta có thể thấy một số lượng không nhỏ người Việt Nam di cư sang Thái Lan, ở lại định cư lâu dài và được gọi là “Việt kiều” Theo các nhà nghiên cứu, cho đến nay đã có hai làn sóng di cư của người Việt Nam sang Thái Lan Làn sóng di cư thứ nhất diễn ra trước thời kỳ Ayutthaya và nhóm này được gọi là “Việt kiều cũ” hoặc “Việt cũ” Làn sóng di cư thứ hai diễn ra sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, nhóm này được gọi là “Việt kiều mới” hoặc “Việt mới” Hiện nay, Việt kiều sinh sống ở nhiều vùng ở Thái Lan nhưng tập trung lớn nhất ở vùng Đông Bắc, trong đó năm tỉnh có Việt Kiều đông nhất là Nakhon Phanom, Udonthani, Nongkhai, Sakon Nakhon và Mukdahan

Cộng đồng Việt kiều ở Thái Lan vẫn cố gắng lưu giữ các giá trị truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam Những lớp học giảng dạy về Việt Nam trên nhiều lĩnh vực khác nhau đã được mở trong nhiều chục năm qua Không chỉ cộng đồng người Việt Nam mở các lớp giảng dạy về Việt Nam, những năm gần đây chương trình giảng dạy về Việt Nam cũng đã được đưa vào giảng dạy tại một số trường đại học ở Đông Bắc Thái Lan Học về Việt Nam không chỉ

có con em Việt kiều và hiện nay, nhiều người Thái Lan cũng rất quan tâm tìm hiểu về Việt Nam

Trong lịch sử, Việt kiều đã có những đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của Thái Lan cũng như quan hệ Thái Lan - Việt Nam Quan hệ Thái Lan-Việt Nam gần đây được nâng cấp lên tầm chiến lược cũng có một phần đóng

Trang 12

góp không nhỏ của cộng đồng Việt kiều ở Thái Lan nói chung và vùng Đông Bắc nói riêng

Vì vậy, việc giảng dạy về Việt Nam ở Đông Bắc Thái Lan, cụ thể là tỉnh Nakon Phanom là việc làm cần thiết để hiểu hơn về các nỗ lực giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người của người Việt Nam trong bối cảnh phải cố gắng hòa nhập với cuộc sống, nền văn hóa bản địa cũng như, và về những nỗ lực đóng góp của cộng đồng Việt kiều ở Thái Lan cho mối quan hệ Thái Lan - Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu về người Việt Nam ở Thái Lan và mối quan hệ Thái Lan-Việt Nam

Ở Việt Nam, có các nghiên cứu tiêu biểu như Quá trình phát triển quan

hệ Việt Nam - Thái Lan (Hoàng Khắc Nam, 2004, Luận án Tiến sĩ, trường Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn) chỉ ra cơ sở hình thành và bức tranh khái quát về mối quan hệ Việt Nam-Thái Lan trong lịch sử, đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ này trên 2 giai đoạn từ 1976 đến 1989 trong bối cảnh quốc tế, khu vực nhiều phức tạp và quan hệ Việt-Thái từ năm 1989 đến năm 2000 với

xu thế hoà dịu và hợp tác song phương cùng phát triển

Công trình Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm 90 (Nguyễn

Tương Lai, 2001, Khoa Học Xã Hội, Hà Nội) nghiên cứu và phân tích mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1999 Tác giả đã phân tích những khía cạnh có liên quan đến mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong chinh sách đối với Mỹ, Nhật Bản, đối với khu vực Đông Nam Á; những vấn đề cơ bản tác động đến mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan; chính sách của các nước Đông Nam Á trong việc hình thành một ASEAN có tác động tới quan hệ Việt Nam – Thái Lan Ngoài ra tác giả phân tích và đánh giá thực trạng 10 năm của mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan trên

Trang 13

các lĩnh vực chính trị, ngoại giao và kinh tế Nêu lên những khả năng và động thái phát triển của mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm tới, trong đó lưu ý những tác động do chính sách của các nước lớn có thể xảy ra đối với mối quan hệ này

Công trình Người Việt ở Thái Lan (Peter A.Poole, 1973, Đại học

Cornell U.S.A.) nghiên cứu về lịch sử Việt kiều ở khu vực Đông Bắc Thái Lan từ năm 1946; làm rõ thái độ và chính sách của chính phủ Thái Lan đối với cộng đồng Việt kiều; miêu tả cuộc sống của Việt kiều ở Thái Lan Ngoài

ra, công trình cũng đưa ra số lượng Việt kiều sinh sống ở Thái Lan

Bài viết Có một phong trào giáo dục “Gia đình học hiệu” trong cộng

đồng người Thái gốc Việt ở Thái Lan (Nguyễn Công Khanh, 2009, Nghiên

cứu Đông Nam Á, số 11) bàn về một loại hình giáo dục độc đáo, đó là “Gia đình học hiệu” hay “Tiểu học vụ” Việt kiều tự nguyện làm giáo viên dạy học trong cộng đồng Ngoài ra tác giả còn miêu tả phong trào yêu nước qua cách dạy và học của họ

Bài viết Đời sống văn hóa của cộng động người Việt Nam tại Đông

Bắc Thái Lan (Nguyễn Hồng Quang, 2007, Viện nghiên cứu Đông Nam Á)

chỉ ra những nét chính, đặc điểm, lịch sử vùng Đông Bắc ở Thái Lan cho đến việc di cư đầu tiên của Việt kiều sang Thái Lan từ thời Ayutthaya Trong đó, tỉnh Nakhon Phanom là một tỉnh đông đảo người Việt tập trung sinh sống

Bài viết Vài nét về quan hệ Việt Nam - Thái Lan những năm đầu thế kỷ

XXI (Nguyễn Thị Hoàn, 2005, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1) và bài viết 30

năm quan hệ hợp tác Việt Nam - Thái Lan (Nguyễn Thị Hoàn, 2005, Nghiên

cứu Đông Nam Á, số 5) bàn về những tiến bộ trong các lĩnh vực về hợp tác kinh tế, văn hóa-khoa học kỹ thuật, chính trị-ngoại giao và các lĩnh vực khác giữa hai nước trong suốt 30 năm

Trang 14

Ở Thái Lan, nghiên cứu về các chủ đề trên đã được thực hiện từ khá

sớm Các nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến bao gồm: Luận văn Việt Kiều đối

với sự ổn định trong nước (Tiếng Thái Lan - Wichan Champisi và Suvit

Supun, 1976, Odien Store, Băng cốc) nghiên cứu về chính sách chính phủ Thái Lan đối với cuộc sống của Việt kiều tại Thái Lan, như các chính sách hạn chế khu vực sinh sống của Việt kiều, vấn đề hội hương Tác giả cũng đề cập đến vấn đề người Việt dạy con cháu yêu nước và yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như việc mở trường dạy học trong cộng đồng

Công trìnhViệt Kiều (Tiếng Thái Lan - Khachatphai Burutsaphat, 1978,

Jareanvit, Băng cốc) nghiên cứu về lịch sử Việt kiều di cư sang Thái Lan, trong đó miêu tả đến những cuộc sống, các vấn đề của Việt kiều, mức độ kiểm tra người Việt di cư, trách nhiệm của miền Bắc – miền Nam Việt Nam đối với Việt kiều, cho đến vấn đề Việt kiều hồi hương, giải quyết các vấn đề người Việt ở lại tại Thái Lan và vấn đề với mối quan hệ với Việt Nam Ngoài

ra tác giả còn làm rõ số lượng Việt kiều sang Thái Lan Đó là lý do cuốn sách của tác giả được nhiều người tham khảo

Luận văn The development of Vietnamese refugee policy in Thailand,

1945-1992 (Gun Sirikul, 1993, Master Degree of Arts, Department of Social

Policy and Planning Graduate School, Institute of Social Technology, Bangkok) nghiên cứu các chính sách đối với Việt kiều trong năm 1945 đến

1992 của chính phủ Thái Lan Nghiên cứu đã phân tích hệ thống sự phát triển Việt kiều năm 1945 đến 1992 và chính sách của chính phủ Thái Lan trong từng giai đoạn cụ thể

Công trình Quan hệ Thái Lan-Việt Nam đầu Triều đại Rattanakosin

theo quan điểm của nhà nhiên cứu (นักวิชาการ) Việt Nam (Thanyatip Sripana,

1998, Asia Paritat 19) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa Xiêm – Việt Nam

Trang 15

trong thời Rattanakosin, đặc biệt là quan hệ buôn bán giữa hai nước từ thế kỷ XII

Công trình Bác Hồ đối với chiến lược giải phóng ở tỉnh Nakhon

Phanom (Thunwa Jaithieng, 2001, Quỹ Chinakul vì sự phát triển người dân

trên hai bên sông Mê Kông, Nakhon Phanom) đề cập về cuộc sống của Hồ Chí Minh khi sống ở Nakhon Phanom với công cuộc giải phóng Việt Nam, đặc biệt là chiến lược của Hồ Chí Minh để huấn luyện thanh niên trở thành lực lượng quan trọng làm cách mạng khi ở Na Choc

Luận văn thạc sĩ The policy of the Pibulsonggram regime regarding

Vietnamese refugees in Thailand 1948-1957 (Thananan Boonwanna, 2002,

Master of Arts in History, Department of History Faculty of Arts, Chulalongkron University, Bangkok) đã nghiên cứu chính sách chính phủ Plaek Phibunsongkhram những năm 1948-1957 đối với Việt kiều trong bối cảnh chính phủ Thái có chính sách thân Mỹ Luận văn cũng miêu tả cuộc sống khó khăn của Việt kiều trên đất Thái Lan, đặc biệt là vấn đề nhập quốc tịch Thái

Công trình Lịch sử huyện Thadphanom (Tiếng Thái Lan - Pavit

Kumprom, 2003, Quản lý địa phương tỉnh Nakhon Phanom, Nakhon Phanom)

đã miêu tả bối cảnh của huyện Thadphanom tại tỉnh Nakhon Phanom, trong

đó nhấn mạnh đến cộng đồng 800 người Việt kiều tại huyện và quá trình di cư của họ

Công trình Viet Kieu in Thailand in Thai-Vietnamese Relationship

(Thanyatip Sripana and Trinh Dieu Thin, 2005, Institute of Asian Studies Chulalongkorn University, Siboon computer Thailand) đã nghiên cứu quá trình nhập cư của cộng đồng người Việt Nam từ vương triều Ayutthaya vào vương Quốc Thái Lan đến nay, phong trào yêu nước của người Việt, chính sách của chính phủ Thái Lan đối với Việt kiều, vấn đề hồi hương, vấn

Trang 16

đề hòa nhập của Việt kiều hồi hương vào xã hội Việt Nam, vấn đề bảo tồn văn hóa của cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan nói chung và ở tỉnh

Nakhon Phanom nói riêng

Cuốn sách Encyclopedia of Ethnic Group in Thailand: Vietnamese

(Sophana Srichampa, 2005, Research Institute for Languages and Cultures of Asia EkpimThai, Bangkok) nghiên cứu về bối cảnh di cư của người Việt, cách sinh sống của người Thái gốc Việt qua các thế hệ Công trình cũng đã giới thiệu về nghề nghiệp, đời sống xã hội, ngôn ngữ, ẩm thực, tín ngưỡng tôn giáo của người Thái gốc Việt ở vùng Đông Bắc Thái Lan

Những nghiên cứu vừa kể trên đây là những tư liệu vô cùng quý báu đối với việc thực hiện luận văn này Tuy nhiên, trên thực tế, những nghiên cứu đó mới chủ yếu đề cập đến quan hệ Việt Nam-Thái Lan, đến Việt kiều với mối quan hệ Việt Nam-Thái Lan, đến chính sách của chính phủ Thái Lan đối với Việt kiều hay đời sống của Việt kiều (chính trị, văn hóa, kinh tế…) ở vùng Đông Bắc Thái Lan chứ chưa nghiên cứu một cách có hệ thống việc giảng dạy về Việt Nam của Việ kiều ở tỉnh Nakhon Phanom Vì vậy, việc nghiên cứu về việc giảng dạy về Việt Nam ở Đông Bắc Thái Lan, cụ thể là ở tỉnh Nakhon Phanom là rất cần thiết để hiểu hơn nữa về cộng đồng người Việt Nam ở Thái Lan

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ vấn đề giảng dạy về Việt Nam

ở tỉnh Nakhon Phanom, Thái Lan

4 Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc giảng dạy về Việt Nam ở tỉnh Nakhon Phanom Sở dĩ chúng tôi chọn tỉnh Nakhon Phanom làm địa bàn nghiên cứu là vì ngay từ làn sóng di cư đầu tiên của người Việt Nam sang

Trang 17

Thái Lan, tỉnh Nakhon Phanom là nơi có số lượng người Việt Nam đến định

cư nhiều nhất và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng hoạt động cách mạng ở đây Điều quan trọng hơn, việc giảng dạy về Việt Nam ở tỉnh Nakhon Phanom cũng ra đời sớm và có quy mô khá rộng lớn

Nhiệm vụ:

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra ở trên, luận văn có nhiệm vụ phải hoàn thành các nội dung nghiên cứu sau: (1) tìm hiểu về Việt kiều và việc giảng dạy về Việt Nam của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan giai đoạn từ 1946 đến 2013; (2) nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến việc giảng dạy về Việt Nam ở tỉnh Nakhon Phanom; và (3) Đánh giá tác động của việc giảng dạy về Việt Nam ở tỉnh Nakhon Phanom

Phạm vi:

Không gian cụ thể mà luận văn nghiên cứu là tỉnh Nakhon Phanom trong bối cảnh khu vực Đông Bắc Thái Lan

Thời gian nghiên cứu chủ yếu là từ trước năm 1946 (khi một làn sóng

di cư mới của Việt người Việt Nam đến Thái Lan) đến năm 2013 Vấn đề Việt kiều và việc giảng dạy của Việt kiều trước năm 1946 cũng được nghiên cứu để làm rõ hơn giai đoạn nghiên cứu sau

Các nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu người Việt Nam, người Thái Lan cũng như thế giới về quan hệ Thái Lan-Việt Nam, về Việt Kiều ở Thái Lan nói chung và khu vực Đông Bắc nói riêng

Trang 18

Tài liệu, số liệu, đánh giá mà tác giả luận văn thu thập được trong quá

trình đi thực tế tại tỉnh Nakhon Phanom

6 Phương pháp tiếp cận, nghiên cứu

Luận văn được thực hiện với việc sử dụng các phương pháp tiếp cận

chính như phương pháp sử học, phương pháp chính trị học và quan hệ quốc

tế

Phương pháp sử học được sử dụng để tìm hiểu quá trình di cư của người Việt Nam sang Đông Bắc Thái Lan nói chung và tỉnh Nakhon Phanom nói riêng; việc giảng dạy về Việt Nam qua từng thời kỳ…

Phương pháp chính trị học và quan hệ quốc tế được sử dụng để tìm hiểu về chính sách của chính phủ Thái Lan đối với Việt kiều quốc gia này và quan hệ Thái Lan-Việt Nam…

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu bao gồm phân

tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học

7 Đóng góp của đề tài

Đề tài hy vọng sẽ có những đóng góp chủ yếu như sau:

Làm rõ tình hình và việc giảng dạy về Việt Nam ở vùng Đông Bắc Thái Lan nói chung và tỉnh Nakhon Phanom nói riêng

Đóng góp thêm cho các nghiên cứu về Việt kiều ở Thái Lan

Là tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu thêm về việc giảng dạy về Việt Nam ở Thái Lan, Việt kiều ở Thái Lan, chính sách của chính phủ

Thái Lan đối với Việt kiều và quan hệ Thái Lan-Việt Nam

Trang 19

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương như sau:

Trang 20

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VIỆT KIỀU

Ở VÙNG ĐÔNG BẮC THÁI LAN

1.1 Vài nét về tỉnh Nakhon Phanom 1

Tỉnh Nakhon Phanom nằm trong vùng Đông Bắc của Thái Lan với diện tích khoảng 5.512,7 km2, cách Bangkok khoảng 740 km Tỉnh có sông Mekong chảy qua với chiều dài khoảng 153 km Phía Bắc của tỉnh giáp huyện Seka và tỉnh Nong Khai, phía Đông giáp tỉnh Khammouane (Lào), phía Nam giáp với huyện Don Luang và huyện Wa Yai của tỉnh Mukdahan, phía Tây giáp các huyện Kusuma, Am Nuay và Muong của tỉnh Sakon Nakhon

Về lịch sử, tỉnh Nakhon Phanom có nghĩa là thành phố nằm trong núi

Xưa kia, tỉnh Nakhon Phanom là cố đô của vương quốc Srikhottaboon (Phật lịch thứ 12) Trong phật lịch thứ 18, Srikhottaboon nằm trong quyền của đế chế Lan Chang ở Pak Huay (bên trái đối diện Tha Uthen, nằm phía Bắc tỉnh Nakhon Phanom) sau đó chuyển sang đóng đô tại Huay Sri Mung ven bên trái của sông Mekong (Cố đô Thakhek hiện nay) Năm 1754, tên gọi mới được đặt

là Mukkharanakhon sau khi vua Nakaranurak nắm quyền Vào thời vua Rama

I, tỉnh này được đặt tên là Nakhon Phanom

Về địa giới hành chính và dân số, năm 2009, tỉnh Nakhon Phanom

được chia thành 12 huyện (Muang Nakhon Phanom, Tha Uthen, That Phanom, Na Kae, Ban Peang, Pla Pak, Sri Songkhram, Ranu Nakhon, Na Wa, Phon Sawan, Na Thom, Wang Yang) với 97 xã và 1.123 làng với tổng số dân

là 704,768 người

1 Xem ข้อมูลบรรยายสรุปจังหวัดนครพนม ป 2555, http://103.28.101.10/briefprovince/filedoc/48000000.pdf, xem

25/2/2014 Các thông tin cụ thể về tỉnh Nakhon Phanom có thể xem tại

http://www.nakhonphanom.go.th/nakhonphanom/dataprovince.php

Trang 21

Về kinh tế, trong năm 2009, thu nhập bình quân của người dân tỉnh

Nakhon Phanom là 41.377, 24 Baht/năm (khoảng 1.270 USD), đứng thứ 15 trong số các tỉnh Đông Bắc và đứng thứ 62 trong số các tỉnh và thành phố của

cả nước Nông nghiệp chiếm 72.07% cơ cấu kinh tế của tỉnh với các sản phẩm nông nghiệp quan trọng như gạo, cao su, sắn, dứa Ngoài ra, tỉnh có quan hệ kinh tế với Lào, nhập khẩu các sản phẩm dệt may, gỗ, máy móc, và xuất khẩu các mặt hàng như nước giải khát, thép, sản phẩm nông nghiệp, hàng thủ công Về lao động, trong thời gian trước, nhiều người đi xuất khẩu lao động tại Trung Đông, nhưng hiện nay họ sang lao động ở Singapore và Đài Loan Lao động trong nước làm tại các khu công nghiệp như nhân viên sản xuất, xây dựng, và nông nghiệp Chính sách của tỉnh là thúc đẩy “kinh tế biên giới” với việc thành lập khu vực phi thuế quan, và là trung tâm phân phối sản phẩm Tỉnh ủng hộ doanh nghệp đầu tư trong nước và nước láng giềng

Về dân tộc và văn hóa, tỉnh Nakhon Phanom là một tỉnh sát sông

Mekong, vì thế văn hóa của tỉnh là sự kết hợp văn hóa Lào-Thái Lan với 7 dân tộc chủ đạo như Thái-Lào, Phu Thái, Nho, Thái Số (Thái Ka Cho), Thái

Ka Lueng, Thái Kha, và Thái Sec Ngoài ra còn có cộng đồng người Việt (với khoảng 10.000 người với 1.600 gia đình) và người Hoa Các dân tộc có quan

hệ chặt chẽ với nhau Bản sắc văn hóa của họ vẫn tồn tại đến nay

Tỉnh Nakhon Phanom có các lễ truyến thống từ ngày xưa, hầu hết các

lễ hội liên quan đến tôn giáo và cuộc sống của người dân như: lễ buộc tay để cầu may, lễ thắp hương chùa Pha Than Pha Nom, lễ té nước, máu của người Phú Thái Văn hóa truyền thống của họ cũng giống như tỉnh khác ở Đông Bắc như Tết Thái Lan (tết té nước) vào tháng 5 theo lịch Thái Lan

Tỉnh Nakhon Phanom có 95% dân số theo đạo Phật 3,9% theo Thiên

Chúa giáo, còn các tôn giáo khác chiếm 1,1% dân số Về giáo dục, năm 2010,

tỉnh Nakhon Phanom có tất cả các trường 447 trường học các cấp, trong đó có

Trang 22

2 trường đại học lớn là Trường Đại học Nakhon Phanom và Trường Đại học Ramkhamhaeng

Về du lịch, Nakhon Phanom phát triển du lịch lịch sử, tôn giáo, nghệ

thuật, văn hóa, thiên nhiên, và ủng hộ du lịch trên sông Mekong với các hoạt động như thăm Pha Than Phanom (Chùa Phanom), đi thuyền trên sông để ngắm cảnh hoặc sang Lào, Chợ Đông Dương, Nhà thờ Nong Seang, bào tàng nhà Hồ Chí Minh, Làng hữu nghị Thái-Việt

1.2.Về cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan

1.2.1 Giai đoạn trước năm 1946

Những từ “Duôn Kàu (người Việt cũ)” và “Duôn Mại (người Việt mới)” hoặc “Duôn Ộp Pạ Dốp” đã xuất hiện sau khi người Việt Nam di cư tới Thái Lan trong chiến tranh thế giới thứ II Những thuật ngữ này để phân loại nhóm và thời gian khác nhau của người Việt di cư vào Thái Lan Như vậy, theo pháp luật Thái Lan, “Duôn Mại” hoặc người Việt di cư sau chiến tranh thế giới thứ II gọi là “Duôn Ôp Pa Dốp” Nhưng người Việt Nam đã di cư từ thời Ayutthaya đến trước chiến tranh thế giới thứ II gọi là “Duôn Kàu”.2

“Duôn Kàu (người Việt cũ)” đã di cư tới Xiêm từ triều đại Ayutthaya nhưng hiện nay không còn những truyền thống của người Việt Nam nữa, vì văn hóa của họ đã thay đổi và đồng hóa với người bản địa Thái Lan Nhóm này sống trong khu vực miền trung của Thái Lan, như Bangkok, Kanchanaburi, Chanthaburi, Ayutthaya Sau đó có một nhóm di cư vào Đông Bắc trong cuối thế kỷ XIX và một nhóm nữa di cư đầu thế kỷ XX Nhóm này theo đạo Thiên Chúa và một số người theo đạo Phật (An nam)”.3

Một nguyên nhân quan trọng khiến người Việt tới vùng Đông Bắc Xiêm thời kỳ này là do Vua Rama IV là người có đầu óc canh tân đất nước,

2 Thanyatip Sripana và Trinh Dieu Thin (2005), Viet Kieu inThailand in Thai-Vietnamese Relationship,

Siboon computer, Bangkok, tr 3

3 Thanyatip Sripana và Trinh Dieu Thin (2005), Tài liệu đã dẫn, tr 3

Trang 23

có chủ trương khai phá mở mang vùng Đông Bắc Chủ trương này đã tạo thuận lợi lớn cho người Việt Nam nhập cư vào vùng này và những người đến đây chủ yếu từ các tỉnh miền trung Việt Nam như Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi Hầu hết người dân khu vực này đều gặp nhiều khó khăn trong vấn đề nông nghiệp Như vậy, chỉ đến những năm giữa thế kỷ 19 mới hình thành những cộng đồng người Việt đông đảo đầu tiên tại Xiêm Họ được đón nhận và nhà nước Xiêm tạo khá nhiều điều kiện thuận lợi cho việc định cư ban đầu Thành phần người Việt di cư đến Đông Bắc Xiêm lúc này chủ yếu là những người theo Đạo Thiên chúa, ước tính có khoảng 4000 người sang định cư ở Nakhon Phanom và Sakon Nakhon Những người Việt ở đây

họ gọi nhau là “người Việt thời Tự Đức” Họ tập trung đông nhất ở huyện Thare, tỉnh Sakhon Nakhon Thare là một huyện nằm cách trung tâm thành phố Sakon Nakhon khoảng 20km, có hồ Nọng Hản lớn thứ 3 của Xiêm nên có điều kiện thuận lợi cho người Việt sinh sống bằng nghề đánh bắt cá Họ đã dựng nhà thờ Thiên chúa (Nhà thờ Thare) ngay gần hồ Nọng Hản.4 Người Việt Nam theo đạo Thiên chúa ở Đông Bắc Thái Lan sống chủ yếu ở Tha re, Nong Seang, tỉnh Nakhon Phanom Họ đã chia khu vực ở với người theo đạo Phật, nhưng không phân ra với nhau”.5

Cũng trong thế kỷ XIX, đặc biệt là kể từ triều vua Minh Mạng (1820 - 1841) đến khi Pháp xâm chiếm Bắc kỳ, do những quan lại phản đồng người Việt ngược đãi đối với các giáo dân nên một số người đã phải chạy sang Thái lánh nạn vì ở đây chính quyền bao dung hơn, một số người đã chạy sang tỉnh Chan Thaburi (nằm ở phía Đông Nam Thái Lan) bằng đường biển và một số

đi bằng đường bộ qua Lào và Đông Bắc Thái Lan Một số đông người Việt vì

lý do về kinh tế, và do đàn áp của thực dân Pháp cũng vượt sông Mekong

4 Nguyễn Hồng Quang (2007), Đời sống văn hóa của cộng động người Việt Nam tại Đông Bắc Thái Lan,

Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, tr 19

5 Thanyatip Sripana và Trinh Dieu Thin (2005), Sách đã dẫn, tr 21

Trang 24

sang Thái Lan làm ăn và lánh nạn Vào đầu năm 1881, các nhà truyền giáo Gia tô người Pháp ở bắc Việt Nam và Lào đã mở rộng các hoạt động của họ sang Đông Bắc Thái Lan Do thiếu giáo hội nên họ hướng ảnh hưởng của mình vào các làng, đặc biệt ở một số làng như Thare (Sakon Nakhon) và Thabo (Nong Khai) Hầu như toàn bộ dân ở đây đã theo công giáo, trong đó phần đông là người Việt

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỳ XX (vào triều đại vua Rama V của Xiêm 1868-1910), sau khi hoàn tất việc xâm chiếm, thực dân Pháp đã tăng cường sự đô hộ đối với nhân dân Việt Nam Pháp đã đưa ra nhiều chính sách sưu thuế nặng nề và bắt phu dịch đã khiến hàng loạt người Việt Nam rời bỏ làng quê ra đi tìm nơi đất mới làm ăn sinh sống Một số người dân miền Trung Việt Nam đã sang Lào, một số đã vượt sông Mekong sang Đông Bắc Thái Lan Bên cạnh đó, phong trào chống chủ nghĩa thực dân diễn ra trên khắp Việt Nam đặc biệt là ở miền Trung như Phong trào Cần Vương, sau đó

là phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân Đầu thế kỷ XX, các phong trào trên lắng xuống, số đông các nhà yêu nước cùng những người có tâm huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc đã chạy sang cư trú ở Xiêm để tìm đường cứu nước vì nơi đây an toàn hơn cả Vì vậy, lại có một đợt nhập cư mới vào Xiêm giai đoạn này.6

Nhìn chung trong thời kỳ này, những nhà hoạt động yêu nước Việt Nam bắt đầu coi Xiêm là mảnh đất tương đối an toàn để thoát khỏi sự đàn áp của thực dân Pháp Lúc này, người Thái cũng có sự giúp đỡ và khuyến khích người Việt vì họ cho rằng nếu các quốc gia ở Đông Dương thoát khỏi sự đô

hộ của người Pháp, tình hình sẽ bớt rối ren hơn Tiêu biểu trong thời gian này

có nhà yêu nước Phan Châu Trinh, người sáng lập ra phong trào Đông Kinh

6 Nguyễn Hồng Quang (2007), Tài liệu đã dẫn, tr 19-21

Trang 25

nghĩa Thục, đã lựa chọn Xiêm làm địa bàn trú chân để gửi thanh niên Việt Nam sang Trung Quốc và Nhật Bản Đặc biệt, những hoạt động yêu nước của chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1928-1929 lan rộng khắp ở các tỉnh Đông Bắc Xiêm Nơi dừng chân hoạt động lâu nhất của Người là bản Na Choc, tỉnh Nakhon Phanom (hiện nay di tích này đã được hai nhà nước phát triển thành Bảo tàng

Hồ Chí Minh tại Thái Lan) Cũng tại bản Na Choc đã hình thành ngôi làng hữu nghị Thái-Việt đầu tiên tại Thái Lan (Ban Mit Ta Pap Thái-Việt) do chính tay nguyên thủ hai nhà nước Thái Lan và Việt Nam cắt băng khánh thành vào năm 2004 Udon Thani hiện nay là tỉnh có nhiều người Việt đang sinh sống, trước khi chủ tịch Hồ Chí Minh đến đã có chi bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội do Đặng Thúc Hứa xây dựng với một vài cơ sở như “Nhà hợp tác ở Noỏng Bùa”, “Trại cưa Noỏng Ổn” Đây là nơi các thanh niên chưa có gia đình riêng sống tập trung để học tập văn hóa, chính trị, luyên tập quân sự, tăng gia sản xuất Trong đó, nhiệm vụ lao động sản xuất

để đảm bảo cuộc sống và học tập, rèn luyện phẩm chất năng lực đạo đức chính trị đều quan trọng như nhau Bác Hồ đã hoạt động cách mạng, đào tạo con em Việt kiều, vận động dựng trường học và tham gia xây dựng chùa Vắt Pho tại Udon Thani

Tình hình Việt kiều ở Thái Lan lúc này được Hồ Chí Minh khái quát trong thư gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18/2/1930:

1 Nhận được chỉ thị Quốc tế cộng sản về công tác ở Đông Dương, tôi

đã từ giã nước Đức vào tháng 6 và đến Xiêm vào thàng 7 năm 1928 Tôi đã làm việc với một số người An Nam ở đấy tới tháng 11 năm

1929

2 Những điều kiện ở Xiêm:

a, Dân cư rất phân tán, hầu hết theo đạo Phật, một số ít theo đạo Thiên Chúa

Trang 26

b, Chừng 10 hay 15 nghìn người An Nam di cư ở Xiêm và Lào Hơn một nửa trong số họ đã nhiều thế hệ theo Đạo Thiên chúa.7

c, Kinh tế - không có công nghiệp, nông nghiệp tự nhiên và lạc hậu, điều đó dẫn đến chỗ đồng ruộng bỏ hoang; người ta có thể sử dụng bao nhiêu đất tùy ý, không hạn chế, không đánh thuế Thương nghiệp ở trong tay người Trung Quốc

d, Thiên nhiên - nửa năm nóng nửa năm lạnh, và ở mùa đông này, tất cả mọi thứ giao thông liên lạc đều không thực hiện được

Như vậy, qua một số những sự kiện trên điển hình trên đã chứng tỏ được từ những năm 30 trở về trước (của thế kỷ XX) ở một số tỉnh Đông Bắc Thái Lan đã hình thành nên những cộng đồng người Việt Những người Việt thế hệ này được những người Việt tản cư từ sau năm 1945 là “người Việt cũ”, người Thái gọi là “Duôn Kàu (ญวนเก่า)” cũng tương đương với tiếng Việt

là Việt cũ Ngược lại người Việt sống lâu đời trên đất Thái gọi những người Việt mới di cư sang đất Thái là “Duôn Mại (ญวนใหม่)”, phần lớn họ đều là những người yêu nước ủng hộ hết mình cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi áp bức bất công của thực dân Pháp.8

Hiệp ước Xiêm-Pháp năm 1893 có tác động lớn đến sự hiện diện cũng như đời sống của Việt kiều ở Xiêm Ngày 3/10 năm 1893, Chính phủ Xiêm buộc phải ký với Pháp Hiệp ước Pháp-Xiêm (หนังสือสัญญากรุงสยามกับกรุงฝรั่งเศส) mà người Thái gọi là Hiệp ước bất bình đẳng Theo hiệp ước này, Xiêm mất phần đất bên bờ tả ngạn sông Mekong cho Pháp, kèm theo quy ước thỏa thuận lấy khu đất chạy dọc sông Mekong dài 25km bên bờ Thái Lan làm khu phi quân sự và khu mậu dịch tự do Hiệp ước có điều khoản quy định những người dưới quyền bảo hộ của Pháp được tự do đi lại và buôn bán trong khu

7 Nguyễn Hồng Quang (2007), Tài liệu đã dẫn, tr 21-22

8 Nguyễn Hồng Quang (2007), Tài liệu đã dẫn, tr 20-21

Trang 27

vực này Điều kiện này tạo nên cơ hội tốt để người Việt đang sinh sống ở Lào đi lại hoạt động buôn bán trao đổi hàng hóa Qua giao lưu buôn bán, người Việt đã quen với đường xá, khí hậu và phong tục ở đây, cảm thấy có thể có một cuộc sống ổn định hơn nên rất nhiều người đã xin cư trú lại trên đất Xiêm mà không trở về Lào nữa Đến giai đoạn đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945, người Việt nhập cư vào Thái Lan vẫn diễn ra rải rác, nhưng lại mang màu sắc chính trị rõ nét hơn, không đơn thuần là kinh tế Đó là vào các thời kỳ hoạt động sôi nổi của tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, bắt đầu đã xuất hiện các hoạt động yêu nước người Việt Nam ở Xiêm mang tính chất mặt trận Việt kiều như “Hội hợp tác” và “Hội thân ái”, đặc trưng cho tinh thần yêu nước của Việt kiều Xiêm thời kỳ này

Sau những năm 30 của thế kỷ XX, người Việt yêu nước sang vùng Đông Bắc Thái Lan hoạt động cách mạng tìm đường cứu nước đánh đuổi thực dân Pháp, đặc biệt là sau phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930 Sau khi bị thực dân Pháp đàn áp ở các tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh, rất nhiều trí thức yêu nước đã sang Xiêm lánh nạn tìm đường cứu nước Nhiều đảng viên đã phải trốn sang Xiêm Việt kiều ở Xiêm đã thành lập Đông Dương viện trợ Bộ

do ông Ngô Tuân phụ trách Các tổ chức Công Hội đỏ, Nông hội đỏ, Cứu tế

đỏ, Hội Phụ nữ, Hội Thanh niên được thành lập Ở trong nước, mặt trận Việt minh được thành lập tháng 5 năm 1941 Năm 1943 Ban vận động Việt kiều được thành lập Các hội tương trợ đã nhanh chóng phát triển thu hút đông đảo Việt kiều ở Thái Lan

Đầu năm 1945, các cơ sở Việt kiều cứu quốc hai bên bờ sông Mekong họp đại hội đại biểu tại Nakon Phanom Đại hội đã điểm lại tình hình và đề ra mấy chủ trương lớn như:

- Đẩy mạnh phong trào cứu quốc trong Việt kiều ở Thái Lan và Lào;

- Ra báo Độc lập làm cơ quan tuyên truyền của Tổng hội;

Trang 28

- Chuẩn bị điều kiện xây dựng lực lượng vũ trang đón thời cơ mới.9Trong tuyên ngôn của Đại hội có đoạn viết “Kiều bào! Hãy mau mau đoàn kết lại dưới lời hiệu triệu của Việt kiều cứu quốc Tổng hội ở Thái để thực hiện nhiệm vụ vẻ vang của mình đối với nòi, với nước, để khỏi thẹn với Việt kiều ở Tàu, họ đang đoàn kết vào mặt trận Việt Minh, trực tiếp giúp cho đội quân du kích miền Bắc kỳ ” Đại hội Việt kiều cứu quốc ở Nakhon Phanom là mốc đánh dấu cao trào cứu quốc của Việt kiều ở Thái Lan, là bước phát triển mới của cuộc vận động cứu quốc trong Việt kiều Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan đã có quan hệ tốt với Phong trào Thái Tự do (Sê ri Thai) của những người yêu nước Thái Lan đang hoạt động mạnh mẽ trên khắp Thái Lan Một trong những biểu hiện tinh thần đoàn kết là sự ra đời của chiến khu Sakon Ngày 28 tháng 3 năm 1945, “Chiến khu Sakon” được thành lập “Việt Nam Độc lập quân” ở chiến khu Sakon là đội quân gồm 140 chiến

sĩ Việt kiều Đầu xuân năm 1946, năm đầu tiên nước nhà được độc lập, Hồ chủ tịch đã gửi thư chúc tết Việt kiều ở Lào và Thái Lan, trong đó có đoạn:

“Cùng kiều bào yêu quý ở Lào và Xiêm Các đồng bào mình tuy trú nơi đất khách quê người, nhưng lòng vẫn yêu mến cố hương, Tổ quốc Còn Tổ quốc

và chính phủ cũng luôn nhớ tới các đồng bào, như bố mẹ thương những người con đi xa vắng Đó là nhân tâm thiên lý…” Với riêng Kiều bào ở Thái Lan, Bác viết: “Nay nước nhà đã giành được chính quyền, đồng bào ở Xiêm cũng hăng hái ủng hộ nền độc lập và cuộc kháng chiến của Nam Bộ, năm

1946 tới đây sẽ là năm mà dân tộc ta phải chiến đấu quyết liệt để giành độc lập hoàn toàn Tôi mong rằng đồng bào ở Xiêm trong năm mới sẽ góp vào công cuộc cứu quốc một cách nhiệt liệt cùng toàn thể đồng bào ở trong nước

và ở Hải ngoại Tôi chúc đồng bào ở Xiêm một năm đầy hạnh phúc và vượt

9 Nguyễn Hồng Quang (2007), Tài liệu đã dẫn, tr 22-24

Trang 29

mọi khó khăn, góp phần một cách có hiệu quả vào việc giữ vững nền độc lập của Tổ quốc ”.10

Vào mùa hè năm 1945, thủ đô Phnôm Pênh đã xảy ra những cuộc xung đột giữa người Việt Nam và Campuchia ngoài đường phố Nhiều người Việt

đã chạy trốn sang Xiêm Riệp và Battambang (khi đó 2 tỉnh này còn nằm dưới quyền kiềm soát của Thái Lan) Lúc đó, các quan chức Thái biết rằng đại bộ phận người Việt này chống lại ách thống trị của Pháp ở Đông Dương nên đã khuyến khích họ đến định cư ở các tỉnh kề với Thái Lan

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1946 đến năm 2013

Đợt di cư lớn nhất của người Việt vào vùng Đông Bắc Thái Lan diễn ra vào năm 1946 Người Thái gọi những người Việt nhập cư vào đất Thái lúc này gọi là “Khôn Duôn Ộp Pạ Dốp” Nghĩa là người Việt tản cư hay người Việt di cư, hoặc còn gọi với tên khác là “Duôn Mại”, nghĩa là người Việt mới

Thực dân Pháp vạch kế hoạch tái chiếm Đông Dương nằm trong mưu

đồ khôi phục các thuộc địa đã bị mất Tháng 3 năm 1946, Thực dân Pháp mở đầu chính sách vũ trang xâm lược Lào với mục tiêu chính là các vùng Trung Lào và Thượng Lào Trong đợt tấn công tái chiếm đầu tiên này, thực dân Pháp đã đàn áp khốc liệt lực lượng vũ trang của quân đội Lào, thường dân Lào và lực lượng quân Việt kiều cứu Quốc.11

Đầu năm 1946, Pháp chiếm Savanakhet khiến cho người Việt, lực lượng cứu nước Lào và lực lượng du kích Việt Nam phải chạy qua sông Mekong sang Thái Lan Một nhóm khác sang Sepon Viêng Chăn bị xâm lược ngày 25 tháng 4 năm 1946 Những người Việt Nam đã phải chạy qua sông Mekong tới đất Thái Lan ở huyện Sri Chieng Mai (Nong Khai) Lực lượng

10 Nguyễn Hồng Quang (2007), Tài liệu đã dẫn , tr 23-24

11 Nguyễn Hồng Quang (2007), Tài liệu đã dẫn, tr 24-25

Trang 30

cứu nước Lào và Việt Nam ở trên đất Lào tại nhiều tỉnh khác nhau nằm dọc

bờ sông Mekong từ Chiang San, Nong Khai, Nakhon Phanom, Mukdahan, Ubonratchathani.12

Nhiều cư dân người Việt đang sinh sống ở Lào đã đứng về phía Lào Ixara (người Lào tự do) chống lại các lực lượng Pháp Họ đã chiến đấu rất dũng cảm và cuối cùng đã bị thất bại Họ đã phải chạy trốn khỏi Lào, vượt sông Mekong sang đất Thái Đại bộ phận những người Việt từ Lào sang Thái đều có quê quán ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam Họ ở ngay những tỉnh đối diện với Lào như Nong Khai và Udon Thani (đối diện với Viêng Chăn), Nakhon Phanom và Sakon Nakhon (đối diện với Khammuon-Thakhek), Ubon Ratchathani (đối diện với Pakse)

Theo con số thống kê của cảnh sát Thái Lan thì số lượng người Việt di

cư từ Campuchia và Lào sang Thái Lan giai đoạn này khoảng 46.700 người với khoảng 13.000 gia đình, từ tháng 3 năm 1946 Phần lớn người Việt Nam sống ở miền Đông Bắc Thái Lan.13

Sau khi đánh chiếm Thakhek vào tháng 3 năm 1946, thực dân Pháp tiếp tục đàn áp quân và dân thủ đô Viêng Chăn, hoàn toàn chiếm Viêng Chăn vào ngày 25 tháng 4 năm 1946 Binh đoàn chiến đấu Lào và bộ đội Việt kiều cứu quốc đã hành quân vượt dòng Mekong sang bờ Thái Lan, tập kết tại các điểm chốt ở Chiang Saen, Nong Khai, Sakon Nakhon, Nakhon Phanom, Mukdahan, và Ubonratchathani để tiếp tục chiến đấu Trong những ngày tập kết ở đây, bộ đội Lào và quân dân Việt kiều đã nhiều lần vượt sông về Viêng Chăn chiến đấu, quyết liệt giáng trả lực lượng quân Pháp Trận tấn công huyện Tha Bo tỉnh Nong Khai, thực dân Pháp đã có quân đổ bộ lên bờ sông bên phía Thái Lan tiến sau vào trong thị trấn bắn phá tàn sát người dân trong

12 Thanyatip Sripana và Trinh Dieu Thin (2005), Tài liệu đã dẫn, tr 25

13 Nguyễn Hồng Quang (2007), Tài liệu đã dẫn, tr 25

Trang 31

phố, giết hại hàng loạt người Việt Nam vừa tản cư sang, trong đó có nhiều người già và trẻ em Để tránh những tổn thất xảy ra đối với tính mạng của toàn thể nhân dân Thakhek, ngày 17 tháng 3 năm 1946 Ủy ban bảo vệ tỉnh Thakhek ra quyết định di chuyển bộ phận nhân dân Thakhek bao gồm phụ nữ, người già và trẻ em, bất kể là người Lào hay người Việt hay người nước ngoài khác đều phải ra khỏi thành phố, vượt sông Mekong, tản cư sang phía bên kia đất Thái Lan thuộc tỉnh Nakhon Phanom.14

Tháng 9 năm 1946, người Việt Nam thành lập cơ quan đại diện của chính phủ Việt Nam tại Băng Cốc Đây là sự kiện rất quan trọng của phong trào yêu nước và cứu quốc Việt Nam hoặc Việt kiều Thái Lan đặc biệt là khu vực Đông Bắc Theo lời chủ tịch Hồ Chí Minh: “thà hy sinh chứ nhất quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” Đại diện của Việt kiều khóa năm 1947 - 1948 ở Thái Lan đã hợp tác với quân đội Lào và Việt Nam chống lại thực dân Pháp15 và nhận dược sự trợ giúp từ phong trào Tự do Thái Lan và chính phủ Thái Do đó, họ có thể sử dụng một phần của các huyện và tỉnh Nakhon Phanom, Nong Khai, Sakon Nakhon như huyện Sri Chiang Mai, Phon Visai, Bung Kan, Tha Bo, Sawang Dindang

Tuy nhiên, trong vòng 10 năm từ 1948-1957, dưới sự cầm quyền của Pleak Phibulsongkhram, Thái Lan đã đặt ra những chính sách nhập cư nghiêm ngặt với Việt kiều với 4 lần đưa ra chính sách cụ thể vào các năm 1948,1950,

1953 và 1954 Những bước đi này của chính phủ Thái Lan đều liên quan đến việc Thái Lan ngày càng xích lại gần hơn đối với Mỹ để chống lại chủ nghĩa cộng sản, với quan điểm cho rằng Việt kiều ở Thái Lan có sự hỗ trợ lớn đối với chính phủ của Hồ Chủ tịch, là mầm họa cộng sản trên đất Thái

14 Nguyễn Hồng Quang (2007), Tài liệu đã dẫn, tr 26

15 Thanyatip Sripana và Trinh Dieu Thin (2005), sách đã dẫn, tr 29

Trang 32

Đầu năm 1954 khi chiến dịch Điện Biên Phủ gần đến thắng lợi, chính quyền Thái Lan càng thẳng tay đàn áp Việt kiều mạnh mẽ hơn Hàng loạt cuộc bắt bớ Việt kiều diễn ra, nhà tù Bang Khoang và La hu thot (Lỗi nhẹ) tiếp tục giam giữ tù chính trị Việt kiều ngày một đông Ngoài ra chính phủ Thái Lan còn tuyên bố sẽ liên hệ với chính quyền miền Nam Việt Nam để đưa Việt kiều về miền Nam theo kế hoạch đã định Tuyên bố này đã gây ra cuộc đàn áp trong suốt 3 năm buộc Việt kiều về miền Nam Việt Nam, trước khi chính phủ Tướng Plaek Phibunsongkhram bị đảo chính tháng 8 năm 1957 Chính phủ mới của Thái Lan tuyên bố thả tất cả các tù nhân ở cả hai nhà tù vừa nêu, kể cả tù chính trị của Koong Tuad Kon Khau Muang (Ban nhập cảnh) mà họ bắt giam từ trước Tuy nhiên, những người được thả chỉ được phép trở lại địa phương nơi họ cư trú trước khi bị bắt, hàng tháng phải trình diện với chính quyền địa phương và ở đó để chờ sự đàm phán hồi hương mà hai chính phủ đang nỗ lực tìm kiếm giải pháp để việc hồi hương thành hiện thực.16

Về số lượng người Việt Nam di cư tại Thái Lan, năm 1956, lần đầu tiên chính phủ Thái Lan đã kiểm tra số lượng người Việt Nam di cư, bao gồm 46.600 người như sau:17

16 Trịnh Diệu Thìn và Thanyathip Sripana(2007), sách đã dẫn, tr 212-213

17 Khachatphai Burutsaphat (1978), Việt Kiều, Jareanvit, Bangkok, tr 19

Trang 33

Số lượng này có thể nhiều hơn, vì chính phủ mới kiểm tra 5 tỉnh Ngoài

ra, còn người Việt Nam di cư sinh sống ở các khu vực khác

Đến giữa thập niên 50 của thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện vấn đề hồi hương18

Việt kiều ở Thái Lan về nước Năm 1955 sau khi thành lập khối

SEATO, Mỹ tổ chức một hội nghị liên tịch Mỹ - Thái và chính quyền miền Nam Việt Nam trong đó có đề cập đến vấn đề cộng đồng người Việt Nam tị nạn chiến tranh Đông Dương ở Thái Lan Theo nhận định của Mỹ, lúc này cộng đồng người Việt khối tản cư ở vùng Đông Bắc Thái Lan là một khối đoàn kết yêu nước vững chắc, cực kỳ nguy hại đối với nền an ninh vùng biên giới phía Đông và Đông Bắc Thái Lan Đồng tình với nhận định trên và để lấy

lòng Mỹ, chính phủ của Thủ tướng Plaek đồng thời tuyên bố: “Chiến tranh

Đông Dương kết thúc, cộng đồng người Việt Nam tản cư ở Đông Bắc Thái Lan là những người lánh nạn chiến tranh, nay chưa có điều kiện về miền Bắc Việt Nam thì phải trở về miền Nam Việt Nam” Về phía chính quyền miền

Nam Việt Nam, họ cũng tỏ ra tích cực tiếp nhận việc đưa Việt kiều Thái Lan

về miền Nam Việt Nam Họ chưa chuẩn bị ngân sách, phương tiện đón tiếp và thành lập Ủy ban đón tiếp Việt kiều Trên thực tế tình hình chính trị miền Nam Việt Nam lúc này về cơ bản đã thay đổi, người Mỹ đã thực sự thay thế

vị trí của người Pháp Do đó việc dàn xếp để chính quyền miền Nam Việt Nam tiếp nhận số đông Việt kiều lần này, ngoài lý do khẳng định việc chính

18 Về mặt ngữ nghĩa, theo Từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển Ngôn ngữ - Viện Khoa học xã hội Việt Nam,

xuất bản năm 1992, tr 459) “Hồi hương” nghĩa là: “Trở về, hoặc cho trở về quê hương, xứ sở, sau nhiều năm sinh sống ở nơi xa, ở nước ngoài, thí dụ: Viềt Kiều hồi hương” Nghĩa hiển ngôn là như vậy, song trên thực

tế, cụm từ này đối với cộng đồng Việt Kiều Thái Lan kể từ cuối thập niên 1950 nó được dùng như một thuật ngữ chính trị để chỉ việc cộng đồng người Việt khối tản cư ở vùng Đông Bắc Thái Lan được tổ chức đưa trở

về quê hương sau cuộc đàm phán giữa hai Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và Thái Lan, kết thúc trước sự chứng kiến của Hội Chữ thập đỏ quốc tế tháng 8 năm 1959 Kể từ đó cụm từ “hồi hương” gần như chỉ dùng để chỉ cuộc hồi hương lịch hương sử này, đồng thời chỉ đặc điểm cộng đồng những người tham gia cuộc hồi hương

đó, mà không dùng phổ biến đối với các cuộc trở về quê hương của người Việt Nam ở hải ngoại nói chung, cho dù họ về thăm, hay về ở hẳn quê nhà Những cuộc trở về theo kiểu sau này thường chỉ gọi là Việt Kiều

về nước, hay Việt Kiều về ở hẳn quê nhà, không gọi là Việt Kiều hồi hương [Trịnh Diệu Thìn và Thanyathip Sripana; 214]

Trang 34

phủ Thái Lan công nhận chính quyền miền Nam ra, người Mỹ còn hy vọng sẽ

có thêm quân số tăng cường cho lực lượng quốc phòng của chính quyền miền Nam nhắm chống lại chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, nằm trong chiến lược chống cộng sản của Mỹ.19

Nói chung, việc gây sức ép nhằm đưa Việt kiều về miền Nam Việt Nam của chính phủ Thái Lan diễn ra suốt từ năm 1955 đến 1958 đều nằm trong giai đoạn các nhiệm kỳ Thủ tướng Thái Lan thân Mỹ Họ dựa vào chính sách chống cộng sản của Mỹ để thực thi đường lối kỳ thị, bài xích và đàn áp cộng đồng Việt kiều, nhằm vào Việt kiều khối tản cư là chính.20

Các nhân chứng đều có nhận định chung rằng, sự quyết liệt trong các chiến dịch bài xích, đàn áp Việt kiều xảy ra ở thời kỳ nào cũng như nhau, khác chăng chỉ ở biện pháp thi hành Riêng thời kỳ của Thủ tướng quân phiệt (Tướng) Sarit Thanarat thì tàn khốc hơn, chính quyền của ông đã lập ra trại tập trung Lat Bua Khao ở Nakhon Ratchasrima, những trại giam hết sức tồi tệ dùng để nhốt Việt kiều Những năm sau này khi cuộc hồi hương bị tạm hoãn,

đến thời kỳ của Thủ tướng Thanom còn mở thêm “trung tâm xét hỏi” ở thủ

đô Bangkok cũng dành riêng để tra hỏi Việt kiều bị bắt Dưới những hình thức bắt giam và tra xét này, sự kỳ thị, bài xích Việt kiều ngày đó được đẩy lên đỉnh điểm căng thẳng, đến nỗi một vài giới chức Thái Lan đương thời gọi

nó là thời kỳ của “hội chứng người Duôn”.21

Tuy nhiên, cuối cùng thì lối thoát cũng đã mở ra bằng cuộc đàm phán chính thức về vấn đề hồi hương cho cộng đồng người Việt Nam khối tản cư ở Thái Lan, lần đầu tiên được tổ chức tại thủ đô Rangon Myammar giữa Hội Chữ thập đỏ của hai nước Thái Lan và Việt Nam Xét ở góc độ chính trị và ngoại giao, về phía Thái Lan, thời gian qua tỏ ra không tán thành giải quyết

19 Trịnh Diệu Thìn và Thanyathip Sripana(2007), Sách đã dẫn, tr 217

20 Trịnh Diệu Thìn và Thanyathip Sripana(2007), Sách đã dẫn, tr 218

21 Trịnh Diệu Thìn và Thanyathip Sripana(2007), Sách đã dẫn, tr 219

Trang 35

vấn đề Việt kiều bằng đàm phán, không đơn thuần muốn đẩy Việt kiều về miền Nam Việt Nam, mà vì khúc mắc ở chỗ: nếu chính thức đàm phán với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là đồng nghĩa với việc chính phủ Thái Lan công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên phương diện ngoại giao Đó là điều hoàn toàn trái ngược với đường lối đối ngoại thân Mỹ mà chính phủ Thái Lan đang đeo đuổi Về phía chính phủ Việt Nam và cộng đồng Việt kiều ở Thái Lan, cuộc đàm phán thực hiện được coi như là một thắng lợi bước đầu về mặt chính trị và ngoại giao, sao bao nhiêu khó khăn vất

vả mới giành được.22

Ngày 14 tháng 8 năm 1959 tại Rangoon, Myanmar, “Thỏa thuận giữa Hội hồng thập tự Thái Lan và Hội hồng thập tự Việt Nam dân chủ cộng hòa” được ký kết Đây là cơ sở cho việc tổ chức hồi hương tự nguyện Việt kiều ở Thái Lan.23 Thành công lớn trước tiên đến với toàn thể Việt kiều Thái Lan, sau bao nỗ lực tìm kiếm nay đã có được bản Hiệp định hồi hương đầu tiên của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Nói là đầu tiên bởi không lâu sau

đó cũng có Hiệp định hồi hương cho Việt kiều Tân thế giới và Tân đảo, hai đảo phía Nam Thái Bình Dương nay là hai quốc gia Nouvelle Caledonia và Vanuatu Việt kiều ở hai nơi này có chuyến hồi hương về nước Việt Nam ngày 12 tháng 1 năm 1961 Như vậy, từ đây cụm từ “hồi hương” mang tính thuật ngữ dùng cho cộng đồng người Việt ở Thái Lan ra đời Ở một chừng mực nhất định nó đã góp phần làm thay đổi thân phận của một bộ phận không nhỏ Việt kiều Thái Lan đã hồi hương hiện đang sinh sống trên mọi miền Tổ quốc Việt Nam.24

22

Trịnh Diệu Thìn và Thanyathip Sripana(2007), Sách đã dẫn, tr 219-220

23 Phan Hữu Tuấn (2011), “Về cộng đồng người Việt nam tại Thái Lan” Tập chí Sự kiện & nhân vật nước ngoài, (số 11), trang 79

24 Trịnh Diệu Thìn và Thanyathip Sripana(2007), Sách đã dẫn, tr 223, 269

Trang 36

Cuối năm 1959 đầu năm 1960, sau khi có thông báo chính thức của Ủy ban hồi hương về việc đưa Việt kiều tản cư ở Thái Lan hồi hương theo Hiệp định đã ký ngày 14 tháng 8 năm 1959, Việt kiều Thái Lan chấp hành chủ trương chung của tổ chức Việt kiều, xác định cho mình tinh thần về nước là

để đóng góp công sức cho sự nghiệp xây dựng quê hương đất nước Để thực hiện điều này, mọi gia đình đã thu gom đồ nghề, và tranh thủ rèn luyện nâng cao tay nghề, mua sắm dụng cụ để khi về đến quê hương không trở thành gánh nặng cho chính phủ trong thời kỳ đầu khôi phục và phát triển kinh tế theo đường lối xã hội chủ nghĩa

Ngày đó, trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm nghề nghiệp cũng là yếu tố quan trọng giúp bộ phận tuyển dụng ở địa phương gặp nhiều thuận lợi trong việc tạo công ăn việc làm cho Việt kiều ở tuổi lao động mà số lượng tăng lên hàng tháng từ các chuyến tàu hồi hương Số công nhân có tay nghề cao trong công nghệ cơ khí máy móc được bổ sung vào các nhà máy ở địa phương, phần lớn được phục hồi sau hòa bình lập lại năm 1954

Một số Việt kiều tham gia vào các hợp tác xã, trở thành xã viên của hầu hết các hợp tác xã tiểu thủ công ở địa phương đồng thời đóng góp công cụ sản xuất vào hợp tác xã Hình thức góp vốn, góp công cụ sản xuất vào làm ăn tập thể trong các hợp tác xã loại nhỏ hay hợp tác xã cao cấp được Việt kiều Thái Lan hồi hương hưởng ứng và làm ăn có hiệu quả ngay từ những năm từ 1961

- 1963, là những năm phong trào thi đua lao động sản xuất, khôi phục và phát triển kinh tế theo đường lối xã hội chủ nghĩa phát triển rậm rộ nhất.25

Số lượng người Việt Nam di cư đăng ký về miền Bắc của Việt Nam năm 1959 gồm hơn 70.000 người, cụ thể như sau:26

25 Trịnh Diệu Thìn và Thanyathip Sripana(2007), Sách đã dẫn, tr 269-270

26 Khachatphai Burutsaphat (1978), Việt Kiều, Jareanvit, Bangkok, tr 19-20

Trang 37

Nakhon Phanom 22.198 người

1965, các tỉnh có người Việt Nam di cư như sau:

Tổng số người còn lại các tỉnh là 31.818, trong đó nam là 15.696 người,

nữ là 16.122 người Nguyên nhân có số lượng này là vì có một số nhóm người Việt Nam không đăng ký về nước Năm 1965, người Việt Nam nhập cư trái

Trang 38

phép từ Lào và Campuchia vào các tỉnh khác, bao gồm 8 tỉnh trên Vì thế số lượng người Việt Nam di cư đã đạt con số không dưới 50.000 người.27

Việt kiều hồi hương mới được 110 chuyến, gần một nửa, trên 4 vạn người thì ngày mùng 5 tháng 8 năm 1964 đế quốc Mỹ gây ra sự kiện Vịnh Bắc bộ, lấy cớ để ném bom miền Bắc nước Việt Nam Việc hồi hương Việt kiều Thái Lan phải đình chỉ.28

Theo sự chỉ đạo của Tổng hội Việt kiều, tất cả người Việt Nam bắt đầu khôi phục lại cuộc sống Thực ra người Việt Nam hầu như đã khép lại việc làm ăn, sinh sống để hồi hương sau biết bao năm mong ước Tổng hội kêu gọi

bà con đoàn kết thực hiện theo lời của Hồ Chí Minh “Đi cho người ta nhớ, ở cho người ta thương”, tiếp tục xây đắp tình hữu nghị Việt - Thái đời đời bền vững

Cán bộ Việt kiều lại phải lo ngay ổn định tinh thần và cuộc sống của Việt kiều, lo học tập cho các trẻ em thiếu nhi, cho trẻ em Việt kiều tuy vẫn sống ở Thái Lan nhưng vẫn biết được tiếng Việt, hiểu sử của dân tộc Việt Nam…

Tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, cuộc chiến tranh Nam càng thêm ác liệt Phong trào yêu nước Việt kiều tuy phải đi vào bí mật nhưng tinh thần yêu nước càng được nâng cao

Sang năm 1967, cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam càng thêm ác liệt Đế quốc Mỹ xúi giục chính quyền Thái Lan bắt một số Việt kiều đưa về miền Nam Hơn một năm sau, 99 Việt kiều và 2 trẻ em nhỏ tại Lad Bua Khảo

bị bắt về miền Nam Những người Việt bị tra tấn gần 8 năm đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi quân đội vào giải phóng Sài Gòn cùng các tù chính trị khác ở miền Nam phá nhà tù.29

27 Khachatphai Burutsaphat (1978), Việt Kiều, Jareanvit, Bangkok, tr 20

28 Trần Định Lưu(2004), Việt kiều Lào – Thái với Quê hương, Chính trị quốc gia, Hà nội, tr 184

29 Trần Định Lưu (2004), Việt kiều Lào – Thái với Quê hương, Chính trị quốc gia, Hà nội, tr 184-186

Trang 39

1.3 Đời sống văn hóa, kinh tế của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan

Về văn hóa, trong đời sống hàng ngày của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan, vẫn có nhiều gia đình sống theo phong tục văn hóa truyền thống của người Việt như giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt, ứng xử với nhau theo cách ứng xử cơ bản của gia đình người Việt như tôn trọng thứ bậc trong gia đình, kính trên nhường dưới, người con trai cả vẫn có vai trò lớn trong gia đình Việc thờ cúng tổ tiên và các ngày giỗ tết trong năm vẫn được tiến hành đầy đủ theo phong tục của người Việt Để tỏ lòng kính trọng đối với Hồ Chí Minh, nhiều gia đình vẫn thờ ảnh Người kết hợp trên bàn thờ tổ tiên Bàn thờ tổ tiên thường được đặt trang trọng giữa nhà hoặc trên phòng thờ riêng Trong các ngày lễ trọng đại, ngày tết Nguyên đán của dân tộc một số gia đình vẫn tổ chức đón mừng như ở Việt Nam Đặc biệt trong những ngày tết Nguyên đán Việt kiều thường mời bà con người Thái cùng tham dự, giao lưu văn hóa.30

Trong các phong tục văn hóa của người Việt ở Thái thì phong tục tang

ma là thể hiện rõ nét nhất trong việc bảo lưu giữ gìn văn hóa Việt (một phần

là vì người Thái bản địa sau khi có người thân qua đời họ thường làm lễ hỏa táng các nhà chùa) Đây là một trong những phong tục văn hóa được cho là còn đậm nét văn hóa Việt nhất Đám tang được Việt kiều tổ chức rất chu đáo

từ việc tổ chức khâm liệm đến mai táng Rất nhiều Việt kiều thế hệ thứ hai đã

ý thức việc làm của thế hệ đi trước họ cũng đã mất nhiều công sức để tìm tòi

và cách viết một bài điếu văn bằng tiếng Việt sao cho hoàn chỉnh.31

Về văn hóa ẩm thực, có thể nói rằng cộng đồng người Việt đã góp phần quảng bá trực tiếp văn hóa ẩm thực nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung đến với đất nước Thái Lan Người Việt ở Thái Lan đã mang được những tinh hoa trong văn hóa ẩm thực truyền thống của người Việt đến với “bếp ăn” của

30 Nguyễn Hồng Quang (2011), “Quá trình bảo lưu và hội nhập văn hóa của cộng đồng người Việt ở Đông

Bắc Thái Lan” Nghiên cứu Đông Nam Á, (số 5), tr 43

31 Nguyễn Hồng Quang (2011), Tài liệu đã dẫn, tr 43

Trang 40

người Thái Văn hóa ẩm thực của người Việt ở Đông Bắc không những được giữ gìn mà còn hấp dẫn đối với người dân trên khắp nước Thái Có thể kể đến một số món ăn chính còn tương đối thuần Việt hiện đang phổ biến rộng rãi ở Đông Bắc đã được gắn với tên Thái và được người Thái ưa chuộng như: Giò (Mủ gio หมูยอ), Nem nướng (Nẻm nương แหนมเนือง), Nem cuốn (Pò pía sột เปาะเปี๊ยะสด), Nem rán (Nẻm thót แหนมทอด), Chả tôm (Kung păn oi กุ้งพันอ้อย), Ruốc (Mủ dong หมูหยอง), Bánh chưng (Khao Tôm Mắt Duôn ข้าวต้มมัดญวน), Phở (Cuổi tiểu ก๋วยเตี๋ยว), Bánh cuốn (Khao kiệp pạc mo ข้าวเกรียบปากหม้อ), Bánh xèo (Khạ nổm bướng Duôn ขนมเบื้องญวน).32

Về xã hội, dưới thời thủ tướng Chatchai Chunhawan nắm quyền 1991) chính sách đối với người Việt Nam tản cư đã mềm dẻo hơn nhiều như

(1988-“Điều chỉnh lại chế độ cấp căn cước kiều dân (giấy Tàng đạo) và cho Việt kiều nhập quốc tịch Thái Lan” vì vậy người Việt cũng thêm tự tin, yên tâm ở lại sinh sống lâu dài trên đất Thái, chủ động hòa nhập vào xã hội Thái nhanh hơn.33

Về kinh tế, kể từ năm 1964, chương trình Việt kiều Thái Lan hồi hương

về nước bị đình lại Do nhiều nguyên nhân khác nhau một số đã không trở về Việt Nam được và ở lại đất Thái cho đến ngày hôm nay Họ xác định sẽ ở lại lâu dài trên đất Thái và bắt đầu tiếp tục học tiếng Thái để nhanh chóng hòa nhập với xã hội Thái, thuận lợi trong công việc làm ăn kinh doanh Họ cũng không bị ngăn cản khi muốn trở thành những công dân được mang quốc tịch Thái Đặc biệt, khi đã được cấp quốc tịch Thái thì yếu tố văn hóa Việt trong thế hệ này càng nhạt dần Muốn kinh doanh thành đạt, thì phải giỏi tiếng Thái, hiểu biết sâu về văn hóa bản địa nơi mình sinh sống Họ đã rất cố gắng trong Việc học tiếng Thái để hòa nhập vào xã hội Thái Thậm chí tự bản thân họ

32 Nguyễn Hồng Quang(2011), Tài liệu đã dẫn, tr 43-46

33 Nguyễn Hồng Quang (2011), Tài liệu đã dẫn, tr 46

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Văn Chương và Trấn Quốc Nam (2007), “Hoạt động yêu nước của người Việt ở Thái Lan trong mối quan hệ với cách mạng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX”. Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động yêu nước của người Việt ở Thái Lan trong mối quan hệ với cách mạng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Tác giả: Đặng Văn Chương và Trấn Quốc Nam
Năm: 2007
2. Nguyễn Công Khanh (2009), “Có một phong trào giáo dục “gia đình học hiệu” trong cộng đồng người Thái gốc Việt ở Thái Lan”. Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á , (số 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có một phong trào giáo dục “gia đình học hiệu” trong cộng đồng người Thái gốc Việt ở Thái Lan
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Năm: 2009
3. Nguyễn Thị Thanh Nga (2002), “Vài cảm nghĩ về người Việt sống ở Nakhon Phanom – Thái Lan”, Tạp chí Nghiên cưu Đông Nam Á, (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài cảm nghĩ về người Việt sống ở Nakhon Phanom – Thái Lan
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Nga
Năm: 2002
4. Nguyễn Hồng Quang (2011), “Quá trình bảo lưu và hội nhập văn hóa của cộng đồng người Việt ở Đông Bắc Thái Lan”. Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình bảo lưu và hội nhập văn hóa của cộng đồng người Việt ở Đông Bắc Thái Lan
Tác giả: Nguyễn Hồng Quang
Năm: 2011
5. Phan Hữu Tuấn (2011), “Về cộng đồng người Việt nam tại Thái Lan”. Tạp chí Sự kiện & nhân vật nước ngoài, (số 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cộng đồng người Việt nam tại Thái Lan
Tác giả: Phan Hữu Tuấn
Năm: 2011
6. Song Ha. “Báo chí Thái Lan: Di tích nhà bác Hồ ở Na-Khon-Pha-Nôm, Biểu tượng của tình hữu nghị Việt Nam – Thái Lan”. Báo Nhân dân, ngày 17 tháng 2 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí Thái Lan: Di tích nhà bác Hồ ở Na-Khon-Pha-Nôm, Biểu tượng của tình hữu nghị Việt Nam – Thái Lan
7. Trịnh Diệu Thìn (2007), “Cộng đồng người Việt ở Thái Lan (Quá trình hội nhập và bảo tồn văn hóa tộc người)”. Nghiên cưu Đông Nam Á, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng người Việt ở Thái Lan (Quá trình hội nhập và bảo tồn văn hóa tộc người)
Tác giả: Trịnh Diệu Thìn
Năm: 2007
8. Việt Nam hoan nghênh người Việt trở về quê hương. Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 6 tháng 6 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hoan nghênh người Việt trở về quê hương
9. Hoàng Khắc Nam (2004), Quá trình phát triển quan hệ Việt Nam – Thái Lan, Luận án Tiến sĩ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình phát triển quan hệ Việt Nam – Thái Lan
Tác giả: Hoàng Khắc Nam
Năm: 2004
10. Ngô Thị Khánh (2009), Mối quan hệ kinh tế và giao lưu văn hóa Việt - Thái trong lịch sử, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ kinh tế và giao lưu văn hóa Việt - Thái trong lịch sử
Tác giả: Ngô Thị Khánh
Năm: 2009
11. Nguyễn Bảo Chung (2008), Chính sách của Việt Nam đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong thời kỳ đổi mới, Luận án Tiến sĩ, Học Viện ngoại giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của Việt Nam đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Bảo Chung
Năm: 2008
12. Nguyễn Thị Hoàn (2005), 30 năm quan hệ hợp tác Việt Nam – Thái Lan, Nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: 30 năm quan hệ hợp tác Việt Nam – Thái Lan
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàn
Năm: 2005
13. Nguyễn Thị Hoàn (2005), Vài nét về quan hệ Việt Nam – Thái Lan những năm đầu thế kỷ XXI, Nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về quan hệ Việt Nam – Thái Lan những năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàn
Năm: 2005
14. Nguyễn Văn Khoan (1996), Thái Lan địa bàn liên lạc của cách mạng Việt Nam, Nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Lan địa bàn liên lạc của cách mạng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Khoan
Năm: 1996
15. Nguyễn Văn Khoan và Nguyễn Tiến (2003), Bác Hồ ở Xiêm (1928- 1029), Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ ở Xiêm (1928-1029)
Tác giả: Nguyễn Văn Khoan và Nguyễn Tiến
Năm: 2003
16. Nguyễn Tương Lai (2001), Quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong những năm 90, Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong những năm 90
Tác giả: Nguyễn Tương Lai
Năm: 2001
17. Nguyễn Hồng Quang (2007), Đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại Đông Bắc Thái Lan, Viện nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại Đông Bắc Thái Lan
Tác giả: Nguyễn Hồng Quang
Năm: 2007
18. Nhiệm vụ đường lối và phương châm của tổ chức cách mạng Việt Kiều từ năm 1945đến năm 1975 (1976), Ban Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm vụ đường lối và phương châm của tổ chức cách mạng Việt Kiều từ năm 1945đến năm 1975
Tác giả: Nhiệm vụ đường lối và phương châm của tổ chức cách mạng Việt Kiều từ năm 1945đến năm 1975
Năm: 1976
19. Peter A.Poole (1973), Người Việt ở Thái Lan,U.S.A.: trường Đại học Cornell Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Việt ở Thái Lan
Tác giả: Peter A. Poole
Nhà XB: trường Đại học Cornell
Năm: 1973
20. Silapakit Teekantikun (2005), “Cộng đồng người Việt ở Thái Lan dưới ảnh hưởng của văn hóa - xã hội Thái Lan trong giai đoạn hiện nay”.Tạp chí Cộng đồng ASEAN: Từ ý tưởng hiện thực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng người Việt ở Thái Lan dưới ảnh hưởng của văn hóa - xã hội Thái Lan trong giai đoạn hiện nay”
Tác giả: Silapakit Teekantikun
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: So sánh cấp học và môn học của Việt kiều và của Thái Lan giai - Việc giảng dạy về Việt Nam ở Đông Bắc Thái Lan - Trường hợp tỉnh Nakhon Phanom (giai đoạn 1946-2013
Bảng 2.1 So sánh cấp học và môn học của Việt kiều và của Thái Lan giai (Trang 62)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w