Mục đích nghiên cứu Dự án được thực hiện nhằm nghiên cứu xem học sinh HS của một số trường THPT trên địa bàn tỉnh An Giang hiểu biết như thế nào về điểm mù tư duy cũng như HS có biết đư
Trang 1ta gây ra Điểm mù tư duy thì ai cũng có, ít hay nhiều mà thôi Junot Diaz từng nói: “Tất cả chúng ta đều có một điểm mù và nó có hình dạng giống hệt chúng ta” Con mắt của chúng ta được tạo hóa sinh ra để nhìn ra ngoài, như để nhận xét
và đánh giá hành vi của người khác, và lỗ tai của chúng ta cũng thế chỉ để nghe
âm thanh từ bên ngoài như để nghe ngưới khác nói gì Vì thế, chúng ta rất ít khi biết chúng ta hành xử như thế nào và nói gì, do đó điểm mù của ta xuất hiện
Trong đó, lứa tuổi học sinh từ 15 đến 18 tuổi, độ tuổi vị thành niên đang sắp bước vào giai đoạn trưởng thành, tâm sinh lý các bạn đang phát triển, khá bồng bột, thích thể hiện, cãi lời ba mẹ hay làm theo ý của mình, rất dễ dẫn đến mất kiểm soát cảm xúc, do đó điểm mù tư duy của các bạn có thể rất lớn, rất đáng bận tâm "Nếu bạn kiểm soát được cái " Tôi" bạn sẽ kiểm soát được cảm xúc của mình" Khi ấy bạn dễ dàng nhận được phản hồi hoặc nhận xét tích cực giúp bạn nhìn thấy điểm mù của mình" (Giáo sư Trương Nguyệt Thành)
Nhận thức và kỹ năng của mỗi người góp phần quan trọng vào việc thu nhỏ điểm mù tư duy của họ Hiện nay, tuy có nhiều bài viết, bài nghiên cứu về điểm
mù tư duy trên các trang báo, mạng xã hội nhưng chưa có bài nghiên cứu nào đi sâu vào nhận thức của học sinh THPT, những kiến thức quan trọng có thể ảnh hưởng đến thành công sau này của các bạn Nhận thấy điều này, nhóm chúng tôi
quyết định thực hiện dự án nghiên cứu về Điểm mù tư duy và kĩ năng kiểm soát cảm xúc của học sinh THPT Bởi, chúng tôi nghĩ rằng nếu bạn kiểm soát được
cảm xúc của mình bạn sẽ kiểm soát được cái “Tôi” Khi ấy bạn dễ dàng nhận được phản hồi hay nhận xét tích cực giúp bạn nhìn thấy điểm mù của mình và dần dần khắc phục nó để hoàn thiện bản thân
Trang 2trang -2
2 Mục đích nghiên cứu
Dự án được thực hiện nhằm nghiên cứu xem học sinh (HS) của một số trường THPT trên địa bàn tỉnh An Giang hiểu biết như thế nào về điểm mù tư duy cũng như HS có biết được những kỹ năng kiểm soát cảm xúc hay không Đồng thời, dự án cũng khảo sát xem HS giữa các trường có đánh giá khác nhau hay không về điểm mù tư duy và mức độ quan trọng của những kỹ năng nhằm kiểm soát cảm xúc Từ đó tiến hành thực nghiệm, đề xuất một số giải pháp giúp HS có thể tự hình thành một số kỹ năng sống cần thiết để kiểm soát cảm xúc
3 Đối tượng nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu chọn ngẫu nhiên khoảng 200 học sinh trong ba khối lớp 10,11,12 ở 4 điểm trường (mỗi trường khoảng 50 học sinh) trên địa bàn tỉnh An Giang Trong đó, có hai điểm trường hệ GDPT và 2 điểm trường hệ GDTX
- Trường THPT Nguyễn Trung Trực (huyện Tri Tôn)
- Trường THPT Long Xuyên (thành phố Long Xuyên)
- Trung tâm giáo dục thường xuyên An Giang – gọi tắt là GDTX AG
- Trường trung cấp nghề Dân tộc nội trú An Giang (Khoa Văn Hóa – Hệ GDTX) - gọi tắt là GDTX.TT
4 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời cho các câu hỏi sau:
(1) Học sinh THPT và GDTX trên địa bàn tỉnh An Giang có biết gì về điểm
mù tư duy và những nguyên nhân cũng như cách khắc phục điểm mù tư duy, mối quan hệ giữa điểm mù tư duy với kỹ năng kiểm soát cảm xúc? Sự đánh giá đó có khác nhau hay không giữa HS các trường?
(2) Học sinh THPT và GDTX trên địa bàn tỉnh An Giang có biết cách kiểm soát cảm xúc của bản thân không? Các bạn thường dùng những cách thức gì để tự kiểm soát cảm xúc của bản thân?
(3) Học sinh giữa các trường THPT và GDTX trên địa bàn tỉnh An Giang
có cùng nguyên nhân gây mất kiểm soát cảm xúc không?
(4) Học sinh giữa các trường THPT và GDTX trên địa bàn tỉnh An Giang
có sự đánh giá khác nhau hay không về mức độ quan trọng của các kỹ năng giúp
HS kiểm soát cảm xúc?
(5) Nhà trường cần làm gì để hỗ trợ cho học sinh hình thành những kỹ năng kiểm soát cảm xúc và khắc phục điểm mù tư duy?
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng hai phiếu khảo sát
Trang 3trang -3
- Phương pháp thực nghiệm, phỏng vấn sâu
- Phương pháp thống kê toán học
Các phương pháp nghiên cứu sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể ở chương 2
5 Giả thuyết nghiên cứu
Đa số HS đều có hiểu biết nhưng chưa rõ ràng về điểm mù tư duy và điểm
mù tư duy của bản thân Sự đánh giá của HS các trường tham gia khảo sát tương đối đồng nhất do có cùng đặc điểm lứa tuổi, tâm lý
HS nhóm khảo sát có biết đến cách kiểm soát cảm xúc, nhưng chưa xác định được kỹ năng nào là cần thiết để kiểm soát cảm xúc HS các trường cũng nhận ra nguyên nhân gây nên sự mất kiếm soát cảm xúc của bản thân Sự lựa chọn nguyên nhân cũng ở mức tương đồng với nhau
HS giữa các trường có sự đánh giá tương đồng về mức độ quan trọng nói chung của các kỹ năng Tuy nhiên, có sự đánh giá khác biệt giữa HS các trường
về mức độ quan trọng của một số kỹ nằng
Nghiên cứu xác định được những nguyên nhân khiến HS không thể tự hình thành những kỹ năng kiểm soát cảm xúc và đề xuất một số giải pháp giúp HS có thể tự hình thành những kỹ năng sống cần thiết để kiểm soát cảm xúc cho HS THPT trên địa bàn tỉnh
Học sinh có cùng mong muốn được nhà trường hỗ trợ các hoạt động nhằm nâng cao kỹ năng kiểm soát cảm xúc và khắc phục điểm mù tư duy
Trang 4trang -4
NỘI DUNG Chương I Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1.1 Những vấn đề cơ bản về điểm mù tư duy
1.1.1 Khái niệm về điểm mù tư duy
Theo tâm lý học hành vi thì điểm mù tư duy là những hành vi, suy nghĩ, hành động cũng như hành xử của bạn mà những người chung quanh đều biết duy chỉ có bạn không có ý thức gì về nó Nói một cách khác bạn không thể thấy, nghe
và hiểu điều mà não bạn không có khả năng xử lý
1.1.2 Những biểu hiện của điểm mù tư duy
Với hành xử của một số người trong thời đại dịch đã bị lên án mạnh mẽ đó chính là điểm mù tư duy của họ Nhưng họ không cho rằng họ đã làm gì sai! Bạn cũng chứng kiến nhận thức và phản ứng về đại dịch này của các lãnh đạo, Tổng thống, Thủ tướng ở các nước trên thế giới và thấy được hậu quả của nó Nhưng trong đầu của các vị lãnh đạo này thì họ cho rằng suy nghĩ của họ là đúng
Có bài bình luận nêu lý do Ý đã lan dịch bệnh nhanh vì văn hóa xã hội của
Ý rất thân mật, ôm và hôn má là những xã giao bình thường Những hành xử này trở thành thói quen tự nhiên trong vô thức Và như thế rất khó điều chỉnh hành vi
cá nhân trong nhất thời Đó chính là điểm mù tư duy trong xã hội
1.1.3 Các nguyên nhân dẫn đến điểm mù tư duy
Bằng những kiến thức, kinh nghiệm, trải nghiệm hay những cảm xúc của
cá nhân khi đối diện với các vấn đề trong cuộc sống dần trở thành thói quen hay định kiến trong vô thức của mỗi người Tôi gọi kiểu tư duy đó là TƯ DUY KINH NGHIỆM Đây là lối tư duy đem lại thành công cho rất nhiều người, khi mà những kinh nghiệm giúp chúng ta trưởng thành và xử lý các sự việc xảy ra trong cuộc sống một cách nhanh chóng Tuy nhiên nó là thứ sinh ra những điểm mù trong tư duy của bạn Những điểm mù đó có thể phân loại như sau:
1.1.3.1 Mù kiến thức
Con người thường đánh giá quá cao vào kiến thức và khả năng của mình (Đọc thêm Hiệu ứng Dunning-Kruger) Khi kiến thức càng cao thì điểm mù càng lớn Vì qua những khó khăn chúng ta đã vượt qua, trong vô thức chúng ta sẽ hình thành suy nghĩ “mình biết hết” hay “mình làm được hết” Chúng ta sẽ “chết” khi mang tư duy đó trong người, khi chúng ta đem kinh nghiệm của mình áp dụng vào một vấn đề tương tự trong quá khứ, nhưng nó lại có nhiều khía cạnh khác mà chúng ta không nhận ra Khía cạnh ấy có thể là bối cảnh khác nhau, tính cách con người khác nhau,
1.1.3.2 Mù tin tưởng
Trang 5trang -5
Con người thường “nghe những gì muốn nghe, thấy những gì muốn thấy,
và hiểu những gì muốn hiểu’’ Những thông tin đối chọi hay không phù hợp với suy nghĩ hoặc sự tin tưởng của chúng ta sẽ bị loại bỏ Do đó sự thật đối với một người có thể khác với sự thật đối với người khác cho dù cùng một sự kiện
1.1.3.3 Mù cảm xúc
Cảm xúc làm mờ đi nhận thức của bạn Khi bắt gặp một điều gì đó mới mẻ, cái chúng ta nhìn thấy đầu tiên là tiêu cực thì não bộ chúng ta sẽ bị điều hướng theo sự tiêu cực ấy, nhắm chứng minh chúng ta là đúng Ví dụ khi mới gặp sếp của mình, thấy sếp nhuộm tóc bạch kim, chúng ta sẽ nghĩ người này chắc thuộc thành phần vớ vẩn, không ra gì Và trong một thời gian làm việc chúng ta sẽ quan sát những điểm tiêu cực của sếp để chứng minh suy nghĩ của mình là đúng mà không chịu nhìn nhận những khía cạnh tốt đẹp hơn từ ông sếp này Với các mối quan hệ, chúng ta có xu hướng chơi với những người có cùng tư duy quan điểm Với một tổ chức thì điều này là một nguy cơ rất lớn
1.1.4 Các kĩ năng cần có để khắc phục điểm mù tư duy
Trước hết nhận thức rằng bản thân mình có điểm mù tư duy do 95% thời gian não bộ của mình hoạt động một cách vô thức Hãy tập lấy một hoạt động trong vô thức như là hơi thở của bạn và thỉnh thoảng làm nó trở thành hoạt động
ý thức Để ý hơi thở của bạn: hít vào – thở ra – hít vào – thở ra
Tập bỏ dần quan niệm đúng – sai, thành công – thất bại, phải – quấy, tốt – xấu Đó chính là những sàn lọc hình thành các điểm mù tư duy Nhiều nơi ở Trung Đông có quan niệm đàn bà không nên lái xe hơi và bạn biết đấy quan niệm ấy ở
xã hội Việt Nam là không đúng Và ở Việt Nam quan niệm dạy con ‘Thương cho roi cho vọt’ thì lại là phạm pháp ở 65 nước trên thế giới trong đó có nước Mỹ
Tập kiểm soát cái ‘Tôi’ và hỏi bạn bè/đồng nghiệp phản hồi hay nhận xét
về mình Nếu bạn chiêm nghiệm trong cuộc sống của mình thì sẽ thấy đa phần các hối tiếc đều từ cái ‘Tôi’ của mình gây ra Do đó nếu bạn kiểm soát được cái
‘Tôi’ bạn kiểm soát được cảm xúc của mình Khi ấy bạn dễ dàng nhận được phản hồi hay nhận xét tích cực giúp bạn nhìn thấy điểm mù của mình Xã hội ngày nay trí tuệ cảm xúc ngày càng quan trọng
1.2 Cảm xúc & những kĩ năng kiểm soát cảm xúc
1.2.1 Khái niệm về cảm xúc
Cảm xúc là phản ứng, là sự rung động của con người trước tác động của yếu tố ngoại cảnh Nói một cách khác, một cái gì đó xảy ra trong môi trường của bạn và bộ não của bạn diễn giải nó Nếu nó được coi là một mối đe dọa, não sẽ tiết ra các hormone gây căng thẳng bao gồm adrenaline và cortisol Những điều này sẽ dẫn bạn đến cảm giác như sợ hãi, lo lắng và / hoặc tức giận Nếu não diễn
Trang 6trang -6
giải tình huống là bổ ích, nó sẽ giải phóng các hoóc môn khiến bạn cảm thấy tốt như oxytocin, dopamine và serotonin Bạn sẽ cảm thấy những cảm xúc như hạnh phúc, vui vẻ, hứng thú và / hoặc kích thích
1.2.2 Kĩ năng kiểm soát cảm xúc
Kỹ năng kiểm soát cảm xúc không phải là loại bỏ những cảm xúc của bản thân mà chính là học cách kiểm soát để làm chủ hành vi, thái độ của bản thân trong mọi tình huống dù rất tiêu cực Hiểu một cách đơn giản, kiểm soát cảm xúc
là đưa cảm xúc trở về trạng thái cân bằng thông qua nhiều phương diện như ngôn ngữ, hình thể
1.2.2.1 Điều chỉnh hành động của cơ thể
Khi rơi vào trường hợp tiêu cực, bạn có thể điều chỉnh các hoạt động của
cơ thể bằng cách thực hiện một vài động tác như:
– Hít thở sâu, thả lỏng cơ thể
– Mỉm cười
– Thay đổi tư thế đứng, ngồi sao cho thoải mái nhất
Như vậy, bạn sẽ có thể tập trung và suy nghĩ được nhiều hướng đi mới
1.2.2.2 Rèn luyện tư duy
Để rèn luyện được tư duy, trí tuệ, bạn cần phải luôn luôn nhìn mọi người, mọi vật bằng thái độ tích cực, vui tươi để tránh những cảm xúc tiêu cực nảy sinh Thay vì tìm những nhược điểm hay sai phạm của người khác, bạn có thể tìm những
ưu điểm của họ để tích lũy kinh nghiệm cho bản thân
Một ví dụ đơn giản rằng, khi bị cha mẹ hoặc sếp la mắng, chắc chắn cảm xúc của bạn sẽ bị chi phối Bạn sẽ trở nên cáu gắt, uất ức và có khả năng phản kháng lại Tuy nhiên, đó không phải điều nên làm Bạn cần giữ bình tĩnh và hãy nghĩ rằng, đây là cơ hội để bạn sửa chữa những yếu điểm của mình Đồng thời, sẽ giúp cho cha mẹ, sếp có cái nhìn tích cực về bạn
1.2.2.3 Kĩ năng khéo léo trong cách sử dụng ngôn từ
Sử dụng ngôn từ phù hợp, khéo léo không chỉ giúp bạn điều khiển cảm xúc của chính bản thân mình mà còn kiểm soát được cảm xúc của người tham gia trò chuyện Ngưng than vãn, không dùng những từ mang đến sự tiêu cực, mà thay vào đó, bạn nên dùng những từ ngữ mang tính động viên, khích lệ dành cho đối phương Đây chính là chìa khóa giúp bạn kiểm soát cảm xúc tốt hơn và nhìn nhận cuộc sống với góc nhìn tích cực hơn
1.2.2.4 Tự tin vào bản thân
Không ít trường hợp bạn bị bao vây bởi những buồn, hờn, tức giận chính là
vì thiếu tự tin Bạn cảm thấy bản thân không có năng lực, dung mạo hay hoạt ngôn
Trang 7trang -7
bằng người khác và bạn cảm thấy khó khăn, sợ hãi khi giải quyết vấn đề Vì thế,
tự tin ở bản thân mình là yếu tố quan trọng để bạn kiểm soát được cảm xúc
Để trở nên tự tin hơn, bạn cần phải rèn luyện những kỹ năng sau:
– Can đảm nhìn vào mắt người đối diện khi giao tiếp, không nên lảng tránh – Vượt qua sợ hãi và cố gắng làm mọi việc
– Hãy can đảm thử sức mọi trường hợp, lĩnh vực, tự tin khám phá những điều mới lạ
1.2.2.5 Cách kiểm soát cảm xúc tiêu cực
Có thể nói rằng, cảm xúc tiêu cực là kẻ thù lớn nhất cần loại bỏ nếu muốn kiểm soát cảm xúc tốt hơn Để làm được như thế, bạn cần:
– Không đổ lỗi cho người khác
– Can đảm nhân sai lầm và tìm cách giải quyết
– Không tính toán thiệt hơn
– Vứt bỏ những lời phàn nàn, chỉ trích và thay thế bằng những lời khen ngợi
– Suy nghĩ về mọi thứ một cách tích cực
Trang 8trang -8
Chương II Tổ chức & phương pháp nghiên cứu 2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng
2.1.1 Nghiên cứu đối tượng
Mỗi con người chúng ta từ sinh ra và lớn lên ai cũng cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động sống như sinh hoạt, nghỉ ngơi, sản xuất cũng như tận hưởng niềm vui, hương vị cuộc sống của mình Không gian đó chính
là môi trường xung quanh chúng ta – nơi chứa đựng toàn bộ các yếu tố tự nhiên
và xã hội ảnh hưởng đến đời sống và nhân cách, tâm lý của con người Ở mỗi giai đoạn phát triển của con người thì môi trường tác động đến nhân cách thông qua những giá trị vật chất và tinh thần khác nhau Lứa tuổi chịu sự tác động mạnh mẽ nhất của môi trường đến nhân cách và tâm lý là lứa tuổi học sinh THPT Đây là gian đoạn mà các bạn đang và đã phát triển về mặt tâm lý, đang trong thời kỳ tích lũy kiến thức, tu dưỡng đạo đức để chuẩn bị cho cuộc sống trưởng thành Môi trường xung quanh cho các bạn những điều kiện tốt nhất để phát triển, để hòa nhập và chung sống với cộng đồng với xã hội Ngay từ khi còn bé con người đã biết giao lưu với người lớn, với môi trường tự nhiên và xã hội dần dần nhân cách chúng ta được cải thiện Vì vậy, việc quan tâm đến HS ở lứa tuổi THPT là trách nhiệm không chỉ của gia đình, nhà trường mà của toàn xã hội Trong sự phát triển nguồn nhân lực cho đất nước đang đổi mới hiện nay, rõ ràng nổi lên yêu cầu cấp bách là nâng cao chất lượng người lao động, đào tạo nhân tài, đào tạo con người
có nhân cách phù hợp với xã hội mới HS là những con người mới, con người của thời đại, là những chủ nhân tương lai của đất nước vì vậy chúng ta cần tạo ra một môi trường tốt nhất cho HS phát triển Tuy nhiên, trước sự phát triển của cuộc sống hiện đại và sự chạy theo những giá trị vật chất, những tác động tiêu cực của
xã hội đã làm ảnh hưởng đến tâm lý, nhân cách, con người, của các bạn HS Đây
là một điều đáng lo ngại Cho nên chúng ta cần nắm vững những đặc điểm tâm lý của HS ở giai đoạn này Để từ đó định hướng tâm lý đúng đắn cho HS, đặc biệt là việc nhận thức đúng về bản thân là một trong những yếu tố cần thiết quyết định
sự thành công của mỗi người trong cuộc sống Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên được tính từ 15 đến 25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:
+ Thời kì từ 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên
+ Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên)
Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng, nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Đây là vấn đề khó khăn và
Trang 9trang -9
phức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có nghĩa là sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi
2.1.2 Đặc điểm của lứa tuổi học sinh trung học phổ thông
Những đặc điểm về nhận thức, trí tuệ
Ở tuổi HS THPT, quá trình nhận thức phát triển khá mạnh mẽ Trong đó: Tri giác đã đạt tới mức rất cao Khả năng quan sát chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn Học sinh nhạy cảm với thế giới xung quanh nhiều hơn Đặc biệt điều này cũng làm cho màu sắc tình cảm của lứa tuổi này trở nên phong phú, phức tạp hơn Tuy nhiên, quan sát ở lứa tuổi này cần phải có sự định hướng tích cực mọi người để kết quả quan sát trở nên có hệ thống, toàn diện hơn Ngưỡng tuyệt đối và ngưỡng sai biệt của những cảm giác nghe, nhìn, vận động… phát triển cao, năng lực cảm thụ hội họa âm nhạc, thể thao… phát triển mạnh
Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Đồng thời ghi nhớ trừu tượng, có ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt Nhiều học sinh sử dụng tốt phương pháp ghi nhớ, ghi chép khoa học, độc đáo trong lập dàn ý, tóm tắt cô đọng nội dung , Bên cạnh đó, có những học sinh xác định được điều gì cần nhớ ở mức
độ như thế nào thì vẫn còn nhiều HS ghi nhớ đại khái, chung chung
Hoạt động tư duy của HS THPT có sự thay đổi quan trọng Do cấu trúc và chứ năng của não phát triển, đồng thời do sự phát triển của các quá trình nhận thức cũng như ảnh hưởng của hoạt động học tập mà tư duy giai đoạn này có diễn tiến mới Học sinh có khả năn tư duy trừu tượng, tư duy lý luận Khả năng phân tích văn học, thuật toán, cảm thụ nghệ thuật, … phát triển hơn Khả năng lý luận chặt chẽ cũng nổi bật hơn Đó là những cơ sở để tác động và hình thành thế giới quan cho học sinh
Năng lực chú ý chủ định cũng phát triển Học sinh biết phân phối chú ý, tính lựa chọn của chú ý và tính ổn định cũng phát triển
Sự phát triển của tự ý thức là đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của HS THPT Học sinh thường tri giác đặc điểm cơ thể của bản thân Hình ảnh
về bản thân luôn được chú ý (quần áo, dáng vẻ, cử chỉ , ) Các bạn có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích cuộc sống và hoài bão của mình Chính vì vậy mà lứa tuổi này thường quan tâm sâu sắc đến đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng Sự tự ý thức của học sinh xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động – địa vị mới mẻ trong tập thể, những quan hệ mới với thế giới xung quanh đòi hỏi học sinh phải ý thức được đặc điểm nhân cách của mình Học sinh không chỉ dừng lại ở ý thức về cái tôi của bản thân
Trang 10trang -10
mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, tương lai Học sinh hiểu rõ về phẩm chất nhân cách của bản thân như tình yêu lao động, trách nhiệm, nghĩa vụ , Học sinh có thể đánh giá được cử chỉ, biểu hiện, thuộc tính riêng biệt, tổng thể của mình Vì vậy, học sinh hay ngầm so sánh bản thân với các bạn khác, đối chiếu
ý kiến của bản thân với người lớn thậm chí là có khả năng đánh giá người khác Việc tự phân tích, đánh giá có mục đích là một bước tiến triển tốt báo hiệu cho nhân cách đang trưởng thành Nhìn chung, sự tự ý thức, tự đánh giá của lứa tuổi này chưa ổn định và có nhiều biến chuyển Sự đấu tranh giữa cái tôi bản thân và cái tôi mơ ước cũng thường xảy ra vì kinh nghiệm sống của học sinh còn chưa nhiều
Ngoài ra, tính tự trọng hể hiện ở sự chấp nhận hay không chấp nhận bản thân của học sinh cũng phát triển Có hai xu hướng của tính tự trọng như sau:
• Tính tự trọng cao thể hiện ở chỗ đánh giá mình không thấp hơn người khác, có thái độ tích cực, đúng mức với bản thân và biết bảo vệ nhân cách của mình một cách phù hợp trong mọi hoàn cảnh
• Tính tự trọng thấp là luôn luôn không hài lòng, tự xem thường mình, không tin vào sức lực của mình Sự tự trọng thấp làm cho biểu tượng của con người về bản thân trở nên mâu thuẫn Có thể thấy tính tự trọng cao ở lứa tuổi này nhưng tính phê phán và sự phản tỉnh chưa cao
Đặc điểm hoạt động học tập
Hoạt động học tập ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông đòi hỏi tính năng động, tính độc lập, tự học, tự ý thức để hoàn thành việc học nhiều hơn Thái độ của học sinh đối với các môn học cũng bộc lộ rõ Hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp, bắt đầu hình thành và phát triển Thái độ học tập đã thúc đẩy sự phát triển tính chủ định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển của bản thân học sinh trong học tập
Đời sống tình cảm của học sinh trung học phổ thông
Sự trưởng thành về mặt cơ thể và nhận thức ngày càng được phát triển ở lứa tuổi này Song song đó là nhu cầu tự khẳng định mình khhi tham gia nhiều hoạt động xã hội, trong mối quan hệ gia đình ngày càng lớn Ở tuổi này, quan hệ với bạn bè, nhóm bạn chiếm vị trí to lớn Quan hệ bình đẳng, tự lập thay thế mạnh
mẽ quan hệ dựa dẫm vào cha mẹ, gia đình Sự tham gia vào nhóm bạn có nhiều
cá tính khác nhau cũng ảnh hưởng rõ rệt đến tình cảm của học sinh Bên cạnh đó, điểm nổi bật của tình cảm là nhu cầu về tình bạn tâm tình, sâu sắc của lứa tuổi này khá cao Vì thế làm nảy sinh yêu cầu cao đối với tình bạn: chân thành, trung thực, sẵn sàng giúp đỡ nhau … Trong quan hệ với bạn bè, các em có thể chân thành chia sẻ xúc cảm và đáp ứng lại xúc cảm của người khác (đồng cảm, an ủi, chia sẻ
Trang 112.1.3 Đặc điểm khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh trung học phổ thông
Sự hình thành và phát triển nhân cách của lứa tuổi này diễn ra khá mạnh
mẽ Những cảm xúc của học sinh nảy sinh và biến đổi liên tục trong quá trình tham gia học tập, quan hệ xã hội, bạn bè, Kiểm soát cảm xúc của học sinh là học sinh có khả năng làm chủ bản thân khi cảm xúc nảy sinh, biết cách giải tỏa cảm xúc một cách hiệu quả nhất và có khả năng kiểm soát cảm xúc của người khác
Cụ thể rằng, với sự nhận thức hậu quả cảm xúc gây ra cho bản thân và người khác khá cao, học sinh lứa tuổi này tỏ ra cân nhắc khi bộc lộ cảm xúc Học sinh biết tạo “vỏ bọc” che giấu cảm xúc theo mục đích nào đó Ví dụ như giấu nỗi buồn trong lòng bằng cách cười, giữ nét mặt bình tĩnh để người thân không đau lòng vì mình
Ngoài ra, học sinh có khả năng kiểm soát cảm xúc nếu nhận thức đúng suy nghĩ nảy sinh khi gặp tình huống đó lên người khác Ví dụ như bạn bè chọc ghẹo
“chân vòng kiềng nhìn thấy ghê” làm cho học sinh có suy nghĩ là cái chân thật đáng ghét, từ đó nảy sinh cảm xúc xấu hổ Do đó, tác động như thế nào đến suy nghĩ tự động này để thay đổi cảm xúc tiêu cực là điều mà học sinh chính là người cần nhận thức đúng và nhà giáo dục cấn tác động kịp thời Học sinh khá nhạy cảm bởi sự nhận xét, đánh giá của người xung quanh đến bản thân Học sinh tham gia nhiều hoạt động hơn vì vậy kinh nghiệm giao tiếp ngày càng được tích lũy Vì vậy, lứa tuổi này thể hiện khả năng biết lấy lòng người khác dựa trên việc biết làm chủ cảm xúc của mình, biết cảm cảm xúc của người khác, biết đánh giá người khác Học sinh thể hiện được tình cảm như vị tha, đồng cảm, chia sẻ cảm xúc với người khác hơn lứa tuổi trước đó Đây là dấu hiệu cho thấy bước đầu của một trong những khả năng kiểm soát cảm xúc của người khác
Ngoài ra, cảm xúc trong nhóm bạn khá lớn và xu hướng kết bạn tốt hay chưa tốt cũng chi phối ít nhiều đến cảm xúc của các bạn Vì vậy, giáo dục định
Trang 12trang -12
hướng giá trị cho học sinh ở lứa tuổi này là rất quan trọng Bên cạnh đó, khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh còn bao hàm cả cách giải tỏa cảm xúc Nghĩa là khi cảm xúc nào đó của họ sinh bị dồn nén, kĩm hãm quá lâu thì sẽ ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý Chẳng hạn như nếu các em muốn tâm sự về nỗi sợ hãi bị bạn
ở trường bắt nạt với cha mẹ, nhưng cha mẹ lại ít quan tâm, dần dần, các em thu mình lại, ức chế, không muốn học nữa Đặc biệt, học sinh biết cả huy động sự hỗ trợ của người khác khi gặp vướng mắc cảm xúc như chia sẻ cảm xúc với bạn bè, gia đình Tuy nhiên, đánh giá giá trị chưa cao làm cho học sinh dễ hành động, đưa
ra quyết định chủ quan, tiêu cực Vì vậy, một khi học sinh không kiểm soát được hành vi, thái độ cảm xúc thì học sinh sẽ dễ bị đánh mất bản thân, gây ra lỗi lầm không đáng có; không biết kiểm soát cảm xúc lại sinh ra tự kiêu, tự mãn với kiến thức và giá trị bản thân Từ đó, xuất hiện những điểm mù trong tư duy và phản ứng tiêu cực là tất yếu
Thông qua việc kiểm soát cảm xúc mà học sinh biết cách cư xử theo chuẩn mực giao tiếp cũng như thể hiện được hành vi đạo đức phù hợp Thế nên, thật cần thiết nếu bản thân học sinh việc nhận ra mình đang ở mức báo động nào của khả năng kiểm soát cảm xúc chính là rất quan trọng Để làm được việc này thì học sinh càng cần tự mình tích cực của bản thân khi giao tiếp và rèn luyện, nâng cao khả năng qua giáo dục
Khả năng kiểm soát cảm xúc được xem xét ở trên như là một phần nhỏ của trí tuệ cảm xúc theo mô hình thuần năng lực Khả năng này có thể thay đổi theo thời gian cùng với kinh nghiệm sống, sự phát triển nhận thức, của con người Vì vậy kiểm soát cảm xúc hoàn toàn có thể được nâng cao, cải thiện qua giáo dục bằng các biện pháp tác động
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành những kỹ năng kiểm soát cảm xúc của HS
Cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và tác động mạnh
mẽ đến hiệu quả công việc, học tập, khả năng sáng tạo của con người Thực tế đáng lo ngại là hiện tượng nhiều thanh thiếu niên do sự hiểu biết về bản thân chưa hoàn toàn – chính bản thân họ tự rơi vào điểm mù tư duy của bản thân để rồi thiếu kiểm soát cảm xúc trong các mối quan hệ dẫn đến mất cân bằng tâm lý, có hành
vi tiêu cực, sai lầm… Vấn đề này ngày càng phổ biến tại nhiều trường THPT trong tỉnh An Giang nói riêng và trên cả nước nói chung Đây cũng là cảnh báo cấp bách cho việc giáo dục hướng đến những khía cạnh liên quan đến yếu tố thuộc về cảm xúc trong quá trình hình thành nhân cách của HS Từ đó, chúng tôi nghiên cứu các yếu tố nào ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng này?
Trang 13trang -13
Về gia đình, gia đình chính là cái nôi hình thành và phát triển tâm lí của trẻ
HS là đối tượng vẫn còn lệ thuộc gia đình nên cảm xúc của các em bị chi phối mạnh mẽ bởi gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tình cảm yêu thương, chăm sóc của các thành viêntrong gia đình, cách giáo dục của ba mẹ đối với con cái
Về bản thân,cá nhân với tư cách là chủ thể quyết định cảm xúc của chính mình thì dù ảnh hưởng khá nhiều bởi xu hướng kết bạn - đặc trưng giao tiếp của lứa tuổi - thì không ai khác ngoài bản thân nhận ra cảm xúc và có mong muốn kiểm soát cảm xúc của chính mình Hay nói khác hơn, cá nhân phải tích cực trong việc kiểm soát cảm xúc của bản thân
Về nhà trường,một chương trình giáo dục không chỉ dạy tri thức mà còn phải rèn luyện nhân cách, đạo đức, tình cảm tốt đẹp Nếu nội dung dạy học lồng ghép kĩ năng sống, giáo dục cảm xúc kết hợp với nề nếp kỉ luật hợp lí, giáo viên gương mẫu, công bằng và giao tiếp sư phạm tốt thì HS cũng dễ dàng hơn trong việc có cảm xúc tích cực
Về xã hội, một môi trường sống tích cực sẽ cho bạn cảm xúc tích cực, ngược lại môi trường sống tiêu cực sẽ khiến cho bạn bị chính hoàn cảnh tác động, dẫn đến mất kiểm soát và định hướng hành động sai trái
Rèn luyện kỹ năng kiểm soát cảm xúc là một công việc khó Kỹ năng kiểm soát cảm xúc không có nghĩa là bạn phải tìm mọi cách để loại bỏ, khống chế hay kìm hãm cảm xúc của bản thân Mà đó là việc bạn học cách kiểm soát cảm xúc để làm chủ cảm xúc của bản thân trong mọi tình huống giao tiếp cho dù hoàn cảnh thực tế có tiêu cực như thế nào đi nữa
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm các phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: dùng để nghiên cứu các vấn đề lý luận
- Phương pháp quan sát: quan sát đối tượng trước, trong quá trình khảo sát
và thực nghiệm đề xuất giải pháp
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: nhằm tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân vấn đề và mức độ quan trọng của các kỹ năng
- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn trực tiếp đối tượng để thu thập thông tin phục vụ cho nghiên cứu giải pháp
- Phương pháp xử lý thông tin: Phương pháp thống kê toán học được vận dụng trong việc xử lý thông tin từ bảng khảo sát đối tượng
2.3 Cách thức nghiên cứu
2.3.1 Mẫu nghiên cứu
- 300 học sinh thuộc các trường: THPT Nguyễn Trung Trực, THPT Long Xuyên; Trung cấp nghề DTNT An Giang; Trung tâm GDTX An Giang
Trang 14Phát phiếu khảo sát số 1 cho hơn 200 học sinh (232 HS) ngẫu nhiên thuộc
4 trường trên địa bàn tỉnh An Giang để thu thập thông tin sự hiểu biết về điểm mù
tư duy và nguyên nhân gây mất kiểm soát cảm xúc, mối quan hệ giữa việc mất kiểm soát cảm xúc và điểm mù tư duy; đánh giá xem học sinh có nhận biết những
kỹ năng để kiểm soát cảm xúc Cụ thể, người tham gia khảo sát được yêu cầu cung cấp thông tin về lớp, trường và sau đó trả lời câu hỏi bản thân nhận thức về điểm
mù tư duy, cách thu nhỏ điểm mù, cách kiểm soát cảm xúc, nguyên nhân và vài trò của nhà trường trong việc định hướng cho HS kiểm soát cảm xúc Nhóm nghiên cứu tiếp xúc trực tiếp với học sinh để phát phiếu khảo sát Để đảm bảo về
sự riêng tư của người tham gia khảo sát, các dữ liệu thu thập được mã hóa Sau
đó nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập các dữ liệu mà người tham gia khảo sát lựa chọn trong phiếu
Giai đoạn 2:
Bảng hỏi được phát ra ngẫu nhiên trên 4 đơn vị lớp với số phiếu thu vào là
164 phiếu của 4 trường đã thực hiện phiếu số 1 (Bảng 2.1) được dùng để khảo sát
sự đánh giá mức độ quan trọng của những kỹ năng được đề cập đến Bảng hỏi dùng thang đo 5 mức độ đánh giá cho các kỹ năng gồm: 1 Không quan trọng - 2
Ít quan trọng – 3 Quan trọng – 4 Khá quan trọng – 5 Rất quan trọng Sự đánh giá khác nhau về mức độ quan trọng của 4 nhóm kỹ năng được kết luận dựa trên công thức tính hệ số tương quan chẵn – lẻ, và độ tin cậy Spearman-Brown (phụ lục…)
Giai đoạn 3:
Trang 163.1.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Mục đích: khái quát hóa, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản, trên
cơ sở đó xây dựng các bảng kết quả
3.1.2 Phương pháp điều tra viết
Mô tả phiếu điều tra
Công cụ gồm một một phiếu điều tra gồm ba phần, bao gồm mở đầu: lời chào, phần thứ 2: thông tin cá nhân và phần thứ 3: nội dung phiếu hỏi Phiếu hỏi có nội dung như sau:
Câu 1: Bạn đã từng nghe hay tìm hiểu về điểm mù tư duy không?
Chưa từng nghe, biết Có nghe nhưng không quan tâm
Câu 2: Theo bạn, điểm mù tư duy có phải là:
Mù không nhìn thấy
Mù suy nghĩ
Mù kiến thức, mù tin tưởng, mù cảm xúc
Những điều về bạn mà người khác thấy còn bạn thì không
Suy nghĩ khác
Câu 3: Bạn có cho rằng mình đã từng có điểm mù tư duy?
Câu 4: Theo bạn, nên làm thế nào để thu nhỏ điểm mù tư duy của bản thân? (Bạn
có thể chọn nhiều phương án và sắp xếp theo mức độ quan trong giảm dần 1, 2, 3)
Bỏ đi cái tôi
Tập kiểm soát cảm xúc
Luôn lắng nghe lời nhận xét về mình từ bạn bè
Trang 17trang -17
Ngưng đánh giá quá cao vào kiến thức và khả năng của mình
Tập bỏ dần quan niệm đúng-sai, thành công-thất bại, Mà thay vào đó
là phù hợp-không phù hợp
Ý kiến khác
Câu 5: Bạn có cho rằng bạn biết cách kiểm soát cảm xúc của bản thân không?
Câu 6: Theo bạn, một người biết cách kiểm soát cảm xúc thì có hạn chế được điểm mù tư duy không?
Giữ nụ cười trên khuôn mặt
Điều chỉnh những hành động cơ thể (hít thở sâu, thả lỏng người, ) Chưa từng dùng những cách trên
Câu 8: Trong giao tiếp hằng ngày, bạn đã từng rơi vào trường hợp nào? (Bạn có thể chọn nhiều phương án)
Mất bình tĩnh/thiếu tự tin Sợ hãi
Bị bất ngờ Không kiểm soát được lời nói và hành động Câu 9: Theo bạn, những nguyên nhân nào sau đây dễ gây mất kiểm soát cảm xúc? (Bạn có thể chọn nhiều phương án)
Gặp phải những khó khăn, áp lực trong học tập
Sợ hãi khi đứng trước đám đông
Mở nhiều câu lạc bộ, tạo sân chơi cho học sinh
Chú trọng dạy kĩ năng cho học sinh
Thầy cô nên quan tâm nhiều đến cảm xúc của học sinh
Tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa, truyền đạt những kiến thức cần thiết cho học sinh
Trang 18* Phiếu khảo sát 2 – Kỹ năng để kiểm soát cảm xúc cho HS THPT
Mô tả phiếu điều tra
Chúng tôi tiếp tục sử dụng công cụ gồm một một phiếu điều tra gồm ba phần, bao gồm mở đầu: lời chào, phần thứ 2: thông tin cá nhân và phần thứ 3: nội dung phiếu hỏi Phiếu hỏi có nội dung đề cập đến 20 kỹ năng như sau:
1 Kỹ năng giải quyết vấn đề
2 Kỹ năng giao tiếp và tương tác với mọi người
3 Kỹ năng tự nhận thức về bản thân
4 Khả năng phục hồi tâm lý
5 Kỹ năng sống tập thể và teamwork
6 Kỹ năng đối mặt với stress
7 Kỹ năng tư duy sáng tạo
Trang 19trang -19
15 Kỹ năng thân thiện trong trường
16 Kỹ năng xác định hệ quả hành vi
17 Kỹ năng lựa chọn hành vi
18 Kỹ năng thư giãn
19 Kỹ năng làm chủ và tự kiểm soát
20 Kỹ năng nhận diện cảm xúc
Cách xử lý
Nhằm đánh giá mức độ quan trọng của nhóm kỹ năng đề xuất để kiểm soát cảm xúc của học sinh tại một số trường THPT tại An Giang, chúng tôi sử dụng thang đo 5 mức độ và mã hóa biến để xử lý số liệu như sau:
Rất quan trọng: 5 điểm
Khá quan trọng: 4 điểm
Quan trọng: 3 điểm
Ít quan trọng: 2 điểm
Không quan trọng: 1 điểm
Thống kê mẫu khảo sát – Phiếu số 2
Bảng hỏi được xây dựng dưới dạng phiếu thăm dò ý kiến theo các bước:
Bước 1: Xây dựng thăm dò mở
Bước 2: Xây dựng phiếu thăm dò chính thức để khảo sát mức độ quan trọng của nhóm kỹ năng để kiểm soát cảm xúc của HS THPT tại An Giang
Cách đánh giá
Dựa trên quan điểm đã đề cập ở phần cơ sở lí luận, chúng tôi đo mức độ quan trọng của các kỹ năng kiểm soát cảm xúc bằng thang đo 5 mức độ Cụ thể cách tính như sau:
+ Mốt (Mode): là giá trị có tần suất xuất hiện nhiều nhất trong một tập hợp điểm số
Trang 20trang -20
+ Trung vị (Median): là điểm nằm ở vị trí giữa trong tập hợp điểm số xếp theo thứ tự
+ Giá trị trung bình (Mean): là giá trị trung bình cộng của các điểm số
+ Độ lệch chuẩn (Stdev): là tham số thống kê cho biết mức độ phân tán của các điểm số xung quanh giá trị trung bình
Sau đó, nhóm chúng tôi dùng phép kiểm chứng TEST để kiểm chứng sự khác nhau về việc đánh giá mức độ quan trọng của nhóm kỹ năng kiểm soát cảm xúc, để kiểm chứng mức độ ảnh hưởng của nhóm giải pháp hỗ trợ của nhà trường nhằm giúp HS kiểm soát cảm xúc Đối tượng: Học sinh THPT Nguyễn Trung Trực So sánh dữ liệu trước và sau khi thực nghiệm
3.2 Phân tích kết quả nghiên cứu
3.2.1 Thực trạng sự hiểu biết về điểm mù tư duy và kỹ năng kiểm soát cảm xúc của HS
Để khảo sát nhận thức của HS về điểm mù tư duy nhóm khảo sát đặt câu hỏi: Bạn đã từng nghe hay tìm hiểu về điểm mù tư duy không?
Kết quả:
Bạn đã từng nghe
hay tìm hiểu về điểm
mù tư duy không?
Chưa từng nghe, biết
Có nghe nhưng không quan tâm
Có nghe nhưng không quan tâm, 39.7, 40%
Đã tìm hiểu, 13.8, 14%
Biết rõ, 3.4, 3%
Trang 21trang -21
So sánh mức độ biết đến điểm mù tư duy của HS THPT thông quan biểu
đồ thống kê, chúng tôi nhận thấy có 56,9% học sinh được khảo sát đã biết đến vẫn đề điểm mù tư duy Mặc dù, mức độ biết đến không hoàn toàn đồng nhất, vì
có 39,7% có nghe nhưng không quan tâm, có 13,8% cho rằng bản thân đã tìm hiểu, trong khi chỉ có 3,4% cho rằng mình biết rõ Từ đó, có thể thấy, mặc dù học sinh THPT có biết đến điểm mù tư duy, nhưng ít quan tâm đến sự ảnh hưởng của
nó, nên không tìm hiểu Tuy nhiên mức độ này cũng có độ chênh lệch giữa các đơn vị khảo sát Cụ thể ở các trường:
Biểu đồ 1.2 So sánh mức độ biết đến vấn đề điểm mù tư duy của HS
Từ kết quả khảo sát và biểu đồ cho thấy, tỉ lệ học sinh ít biết đến vấn đề điểm
mù tư duy là HS của hệ GDTX Tri Tôn, nhóm này không có học sinh biết rõ về vấn
đề này, trong khi chưa từng nghe, biết đến lại chiếm 61,11% đối tượng tham gia khảo sát Trong khi số lượng HS của trường THPT Long xuyên có tỉ lệ HS biết đến vấn
đề này nhiều hơn, chỉ có 28,57% chưa từng nghe, từng biết
Tiếp tục củng cố vấn đề, chúng tôi đưa ra câu hỏi tiếp theo “Theo bạn, điểm
mù tư duy có phải là…” câu hỏi này nhằm kiểm tra HS nếu đã nghe, đã biết thì có
hiểu thế nào là “điểm mù tư duy” hay không?
Trang 22Biểu đố 2.1 Đánh giá mức độ hiểu về điểm mù tư duy của HS
Từ nghiên cứu lí luận, chúng tôi xác định điểm mù tư duy là những hành vi, suy nghĩ, hành động cũng như hành xử của bạn mà những người chung quanh đều biết duy chỉ có bạn không có ý thức gì về nó Mù tư duy bao gồm: mù kiến thức, mù tin tưởng, mù cảm xúc và mù suy nghĩ Junot Diaz có nói "Tất cả chúng ta đều có một điểm mù và nó có hình dạng giống hệt chúng ta" Điểm mù tư duy thì ai cũng
có chỉ quan trọng là ít hay nhiều và chúng ta có nhận ra nó hay không thôi Trước một sự việc, hiện tượng của đời sống đa phần chúng ta rất ít khi biết chúng ta nên hành xử như thế nào và nói gì cho đúng
Kết quả khảo sát cho thấy, đối tượng khảo sát đều nhận ra đặc điểm của điểm mù tư duy Cho nên, đã có 100/232 HS tức 43.1% nhận ra điểm mù tư duy
là mù mù kiến thức, mù tin tưởng, mù cảm xúc; có 57-24,5% nhận ra mù tư suy là
mù suy nghĩ… nhận thức đó là đúng những chưa đầy đủ Vì điểm mù tư duy là bao gồm cả bốn biểu hiện đã nên Trong khi chỉ có 65/232 HS tức 28,0% hiểu được khái quát điểm mù tư duy chính là những điều về bạn mà người khác thấy còn bạn thì không
0.9
24.5
43.1 28
3
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50
MÙ KHÔNG NHÌN THẤY
MÙ SUY NGHĨ
MÙ KIẾN THỨC, MÙ TIN TƯỞNG, MÙ CẢM XÚC
NGƯỜI KHÁC BIẾT BẠN THÌ KHÔNG
KHÁC …
Điểm mù tư duy là …
Điểm mù tư duy là …
Trang 23trang -23
So sánh nhận định này của HS các trường tham gia khảo sát cũng không có
sự chênh lệch lớn Bởi các nhóm trường đều nhận ra điểm mù tư duy không phải
là mù thể chất – mù không nhìn thấy Sự lựa chọn này chỉ xuất hiện từ 1 đến 2 trường hợp trong tổng số HS được khảo sát Thực tế đó cho thấy, HS nhận ra điểm khác biệt giữa mù tư duy và mù thể chất – mù không nhìn thấy
Biểu đồ 2.2 So sánh mức độ biết đến vấn đề điểm mù tư duy của HS
Từ sự hiểu biết của HS về điểm mù tư duy, chúng tôi cũng muốn tìm hiểu xem, HS có nhận ra bản thân mình đã từng có điểm mù tư duy hay không, chúng
tôi đặt câu hỏi khảo sát “Bạn có cho rằng mình đã từng có điểm mù tư duy?”
4.4
0
33.3 40.5 23.8
2.4
2.8
41.7 30.5
22.2 2.8
1
Mù không nhìn thấy
Mù suy nghĩ
Mù kiến thức, mù tin tưởng, mù cảm xúc
Điều người khác biết bạn thì không
khác
Nhận định điểm mù tư duy là của HS các trường
TTGDTX TT TTGDTX AG THPT LX THPT NTT
Trang 24trang -24
Biểu đố 3.1 Đánh về khả năng từng có điểm mù tư duy của HS
Từ kết quả và biểu đồ biểu thị cho thấy, HS PT có nhận ra được bản thân mình từng có điểm mù tư duy, có 179/232 tức 77,2% trả lời có; chỉ có 53-22,8% trả lời là không HS các đơn vị tham gia khảo sát cũng có mức độ tương đồng về nhận thức đó Điều đó được cụ thể qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 3.2 So sánh mức độ đánh về khả năng từng có điểm mù tư duy của HS
các trường tham gia khao sát
Vậy, khi học sinh nhận định tương đối về điểm mù tư duy, tức có hiểu biết
cơ bản về điểm mù tư duy thì liệu học sinh PT có thể tự mình biết cách (xử lý) điểm mù của bản thân không?
Chúng tôi đã tìm hiểu điều đó qua câu hỏi khảo sát “Theo bạn, nên làm thế
nào để thu nhỏ điểm mù tư duy của bản thân?” Nghiên cứu tài liệu, chúng tôi đưa
ra 5 phương án lựa chọn để giúp mỗi người thu nhỏ điểm mù tư duy; mỗi đối tượng khảo sát được chọn nhiều hơn một cách thức
Có 77.2%
không 22.8%
BẠN ĐÃ TỪNG CÓ ĐIỂM MÙ TƯ DUY
Trang 25bè
Ngưng đánh giá quá cao vào kiến thức và khả năng của mình
Tập bỏ dần
đúng-sai, thành công-
Mà thay vào
đó là phù hợp-không phù hợp
Biểu đố 4.1 Lựa chọn cách thức khắc phục điểm mù tư duy
Trong 5 lựa chọn nhóm chúng tôi thiết kế, thì lựa chọn giải pháp “Bỏ đi cái tôi” nhận được sự lựa chọn ít nhất chỉ có 73/232 – tức chỉ có 31,0% cho sự lựa chọn này; trong khi các lựa chọn còn lại được lựa chọn gần và hơn 50% đối tượng tham gia khảo sát Cụ thể lựa chọn “Tập kiểm soát cảm xúc” có 113/232-48,7%;
31
48.7 48.7 47 52.6
Bỏ đi cái tôi Tập kiểm soát cảm xúc Luôn lắng nghe lời nhận xét về mình từ bạn bè
Ngưng đánh giá quá cao vào kiến thức và khả
năng của mình Tập bỏ quan niệm đúng sai…
Thu nhỏ điểm mù bằng cách …
Thu nhỏ điểm mù bằng cách …
Trang 26trang -26
“Luôn lắng nghe lời nhận xét về mình từ bạn bè” cũng có 113/232-48,7%; Ngưng đánh giá quá cao vào kiến thức và khả năng của mình có 109/232-47,0%; trong khi lựa chọn cao nhất là “Tập bỏ dần quan niệm đúng-sai, thành công-thất bại,
Mà thay vào đó là phù hợp-không phù hợp” có 122/232-52,6% Sự lựa chọn cách thức thu nhỏ điểm mù của HS 3 nhòm trường THPT NTT, GDTX AG và GDTX
TT là tương đối đồng nhất Trong khi, HS của trường THPT Long Xuyên lại có rất nhiều lựa chọn vượt trên 50% Biểu đồ sau sẽ biểu thị cho điều đó
Biểu đồ 4.2 So sánh mức độ lựa chọn cách thức khắc phục điểm mù tư duy của
HS các trường tham gia khao sát
Từ kết quả trên, chúng tôi nhận thấy HS PT có thể tự mình thu nhỏ điểm
mù tư duy để khắc phục những hệ lụy của nó; bởi những điểm mù tư duy sẽ khiến bản thân chúng ta dần mất đi khả năng kiểm soát cảm xúc – kiểm soát cái tôi để cho rằng cái gì mình cũng biết Chúng tôi cho rằng, nếu bạn kiểm soát được cái
“Tôi”, bạn sẽ kiểm soát được cảm xúc của mình Vậy liệu HS phổ thông có nhận
ra điều đó? Để tìm hiểu cho nghi vấn của mình, chúng tôi đặt câu hỏi “Bạn có cho
rằng bạn biết cách kiểm soát cảm xúc của bản thân không?”
THU NHỎ ĐIỂM MÙ TƯ DUY BẰNG CÁCH
Bỏ đi cái tôi Tập kiểm soát cảm xúc Luôn lắng nghe lời nhận xét về mình từ bạn bè Ngưng đánh giá quá cao vào kiến thức và khả năng của mình Tập bỏ dần quan niệm đúng-sai,
Trang 27trang -27
Bạn có cho rằng bạn biết cách kiểm soát cảm xúc
của bản thân không?
Biểu đố 5.1 Mức độ biết cách kiểm soát cảm xúc
Như kết quả nghiên cứu lý luận và nghiên cứu đối tượng ở chương I và chương II cho thấy sự hình thành và phát triển nhân cách của lứa tuổi THPT diễn
ra khá mạnh mẽ Những cảm xúc của học sinh nảy sinh và biến đổi liên tục trong quá trình tham gia học tập, quan hệ xã hội, bạn bè, Vì vậy, HS cần biết cách giải tỏa cảm xúc Kiểm soát cảm xúc của học sinh thể hiện ở khả năng làm chủ bản thân khi cảm xúc nảy sinh, biết cách giải tỏa cảm xúc một cách hiệu quả nhất
và có khả năng kiểm soát cảm xúc của người khác Tuy nhiên, không phải học sinh nào cũng có khả năng kiểm soát cảm xúc của bản thân Điều đó phù hợp với kết quả khảo sát của chúng tôi Trong tổng số 232 HS được hỏi chỉ có 103 HS – tức 44.4% cho rằng có biết kiểm soát cảm xúc, còn 129 HS – 55.6% thì nghĩ họ không biết kiểm soát cảm xúc của bản thân Nhận định này đồng nhất ở hầu hết các nhóm tham gia khảo sát, trong 4 nhóm thì có 3 nhóm cùng tỉ lệ lựa chọn Vì
Có biết 44.4%
Không biết 55.6%
HS CÓ BIẾT CÁCH KIỂM SOÁT CẢM XÚC ?
Trang 28trang -28
vậy, chúng tôi có thể kết luận rằng HS THPT thường không biết cách kiểm soát cảm xúc của bản thân Nếu có thì vẫn còn mơ hồ, chưa có cách thức riêng biệt trong từng tình huống nảy sinh
Biểu đồ sau đây cho thấy sự lựa chọn đó của các nhóm tham gia khảo sát
Biểu đồ 5.2 So sánh mức độ biết cách kiểm soát cảm xúc của HS các trường
tham gia khao sát
Tự khống chế là chiếc chìa khóa an toàn cho hành vi hàng ngày của chúng
ta, nó bắt bạn phải dùng lý trí để cân bằng cảm xúc, đón nhận sự dẫn dắt của lý tính, “nghĩ trước làm sau”, kiểm soát cảm xúc và lời lẽ cử chỉ của bản thân Trong khi, bất cứ ai cũng có “điểm mù”, ngay cả những nhà lãnh đạo tài giỏi nhất “Điểm mù” tức là bản thân không nhận ra khiếm khuyết của mình nhưng người khác thì thấy rất rõ Nếu không nhanh chóng khắc phục, các “điểm mù” này sẽ gây hại rất lớn cho bản thân lẫn các hoạt động giao tiếp xã hội “Mù” tham vọng tức là chiến thắng bằng mọi giá; phóng đại giá trị và sự cống hiến chính mình; mục tiêu không thực tế tức đặt ra tham vọng quá cao với mục tiêu mà tổ chức không thể đạt được; bệnh thành tích là luôn tìm kiếm những cơ hội gây ấn tượng với người khác; …
Do đó, để khắc phục điểm mù thì mỗi chúng ta cần biết cách kiểm soát cảm
xúc của bản thân Vì vậy, chúng tôi đặt câu hỏi “Theo bạn, một người biết cách
kiểm soát cảm xúc thì có hạn chế được điểm mù tư duy không?” Kết quả khảo
sát đồng nhất với nhận định của nhóm nghiên cứu, HS nhận ra mối tương quan giữa việc kiểm soát cảm xúc với việc hạn chế điểm mù, có 155/232 – 66,8% HS tham gia khảo sát cho rằng biết cách kiểm soát cảm xúc có thể hạn chế được điểm
mù tư duy
Kết quả:
42
50 45.2 44.4
58 50
54.8 55.6
Trang 29trang -29
Theo bạn, một người biết cách kiểm soát cảm xúc thì
có hạn chế được điểm mù tư duy không?
Biểu đố 6.1 Đánh giá mối quan hệ giưa kiểm soát cảm xúc để khắc phục điểm
mù tư duy của các nhóm tham gia khao sát
Theo nhận định của nhóm nghiên cứu, học sinh có khả năng kiểm soát cảm xúc nếu nhận thức đúng suy nghĩ nảy sinh khi gặp tình huống đó lên người khác
Vì vậy giáo dục định hướng giá trị cho học sinh ở lứa tuổi này là rất quan trọng,
ở khía cạnh này khi nhóm nghiên cứu đặt câu hỏi “Bạn thường dùng những cách
nào để kiểm soát cảm xúc của bản thân trước những sự việc xảy đến?” không chỉ
để các bạn tham gia khảo sát trả lời, mà còn để gợi nhắc để các bạn kiểm chứng lại và ghi nhớ những cách thức có thể giúp các bạn kiểm soát cảm xúc Chúng tôi
Trang 30Giữ bình tĩnh, tự tin
Luôn nhìn người khác bằng thái
độ tích cực
Giữ nụ cười trên khuôn mặt
Điều chỉnh những hành động
cơ thể (hít
thả lỏng người, )
Chưa từng dùng những cách trên
Biểu đố 7.1 Nhận định về cách thức kiểm soát cảm xúc
Biểu đố 7.1 Nhận định về cách thức kiểm soát cảm xúc
Luôn nhìn người khác bằng thái độ tích cực
Giữ nụ cười trên khuôn mặt những hành Điều chỉnh
động cơ thể
Chưa từng dùng những cách trên
Mức độ thường dùng để kiểm soát cảm xúc
Mức độ thường dùng để kiểm soát cảm xúc