Hướng dẫn NCKH về vấn đề Sang chấn tâm lý ở HS THCS và THPT. Lứa tuổi HS THCS và HS THPT là lứa tuổi dễ gặp phải các sự kiện gây căng thẳng sợ hãi và tổn thương tâm lý.Nguyên nhân tạo nên những sang chấn ấy là do hoàn cảnh gia đình bất ổn; áp lực học tập, thi cử; chọn trường, chọn nghề; tình yêu nam nữ. Trong các nhóm nguyên nhân gây ra sang chấn tâm lý cho các bạn chúng tôi đã đề cập đến ở trên, thì nhóm nguyên nhân liên quan đến lĩnh vực học tập gây ra sang chấn cho các bạn nhiều nhất.Sang chấn tâm lý xuất hiện ở những học sinh THPT cao hơn so với HS THCS.HS THCS và THPT trong huyện tri Tôn, tỉnh An Giang hoàn toàn có đủ điều kiện để phòng tránh và khắc phục sang chấn.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO AN GIANG TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SANG CHẤN TÂM LÝ Ở LỨA TUỔI HỌC SINH THCS
-VÀ THPT TRONG HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
Người thực hiện 1/ Huỳnh Thủy Tiên – lớp 12A1 2/ Tô Thị Thu Hường – lớp 12A3
Người bảo trợ Giáo viên: Cao Thị Thu Hồng
AN GIANG - 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian nghiên cứu, đến nay nhóm chúng em đã hoàn thànhnghiên cứu với đề tài Sang chấn tâm lý ở lứa tuổi học sinh THCS và THPT trong huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang – Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp Nghiên cứu này được hoàn chỉnh nhờ sự giúp đỡ của quý thầy cô,
gia đình và bạn bè
Cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chấp hành đoàn trường của trường THPTNguyễn Trung Trực; trường THCS và THPT Cô Tô; trường THCS thị trấnTri Tôn đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để chúng em hoàn thành tốt đề tàinghiên cứu
Cảm ơn các bạn học sinh đã dành thời gian quý báu của mình để cungcấp cho chúng tôi những ý kiến khảo sát, ý kiến phỏng vấn
Chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người hướng dẫn/ bảo
trợ, Cô Cao Thị Thu Hồng đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn và giúp đỡ
chúng em trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Chúng em cũng xin chân thành gửi lời cám ơn đến Ban tổ chức cuộcthi Khoa học Kỹ thuật, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh An Giang đã tổ chứcmột cuộc thi bổ ích để chúng em có điều kiện tiếp cận với nghiên cứu khoahọc và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn; hội thi cũng đã giúpchúng em có dịp giao lưu với các bạn trường khác
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng tác giả Huỳnh Thủy Tiên + Tô Thị Thu Hường
Trang 4
NỘI DUNG Trang PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài ……… ……
2 Mục tiêu nghiên cứu ………
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu ………
4 Câu hỏi nghiên cứu ………
5 Phương pháp nghiên cứu ………
6 Giả thuyết nghiên cứu ………
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm sang chấn tâm lý ………
1.2 Những biểu hiện sang chấn tâm lý ………
1.3 Các nguyên nhân dẫn đến sang chấn tâm lý ………
1.4 Các cách thức có thể chế ngự sang chấn tâm lý ………
CHƯƠNG II TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng ………
2.2 Phương pháp nghiên cứu ………
2.3 Cách thức nghiên cứu ………
CHƯƠNG III PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 3.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
3.2 Phân tích kết quả nghiên cứu từ phiếu khảo sát ………
3.3 Kỹ năng phòng tránh sang chấn tâm lý ở HS THCS và THPT
3.4 Đề xuất giải pháp phòng tránh và khắc phục sang chấn tâm lý ở lứa tuổi HS THCS và THPT
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1 1 2 3 3 4 4 5 5 6 8 9 11 11 22 22 25
25 27 39 42 51 56 57
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời gian gần đây, những vụ tự tử ở lứa tuổi học sinh gây xôn xao dư luận xãhội và dường như ngày càng gia tăng Hoàn cảnh khiến các bạn phải tìm đến cái chết,nhiều học sinh thi trượt đại học cũng tìm đến cái chết hoặc vì bức xúc trong mối quan
hệ với bạn bè, cha mẹ, thầy cô mà bỏ nhà đi bụi, tìm đến ma tuý TS tâm lý Nguyễn
Thị Kim Quý cho biết: “Ngày càng nhiều trẻ em hoặc gia đình gọi điện đến đường
dây tư vấn về áp lực học hành, thi cử ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống”.(trích
dẫn từ 8f.)
Xã hội ngày càng hiện đại kéo theo rất nhiều sự thay đổi trong đời sống conngười, phát sinh ra nhiều mối nguy hiểm tiềm năng cho sức khỏe và tâm lý Đó là mộtloạt các trạng thái khác nhau, từ những rối nhiễu tâm lý như lo âu, trầm cảm, ám ảnh,hay các chứng hoang tưởng, tâm thần phân liệt, động kinh Trong đó, lo âu là hiệntượng tự nhiên, hết sức bình thường của con người khi họ gặp những vấn đề nảy sinhtrong cuộc sống
Các nhà khoa học cho rằng mười phần trăm (10%) lo âu là cần thiết cho mộtngười bình thường Nhưng vấn đề lại ở chỗ không phải lúc nào người ta cũng có mộtchút lo âu, mà ở rất nhiều người lo âu đã trở thành bệnh lí Vì, nó luôn làm đảo lộncuộc sống cá nhân, làm cho người đó ăn không ngon, ngủ không yên, tâm thần bất an.Trong nhiều trường hợp, người có rối loạn lo âu, căng thẳng tâm lý có thể giảm được
sự lo lắng thái quá nếu có những biện pháp hỗ trợ thích hợp
Nghiên cứu về những nguyên nhân gây ra các bệnh tâm lý ấy là cực kỳ cầnthiết để phục vụ cho việc trị liệu tâm lý, giúp con người trở lại được trạng thái bìnhthường; nhưng từ trước tới nay, mặc dù có nhiều nghiên cứu về vấn đề sức khoẻ tâm
lý nói chung, nhưng lại ít có những nghiên cứu chuyên biệt về rối loạn lo âu, căngthẳng tâm lý cũng như những biểu hiện của sang chấn tâm lý
Sang chấn tâm lý tồn tại ở mọi lứa tuổi, nhưng với HS THCS và THPT, lứatuổi 11-18 thì khả năng xuất hiện căng thẳng, sợ hãi cao độ do một vết thương tâm lýnào đó là tương tối cao, bởi trước hết đây là lứa tuổi có đặc điểm tâm sinh lý đặc biệt;những thay đổi ở lứa tuổi dậy thì gây ra không ít những vướng mắc ở các bạn Hơnnữa, với các bạn HS THCS và THPT, sự lo lắng của các bạn không chỉ về gia đình,
Trang 6về việc học tập mà còn về trường thi, khối thi, về tương lai và cả những vấn đề bạnbè tất cả những điều đó có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý các bạn.
Trong nhiều năm qua, việc tìm hiểu về căng thẳng tâm lý, stress, trầm cảm ở
HS đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và cũng đã đạt được nhiềuthành tựu cả về mặt lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, nghiên cứu về sang chấn tâm lý –nguyên nhân dẫn đến lo âu, căng thẳng tâm lý, stress – cho đến nay vẫn chưa đượcchú trọng nhiều Do áp lực của học tập, của gia đình của xã hội khiến nhiều học sinhđang ở trong trạng thái căng thẳng ở mức độ khá cao, trạng thái này ảnh hưởng xấuđến kết quả học tập cũng như sức khoẻ của các bạn Vậy, thay vì khắc phục hậu quả
đã rồi chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân ban đầu tạo nên stress
Trong thư tuyệt mệnh, một nữ sinh ở trường THPT Đồng Xoài (Bình phước) đã
gào thét trong sự tuyệt vọng: “Tương lai sau này của con cũng không còn nữa, con
xin lỗi bố mẹ Không, không, con không thể chịu nổi nữa rồi Tương lai con mù mịt, suy nghĩ con mù mịt, con đường con đi cũng mù mịt, mọi thứ xung quanh con mù mịt Hết rồi, tất cả kết thúc rồi” (trích từ bài viết Nữ sinh lớp 11 tự tử để lại 5 bức thư tuyệt mệnh, nguoilaodong.com) Sau tiếng kêu gào của nữ sinh ấy là sự im lặng của
cái chết Nhưng đó không phải là dấu chấm hết, đó là sự khởi đầu của nỗi đau cho giađình và xã hội; là quá khứ, hiện tại và có thể là cả tương lai bế tắc của nền giáo dục; là
sự quẫn bách của bao thế hệ trẻ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Vì vậy, việc tìm hiểu biểu hiện sang chấn tâm lý trong học sinh ở lứa tuổiTHCS và THPT nhằm đề xuất các biện pháp giúp học sinh tránh được những ảnhhưởng xấu của sang chấn Từ đó, giúp các bạn có trạng thái tâm lý bình thường, ổnđịnh để học tập tốt hơn, thực hiện được ước mơ của mình
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Sang chấn
tâm lý ở lứa tuổi học sinh THCS và THPT trong huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang – Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng sang chấn tâm lý ở HS THCS và THPT tronghuyện Tri Tôn, tỉnh An Giang Từ đó, xác định nguyên nhân, đề xuất các biện phápphòng tránh và khắc phục hậu quả do sang chấn tâm lý gây ra ở HS
Trang 73 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu đại trà 200 học sinh ở ba trường: THCS và THPT Cô Tô; THCS thịtrấn Tri Tôn; THPT Nguyễn Trung Trực
Nghiên cứu sâu 20 học sinh từng có biểu hiện sang chấn tâm lý theo kết quảđiều tra ở phiếu điều tra (bằng phương pháp điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sâu) ởtrường THCS thị trấn Tri Tôn và THPT Nguyễn Trung Trực
- Phạm vi và địa bàn nghiên cứu:
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu học sinh ở ba trườngvừa THCS vừa THPT trên địa bàn huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
4 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau:
(1) Mức độ sang chấn tâm lý ở HS THCS và THPT trong huyện Tri Tôn, tỉnh AnGiang như thế nào?
(2) Học sinh THCS và THPT có biết cách ứng phó khi đối mặt với các sự kiện sangchấn tâm lý không?
(3) Giữa học sinh THCS và THPT trong huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang có cùngnguyên nhân gây ra sang chấn tâm lý không?
(4) Học sinh các trường THCS và THPT trong huyện tri Tôn, tỉnh An Giang có đượcgia đình và nhà trường tạo điều kiền phòng tránh và khắc phục sang chấn không?
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp thống kê toán học
Các phương pháp nghiên cứu này sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể ở chương 2
Trang 86 Giả thuyết nghiên cứu
- Lứa tuổi HS THCS và HS THPT là lứa tuổi dễ gặp phải các sự kiện gây căngthẳng sợ hãi và tổn thương tâm lý
- Nguyên nhân tạo nên những sang chấn ấy là do hoàn cảnh gia đình bất ổn; áp lựchọc tập, thi cử; chọn trường, chọn nghề; tình yêu nam nữ
- Trong các nhóm nguyên nhân gây ra sang chấn tâm lý cho các bạn chúng tôi đã
đề cập đến ở trên, thì nhóm nguyên nhân liên quan đến lĩnh vực học tập gây ra sangchấn cho các bạn nhiều nhất
- Sang chấn tâm lý xuất hiện ở những học sinh THPT cao hơn so với HS THCS
- HS THCS và THPT trong huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang hoàn toàn có đủ điềukiện để phòng tránh và khắc phục sang chấn tâm lý
Trang 9CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm sang chấn tâm lý
Từ sang chấn (trauma) bao hàm nhiều loại tình huống gây ra cho con người
Từ điển Robert đưa ra ba định nghĩa: (tr17,3)
Định nghĩa y học: Sang chấn tâm lý là cơ thể con người phải hứng chịu những
rối loạn về mặt thể chất và tâm lý do một chấn thương gây ra.
Định nghĩa tâm lý học và thường dùng: Sang chấn tâm lý là toàn bộ những rối
loạn do một cú sốc cảm xúc mãnh liệt gây ra.
Định nghĩa phân tâm học: Sự kiện phát động ở đương sự một luồng dồn dập
các kích thích vượt quá ngưỡng dung nạp của bộ máy tâm trí.
Trong tập sách tựa đề “Helping Traumatized Children”, Bác sĩ Bruce Perry
định nghĩa: “Sang chấn là một biến cố gây tổn thương tâm lý ngoài phạm vi trải
nghiệm của người bình thường, thường liên quan đến sự sợ hãi cao độ, khủng hoảng
và bất lực”.
SCTL vốn đã được các nhà khoa học nghiên cứu trong suốt hơn một thế kỉ qua,nhưng hầu như chưa có một định nghĩa được xem là thoả mãn về khái niệm này Nênhầu hết hết họ đều hiểu nó một cách đơn giản như sau: những tình huống xuất hiệnđem đến cảm giác căng thẳng cho nạn nhân, đó là các yếu tố sang chấn
Nguồn gốc của sự SCTL là vấn đề luôn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Họ cho rằng SCTL là hậu quả của một sự tác động từ bên ngoài vào cá nhân Nó làmột quá trình chuyển một cú sốc tâm lý thành những rối nhiễu tâm lý ở cá nhân.SCTL gắn liền với các sự kiện hoặc hiện tượng mà cá nhân đã chứng kiến hoặc trảinghiệm qua, một sự kiện gây tử vong hoặc có nguy cơ gây tử vong, đe doạ đến tínhtoàn vẹn về mặt thể chất của bản thân cá nhân hoặc người khác Vào thời điểm đóphản ứng của cá nhân là sự sợ hãi dữ dội, sự vô vọng hoặc kinh hoàng và hậu quả kéodài bao lâu nạn nhân mới vượt qua được là tùy thuộc vào bản lĩnh của mỗi cá nhân
Trang 10Chẳng hạn như năm 1972, C.F Shatan đã quan sát thấy nhiều triệu chứng lâm
sàng ở những người lính Mỹ tham gia chiến tranh ở Việt Nam như sau: “Họ bị ám
ảnh, hình ảnh cuộc chiến luôn tái hiện lại trong tâm trí họ, những khó khăn tâm lý trong cuộc sống hàng ngày xuất hiện Họ cảm thấy không có khả năng yêu mến người khác và bản thân mình, một số người còn có hành vi ăn cắp và lạm dụng rượu” C F Shatan gọi các triệu chứng lâm sàng này ở những người cựu chiến binh Mỹ là “hội chứng Việt Nam” (Trích từ Một số nghiên cứu về tổn thương tâm lý, Nguyễn Bá Đạt,
ĐH Quốc gia Hà Nội)
Từ cuối thế kỷ XX, nghiên cứu sự tổn thương tâm lý về mặt triệu chứng lâmsàng trên thế giới tập trung chủ yếu vào nghiên cứu hội chứng stress sau sang chấntheo tiêu chuẩn chẩn đoán DSM – IV của Hội các nhà Tâm thần học Mỹ đưa ra
Ở Việt Nam, từ năm 1984, GS Nguyễn Việt, một trong những chuyên gia đầungành trong lĩnh vực tâm thần học, đã đề cập đến các bệnh tâm căn trong tác phẩm
“Tâm thần học” của mình Cũng theo tác giả thuật ngữ bệnh tâm căn dịch từ thuật ngữ
“névrose” (trước dịch là bệnh loạn thần kinh) Nguyên nhân gây ra các bệnh tâm căn
là các SCTL, là tất cả những sự việc, những hoàn cảnh trong các điều kiện sinh hoạt
xã hội, trong mối quan hệ liên quan phức tạp giữa cá nhân và cá nhân, tác động vàotâm thần, gây ra những cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực: sợ hãi, lo lắng, buồn, tứcgiận, ghen tuông, thất vọng
Về sau tại Việt Nam có thêm những nghiên cứu rối loạn stress sau sang chấn vàmới đây là những nghiên cứu của các nhà tâm lý học về SCTL ở thanh thiếu niên do
bố mẹ ly hôn Tất cả nói lên một điều chủ đề SCTL luôn là một chủ đề thu hút đượcrất nhiều nhà nghiên cứu trong nước
1.2. Những biểu hiện sang chấn tâm lý
Nhiều người có các phản ứng thể chất và cảm xúc mạnh mẽ sau khi trải nghiệmmột sự kiện gây sang chấn Đối với phần lớn, các triệu chứng này sẽ dịu bớt sau vàingày hoặc vài tuần Với một số người, các triệu chứng này có thể kéo dài hơn vàmang tính chất nghiêm trọng hơn Điều này xảy ra vì một số yếu tố như bản chất của
sự kiện gây sang chấn, mức độ hỗ trợ mà cá nhân có thể nhận được từ gia đình, ngườithân, nhà chuyên môn, các căng thẳng trong quá khứ và hiện tại, đặc điểm nhân cách
và nguồn lực ứng phó
Trang 11Có thể mô tả các triệu chứng/dấu hiệu sang chấn từ khía cạnh thể chất, nhậnthức (tư duy), hành vi (việc mà chúng ta làm) và cảm xúc.
* Về thể chất
• Cảnh giác quá mức, luôn tìm kiếm các dấu hiệu của sự nguy hiểm
• Dễ giật mình
• Mệt mỏi/kiệt sức
• Ngủ không yên giấc
• Đau mỏi và đau đớn
• Né tránh những địa điểm và hoạt động gợi nhớ đến sự kiện gây sang chấn
• Né tránh tiếp xúc hoặc cách ly về mặt xã hội
• Mất hứng thú trong các hoạt động thường nhật
Trang 12Nếu như không quá nghiêm trọng hoặc không kéo dài quá lâu, các triệu chứng
mô tả trên đây là những phản ứng bình thường đối với sang chấn Mặt dù các triệuchứng này có thể gây lo lắng, đau khổ, nhưng chúng sẽ lắng dịu dần với phần lớn mọingười Chúng là một phần của quá trình bình phục tự nhiên, điều chỉnh để thích nghivới một sự kiện quá mạnh, suy ngẫm để rút ra ý nghĩa, bài học về những gì đã diễnra… Cùng với sự hiểu biết và hỗ trợ từ gia đình, bè bạn hay các chuyên gia tư vấn tâm
lý, các dấu hiệu căng thẳng thường dịu đi nhanh chóng Nhưng ở một số ít người, cáctriệu chứng đó sẽ phát triển thành trầm cảm, PTSD (rối loạn căng thẳng hậu sangchấn), các vấn đề về rượu, ma túy…
1.3 Các nguyên nhân dẫn đến sang chấn tâm lý
Các sự kiện có tiềm năng gây sang chấn là những việc xảy ra có sức mạnh, làmđảo lộn, rối loạn, đau khổ, xâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của con người Các sựviệc này thường được xác định là các trải nghiệm mang tính đe dọa đối với cuộc sốnghoặc đe dọa đáng kể đối với sức khỏe thể chất và tâm lý của một người
Một sự kiện có thể có tác động khác nhau với các cá nhân khác nhau: ít có tácđộng tới người này nhưng lại gây căng thẳng cao độ với người kia Sự tác động này
có thể liên quan đến sức khỏe thể chất và tâm lý của con người cũng như mức độ hỗtrợ xã hội, trải nghiệm trong quá khứ và kỹ năng ứng phó của từng cá nhân khác nhau.Các tình huống và sự kiện có thể dẫn tới trải nghiệm sang chấn bao gồm:
• Các hành động bạo lực như cướp có vũ trang, chiến tranh, khủng bố
• Các thảm họa thiên nhiên như hỏa hoạn, động đất, bão lụt, sạt lở đất…
• Bạo lực liên quan đến các nhân như hiếp dâm, bị lạm dụng lúc còn nhỏ, ngườithân, bạn thân tự vẫn
• Liên quan đến một vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng hoặc tai nạn ở nơi làmviệc
• Áp lực hay ức chế về một đòi hỏi vượt quá sức của bản thân mỗi người
Các tình huống ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn gây căng thẳng có thể châmngòi cho những phản ứng mang tính sang chấn ở một số người
Trang 13• Đừng tức giận bản thân vì mình đã lo lắng hay đau đớn.
• Tự nhắc mình rằng bạn không phải là người không bình thường, bạn có thể vàđang ứng phó
• Tránh lạm dụng rượu hay các loại ma túy để ứng phó
• Tránh đưa ra các quyết định quan trọng hay các thay đổi lớn trong cuộc đờivào thời điểm này
• Đừng cố phong tỏa các suy nghĩ về những gì đã xảy ra Đối mặt dần dần với
sự kiện hay tình huống sẽ giúp chấp nhận trải nghiệm sang chấn tốt hơn
• Hãy chia sẻ trải nghiệm của mình với người thân, bạn thân khi nào có thể Đôikhi điều này làm ta cảm thấy khó chịu, nhưng trò chuyện với người bạn tin cậy và biếtlắng nghe sẽ rất có ích trong việc xử lý sang chấn
• Cố gắng duy trì nề nếp bình thường hàng ngày Giữ cho mình bận và làm chocác hoạt động trong ngày của mình có cấu trúc, có kế hoạch
• Cố gắng không né tránh các địa điểm hay hoạt động nếu không cần thiết
• Nghỉ ngơi nếu cảm thấy mệt mỏi và nhớ rằng vận động thường xuyên rất quantrọng
• Cho bạn bè và gia đình biết nhu cầu của bạn Giúp họ để họ giúp bạn bằngcách cho họ biết khi nào bạn mệt mỏi, cần tạm lắng, cần cơ hội để nói chuyện hoặccần thời gian với một ai đó
• Dành thời gian thực hành thư giãn Sử dụng các kỹ thuật như thư giãn cơ tăngdần hoặc tham gia các hoạt động thư giãn như làm vườn, nghe nhạc Điều này sẽ giúp
cơ thể và hệ thần kinh lắng dịu và điều chỉnh
• Nếu sang chấn mà bạn vừa trải qua kích động các hồi ức hay cảm xúc gâycăng thẳng khác, chẳng có liên quan gì trong quá khứ hoặc trải nghiệm thời thơ ấu, cố
Trang 14gắng đừng để tất cả các ký ức đó lẫn lộn với nhau Hãy tách bạch các ký ức đó và xử
lý riêng biệt
• Thể hiện cảm xúc khi chúng xuất hiện Dù là bạn chia sẻ các cảm xúc với ai
đó hoặc viết ra trong cuốn nhật ký, thì việc thể hiện cảm xúc thường là một cách rất
có ích cho quá trình hồi phục
Chúng ta cần sự hỗ trợ chuyên nghiệp nếu các dấu hiệu cho sang chấn gây rakéo dài hơn một vài tuần và làm cho bạn quá đau khổ Các dấu hiệu cảnh báo điềunày bao gồm:
• Bạn không thể xử lý được cảm xúc căng thẳng hoặc cảm giác của cơ thể;
• Cảm thấy tê liệt và trống rỗng;
• Tiếp tục trải nghiệm các cảm xúc gây căng thẳng, đau khổ ở mức cao;
• Tiếp tục có các triệu chứng bị căng thẳng, kích động hoặc cáu gắt;
• Tiếp tục có các giấc ngủ không yên hoặc gặp các cơn ác mộng;
• Không có ai hỗ trợ và không có ai mà bạn có thể chia sẻ cảm xúc, tình cảmcủa mình;
• Có các vấn đề về quan hệ với bạn, gia đình và đồng nghiệp;
• Sử dụng rượu và ma túy ngày càng nhiều
Trang 15CHƯƠNG II
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng
2.1.1 Nghiên cứu đối tượng
Mỗi con người chúng ta từ sinh ra và lớn lên ai cũng cần một không gian nhấtđịnh để phục vụ cho các hoạt động sống như sinh hoạt, nghỉ ngơi, sản xuất cũng nhưtận hưởng niềm vui, hương vị cuộc sống của mình Không gian đó chính là môitrường xung quanh chúng ta – nơi chứa đựng toàn bộ các yếu tố tự nhiên và xã hộiảnh hưởng đến đời sống và nhân cách, tâm lý của con người Ở mỗi giai đoạn pháttriển của con người thì môi trường tác động đến nhân cách thông qua những giá trị vậtchất và tinh thần khác nhau Lứa tuổi chịu sự tác động mạnh mẻ nhất của môi trườngđến nhân cách và tâm lý là lứa tuổi học sinh THCS và THPT Đây là gian đoạn màcác bạn đang và đã phát triển về mặt tâm lý, đang trong thời kỳ tích lũy kiến thức, tudưỡng đạo đức để chuẩn bị cho cuộc sống trưởng thành Môi trường xung quanh chocác bạn những điều kiện tốt nhất để phát triển, để hòa nhập và chung sống với cộngđồng với xã hội Ngay từ khi còn bé con người đã biết giao lưu với người lớn, với môitrường tự nhiên và xã hội dần dần nhân cách chúng ta được cải thiện Vì vậy, việcquan tâm đến HS ở lứa tuổi THCS và THPT là trách nhiệm không chỉ của gia đình,nhà trường mà của toàn xã hội Trong sự phát triển nguồn nhân lực cho đất nước đangđổi mới hiện nay, rõ ràng nổi lên yêu cầu cấp bách là nâng cao chất lượng người laođộng, đào tạo nhân tài, đào tạo con người có nhân cách phù hợp với xã hội mới HS lànhững con người mới, con người của thời đại, là những chủ nhân tương lai của đấtnước vì vậy chúng ta cần tạo ra một môi trường tốt nhất cho HS phát triển.Tuy nhiêntrước sự phát triển của cuộc sống hiện đại và sự chạy theo những giá trị vật chất,những tác động tiêu cực của xã hội đã làm ảnh hưởng đến tâm lý, nhân cách, conngười, của các bạn HS Đây là một điều đáng lo ngại Cho nên chúng ta cần nắm vữngnhững đặc điểm tâm lý của HS ở giai đoạn này
2.1.1.1 Đặc điểm lứa tuổi HS THCS
Trang 16Lứa tuổi HS THCS bao gồm những HS có độ tuổi từ 11-15 tuổi Đó là những
em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó
có một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ em
Tuổi thiếu niên có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của cả đờingười Đây là thời kỳ quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trường thành, thời kỳ trẻ ở "ngã bađường" của sự phát triển Trong thời kỳ này, nếu sự phát triển được định hướng đúng,được tạo thuận lợi thì trẻ em sẽ trở thành cá nhân thành đạt, công dân tốt Thời kỳ màtính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh mẽ, hình thành cơ sở nền tảng vàvạch chiều hướng cho sự trưởng thành thực thụ của cá nhân, tạo nên đặc thù riêng củalứa tuổi Tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn trong quátrình phát triển Bước vào tuổi thiếu niên học sinh THCS có sự cải tổ lại rất mạnh mẽ
và sâu sắc về cơ thể, về sinh lý Trong suốt quá trình trưởng thành và phát triển cơ thểcủa cá nhân, đây là giai đoạn phát triển nhanh thứ hai, sau giai đoạn sơ sinh Tốc độphát triển cơ thể nhanh, mạnh mẽ, quyết liệt nhưng không cân đối
Chiều cao của các bạn tăng rất nhanh: trung bình một năm, các bạn gái caothêm 5 - 6 cm, các bạn trai cao thêm 7 - 8 cm Trọng lượng của các bạn tăng từ 2 -5kg /năm, sự phát triển hệ cơ chậm hơn hệ xương Não có sự phát triển mới giúp cácchức năng trí tuệ phát triển mạnh mẽ và sự xuất hiện của tuyến sinh dục (hiện tượngdậy thì)
Với lứa tuổi THCS hoạt động giao tiếp là hoạt động chủ đạo Giao tiếp của thiếuniên là một hoạt động đặc biệt Qua đó, các bạn thực hiện ý muốn làm người lớn, lĩnhhội các chuẩn mực đạo đức - xã hội của các mối quan hệ Lứa tuổi thiếu niên cónhững thay đối rất cơ bản trong giao tiếp với người lớn và với bạn ngang hàng Nétđặc trưng trong giao tiếp giữa thiếu niên với người lớn là sự cải tổ lại kiểu quan hệgiữa người lớn – trẻ em ở tuổi nhi đồng, hình thành kiểu quan hệ đặc trưng của tuổithiếu niên và đặt cơ sở cho việc thiết lập quan hệ của người lớn với người lớn trongcác giai đoạn tiếp theo Quan hệ giữa thiếu niên với người lớn có các đặc trưng nhưtính chủ thể trong quan hệ giữa trẻ với người lớn rất cao, thậm chí cao hơn mức cầnthiết; các bạn có nhu cầu được tôn trọng cao trong quá trình giao tiếp với người lớn;trong giao tiếp với người lớn, ở thiếu niên thường xuất hiện nhiều mâu thuẫn, xungđột do thiếu niên chưa xác định đầy đủ giữa mong muốn về vị trí và khả năng củamình
Trang 17Việc giao tiếp bạn bè đối với sự phát triển nhân cách của HS THCS là vô cùng ýnghĩa và quan trọng Ở tuổi thiếu niên, giao tiếp với bạn đã trở thành một hoạt độngriêng và chiếm vị trí quan trọng trong đời sống các bạn Khác với giao tiếp với ngườilớn, giao tiếp của thiếu niên với bạn ngang hàng là hệ thống bình đẳng và đã mangđặc trưng của quan hệ xã hội giữa các cá nhân độc lập.
Đối với thiếu niên sự phát triển nhận thức là yếu tố quan trọng Đặc điểm đặctrưng trong sự phát triển cấu trúc nhận thức của HS THCS là sự hành thành và pháttriển các tri thức lí luận, gắn với các mệnh đề Các quá trình nhận thức tri giác, chú ý,tưởng tượng ở HS THCS phát triển rất mạnh.Việc chuyển từ tư duy cụ thể sang trừutượng là nét đặc thù trong sự phát triển tư duy của HS THCS
Ở lứa tuổi HS THCS đang diễn ra mạnh mẽ của sự tự ý thức, đặc biệt là tự giáodục Nhu cầu nhận thức bản thân của HS THCS phát triển mạnh Họ có xu thế độc lậpđánh giá bản thân Sự hình thành nhận thức đạo đức nói chung và lĩnh hội tiêu chuẩncủa hành vi đạo đức nói riêng là đặc điểm tâm lý quan trọng trong lứa tuổi thiếu niên
ở tuổi HS THCS, do sự mở rộng các quan hệ xã hội, do trí tuệ và tự ý thức phát triển,
HS THCS đã biết sử dụng các nguyên tắc riêng, các quan điểm, sáng kiến riêng để chỉđạo hành vi Điều này làm cho HS THCS khác hẳn HS tiểu học (HS nhỏ chủ yếu hànhđộng theo chỉ dẫn trực tiếp của người lớn) Trong sự hình thành và phát triển đạo đức
HS THCS thì tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức, nghị lực ở các bạn thay đối nhiều
so với trẻ nhỏ
Trong những giai đoạn phát triển của con người lứa tuổi thiếu niên có một ýnghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, nhiều biến độngnhất nhưng cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thànhsau này Sự phát triển tâm lí của thiếu niên có chịu ảnh hưởng của thời kỳ phát dục.Nhưng cái ảnh hưởng quyết định nhất đối với sự phát triển tâm lý chính là những mốiquan hệ xung quanh, đặc biệt là những mối quan hệ giữa thiếu niên và người lớn Đây
là lứa tuổi của các em không còn là trẻ con nữa, nhưng chưa hẳn là người lớn Ở lứatuổi này các em cần được tôn trọng nhân cách, cần được phát huy tính độc lập nhưngcũng rất cần đến sự chăm sóc chu đáo và đối xử tế nhị
2.1.1.2 Đặc điểm lứa tuổi HS THPT
Trang 18Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúcdậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên được tính từ 15 đến
25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:
+ Thời kì từ 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên
+ Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên) Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng,
nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vìkhông phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùnghợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có nghĩa là sự trưởng thành về mặtthể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát
triển của lứa tuổi Chính vì vậy, các nhà tâm lý học Macxit cho rằng: “khi nghiên cứu
tuổi thanh niên thì cần phải kết hợp với quan điểm của tâm lý học xã hội và phải tính đến quy luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi”(tr28,5).
Thanh thiếu niên còn gọi là teen, xì tin, tuổi ô mai là một gian đoạn chuyển tiếpthể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em vàtrưởng thành Sự chuyển tiếp này liên quan đến những thay đổi về sinh học, xã hộitâm lý, dù những thay đổi về sinh học và tâm lý dễ nhận thấy nhất Tuổi HS THPT làthời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời
kì phát triển bình thường, hài hòa cân đối Ở tuổi đầu thanh niên, HS THPT vẫn còntính dễ bị kích thích ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân ở độ tuổinày Nhìn chung, lứa tuổi THPT có sự phát triển về thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnhhưởng nhất định đến tâm lí và nhân cách cũng như ảnh hưởng tới những lựa chọntrong cuộc sống
Đặc trưng lớn nhất của hoàn cảnh xã hội của sự phát triển ở lứa tuổi HS THPT
là các quan hệ có tính mở và sự chuyển đổi vai trò và vị thế xã hội Đặc trưng nàyđuợc thể hiện cụ thể như sau:
Ở lứa tuổi HS THPT, các mối quan hệ ít tính mâu thuẫn hơn so với độ tuổitrước đó Quan hệ với cha mẹ, thầy cô, bạn bè đã trở nên thuận lợi hơn do sự trưởngthành nhất định trong nhận thức của học sinh và sự thay đổi trong cách nhìn nhận củangười lớn Tuy vậy, tính chất ít xác định về quan hệ xã hội vẫn còn Một mặt học sinh
Trang 19đã có những sự độc lập nhất định trong tư duy, trong hành vi ứng xử, mặt khác họcsinh lại chưa có đuợc sự độc lập về kinh tế do vẫn phụ thuộc vào gia đình.
Trong gia đình, học sinh có thể có được quan hệ tương đối dân chủ hơn, đượctôn trọng và lắng nghe Học sinh có thể tự quyết định một sổ vấn đề của bản thân hoặcđược tham gia vào việc ra các quyết định đó như lựa chọn nghề nghiệp, học hành, tìnhcảm Việc can thiệp trực tiếp theo kiểu “ra lệnh”, “ép buộc” của cha mẹ với trẻ khôngphù hợp và cũng không thể hiệu quả nữa Sự tôn trọng và trò chuyện của phụ huynhvới học sinh có thể tạo được mối quan hệ tốt giữa cha mẹ và con cái Sự tin cậy, thẳngthắn từ phía phụ huynh giúp các bạn HS có thể nhanh chóng trưởng thành theo chiềuhướng tích cục Mức độ đồng nhất hoá của học sinh với cha mẹ ở tuổi này thấp hơn ởtrẻ nhỏ Do vậy, việc phụ huynh áp đặt các hành vi và cách suy nghĩ của mình có thểgây ra phản ứng tiêu cực của các bạn Học sinh lớn chủ yếu mong muốn cha mẹ lànhững người bạn, người “cố vấn” Những người cha mẹ tốt vẫn là những khuôn mẫuhành vi quan trọng đối với trẻ Nếu thiếu sự định hướng và những khuôn mẫu hành vi
từ phía cha mẹ, các bạn có thể tìm kiếm các khuôn mẫu khác ngoài môi trường giađình để làm theo bởi các mối quan hệ xã hội và khả năng tiếp xúc với những ngườikhác đã mở rộng hơn
Trong quan hệ với bạn bè, HS THPT có thể tham gia vào nhiều nhóm bạn đadạng hơn Nhóm bạn có các định hướng giá trị rõ rệt hơn và có điều kiện tồn tại lâudài hơn Đặc điểm này không rõ ở học sinh THCS HS THPT có thể vừa tham gia vàocác nhóm có tổ chức như lớp học, chi đoàn vừa tham gia vào các nhóm bạn bè tựphát Trong đó, có những nhóm thường xuyên, ổn định và các nhóm tạm thời tìnhhuống Các nhóm thường xuyên có sự phân hoá vai trò ổn định hơn và một số trườnghợp có sự đoàn kết
Tuổi đầu thanh niên là tuổi của những người đang lớn nhưng chưa thành ngườilớn, những người thu nhận thông tin nhưng không phải là người uyên bác, nhữngngười ham mê nhưng không phải say mê
Về đặc điểm nhận thức và phát triển trí tuệ ở HS THPT: nhận thức, hiểu biếtrộng và phong phú hơn Cụ thể: Tính độc lập và sáng tạo thể hiện rõ nét Sự phân hóahứng thú nhận thức rõ nét và ổn định hơn Sự phát triển trí tuệ đạt đến đỉnh cao Sựphát triển trí tuệ gắn liền với năng lực sáng tạo Sự phát triển nhận thức và trí tuệkhông giống nhau ở mỗi cá nhân, đặc biệt phụ thuộc nhiều vào cách dạy học Vì vậy,
Trang 20dạy học theo kiểu áp đặt không hiệu quả cao, nhưng dạy học khuyến khích phát triển
tư duy thì hiệu quả cao Vì vậy, vai trò của đổi mới phương pháp dạy học và kiểm trađánh giá rất quan trọng Tuy gắn với trí tuệ phát triển thì đời sống tình cảm và ý chícủa học sinh cũng có nhiều thay đổi như có tính phân hóa sâu, tính tự chủ và đượcđiều tiết tốt hơn Những tình cảm như tính thẩm mỹ, tình bạn, tình yêu bộc lộ mộtcách rõ ràng Tình yêu ở thời HS THPT học sinh dễ “hiệu ứng nhiễm sắc” – chỉ nhìnthấy nét đẹp của người yêu và hiệu ứng “hiệu ứng phi cá tính hóa” – dễ dàng từ bỏ cáitôi của bản thân để làm đẹp lòng người yêu Tuy nhiên, ở độ tuổi HS THPT thì ý chícủa HS thể hiện rõ ở chọn nghề trong tương lai Tuy nhiên có học sinh có ý chí kiênđịnh chọn rõ và có thành tích, bên cạnh đó có học sinh còn chưa phát huy hết khảnăng của bản thân
Về đặc điểm nhân cách của HS THPT: đặc điểm nổi bật trong nhân cách của
HS thể hiện ở tự ý thức và cái tôi Tự ý thức là khả năng học sinh tự tách ra khỏi bảnthân mình làm đối tượng của nhận thức, để đánh giá Tự đánh giá là một khả năngđược hình thành trong suốt quá trình phát triển nhân cách và được coi là dấu hiệu cơbản để nhận biết mức độ trưởng thành của nhân cách Ở HS THPT tự đánh giá thểhiện ở một số đặc điểm nổi bật sau:
Đối chiếu bản thân với chuẩn mực xã hội
Sự đánh giá có tính phê phán và đòi hỏi cao ở bản thân
Tự đánh giá có chiều sâu và khái quát hơn
Tự đánh giá thể hiện theo 3 cách: So sánh mức độ kì vọng với kết quả của bảnthân; đối chiếu so sánh với ý kiến của người khác về bản thân; sự thành thạo trongcông việc, sự hấp dẫn trong tình yêu và tình bạn thân Dù những đánh giá đó có phầnchủ quan và có chút cao hơn so với hiện thực
Tuy nhiên, quá trình hình thành nhân cách bao gồm cả việc hình thành “cáitôi” Cái tôi hay hình ảnh về cái tôi có nhiều nội dung và nhiều mức độ như cái tôi thểchất, cái tôi hiện thực, cái tôi lí tưởng Khi ở độ tuổi này, HS rất quan tâm đến thânthể của mình trong con mắt người khác Hình ảnh cái tôi được đánh giá qua nhiều tiêuchí khác nhau: tính bền vững, tính tương phản, mức độ rõ ràng
– Sự cường điệu tính độc đáo riêng của mình là đặc điểm của nhiều học sinh
Trang 21– Cái tôi của nữ và nam có sự khác biệt Nữ giới nhạy cảm và có xu hướnghướng nội hơn.
Định hướng giá trị được hiểu là thái độ, sự lựa chọn của cá nhân với giá trị vậtchất hay tinh thần Định hướng giá trị có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người
vì nó quyết định mục đích hoạt động mà con người hướng tới; nó thúc đẩy con ngườihoạt động thực hiện để hướng tới giá trị đó; nó đóng vai trò tiêu chuẩn, nguyên tắccủa hành vi
Về phân loại có thể chia các loại khác nhau:
– Căn cứ vào ý nghĩa xã hội: định hướng giá trị xã hội và định hướng giá trị cánhân
– Căn cứ vào đối tượng có đinh hướng giá trị vật chất và định hướng giá trị tinhthần
– Căn cứ vào tính chất và ý nghĩa: định hướng giá trị tích cực và định hướnggiá trị tiêu cực
Định hướng giá trị của HS THPT thể hiện qua các hoạt động và các mối quan
hệ xã hội Nét nổi bật của tuổi thanh niên là xác định kế hoạch cuộc đời Điều này là
do sự trưởng thành nhất định về nhân cách; sự cụ thể hóa ít nhiều có tính hiện thựccác ước mơ Ở HS THPT khái niệm chọn nghề dựa vào khái quát kinh nghiệm cóđược từ người xung quanh, tuy nhiên chưa đầy đủ Chọn nghề là quá trình phức tạp vàlâu dài Tuy nhiên, HS ở độ tuổi này thể hiện tính tích cực xã hội cũng rất rõ nét Tínhtích cực xã hội của HS THPT được thúc đẩy bởi các yếu tố sau: nhu cầu tìm hiểu,nắm bắt thông tin; các hứng thú liên quan đời sống xã hội
Tóm lại, lứa tuổi HS THCS và THPT là giai đoạn có những thay đổi về mặttình cảm, tâm lý: tính tình dễ vui, dễ buồn; có nhu cầu được tôn trọng từ bạn bè vàngười lớn; muốn khẳng định bản thân; nhạy cảm về giới tính; có những rung độngtrước người khác phái; muốn được trở thành người lớn Vì thế, hoàn cảnh sống tronggiai đình, nhà trường và xã hội của các bạn cũng cần được thay đổi sao cho phù hợp.Gia đình cần thừa nhận các bạn là một thành viên tích cực và giao cho những nhiệm
vụ vừa sức Nhà trường hoạt động học tập và các hoạt động khác của cần có tác độngtích cực đến việc hình thành những đặc điểm tâm lý Đồng thời, các bạn cũng muốn
Trang 22được xã hội thừa nhận như một thành viên tích cực và được giao một số công việcnhất định trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
2.1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý lứa tuổi HS THCS và THPT
Tâm lý là các hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, nó gắn liền
và điều hành mọi hành vi, hoạt động của con người Tiêu chuẩn để xác định sự nảysinh tâm lý ở một con người là khả năng đáp lại các tác động của ngoại giới có tácđộng trực tiếp hay gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của họ Vì thế, ở mỗi giai đoạnphát triển của con người đều có những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý của họ
* Đối với HS THCS
Trước tiên, đó là sự biến đổi về mặt giải phẩu sinh lý Ở độ tuổi này sự pháttriển hệ xương như các xương tay, xương chân rất nhanh, nhưng xương ngón tay,ngón chân lại phát triển chậm Vì vậy, ở lứa tuổi này các bạn không mập béo, mà cao,gây thiếu cân đối, các bạn có long ngóng vụng về, không khéo léo khi làm việc, thiếuthận trọng hay làm đổ vỡ … Điều đó gây cho các bạn một biểu hiện tâm lý khó chịu
Sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng không cân đối Thể tích của tim tăng rấtnhanh, hoạt động của tim mạnh mẽ hơn, nhưng kích thích của mạch máu lại phát triểnchậm Do đó có một số rối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn, tăng huyết áp, hay nhứcđầu, chóng mặt, mệt mõi khi làm việc Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh, thườngdẫn đến rối loạn hoạt động hệ thần kinh Do đó dễ xúc động, dễ bực tức Vì thế cácbạn thường có những phản ứng gay gắt, mạnh mẽ và những cơn xúc động Ngoài ra,
hệ thần kinh của thiếu niên còn chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh,đơn điệu, kéo dài Do tác động như thế làm cho một số bạn bị ức chế, uể oải, thờ ơ, lơđễnh, số khác có những hành vi xấu, không đúng bản chất thực sự của mình
Tiếp theo, là sự thay đổi của điều kiện sống Trong đời sống gia đình, lứa tuổinày địa vị các bạn trong gia đình đã được thay đổi, được gia đình thừa nhận như mộtthành viên tích cực, được cha mẹ, anh chị giao cho những những nhiệm vụ cụ thể nhưchăm sóc em nhỏ, nấu cơm…, các bạn ý thức được các nhiệm vụ và thực hiện tíchcực Những thay đổi đó đã động viên, kích thích học sinh THCS hoạt động tích cực,độc lập tự chủ Đời sống trong nhà trường của học sinh THCS cũng có nhiều thay đổi,
sự thay đổi về nội dung dạy học, thay đổi về phương pháp dạy học và hình thức họctập Tất cả những thay đổi đó là điều kiện rất quan trọng làm cho hoạt động nhận thức
và nhân cách của học sinh THCS có sự thay đổi về chất so với các lứa tuổi trước Bên
Trang 23cạnh đó, lứa tuổi này cũng đã được xã hội thừa nhận như một thành viên tích cực,được giao một số công việc nhất định trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: tuyên tuyền
cổ động, giữ trật tự đường phố, Ở lứa tuổi này các bạn bắt đầu thích làm công tác xãhội vì các bạn có sức lực, đã hiểu biết nhiều, muốn được mọi người thừa nhận; cácbạn cho rằng công tác xã hội là việc làm của người lớn và có ý nghĩa lớn lao Do thamgia công tác xã hội, mà quan hệ của học sinh THCS được mở rộng, các bạn được tiếpxúc với nhiều người, nhiều vấn đề của xã hội, do đó tầm hiểu biết được mở rộng, kinhnghiệm cuộc sống phong phú lên, nhân cách của các bạn từ đó được hình thành vàphát triển
* Đối với học sinh THPT
Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự pháttriển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Các bạn cóthể làm những công việc nặng của người lớn Hoạt động trí tuệ của các bạn có thểphát triển tới mức cao lúc này các bạn bắt đầu suy nghĩ nhiều hơn và nội tâm sâu sắchơn… Ở tuổi này, các bạn dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng giống như ởtuổi thiếu niên Tuy nhiên, tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhânsinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân (như hút thuốc lá,không giữ điều độ trong học tập, lao động, vui chơi…) phát triển thể chất ở lứa tuổinày sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó còn ảnhhưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các bạn
Đồng thời, điều kiện sống và hoạt động cũng ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của
HS THPT Trong gia đình, các bạn đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như ngườilớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các bạn về một số vấn đề quan trọng trong gia đình.Các bạn cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình Cácbạn bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế, chínhtrị của gia đình Có thể nói rằng cuộc sống của các bạn trong độ tuổi này là vừa họctập vừa lao động Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất vàmức độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Nhà trường lúc này có ýnghĩa đặc biệt quan trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị tri thức vàhoàn chỉnh tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quancho các bạn đòi hỏi các bạn phải tích cực độc lập, sáng tạo, phải có tính nguyên tắc,
có tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình điều này có thể tạo một số áp
Trang 24lực tiêu cực đối với các bạn Xã hội đã giao cho lứa tuổi học sinh THPT quyền côngdân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng như người lớn Tất cả các bạn đã có suynghĩ về việc chọn nghề Khi tham gia vào hoạt động xã hội các bạn được tiếp xúc vớinhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng, các bạn có dịp hòanhập và cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp các bạn tích lũy vốn kinh nghiệmsống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này Nhưng nếu các bạn chưa thật sựtrưởng thành thì rất dễ sa ngã vào các thành phần xấu
Sơ lược sự thay đổi tâm sinh lý của lứa tuổi vị thành niên
Phát triển thể chấtbắt đầu chậm lại
Hầu hết nữ giới đãphát triển hoàn thiện.Nhiều nam giới tiếptục phát triển cơ bắp
và mọc lông trênngười
Sở thích, hứng thúbắt đầu mở rộng
Tập trung vào hiệntại
Có hiểu biết tốt hơn
về mối quan hệ giữanguyên nhân và hậuquả
Có khả năng suynghĩ thông qua một ýtưởng
Xác định tốt hơn thóiquen làm việc
Cảm giác mạnh mẽ
về bản thân
11 tuổi ……… 18 tuổi
Trang 25Khí chất buồn rầu.
cao với sự tự nhậnthức còn kém
Phát triển cảm xúccủa tình yêu và niềmđam mê
Cảm xúc ổn địnhcao
Bản sắc tính dụcđược xác lập
Khao khát phát triển
sự độc lập
Sự ảnh hưởng củabạn cùng trang lứatrở nên quan trọng
Tin tưởng nhiều hơnvào sự cổ vũ của bạnbè
Có khoảng cách vớicha mẹ
Ý thức mạnh mẽ về
sự độc lập và tự chủ
Có khả năng tạodựng những mốiquan hệ phức tạp.Bắt đầu quan hệ vớicác thành viên tronggia đình như mộtngười trưởng thành
- Nội dung:
+ Tìm hiểu lý thuyết về các vấn đề liên quan đến hiện tượng SCTL
+ Tìm hiểu về sang chấn và mức độ sang chấn tâm lý ở lứa tuổi HS THCS vàTHPT
+ Những nguyên nhân dẫn đến sang chấn và cách thức giải quyết sang chấn tâm lýcủa HS THCS và THPT
+ Mong muốn của HS về phía gia đình và nhà trường để giúp HS phòng tránh vàkhắc phục SCTL
Trang 262.2 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm các phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: dùng để nghiên cứu các vấn đề lý luận
- Phương pháp quan sát: quan sát đối tượng trước, trong quá trình khảo sát vàthực nghiệm đề xuất giải pháp
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: nhằm tìm hiểu thực trạng và nguyênnhân vấn đề
- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn trực tiếp đối tượng để thu thập thôngtin phục vụ cho nghiên cứu giải pháp
Phương pháp xử lý thông tin: Phương pháp thống kê toán học được vận dụng
trong việc xử lý thông tin từ bảng khảo sát đối tượng
2.3 Cách thức nghiên cứu
2.3.1 Mẫu nghiên cứu
- 200 học sinh thuộc các trường: THPT Nguyễn Trung Trực, THCS thị trấn Tri
Tôn, THCS và THPT Cô Tô
- Học sinh được chọn ngẫu nhiên mỗi trường Khối THCS : lớp 8,9; Khối THPTlớp 10, 11, 12
Bảng 2.1 Cơ cấu học sinh được điều tra
Trang 27- Trường THPT Nguyễn Trung Trực – khảo sát ngày 10/9/2018.
- Trường THCS và THPT Cô Tô – khảo sát cả hai khối THCS và THPT vào chiềungày 18/9/2018
- Trường THCS thị trấn Tri Tôn – khảo sát ngày 19/9/2018
Giai đoạn 2:
Nhóm nghiên cứu xin phép ban giám hiệu hai trường THCS thị trấn Tri Tôn vàTHPT Nguyễn Trung Trực lồng ghép sử dụng tiết sinh hoạt dưới cờ để thông tin vềhiểu biết và thực trạng sang chấn tâm lý ở HS lứa tuổi THCS và THPT và trình bày vềcác dấu hiệu nhận diện sang chấn, biện pháp khắc phục nếu có SCTL xảy ra ở HS
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng đã xin phép nhà trường tham gia một số hoạtđộng khóa của nhà trường để tiến hành quan sát những kỹ năng tự phòng tránh vàkhắc phục sau sang chấn trong HS Tiến hành thực nghiệm tìm hiểu giải pháp trong 2tháng (9 và 10 năm 2018) Từ đó, kiểm chứng được hiệu quả của những giải pháp mànhóm nghiên cứu đã ghi nhận nhằm giúp học sinh tự phòng tránh và khắc phục hậuquả sau sang chấn Nhóm giải pháp này đã được nhóm nghiên cứu quan sát từ nămhọc trước Trong đó, có hoạt động tư vấn tâm lý do tổ bộ môn Sinh thực hiện hàngnăm trong tháng bộ môn sinh; câu lạc bộ âm nhạc – nhạc cụ do đoàn trường tổ chức;các hoạt động trải nghiệm do các tổ bộ môn tổ chức (Ngoại ngữ, Sử, Văn); câu lạc bộ
Trang 28tiếng Anh – đêm hội Hóa trang do tổ bộ môn Ngoại Ngữ tổ chức thường kỳ trong năm
học; hoạt động ngoại khóa Tiểu phẩm văn học do tổ bộ môn Văn tổ chức lồng ghép
trong tháng bộ môn hàng năm; các hoạt động phong trào do đoàn trường tổ chức…
Giai đoạn 3:
Một bảng phỏng vấn sâu được thiết kế dựa trên những thông tin được tổng hợp
từ nghiên cứu ở giai đoạn 1 Cụ thể bảng câu hỏi gồm có 5 câu:
1/ Qua những thông tin nhóm khảo sát cung cấp trong bảng khảo sát bạn có thể
tự nhận ra hiện tượng sang chấn tâm lý ở bản thân và bạn bè xung quanh chưa?
2/ Theo bạn trong nhà trường hiện nay có những yếu tố nào có thể tạo ra sangchấn tâm lý cho HS? Yếu tố nào là đáng quan tâm nhất?
3/ Bạn có đề xuất gì để giảm căng thẳng tâm lý hay giảm những yếu tố tạo rasang chấn tâm lý cho HS THCS và THPT?
4/ Nếu gặp khó khăn, vướng mắc trong học tập hoặc cuộc sống các bạn có tìmđến sự trợ giúp của thầy cô hoặc cha mẹ không?
5/ Trong thời gian qua bạn đã tham gia những hoạt động ngoài giờ nào của nhàtrường? Những hoạt động đó giúp ích gì cho bạn?
Bảng phỏng vấn sâu được thực hiện ở 20 học sinh THCS thị trấn Tri Tôn vàTHPT Nguyễn Trung Trực Các học sinh được chọn lại ngẫu nhiên trong nhóm khảosát giai đoạn 1 mà nhóm đã ghi nhận để khảo sát ý kiến Nhóm nghiên cứu tiếp xúctrực tiếp với học sinh để phỏng vấn Nhằm mục đích kiểm chứng những giải pháp mànhóm nghiên cứu đã đề xuất
Trang 29CHƯƠNG III.
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
3.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu về tâm lý họcđường diễn ra rất phổ biến Ở Việt Nam, vấn đề stress học đường đang được nhiềunhà nghiên cứu quan tâm bởi những hệ quả do stress gây ra đối với học sinh như bịtrầm cảm, có hành vi gây hấn hoặc thậm chí tự sát Tuy nhiên, ít có nghiên cứu đàosâu tìm hiểu về sang chấn tâm lý Bởi hầu như mọi người cho rằng sang chấn tâm lý ởngười là điều hiển nhiên Vì thế, các nhà nghiên cứu chỉ tìm hiểu dấu hiệu của sangchấn là căng thẳng tâm lý hoặc hậu quả của sang chấn là stress Đã có nhiều nghiêncứu đánh giá về sức khỏe tâm thần của vị thành niên, thanh niên Việt Nam nói chung
và học sinh THCS, THPT nói riêng Với thực trạng tỷ lệ học sinh mắc stress hiện nay,
đã có nhiều trường THPT có mô hình tham vấn tâm lý, nhưng mức độ tiếp cận vớihoạt động này của học sinh còn khá khiêm tốn Với các lý do trên, chúng tôi nhậnthấy việc thực hiện nghiên cứu vấn đề cốt lõi của căng thẳng tâm lý và stress là sangchấn tâm lý là phù hợp với tính cấp thiết của vấn đề
3.1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu đề cập đến sự hiểu biết của HS về các vấn đề liên quan đến hiệntượng SCTL nhằm xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp phòng tránh cũng nhưkhắc phục hậu quả SCTL ở lứa tuổi HS THCS và THPT Việc chọn đối tượng nghiêncứu, khảo sát ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của nghiên cứu nên phải chọn đối tượngsao cho ngẫu nhiên, để kết quả khảo sát khách quan Vì vậy, 200 phiếu khảo sát đượcphân bố ở ba trường trong cụm huyện Tri Tôn Năm học 2018 – 2019 tính đến ngày08/9/2018 HS cấp THPT của huyện là 2495 HS; HS cấp THCS là 8569 HS
Trường THPT Nguyễn Trung Trực là trường THPT của trung tâm huyện TriTôn, tỉnh An Giang Trường có 32 lớp với khoảng dao động từ 1000 đến 1300 HS quacác năm học Năm học 2018 – 2019 trường có 1232 học sinh Trong đó, có 09 lớp 12,
10 lớp 11 và 13 lớp 10 HS của trường THPT Nguyễn Trung Trực chủ yếu ở thị trấn
Trang 30Tri Tôn, số ít HS ở các xã Lương An Trà, Lương Phi, An Tức, Châu Lăng, Ô Lâm,Tân Tuyến, Tà Đảnh.
Trường THCS thị trấn Tri Tôn thuộc trung tâm thị trấn Tri Tôn Trường có 39lớp với 1390 học sinh Trong đó, có 9 lớp 9, 10 lớp 8, 10 lớp 7 và 10 lớp 6 HS củatrường chủ yếu cư ngụ tại thị trấn tri Tôn
Trường THCS và THPT Cô Tô thuộc xã Cô Tô, trường gồm cả HS THCS và
HS THPT Trường có 18 lớp cấp THCS với 674 HS, trong đó có 141 HS lớp 9, 146
HS lớp 8, 177 HS lớp 7 và 210 HS lớp 6; và 10 lớp cấp THPT với 404 học sinh, trong
đó, có 110 HS lớp 12, 120 HS lớp 11 và 174 HS lớp 10 HS của trường chủ yếu tậptrung ở xã Cô Tô, Tân Tuyến, Núi Tô, Ô Lâm, An Tức của huyện Tri Tôn Chất lượngtuyển sinh đầu vào lớp 6, 10 thấp; học sinh người dân tộc Khmer chiếm tỷ lệ khá cao(39,38%), năng lực tiếp thu chậm, học thụ động; học sinh con hộ nghèo và cận nghèokhá cao (20,17%), điều kiện học tập không đầy đủ như các học sinh khác dẫn đến việchọc tập chưa đạt hiệu quả
Tri Tôn là một huyện miền núi có diện tích lớn nhất và dân cư thưa thớt nhấttỉnh An Giang (Việt Nam), cách trung tâm thành phố Long Xuyên 60km về phía Tây,cách Hà Tiên - Kiên Giang 83 km, Châu Đốc 44 km, Lâm Viên - Núi Cấm 7 km PhíaĐông giáp các huyện Châu Thành, Thoại Sơn, phía Bắc giáp huyện Tịnh Biên, phíatây bắc giáp huyện Kiri Vong, tỉnh Takeo của Campuchia, phía Nam giáp tỉnh KiênGiang Tri Tôn còn là huyện có trình độ dân trí thấp, tỷ lệ hộ nghèo của huyện khácao, dân tộc khmer chiếm khoảng 30% dân số của huyện, có hơn 27.000 người đi laođộng ngoài tỉnh Đối với trường, hàng năm có trên 20% học sinh dân tộc khmer, hơn10% học sinh thuộc hộ nghèo và cận nghèo, và nhiều học sinh thuộc hoàn cảnh khókhăn gia đình đi làm ăn xa Chính những điều đó có tác động to lớn đến nhận thứccũng như tâm lí của HS và PHHS Phần lớn PH do cuộc sống mưu sinh nên mức độquan tâm đến đời sống tâm lí của con em mình vẫn còn hạn chế Ngoài ra, một bộphận PHHS cho rằng việc giáo dục toàn diện cho HS thuộc về nhà trường Đồng thời,
họ cũng tin tưởng môi trường học tập của con em là một môi trường an toàn bởi ở đó
HS được sự quan tâm giáo dục của thầy cô
Trang 313.2 Phân tích kết quả nghiên cứu từ phiếu khảo sát
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phát 218 phiếu và thu lại 200 phiếu khảo sát đốivới học sinh của 3 trường Trong đó 18 phiếu không đạt yêu cầu (do một số câukhông chọn các phương án trả lời)
3.2.1 Mức độ biết đến hiện tượng sang chấn tâm lý ở lứa tuổi HS THCS và THPT
Để khảo sát mức độ biết đến hiện tượng SCTL ở HS THCS và HS THPT nhóm
khảo sát đặt câu hỏi: Bạn đã từng nghe nói đến hiện tượng sang chấn tâm lý ? (câu hỏi có lí giải: Sang chấn tâm lý có thể hiểu đơn giản là việc trải qua các sự kiện gây
căng thẳng hay sợ hãi cao độ có thể gây ra một vết thương về mặt tâm lý – sau khi trải qua, nó gây cho ta một số khó khăn trong cuộc sống)
Kết quả:
Kết quả THPT
NTT
THPT CT
THCS CT
2238
634
832
So sánh mức độ biết đến hiện tượng sang chấn tâm lý của HS THCS và THPT,chúng tôi nhận thấy HS THCS rất ít biết đến hiện tượng này – chiếm 17,5% Trongkhi, có đến 41,7% HS THPT cho biết mình đã nghe đến hiện tượng Tuy nhiên mức
độ này cũng có độ chênh lệch giữa HS THCS và HS THPT ở các đơn vị khảo sát
Trang 32Biểu đồ 3.1 So sánh mức độ biết đến hiện tượng sang chấn tâm lý của HS
THPT NTT
HS THPT CT
HS THCS CT THCS tt TT
3.2.2 Mức độ gặp phải hiện tượng sang chấn tâm lý ở lứa tuổi HS THCS và THPT
Tuy nhiên, khi chúng tôi đưa ra định nghĩa về sang chấn tâm lý để khảo sátmức độ gặp phải hiện tượng thì đã cho ra một kết quả hoàn toàn khác Điều đó chothấy việc HS chưa nghe đến hiện tượng và việc đã gặp phải hiện tượng là hai vấn đề
Trang 33khác biệt Thực tế đó đã chứng minh sang chấn tâm lý là một hiện tượng tâm lý mà aicũng có thể gặp phải ngay trong chính cuộc sống hàng ngày của mình.
Kết quả THPT
NTT
THPT CT
THCS CT
072330
081517
071914
Trong 200 HS tham gia khảo sát, có đến 50,5% HS nghĩ rằng mình đã từng trảiqua sang chấn; 36,0% không xác định được mình có từng trải qua sang chấn chưa,trong khi chỉ có 13,5% HS nghĩ rằng mình chưa từng bị sang chấn
Biểu đồ 3.2 So sánh nhận định của học sinh THCS và THPT về việc bản
thân đã từng trải qua sang chấn tâm lý
0 10
Trang 34Từ kết quả trên còn cho chúng ta thấy nhận định giữa HS THCS và THPTkhông có sự khác biệt khác biệt quá lớn Tuy nhiên, HS THCS ít có xu hướng gặpphải sang chấn hơn HS THPT Nhìn chung, HS tham gia khảo sát vẫn còn mơ hồ vềchính mình, chưa nắm rõ chuyển biến tâm lý thực sự của bản thân Đây cũng chính lànguyên nhân khiến HS khó có thể tự mình khắc phục và vượt qua sang chấn
Cụ thể:
* Trường THPT Nguyễn Trung Trực: 05 phiếu xác định các bạn chưa từng trải qua
sang chấn tâm lý (8,33%), 34 phiếu nghĩ đã từng trải qua sang chấn (56,67%), trongkhi 21 phiếu vẫn mơ hồ không rõ đã từng trải qua sang chấn tâm lý hay chưa (35,0%)
Biểu đồ 3.3 Nhận định của học sinh trường THPT Nguyễn Trung Trực
về việc bản thân đã từng trải qua sang chấn tâm lý
Nhận định của học sinh trường THPT Nguyễn Trung Trực
về việc bản thân đã từng trải qua hiện tượng sang chấn tâm lý
Chưa từng
Đã từng Không rõ
* Trường THCS và THPT Cô Tô
Trang 35Đối với HS THPT: 07 phiếu xác định các bạn chưa từng trải qua sang chấn
tâm lý (11.67%), 23 phiếu nghĩ đã từng trải qua sang chấn (38,33%), trong khi 30phiếu vẫn mơ hồ không rõ đã từng trải qua sang chấn tâm lý hay chưa (50,0%)
Biểu đồ 3.4 Nhận định của học sinh THPT trường THCS và THPT Cô
Tô về việc bản thân đã từng trải qua sang chấn tâm lý
Chưa từng
Đã từng Không rõ
Đối với HS THCS: 08 phiếu xác định các bạn chưa từng trải qua sang chấn
tâm lý (20,0%), 15 phiếu nghĩ đã từng trải qua sang chấn (37,5%), trong khi 17 phiếuvẫn mơ hồ không rõ đã từng trải qua sang chấn tâm lý hay chưa (42,5%)
Biểu đồ3.5 Nhận định của học sinh THCS trường THCS và THPT Cô
Tô về việc bản thân đã từng trải qua sang chấn tâm lý
Chưa từng
Đã từng Không rõ