Năm 1970, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên IUCN đã định nghĩa: Giáo dục môi trường là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng và qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
DƯƠNG TIẾN DŨNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác gia luận văn
Dương Tiến Dũng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của luận văn gồm 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 9
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ CỦA ĐỀ TÀI 13
1.2.1 Giáo dục bảo vệ môi trường 13
1.2.2 Quản lý giáo dục 17
1.2.3 Quản lý giáo dục bảo vệ môi trường 20
1.3 HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 21
1.3.1 Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường 21
1.3.2 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường 23
1.3.3 Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường 23
1.3.4 Hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường 26
Trang 41.3.5 Đội ngũ giáo viên và các lực lượng tham gia giáo dục BVMT 28
1.3.6 Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 30
1.3.7 Điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong giáo dục bảo vệ môi trường 30
1.4 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 31
1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường 31
1.4.2 Quản lý nội dung giáo dục bảo vệ môi trường 31
1.4.3 Quản lý hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường 32
1.4.4 Quản lý đội ngũ giáo viên và các lực lượng tham gia giáo dục bảo vệ môi trường 35
1.4.5 Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục BVMT 36
1.4.6 Quản lý điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong giáo dục bảo vệ môi trường 37
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH 39
2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, TÌNH HÌNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 39
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh 39
2.1.2 Tình hình giáo dục cấp THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh 41
2.2 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT 44
2.2.1 Mục đích khảo sát: 44
2.2.2 Nội dung khảo sát 45
2.2.3 Phương pháp khảo sát 45
2.2.4 Tổ chức khảo sát 45
Trang 52.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở
CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH 46
2.3.1 Thực trạng việc thực hiện mục tiêu giáo dục BVMT 46
2.3.2 Thực trạng việc thực hiện nội dung giáo dục BVMT 47
2.3.3 Thực trạng hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường 48
2.3.4 Thực trạng việc sử dụng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và công tác phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục bảo vệ môi trường 51
2.3.5 Thực trạng việc thực hiện kiểm tra, đánh giá giáo dục bảo vệ môi trường 54
2.3.6 Thực trạng về điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong giáo dục bảo vệ môi trường 55
2.3.7 Kết quả giáo dục bảo vệ môi trường ở các trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh 57
2.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BVMT Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH 57
2.4.1 Nhận thức của CBQL, giáo viên về hoạt động giáo dục BVMT và quản lý hoạt động giáo dục BVMT 57
2.4.2 Thực trạng quản lý mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường 60
2.4.3 Thực trạng quản lý thực hiện nội dung giáo dục BVMT 61
2.4.4 Thực trạng quản lý hình thức tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 63
2.4.5 Thực trạng quản lý việc sử dụng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và sự phối hợp của các lực lượng tham gia giáo dục BVMT 68
2.4.6 Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá giáo dục BVMT 72
2.4.7 Thực trạng quản lý điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 73
Trang 62.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN
CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH 74
2.5.1 Ưu điểm 74
2.5.2 Hạn chế 75
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 75
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 77
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH 79
3.1 NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP 79
3.2 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH 80 3.2.1 Nâng cao nhận thức của đội ngũ CBQL, giáo viên, HS và các lực lượng tham gia giáo dục bảo vệ môi trường 80
3.2.2 tăng cường quản lý hoạt động dạy học tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục bvmt và các hoạt động giáo dục ngll 85
3.2.3 thường xuyên bồi dưỡng giáo viên về nội dung, phương pháp giáo dục môi trường 95
3.2.4 phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục bảo vệ môi trường 97 3.2.5 chuẩn hóa công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 101
3.2.6 tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 104
3.3 KHẢO NGHIỆM SỰ CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 107
3.4 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 109
Trang 7TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 111 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 9STT Tên viết tắt Nội dung
Trang 10lục 5
giáo dục BVMT
Phụ lục 6
hoạt động giáo dục BVMT
Phụ lục 7
Trang 11Số
hợp, lồng ghép nội dung giáo dục BVMT của GV
Phụ lục 8
lục 9
có tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục BVMT
Phụ lục 10
hoạt động ngoài giờ lên lớp
Phụ lục 11
lục 12
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên Cùng với vấn đề dân số, môi trường đã trở thành vấn đề quan tâm của toàn thể nhân loại không chỉ bởi vai trò vô cùng to lớn của nó đối với chất lượng cuộc sống Hiện nay, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con người đã làm MT sống của mình thay đổi theo hướng tiêu cực và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững Giáo dục ý thức BVMT cho mọi người dân trong cộng đồng nói chung và cho thế hệ trẻ trong các nhà trường phổ thông nói riêng là một biện pháp tích cực, có ý nghĩa to lớn đối với việc bảo vệ, xây dựng MT sống cho hôm nay và cả mai sau Chính vì vậy, MT là một trong những vấn đề thách thức lớn nhất đối với mỗi quốc gia, khu vực và thế giới trong thế kỷ 21 Giáo dục BVMT là nhiệm
vụ cấp bách, quan trọng, là vấn đề mang tính sống còn của mỗi quốc gia, là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của xã hội, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống, thể chất, giống nòi của dân tộc Hơn nữa, BVMT hiện nay là một trong những vấn đề thời sự mang tính toàn cầu
Tháng 6 năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển họp tại Rio de Janero (Braxin) với 179 nước tham dự trong đó có Việt Nam, đã thông qua tuyên ngôn RIO, thể hiện sự đồng lòng thống nhất tìm ra các giải pháp cơ bản nhằm giúp các nước nâng cao đời sống cho người dân nhưng không làm tổn hại đến MT, bảo đảm sự phát triển mang tính bền vững Đồng thời tại Hội nghị, các đại biểu tham dự đã thống nhất đưa lĩnh vực MT và phát triển vào giáo dục và được các nước hưởng ứng tích cực
BVMT chính là bảo vệ sự sống của chúng ta Ở nước ta, hoạt động giáo dục BVMT nói chung, GD - ĐT và nâng cao ý thức BVMT nói riêng đã được Đảng, Nhà nước và các Bộ, ngành quan tâm từ nhiều năm nay và đã có những
Trang 13chủ trương, biện pháp giải quyết vấn đề MT trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước Điều này đã được thể hiện rất rõ trong nhiều văn bản của Đảng và Chính phủ Từ năm 1993 Luật bảo vệ môi trường đã được Quốc Hội thông
qua, trong đó Điều 4 của Luật quy định : “Nhà nước có trách nhiệm tổ chức
thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động nói tại Điều này” Chỉ thị số
02/2005/CT-BGD&ĐT ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về việc tăng cường công tác giáo dục BVMT Điều 155, Luật Bảo vệ môi trường năm
2014 cũng đã nêu rõ: “Chương trình chính khóa của các cấp học phổ thông
phải có nội dung giáo dục về môi trường; Nhà nước ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết chương trình giáo dục về môi trường
và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường” Công văn số
1508/BTNMT-TCMT, ngày 24/4/2015 của Bộ Tài nguyên & Môi trường đề nghị các Bộ, ban ngành, đoàn thể Trung ương; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Môi trường Thế giới năm 2015 như: Quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014… đến đông đảo cán bộ và tầng lớp nhân dân; Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vận động, GD cán bộ và người dân nâng cao nhận thức về BVMT, phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; khuyến khích và vận động người dân tăng cường các hoạt động tiêu thụ bền vững Bộ Tài nguyên & Môi trường cũng yêu cầu các đơn vị tổ chức các hoạt động
Trang 14cộng đồng ra quân làm vệ sinh MT, thu gom xử lý chất thải, rác thải; giải quyết những vấn đề MT bức xúc, tồn đọng trên địa bàn dân cư, cơ quan, đơn
vị, trường học, cơ sở sản xuất, kinh doanh; khơi thông dòng chảy, nạo vét kênh mương, ao hồ hệ thống thoát nước và các hoạt động phù hợp khác
Cầu Kè là một huyện thuộc vùng sâu của tỉnh Trà Vinh, kinh tế khó
khăn, có đông đồng bào dân tộc Khmer (chiếm khoảng 31% dân số toàn
huyện) Trong những năm gần đây, ở các trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh
Trà Vinh, nội dung giáo dục BVMT được thực hiện thông qua dạy học tích hợp, lồng ghép trong các môn học Bên cạnh việc giảng dạy tích hợp, lồng ghép trong các môn học, các trường đã tiến hành hoạt động ngoại khoá theo các chủ đề có liên quan đến tình hình môi trường ở địa phương như: tổ chức thứ bảy tình nguyện, chủ nhật xanh, chương trình xanh hoá trường, lớp, các cuộc thi tìm hiểu về môi trường và tổ chức các hoạt động khác như vệ sinh làm sạch MT ở khu dân cư, vận động gia đình, các hộ dân giữ gìn vệ sinh MT Tuy nhiên, các hoạt động giáo dục BVMT và quản lý hoạt động giáo dục BVMT còn nhiều hạn chế, các trường chưa thực hiện một cách đồng bộ Học sinh chưa thực sự có ý thức trách nhiệm với MT, chưa thực sự hành động để BVMT Việc giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, ở khu dân cư và cả trong trường học của HS vẫn còn yếu kém như còn hiện tượng vứt rác bừa bãi, sử dụng nước sạch lãng phí và ý thức tự giữ gìn vệ sinh cá nhân của học sinh chưa thực sự trở thành thói quen trong sinh hoạt hằng ngày Để đạt được mục tiêu
GD và ĐT con người Việt Nam phát triển toàn diện, để đảm bảo cuộc sống cho con người và sự phát triển bền vững của đất nước, giáo dục BVMT cho
HS các trường phổ thông trở thành một yêu cầu thiết yếu nhằm tăng cường hiểu biết của HS đối với thế giới tự nhiên và đời sống xã hội Đặc biệt là tăng cường hiểu biết về mối quan hệ, tác động qua lại giữa con người với tự nhiên trong sinh hoạt và lao động sản xuất, góp phần hình thành ở thế hệ trẻ thế giới quan, nhân sinh quan đúng đắn và hành động đúng đắn về MT và BVMT
Trang 15Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý
hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở các trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh” làm vấn đề nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục
BVMT ở các trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục BVMT nhằm góp phần nâng cao hiệu quả GD toàn diện cho HS ở các trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu : Hoạt động giáo dục BVMT ở các trường
THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu : Quản lý hoạt động giáo dục BVMT ở các
trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh
4 Giả thuyết khoa học
Việc quản lý hoạt động giáo dục BVMT ở các trường THPT huyện Cầu
Kè tỉnh Trà Vinh trong những năm qua chưa được quan tâm đúng mức, nhận thức và hành vi BVMT của HS còn nhiều hạn chế Hiệu quả của hoạt động
giáo dục BVMT sẽ được nâng cao nếu thực hiện một cách đồng bộ và hợp lý
các biện pháp quản lý như quản lý nâng cao nhận thức cho CBQL và GV,
quản lý kế hoạch hóa hoạt động giáo dục BVMT, đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá, thi đua, khen thưởng hoạt động giáo dục BVMT,…
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động giáo dục BVMT cho HS trung học phổ thông
5.2 Khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục BVMT và các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục BVMT ở các trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục BVMT ở các trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh
Trang 166 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về lý luận và thực trạng quản lý hoạt động
giáo dục BVMT ở các trường THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh trong giai
đoạn 2011 – 2015 và đề xuất các biện pháp trong giai đoạn 2016-2020
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động: nghiên cứu sản phẩm của CBQL và GV như: kế hoạch quản lý, kế hoạch dạy học và trang thiết bị giáo dục, giáo án,
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
7.3 Nhóm các phương pháp bổ trợ
Phương pháp thống kê toán học
8 Cấu trúc của luận văn gồm
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục BVMT cho
học sinh THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục BVMT ở các trường
THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục BVMT ở các trường
THPT huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh
- Phần Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 17bị ô nhiễm, trong đó vấn đề GD cho HS ý thức BVMT và quản lý hoạt động giáo dục BVMT là một giải pháp BVMT cho tương lai Giáo dục BVMT là hoạt động mang tính toàn cầu, do đó con người phải phối hợp hành động nhằm tìm ra những biện pháp khắc phục, ngăn chặn sự ô nhiễm MT, sự cạn kiệt TNTN để đảm bảo cho sự phát triển bền vững cho mọi thế hệ
Chính vì vậy, vấn đề về MT, giáo dục BVMT và quản lý hoạt động giáo dục BVMT đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của mỗi quốc gia, các nhà khoa học, nhà giáo, nhà QLGD trong và ngoài nước
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Lần đầu tiên trong lịch sử, năm 1948, tại Paris, trong cuộc họp của Liên Hiệp Quốc về BVMT và tài nguyên thiên nhiên, thuật ngữ “Giáo dục môi trường” đã được sử dụng
Trang 18Năm 1970, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đã định nghĩa: Giáo dục môi trường là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết để hiểu và đánh giá được sự quan hệ tương tác giữa con người, nền văn hoá, thế giới vật chất bao quanh; Giáo dục môi trường đồng thời cũng thực hiện quyết định đưa ra bộ quy tắc ứng xử với vấn đề liên quan tới đặc tính của MT
Trong tuyên bố của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về “Môi trường con người” tại Stockholm, ngày 5/6/1972 đã nêu: “Việc giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để họ có được trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường” Từ đó, ngày 5 tháng 6 hàng năm trở thành Ngày môi trường thế giới Ngay sau đó, Chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) cùng với Tổ chức văn hoá, khoa học, giáo dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã thành lập Chương trình Giáo dục môi trường Quốc tế (IEEP) và đã đưa ra nghị định khung và tuyên bố về những mục tiêu và những nguyên tắc hướng dẫn Giáo dục môi trường
Năm 1977, tại Hội nghị liên Chính phủ lần đầu tiên về Giáo dục môi trường do UNESCO tổ chức tại Tbilisi, Liên Xô có 66 thành viên các nước tham dự Hội nghi đưa ra các ý kiến đóng góp cho việc áp dụng rộng rãi hơn nữa Giáo dục môi trường trong chương trình GD chính thức và không chính thức Sự kiện quan trọng này đã tiếp tục đóng góp cho hệ thống nguyên tắc của sự phát triển Giáo dục môi trường trên toàn thế giới ngày nay Từ năm
1986 trở đi, các hoạt động quốc tế tiếp tục bổ sung, đóng góp cho chiến lược bảo tồn thế giới, giải quyết các vấn đề về GDMT, đạo đức và văn hoá
Năm 1987 đánh dấu 10 năm kỷ niệm hội nghị Tbilisi đầu tiên và tại hội nghị này một loạt các vấn đề cơ bản được đưa ra thảo luận trong đó có tầm quan trọng đặc biệt của GDMT Vì thế chúng ta hiểu được tầm quan trọng tại sao mỗi người phải nhận thức MT đúng đắn thông qua GDMT
Trang 19Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường diễn ra tại Rio
de Janero (Brazil), đã đưa ra yêu cầu: mọi Chính phủ đều phải nỗ lực phấn đấu để cập nhật hóa hoặc chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết hợp MT
và phát triển thành vấn đề trung tâm để đưa vào tất cả các cấp GD Ngay từ thập kỷ 70, chương trình Giáo dục môi trường đã được đưa vào hệ thống giáo dục THPT ở nhiều nước trên thế giới:
Ở Đức, có chương trình Tìm hiểu đất nước trong bậc tiểu học Các cấp
học từ trung học trở lên thì nội dung Giáo dục môi trường được gắn hữu cơ vào chương trình Sinh học và Địa lí
Ở Nhật, trọng tâm của GDMT là chống ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe, nội
dung này lồng ghép vào các môn học đặc biệt là môn Sinh học và Địa lý
Ở Singapore, các chương trình giảng dạy MT ở các trường đại học được tiến hành tốt nhất Việc GDMT được các quy đinh về pháp luật đi kèm Đối với Thái Lan, nơi có trường AIT là nguồn cung cấp và đào tạo các
kỹ thuật viên môi trường Hầu hết các trường đại học ở Thái Lan đều có quyền cấp bằng cử nhân hoặc thạc sĩ về môi trường
Tuy hình thức và phương pháp GDMT ở mỗi nước có khác nhau nhưng đều đã khẳng định sự cần thiết và tính cấp bách của GDMT trong nhà trường
và trong cộng đồng
Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất họp tại Rio de Janero (Braxin) năm
1992 đã xác định chiến lược hành động cho loài người về MT và phát triển
MT ở thế kỷ 21, trong đó có hành động xem xét lại tình hình GDMT và đưa GDMT vào chương trình giáo dục cho tất cả mọi lớp ở các cấp học Đây cũng là một trong những mục tiêu chủ yếu của chương trình GDMT quốc tế (IEEP) của UNESCO và UNEP Sau hội nghi này tất cả các nước xem lại tình hình GDMT ở quốc gia mình và xây dựng những mô hình giáo dục mới phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả
Trang 201.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Vấn đề giáo dục BVMT là vấn đề quan tâm mang tính toàn cầu Ở nước
ta, giáo dục BVMT cũng đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc và được
nghiên cứu từ những năm 1980 Các chương trình nghiên cứu, các đề tài
nghiên cứu, các dự án về GDMT đều thuộc diện nhà nước ưu tiên Từ đó đến nay vấn đề GDMT đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục Những đề tài này đã nêu lên một số vấn đề lí luận chung về GDMT đồng thời trên cơ sở đó đã triển khai thực
hiện ở các đơn vị trường học
Từ năm 1982 - 1983, khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đưa môn bảo vệ tự nhiên, mà nay là GDMT vào chương trình đào tạo Đến năm 1985, cuốn sách “Quán triệt tinh thần giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dân số và BVMT” của NXB GD và cuốn sách “Giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông” của PGS Nguyễn Dược xuất bản năm
1986 cho thấy rõ sự nhận thức về Giáo dục môi trường ở nước ta Hiện nay, các hoạt động GDMT được tiến hành một cách mạnh mẽ Ngoài việc Giáo dục môi trường cho quần chúng nhân dân thông qua phương tiện truyền thông đại chúng rất đa dạng và phong phú như chương trình “Dân số và Môi trường”, “Môi trường và Đời sống”, các phong trào “Xanh - sạch - đẹp”, trong nhiều trường đại học đã có các môn học về môi trường
Năm học 1993 - 1994, khoa Môi trường học thuộc trường đại học khoa học tự nhiên Hà Nội được thành lập và triển khai đào tạo các cán bộ về học môi trường Ở thành phố Hồ Chí Minh, khoa Môi trường cũng được thành lập ở trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Đại học Kỹ thuật Công nghệ vào năm 1999
Thông qua việc thay đổi sách giáo khoa giai đoạn 1986 - 1992 các tài liệu chuyên ban và thí điểm, tác giả sách giáo khoa đã chú trọng đến việc GDMT vào sách, đặt biệt là môn Sinh học, Địa lý, Hoá học và Kỹ thuật mà
Trang 21cả các môn khác như Giáo dục công dân, Đạo đức và Văn học Đợt thay sách bắt đầu từ năm 2002 đã tích hợp kiến thức môi trường vào tất cả các môn học
Song song với việc giảng dạy trong nhà trường, nhiều đề tài nghiên cứu
KH về Giáo dục môi trường cấp nhà nước, nhiều đề tài luận án tiến sĩ và thạc sĩ
đã và đang được thực hiện, có tác dụng mở rộng nội dung và nâng cao hiệu quả của việc Giáo dục môi trường
Từ năm 1986 trở đi, các đề tài nghiên cứu về Giáo dục môi trường đã được nghiên cứu ngày càng nhiều, như: “Giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông” của PGS Nguyễn Dược (1986), “Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông” của Nguyễn Phi Hạnh, Nguyễn Thị Thu Hằng (1994), “Một số phương pháp tiếp cận GDMT” của Hoàng Đức Nhuận (1999), “Giáo dục môi trường” của Nguyễn Kim Hồng (2001),
Năm 1991 - 1995, đề tài KT.02.17 thuộc chương trình KT.02, với 6 hướng nghiên cứu đã đưa ra những căn cứ khoa học để nâng cao hiệu quả GD – ĐT, phổ cập kiến thức MT ở Việt Nam và trên cơ sở đó xác định mục tiêu, nội dung, hình thức Giáo dục môi trường cho tất cả các đối tượng trong xã hội Năm 1998 - 2000, Viện Khoa học GD Việt Nam tiếp tục triển khai đề tài
"Nghiên cứu xây dựng các phương pháp luận cơ bản về GDMT cho giáo sinh
sư phạm và giáo viên" Đề tài đã chỉ ra cơ sở lí luận của các phương pháp tiếp cận GDMT và soạn thảo một số phương pháp cơ bản về GDMT
Vấn đề GDMT còn được triển khai nghiên cứu trong nhiều dự án Dự án GDDS VIE/94/P01, chu kỳ 1994 - 1996, đã nghiên cứu việc tích hợp nội dung Giáo dục môi trường vào chương trình GD các cấp học và được phân chia thành các thông điệp như môi trường - tài nguyên, sự ô nhiễm MT, mối quan
hệ giữa dân số - môi trường - tài nguyên, sự cần thiết và các biện pháp BVMT Các nội dung trên được xây dụng cụ thể cho từng cấp học, theo từng môn học và từng lớp học
Trang 22Từ năm 1995 đến nay, Bộ GD&ĐT kết hợp với chương trình phát
triển của Liên Hợp Quốc - UNDP đã triển khai nghiên cứu một cách có hệ
thống về vấn đề GDMT trong nhà trường (dự án VIE/95/041) Trên cơ sở xác định vị trí, vai trò, mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp GDMT, chương trình đã tập hợp được tài liệu hướng dẫn GDMT cho những người đào tạo giáo viên ở các bậc tiểu học và bậc trung học Chương trình cũng
đã đưa ra quan điểm của Việt Nam về GDMT và kiến nghị những chính sách, chiến lược thực hiện GDMT trong nhà trường phổ thông Việt Nam Năm 1995, dự án GDMT trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam (VIE 5/041) của Bộ GD-ĐT do UNDP tài trợ nhằm vào các mục tiêu cơ bản: hỗ trợ xây dựng một bản chính sách và chiến lược thực hiện quốc gia
về GDMT tại Việt Nam; tăng cường năng lực của Bộ GD-ĐT trong việc truyền đạt những nội dung và phương pháp GDMT vào các chương trình đào tạo giáo viên; xây dựng các hoạt động GDMT cụ thể để thực hiện ở cấp tiểu học và trung học
Những chủ đề về GDMT không chỉ được lồng ghép vào những môn học có liên quan đến môi trường như Vật lý, Sinh học, Địa lý, Hoá học và Công nghệ mà cả các môn khác như Giáo dục công dân và Văn học
Nội dung kiến thức về GDMT được đưa vào gồm: mối quan hệ của con người với tự nhiên, vẻ đẹp thiên nhiên, phong tục, luật pháp BVMT và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Ngoài khối kiến thức được trang bị ở những giờ học trên lớp, học sinh còn được tham gia các chương trình ngoại khoá theo các chủ đề có liên quan đến tình hình MT ở địa phương như nước uống, năng lượng sử dụng trong gia đình, rừng nhiệt đới, MT sinh thái, rác thải sinh hoạt, và một số các vấn đề khác như chương trình xanh hoá nhà trường, Tết trồng cây và các cuộc thi tìm hiểu về MT như viết truyện, chụp ảnh, quay băng hình video, vẽ tranh
Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2001 của Thủ
Trang 23tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án: “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống Giáo dục quốc dân” với mục tiêu: “Giáo dục học sinh, có những hiểu biết về pháp luật và chủ chương chính sách của Đảng, Nhà nước về BVMT; có kiến thức về MT để tự giác thực hiện BVMT”
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ra quyết định số 6621/QĐ-BGDĐT-KHCN ngày 30-12-2002 phê duyệt "Chính sách và Chương trình hành động giáo dục môi trường trong trường phổ thông giai đoạn 2001 - 2010" Theo Chương trình này, thì giai đoạn 2001 - 2005 là giai đoạn chuẩn bị, trong đó có các công việc, như: soạn thảo và ban hành các văn bản pháp quy; xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp GD; bồi dưỡng GV và cán bộ quản lý về GDMT; xây dựng tổ chức và cơ sở vật chất; tiến hành các hoạt động ngoại khóa, các chiến dịch truyền thông MT; chỉ đạo điểm Từ năm 2006 trở đi mới là triển khai mở rộng trong
phạm vi toàn quốc
Nghị quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị
về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Nghị quyết xác định quan điểm “BVMT là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là yếu tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ, phát triển KT - XH, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta” Với phương châm “lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với MT là chính” Tuyên truyền GD nâng cao nhận thức là giải pháp số một
Cụ thể hóa và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, 3/1/2005 Bộ trưởng Bộ GD - ĐT đã ra chỉ thị về việc tăng cường công tác giáo dục BVMT, xác định BVMT nhiệm vụ trọng tâm cho giáo dục phổ thông là trang bị cho HS kiến thức, kỹ năng về MT và BVMT bằng hình thức phù hợp trong các môn học nhằm xây dựng mô hình nhà trường xanh, sạch, đẹp phù hợp với điều kiện nhà trường
Trang 241.2 CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Giáo dục bảo vệ môi trường
a Môi trường
Môi trường là một khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt sau hội nghị Stockholm về môi trường 1972 Tuy nhiên, nghiên cứu về những khái niệm liên quan đến định nghĩa đưa ra trong Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam, có những khái niệm đáng chú ý sau đây: Trong từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê đưa ra khái niệm: “Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại phát triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy” [23]
Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì “Môi trường của con người
bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra (các hệ thống sinh thái, môi trường văn hóa…), trong đó con người sống và bằng hoạt động của mình, khai thác những tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo, nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người” [ 7, tr 65 ]
Viện sĩ I.P.Gheraximov, nhà Địa lý học người Nga (1972) đã đưa ra định
nghĩa môi trường như sau: "Môi trường (bao quanh) là khung cảnh của lao
động, của cuộc sống riêng tư và nghỉ ngơi của con người" [6, tr 20], trong đó
môi trường tự nhiên là cơ sở cần thiết cho sự sinh tồn của nhân loại Như vậy,
“môi trường‟‟ bao gồm tất cả các thành phần tự nhiên và nhân tạo ở xung quanh con người, giúp con người thỏa mãn mọi nhu cầu về lao động, nghỉ ngơi và giải trí
Trong các tài liệu về Giáo dục học, “môi trường” được hiểu là “hệ thống
phức tạp các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh cần thiết cho sự sinh hoạt và phát triển của con người” [ 21 ]
Theo UNEP “Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học,
kinh tế xã hội, tác động lên môi trường cá thể hay cả cộng đồng”
Trang 25Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam (2014) nêu rõ: “Môi
trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” [ 16]
Có nhiều cách diễn đạt khái niệm về “Môi trường”, song phải thống nhất rằng môi trường sống của con người bao gồm MT tự nhiên, MT nhân tạo và
MT xã hội, trong đó con người sống và có quan hệ đan xen, chặt chẽ với các loại MT
- Môi tường tự nhiên: bao gồm các nhân tố gắn với tự nhiên như đất, nước, không khí, sinh vật… phát triển theo những quy luật tự nhiên và tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người nhưng ít nhiều chịu sự tác động của con người MT tự nhiên cho con người không khí để thở, đất để xây dựng các công trình, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ sản xuất và tiêu thụ
- Môi trường nhân tạo: bao gồm các yếu tố vật lý, sinh học, XH do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người Hiểu một cách khác thì
“MT nhân tạo” là hệ thống MT do con người lợi dụng tự nhiên, cải tạo tự nhiên tạo ra như thành phố, làng mạc, đường sá, nhà máy, trường học, bệnh viện, công viên… Trình độ KHKT ngày càng phát triển thì MT nhân tạo càng thay đổi nhanh chóng nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người
- Môi trường xã hội: là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển đời sống xã hội và làm cho cuộc sống của con người khác với những sinh vật khác
Sự phân chia ba loại MT nêu trên chỉ để phục vụ mục đích nghiên cứu và phân tích các hiện tượng phức tạp của MT Trong thực tế, ba loại MT nêu trên cùng tồn tại đan xen nhau và có mối quan hệ mật thiết và chặt chẽ; khi có sự thay đổi của một bộ phận trong các thành phần của MT thì sẽ dẫn đến sự thay
Trang 26đổi dây chuyền của các thành phần khác theo những mức độ khác nhau Con người tồn tại và có mối quan hệ chặt chẽ với các loại MT nêu trên
Tóm lại: Môi trường là tất cả những gì tồn tại xung quanh chúng ta, tạo điều kiện cho ta sinh sống và phát triển
b Bảo vệ môi trường
Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng lên Bên cạnh đó, MT ngày càng đi xuống, diễn biến
MT ngày càng phức tạp, đe dọa trực tiếp đến đời sống của con người BVMT
là vấn đề sống còn, không phải thuộc trách nhiệm của bất kỳ đất nước, cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào Giải pháp tốt nhất là xây dựng ý thức BVMT cho mọi người, để ý thức đó ăn sâu vào tâm trí của mọi người Dù nền văn minh có hiện đại nhưng tất cả sẽ chấm hết nếu trái đất không còn Khi chưa thấy rõ tác hại của ô nhiễm MT đối với Trái đất, thì ý thức bảo vệ vẫn còn khá hời hợt và chưa rõ rệt Chúng ta luôn sống trong sự thờ ơ và vô trách nhiệm đối với sự ô nhiễm MT cho đến khi nó thực sự ảnh hưởng đến tính mạng của tất cả các sinh vật sống trên Trái đất Do đó khái niệm BVMT mang một nội dung hoàn toàn khác, bao gồm:
- Hoạt động BVMT là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến MT; ứng phó sự cố MT; khắc phục ô nhiểm, suy thoái, cải thiện, phục hồi MT; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ MT trong lành
- Hoạt động BVMT về phương diện quản lý vĩ mô:
+ Phòng ngừa hạn chế các tác động xấu đến môi trường và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường
+ Cải tạo, phục hồi môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm, suy thoái + Khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn TNTN; bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học nhằm đạt mục tiêu: sử dụng tài nguyên hiệu quả và bền vững
Trang 27- Hoạt động BVMT đối với từng thành viên của cộng đồng:
+ Bản thân có ý thức và vận động mọi người tham gia BVMT, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học
+ Bảo vệ và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
+ Giảm thiểu, thu gom, tái chế và tái sử dụng chất thải
+ Phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ôzôn
+ Hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh MT, xóa bỏ hủ tục gây hại đến MT
+ Đóng góp kiến thức, công sức, tài chính cho hoạt động BVMT
c Giáo dục bảo vệ môi trường
Đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau về giáo dục môi trường
Hội nghị về GDMT trong trường học (Paris, 1970) đã nêu ra định nghĩa
về Giáo dục môi trường “là quá trình nhận thức ra giá trị và làm sáng tỏ các
quan điểm, phát triển các kỹ năng và thái độ cần thiết để hiểu và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người, môi trường văn hóa và môi trường tự nhiên bao quanh Giáo dục môi trường đòi hỏi thực hành (áp dụng thực tiễn) trong việc ra quyết định và tự xây dựng quy tắc hành vi về các vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường” [19] Định nghĩa này đã nêu lên mối quan
hệ giữa môi trường văn hóa và môi trường tự nhiên, nhấn mạnh rằng, phương pháp GDMT là đòi hỏi phải thực hành, phương thức GDMT là cần coi trọng
cả giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường
Vào năm 1974, Hội thảo về GDMT tại Phần Lan đã đưa ra quan niệm:
“Giáo dục môi trường là con đường thực hiện các mục tiêu BVMT Giáo dục môi trường không phải là một ngành khoa học hay một môn tách biệt Giáo dục môi trường phải tiến hành theo nguyên tắc giáo dục suốt đời” [19]
Theo điều 3 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 có nêu : “Hoạt động
BVMT là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi
Trang 28trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành”[ 16 ]
BVMT và TNTN là vấn đề cần thiết và cấp bách nhất Đây là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tất cả mọi người Những hành vi gây tổn hại cho
MT cần phải nghiêm trị BVMT là bảo vệ nguồn sống của con người
Giáo dục BVMT nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó (nhận thức); những khả năng cơ bản về môi trường và BVMT (kiến thức) những tình cảm; mối quan tâm trong việc cải thiện và BVMT (thái độ, hành vi), những kỷ năng giải quyết cũng như cách thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia (kỹ năng) tinh thần, trách nhiệm trước những vấn đề về môi trường và có những hành động thích hợp giải quyết vấn đề ( tham gia tích cực)
Hiện nay, do tình hình ô nhiễm MT đã đến mức báo động gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của một bộ phận dân cư trên Trái đất Nguyên nhân
là do sự thiếu hiểu biết về MT và giáo dục BVMT đã gây nên sự suy thoái và
ô nhiễm MT Do đó giáo dục BVMT phải là một nội dung GD quan trọng nhằm đào tạo những con người có đạo đức về MT và xử lý các vấn đề MT
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, “Quản lý là tổ chức và
điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [ 23 ]
Theo tác giả Trần Kiểm, “Quản lý là những tác động của chủ thể quản
Trang 29lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [ 14]
Hay "Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để
tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động" [26]
Theo quan điểm hệ thống thì quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để tổ chức, phối hợp hoạt động của họ trong các quá trình sản xuất, xã hội nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Nhiều nhà nghiên cứu đều có chung nhận định: Quản lý là khoa học, đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội
Như vậy: “Quản lý” là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
b Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận thuộc quản lý Nhà nước, chịu sự chi phối bởi mục tiêu quản lý Nhà nước QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân Có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD, song thường người ta đưa ra quan niệm QLGD theo 2 cấp độ chủ yếu là cấp vĩ mô và cấp vi mô
- Quản lý giáo dục cấp vĩ mô : QLGD vĩ mô tương ứng với khái niệm
về quản lý một nền giáo dục ( hệ thống giáo dục) và quản lý vi mô tương ứng với khái niệm quản lý một nhà trường Ở cấp độ vĩ mô, QLGD được hiểu là
hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế, xã hội của quốc gia [ 13,tr 15 ]
Trang 30Như vậy, QLGD theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm làm cho toàn bộ hệ thống GD vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của quốc gia, thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD và ĐT thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra
có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống tổ chức GD của nhà trường nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất
c Quản lý nhà trường
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QLGD Trong tập thể con người hoạt động trong hệ thống giáo dục, đội ngũ GV là đối tượng quan trọng nhất nhưng đồng thời là chủ thể trực tiếp QL quá trình giáo dục
QL có hiệu quả là làm sao cho GV thực hiện được vai trò làm chủ được quá trình GD của mình, thực sự làm chủ nhà trường
Quản lý nhà trường: là QL hoạt động GD của nhà giáo, hoạt động học tập và rèn luyện của người học, các nguồn lực đáp ứng yêu cầu của hoạt động
GD của nhà trường, như: tổ chức và quản lý các hoạt động sư phạm trên lớp
và NGLL; quản lý nhà giáo, cán bộ nhân viên và HS; quản lý cơ sở vật chất, phương tiện GD; quản lý tài chính, tài sản của nhà trường.v.v…
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường
lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, đối với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [ 9 ]
Quản lý, điều hành một cơ sở giáo dục và đào tạo chủ yếu xung quanh ba vấn đề lớn đó là: quản lý quá trình giáo dục và đào tạo; quản lý các điều kiện, môi trường, nguồn lực và quản lý đội ngũ [ 10 ]
Quản lý nhà trường có mục đích :
Trang 31- Bảo đảm kế hoạch phát triển giáo dục: Tuyển chọn HS vào lớp đầu cấp đúng theo số lượng và chất lượng của Bộ GD - ĐT qui định, duy trì số lượng học sinh đang học và hạn chế đến mức thấp nhất HS lưu ban, bỏ học
- Bảo đảm chất lượng và hiệu quả giảng dạy, GD: tiến hành các hoạt động GD theo đúng chương trình và bảo đảm yêu cầu đối với môn học và các hoạt động GD
Xây dựng đội ngũ GV của trường có đủ phẩm chất, năng lực, đồng bộ về
cơ cấu, có đủ loại hình để đảm bào giảng dạy giáo dục HS đạt chất lượng cao Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thích hợp, phục vụ tích cực cho nhiệm vụ GD - ĐT của nhà trường
Từng bước hoàn thiện CSVC - kỹ thuật phục vụ thiết thực cho giảng dạy
và giáo dục
Thường xuyên cải tiến công tác quản lý, lãnh đạo trường học theo tinh thần dân chủ hóa nhà trường, tạo hoạt động đồng bộ, có trọng điểm, có hiệu quả các hoạt động dạy học và giáo dục
1.2.3 Quản lý giáo dục bảo vệ môi trường
Quản lý giáo dục BVMT là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm giúp hoạt động giáo dục BVMT đạt được kết quả
mong muốn, làm cho tất cả mọi người trong xã hội có nhận thức đúng đắn về
tầm quan trọng, tính cấp thiết của hoạt động giáo dục BVMT trong xã hội
Ở trường phổ thông, đó là quá trình tác động của HT lên tất cả các thành
tố tham gia vào quá trình giáo dục BVMT cho học sinh Mục đích của quá
trình này là trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức về MT, hình thành cho học sinh tình cảm, kỹ năng, thái độ và thói quen BVMT Tùy theo vị trí công tác được giao, có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc giáo
dục BVMT mà giáo dục học sinh, trang bị kiến thức cho học sinh, hình thành
thái độ và hành vi về môi trường cho học sinh
Để đạt được mục đích đó, hoạt động GDMT phải hướng tới việc mọi lực
Trang 32lượng tham gia vào quá trình GD nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng đặc
biệt của hoạt động này Quản lý hoạt động giáo dục BVMT bao gồm việc
quản lý mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp GD, CSVC và TBDH, huy động đồng bộ lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ GDMT, đồng thời biến quá trình GD thành quá trình tự GD
1.3 HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.3.1 Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường
Hội nghị quốc tế Bêôgrat (1975) đã xác định mục tiêu toàn diện của GDMT ở trong và ngoài nhà trường là phải giúp cho các cá nhân và cộng đồng về các mặt sau: có nhận thức, nhạy cảm với tình hình MT chung và các vấn đề có liên quan; có những hiểu biết cơ bản về MT và các vấn đề có liên quan, sự hiện diện và vai trò, trách nhiệm của loài người trong đó; quan tâm đối với MT và có động cơ muốn tham gia tích cực vào việc bảo vệ và cải thiện MT; có năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh về MT; đánh giá được các biện pháp về MT và các chương trình GD; phát triển ý thức trách nhiệm
và quan tâm sâu sắc đối với vấn đề MT và có hành vi thích đáng góp phần vào việc giải quyết các vấn đề đó
Vào năm 1977, Hội nghị quốc tế về giáo dục BVMT của Liên hợp quốc
tổ chức tại Tbilisi đã đưa ra khái niệm: “GDMT có mục đích làm cho cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của MT tự nhiên và MT nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và
kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề MT và quản lý chất lượng MT”
Từ Tuyên ngôn ban đầu đó, mục tiêu của giáo dục BVMT đã được cụ
thể hóa và triển khai ở các quốc gia và trong tất cả các cấp học, bậc học Nhìn
chung, giáo dục BVMT nhằm vận dụng các kiến thức và kỹ năng của mỗi cá
nhân, cộng đồng vào giữ gìn, bảo tồn, sử dụng MT bền vững cho cả thế hệ
Trang 33hiện tại và tương lai Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm họa MT, xóa đói nghèo, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong việc
sử dụng tài nguyên Hơn nữa, nó bao hàm cả việc đạt được những kỹ năng, có động lực cho cam kết hành động dù với tư cách cá nhân hay tập thể, để giải quyết những vấn đề MT hiện nay và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh
Ở nước ta, giáo dục BVMT trong nhà trường cần đem lại cho người
học những nội dung: có kiến thức, hiểu biết về MT; xây dựng thái độ, kỹ năng ứng xử thân thiện đúng đắn với MT, hình thành đạo đức MT; hình thành và phát triển năng lực phân tích đánh giá những vấn đề liên quan đến MT và khả năng giải quyết các vấn đề MT phạm vi cá nhân, địa phương và cộng đồng
Chương trình giáo dục BVMT đã được triển khai tới tất cả các cấp học
trong hệ thống GD của Việt Nam Các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng, vận động quần chúng cũng như các tổ chức XH khác tham gia vào việc BVMT tiến hành hàng năm Hệ thống thông tin và dữ liệu MT cũng đã được xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn Song song với những thành quả này, nội dung báo cáo cũng nêu lên những hạn chế, tồn tại trong công tác GD - ĐT
và nâng cao nhận thức về BVMT Đối với chương trình giáo dục BVMT cho
HS THPT cần tập trung cụ thể vào mục tiêu sau:
-Hiểu biết bản chất các vấn đề môi trường: tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hữu hạn của TNTN và khả năng chịu tải của MT, quan
hệ chặt chẽ giữa MT và phát triển, giữa MT địa phương, vùng, quốc gia với
MT khu vực và toàn cầu
-Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề MT như một nguồn lực để sống, lao động và phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng quốc gia và quốc tế Từ đó có thái độ, cách cư xử đúng đắn các vấn đề MT, xây dựng quan niệm đúng về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành kỹ năng thu thập dữ liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ
Trang 34-Có tri thức, kỹ năng, phương pháp, hành động để nâng cao năng lực lựa chọn phong cách sống, thích hợp với việc xử lý hợp lý và khôn ngoan các nguồn TNTN, có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết
các vấn đề MT bằng những hành động cụ thể ở nơi sinh sống và làm việc
1.3.2 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
Trong hoạt động giáo dục BVMT, vấn đề được quan tâm chủ yếu là MT
tự nhiên và tác động qua lại của nó với hoạt động của con người Trong quá trình học tập, HS có những hiểu biết về vấn đề MT và phát triển bền vững ở địa phương, quốc gia, khu vực và thế giới Trên cơ sở những hiểu biết đó, HS hình thành kỹ năng xem xét vấn đề MT hiện tại và tương lai, định hướng hành động cá nhân phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững
Nội dung giáo dục BVMT trong nhà trường được sắp xếp thành 04 chủ
đề trọng tâm như sau:
- Chủ đề 1: Môi trường sống của chúng ta
- Chủ đề 2: Quan hệ giữa con người và môi trường
- Chủ đề 3: Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường
- Chủ đề 4: Các biện pháp BVMT và phát triển bền vững
Nội dung giáo dục BVMT trong chương trình bậc học THPT hiện nay đã được Bộ giáo dục triển khai bằng cách tích hợp, lồng ghép vào các môn học như Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa lý, Ngữ văn, Giáo dục công dân, Công nghệ và các hoạt động sinh hoạt ngoại khóa
1.3.3 Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường
Giáo dục môi trường nhằm giúp cho cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của hệ thống MT thiên nhiên cũng như nhân tạo để từ đó giúp con người
có những hành vi đối xử “thân thiện” hơn đối với MT Là lĩnh vực liên ngành, giáo dục BVMT sử dụng nhiều phương pháp dạy học của các bộ môn, chịu sự chi phối của các phương pháp đặc trưng bộ môn, nhưng nó cũng có những phương pháp có tính đặc thù Vì vậy ngoài các phương pháp chung như thảo
Trang 35luận, trò chơi,…giáo dục BVMT thường vận dụng nhiều phương pháp khác nhau như:
a Phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa
Có thể triển khai theo 2 cách: tổ chức cho HS đi tham quan học tập ở khu bảo tồn thiên nhiên, nhà máy xử lý rác, khu chế xuất, danh lam thắng cảnh,….hay lập nhóm tìm hiểu, nghiên cứu tình hình môi trường ở trường hoặc ở địa phương
Đây là phương pháp mà trong đó HS điều tra, tìm tòi, khám phá về một vấn đề MT Điều tra đòi hỏi cả một quá trình hoạt động được tiến hành theo một trật tự, nhằm đưa ra phương án giải quyết cho một vấn đề về MT Các nhóm có nhiệm vụ điều tra, tìm hiểu, nghiên cứu tình hình MT ở khu vực khảo sát và bảo cáo kết quả, nêu phương án BVMT
b Phương pháp thí nghiệm
Phương pháp thí nghiệm cho phép tái tạo lại những hiện tượng đã xảy ra trong thiên nhiên, đơn giản hóa các quá trình để HS có thể quan sát, tìm hiểu chúng Nhiều kiến thức của môn Sinh học, Hóa học, Vật lý, Công nghệ,….học sinh cần tiếp thu, trãi nghiệm qua các thí nhiệm Đây là những phương pháp dạy học đặc trưng của các môn khoa học thực nghiệm Những hiện tương liên quan đến MT sẽ được HS hiểu, cảm nhận và có ý thức sâu sắc hơn thông qua các thí nghiệm đã được HS thực hiện
c Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục
Môi trường có những vấn đề toàn cầu như tầng Ôzôn, Trái đất nóng lên nhưng cũng là những vấn đề rất gần gũi với học sinh như ăn cơm, uống nước, không khí để thở, mảnh sân, góc nhà, vườn cây Các em có thể nhìn thấy, sờ thấy, nhận biết được kinh nghiệm thực tế GV cần tận dụng kinh nghiệm thực tế này để GD học sinh
d Phương pháp hoạt động thực tiễn
Mục tiêu mà hoạt động giáo dục BVMT cần đạt tới là các hành động dù
Trang 36rất nhỏ nhưng thiết thực nhằm góp phần cải thiện MT ở nhà trường và địa phương Hoạt động thực tiễn giúp học sinh ý thức được giá trị của lao động, rèn luyện kỹ năng, thái độ BVMT Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động như: trồng cây, thu gom rác, dọn vệ sinh MT tại khuôn viên trường, khu vực trường đóng, dọn vệ sinh kênh mương, đường phố…
e Phương pháp giải quyết vấn đề cộng đồng
Ở mỗi cộng đồng địa phương có thể có những vấn đề bức xúc về môi trường, chẳng hạn như: MT làng nghề, MT rừng, MT biển và vùng ven bờ,
MT ở khu công nghiệp, MT kênh rạch,… GV cần khai thác tình hình MT địa phương để GD HS, đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả Phương pháp này đòi hỏi GV phải thu thập số liệu, sự kiện và tìm hiểu tình hình MT địa phương, tổ chức các hoạt động phù hợp để HS tham gia góp phần cải tạo MT
f Phương pháp nêu gương
Hành vi của người lớn là tấm gương có ý nghĩa giáo dục trực tiếp đối với học sinh Để giáo dục học sinh có nếp sống văn minh, lịch sự đối với môi trường, trước hết, các thầy cô giáo và các bậc CMHS phải thực hiện đúng các quy định về BVMT và có hành vi đúng đắn với môi trường
g Phương pháp tiếp cận kỹ năng sống BVMT
Kỹ năng sống BVMT là khả năng ứng xử một cách tích cực đối với các vấn đề MT Trong quá trình GD, GV cần rèn luyện kỹ năng sống và BVMT cho HS thông qua việc luyện tập và xử lý các tình huống MT cụ thể Một số
kỹ năng quan trọng cần phát triển: nhận biết và phát hiện các vấn đề về MT, xây dựng kế hoạch hành động vì môi trường, kỹ năng ra quyết định về MT và
kỹ năng kiên định thực hiện kế hoạch hành động BVMT
Mục tiêu cuối cùng của GDMT là nhằm hình thành và phát triển cho người học những thái độ và hành vi cư xử đúng đắn với MT Vì vậy khi tiến hành các hoạt động dạy GDMT cần lựa chọn các phương pháp có khả năng hình thành kỹ năng và hành vi BVMT cho HS: đó là cho phép người học
Trang 37tham gia vào quá trình học tập, suy nghĩ một cách độc lập và tìm tòi dựa vào
những phán đoán có lý lẽ
h Phương pháp học tập theo dự án
Đối với HS THPT, nghiên cứu một vấn đề về MT địa phương là một trong những phương pháp thích hợp GV là người hướng dẫn Việc lựa chọn các vấn đề nghiên cứu nên vừa sức với HS và phù hợp với điều kiện của nhà trường và địa phương Học tập theo dự án sẽ tạo sự hứng thú, rèn luyện tính
tự lập, phương pháp giải quyết vấn đề và hạn chế việc học thụ động của HS
1.3.4 Hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường
Có hai hình thức triển khai giáo dục BVMT đó là: Tích hợp, lồng ghép
nội dung giáo dục BVMT thông qua các môn học và hoạt động NGLL
a Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua việc tích hợp, lồng ghép trong các môn học
Đây là hình thức tổ chức giáo dục BVMT được tiến hành thông qua hoạt
động GD trong lớp, được tiến hành qua các tiết dạy Qua các tiết dạy học sinh
có thể lĩnh hội một cách tương đối đầy đủ và có hệ thống những kiến thức cơ
bản về MT và BVMT Giáo dục BVMT là một lĩnh vực liên ngành, vì vậy được triển khai theo phương thức tích hợp Nội dung giáo dục BVMT được
tích hợp trong các môn học thông qua các chương, bài cụ thể Ở bậc THPT ở
tất cả các môn học đều có thể tích hợp giáo dục BVMT Tuy nhiên một số
môn có cơ hội tích hợp nhiều hơn như: Vật Lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ Văn, Địa Lý, Công nghệ, GDCD,…Đây được xem là hình thức thuận lợi và hiệu quả nhất Bên cạnh những kiến thức từ nội dung bài học, các em còn có thể tích lũy được các kiến thức về MT từ đó hình thành ý thức bảo vệ giữ gìn Do
kiến thức giáo dục BVMT được tích hợp và lồng ghép vào nội dung bài
giảng, nên khi giảng dạy tùy từng điều kiện, có thể sử dụng một số phương pháp sau: Phương pháp đàm thoại, phương pháp thảo luận, phương pháp sử dụng các tài liệu trực quan trong giờ giảng, phương pháp giảng dạy dùng lời
Trang 38nói để giảng giải, kể chuyện, đọc tài liệu, phương pháp thực hành Mặc dù
sử dụng phương pháp nào thì cũng phải đảm bảo được nội dung của bài giảng
và không ảnh hưởng đến tính đặc thù của môn học
Ở bậc THPT, việc tích hợp giáo dục BVMT qua nội dung các môn học
thể hiện ở ba mức độ : mức độ toàn phần, mức độ bộ phận và mức độ liên hệ -Mức độ toàn phần: Mục tiêu và nội dung của bài học hoặc của chương
trình phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung của giáo dục BVMT
-Mức độ bộ phận: Chỉ có một phần học có mục tiêu và nội dung của giáo
dục BVMT
-Mức độ liên hệ: Có điều kiện liên hệ một cách lôgic
b Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Giáo dục BVMT thông qua hoạt động NGLL cũng là sự tiếp nối, bổ
sung, hỗ trợ hoạt động dạy học trên lớp, gắn lý thuyết với thực tiễn, nhận thức
với hành động Đây là hình thức quan trọng giúp cho việc giáo dục BVMT
cho HS đạt hiệu quả cao, HS có được cơ hội thực tiễn để thực hành trách nhiệm của mình đối với MT Dễ chủ động về mọi phương diện khi tổ chức, không bị ràng buộc về thời gian Sự thay đổi thái độ, hành vi và thước đo giá trị MT trong HS chỉ hình thành và diễn ra trong bối cảnh có thực
Thông qua hoạt động giáo dục NGLL và các hoạt động tập thể, nội dung giáo dục BVMT cho HS hết sức đa dạng và hiệu quả: tổ chức các hình thức
câu lạc bộ môi trường; tham quan theo chủ đề; điều tra, khảo sát, nghiên cứu tình hình môi trường địa phương; hoạt động trồng cây, xanh hóa nhà trường;
tổ chức thi tìm hiểu về BVMT; sinh hoạt dưới cờ đầu tuần, các buổi sinh hoạt lớp; các cuộc thi sáng tác, thi tái chế phế phẩm, biểu diễn văn nghệ; các hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với các nội dung phong phú và hình thức rất đa dạng phù hợp với lứa tuổi HS Từ đó rèn luyện về thái độ, kỹ năng và hành vi BVMT cho HS
Trang 39Hai hình thức giáo dục trên thống nhất với nhau, hỗ trợ cho nhau Tuy nhiên, mỗi hình thức đều có ưu thế nhất định Vì vậy, cần sử dụng kết hợp cả
hai hình thức đó trong hoạt động giáo dục BVMT cho HS
1.3.5 Đội ngũ giáo viên và các lực lượng tham gia giáo dục BVMT
a Đội ngũ giáo viên
Giáo viên đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo
dục BVMT nói chung vì họ là người trực tiếp lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục BVMT để cung cấp kiến thức,
hình thành thái độ và hành vi BVMT cho HS Do đó, hình thành và phát triển
năng lực sư phạm nói chung, năng lực giáo dục BVMT nói riêng cho GV là
chiến lược lâu dài của ngành GD và là một trong những mục tiêu cơ bản của quá trình đào tạo GV Năng lực sư phạm của GV là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả GD Nền GD hiện đại có nhiều nội dung GD mới đáp ứng yêu cầu phát triển con người vì mục tiêu phát triển bền vững Giáo dục BVMT là một nội dung cần được đưa vào nhà trường phổ thông Việt Nam, trong đó có các trường THPT nhằm đáp ứng yêu cầu trên Vì thế, năng lực
giáo dục BVMT của GV là một thành phần quan trọng trong cấu trúc năng
BVMT là một bộ phận của quá trình giáo dục nhân cách Giáo dục BVMT
cho học sinh THPT có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện mục tiêu GD
Phát triển năng lực giáo dục BVMT cho GV THPT có ý nghĩa quan trọng đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục BVMT
Nâng cao chất lượng đội ngũ GV THPT giảng dạy giáo dục BVMT
nhằm giúp đội ngũ GV có năng lực vững vàng đáp ứng những yêu cầu trong
lĩnh vực hoạt động giáo dục BVMT cho HS Vì vậy, Hiệu trưởng cần đặc biệt
chú trọng đến công tác bồi dưỡng về chuyên môn, phương pháp và kỹ năng
giáo dục BVMT cho đội ngũ GV; giới thiệu GV tham gia các lớp tập huấn
Trang 40chuyên đề; tổ chức hội thảo, hội nghị về chủ đề giáo dục BVMT; tăng cường
các tài liệu, giáo trình, phương tiện dạy học hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho
GV giảng dạy, nghiên cứu về chủ đề giáo dục BVMT; tổ chức giao lưu giữa
đội ngũ GV của trường với các trường THPT trên địa bàn
b Các lực lượng tham gia giáo dục bảo vệ môi trường
Môi trường là tài sản chung của mọi người, môi trường tốt mọi người có quyền được hưởng, môi trường xấu đi thì mọi người đều phải có trách nhiệm bảo vệ Để đạt hiệu quả trong công tác giáo dục BVMT cho HS cần huy động các lực lượng tham gia bảo vệ môi trường Các lực lượng này trong phạm vi nhà trường bao gồm Đoàn TNCS HCM và toàn thể các thành viên của nhà trường Trong đó, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là hạt nhân trong các hoạt động
NGLL nói chung và hoạt động giáo dục BVMT nói riêng
Ngoài ra, còn phải có sự kết hợp giữa nhà trường và cộng đồng, các lực lượng đoàn thể và chính quyền địa phương để tạo điều kiện cho HS tham gia vào các hoạt động công ích về BVMT ở địa phương như trồng cây xanh, thu dọn rác …nhằm góp phần củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động GDMT trong nhà trường Bên cạnh đó cần có sự giúp đỡ của các chuyên gia, các nhà khoa học về MT cũng rất cần thiết trong việc đào tạo hướng dẫn các biện pháp để BVMT cho các đối tượng trong đó có học sinh
Trong các lực lượng GD thì nhà trường đóng vai trò chủ đạo, thông qua các hoạt động GD nhằm cung cấp kiến thức, bồi dưỡng tình cảm, thái độ để
từ đó tạo nên ý thức tự giác chủ động sáng tạo trong HS về BVMT Các tác động của gia đình cũng như xã hội sẽ hỗ trợ đắc lực cho GD của nhà trường Gia đình và xã hội không chỉ đóng vai trò cung cấp các điều kiện mà còn trực tiếp tham gia trong quá trình giáo dục BVMT cho HS Đó là nơi các em lĩnh hội, củng cố kiến thức đã học, nâng cao nhận thức, biểu hiện thái độ và có hành động cụ thể để BVMT