1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo án đây thôn vĩ dạ có lời giảng

10 335 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 53,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần cuối năm 1940  vào trại phong điều trị, chàng vẫn không thôi thương nhớ Mộng Cầm, thấy vậy bạn thân của Tử là Trần Thanh Địch đã viết thư giả làm người hâm mộ thơ chàng lấy tên là T

Trang 1

*Dẫn vào bài mới

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh lúc nhỏ đã cùng bạn bè dạo chơi ở những nơi mà ngày xưa thi sĩ Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm từng in dấu Nên ông đã viết:

“Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa

Lầu ông Hoàng đó thuở nào chân

Hàn Mặc Tử đã qua “

Hàn Mặc Tử vốn có rất nhiều người yêu và cũng có rất nhiều độc giả yêu thơ của

chàng, viết thư làm quen Trong số đó có Mộng Cầm – mối tình đầu

“Tình yêu vừa chớm xót thương cho chàng cuộc sống phế nhân “

Không rõ vì lý do gì mà HMT bị bịnh phong Tuy vẫn thơ từ qua lại, nhưng Mộng Cầm lãng tránh dần thi sĩ, ít khi hò hẹn với nhau Tử cũng âm thầm chạy chửa  không thuyên giảm

Trong lúc cô đơn, tuyệt vọng chán chường, thi sĩ lại nhận được tin Mộng Cầm đi lấy chồng  đau khổ hơn Thấy vậy, Bích Khê giới thiệu cho chàng làm quen với

người chị là Ngọc Sương (tức là dì ruột của Mộng Cầm)  Đây chỉ là một mối tình

đơn phương

Lúc đó, lại có nữ thi sĩ Mai Đình yêu HMT tha thiết, tình nguyện đến ở bên chàng

săn sóc, lo thuốc men Nhưng thi sĩ đã từ chối và chỉ tiếp chuyện với cô được vài lần, rồi tuyệt giao

Gần cuối năm 1940  vào trại phong điều trị, chàng vẫn không thôi thương nhớ Mộng Cầm, thấy vậy bạn thân của Tử là Trần Thanh Địch đã viết thư giả làm

người hâm mộ thơ chàng lấy tên là Thương Thương - đã làm cho HMT cảm động,

như tìm được tình yêu trong mộng Đến khi biết rằng Thương Thương không có thực mà chỉ là sự an ủi của bạn bè “bóng mộng tình yêu” tan vỡ

Có thể nói, Hàn Mạc Tử được biết đến với nhiều mối tình, đã để lại nhiều dấu ấn

trong văn thơ của ông – trong đó, ấn tượng nhất là bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ, bài

thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở thôn

Vĩ Để biết cô gái ấy là ai và bài thơ chất chứa tình cảm gì của tác giả

- Mắc phải căn bệnh nan y quái ác, phải

sống cách ly khi đang tràn trề nhựa sống đã

khiến thơ ông nhiều khi đau đớn điên cuồng

cả thể xác lẫn tâm hồn với một thề giới hình

I TÌM HIỂU CHUNG

1 Tác giả:

- Là người có số phận bất hạnh

- Là một trong những nhà thơ có sức

Trang 2

ảnh thơ đầy ma quái, quằn quại Nhưng trong

số đó, Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ nhẹ nhàng

nhất, nhàn ngập tình yêu người yêu đời và

khát vọng sống mãnh liệt của nhà thơ

- Hoàng Cúc là ai? Năm 1932 khi đang làm

ở sở Đạc Điền, ông có thầm thương trộm

nhớ một thiếu nữ tên Hoàng Thị Kim Cúc,

nhưng mộng ước không thành Người yêu

theo chồng ra Huế sống Buồn tình, năm

1935 HMT xin thôi việc vào Sài Gòn viết

báo, đến khi ông trở về Quy Nhơn để điều trị

bệnh thì Hoàng Cúc biết ông mắc bênh hiểm

nghèo bà đã gửi cho ôg một tấm bưu thiếp để

thăm hỏi sức khỏe Trong tấm bưu thiếp có

in hình cô gái chèo đò trên dòng Hương

Giang và những lá trúc mảnh mai thanh tú,

kèm với những lời động viên thăm hỏi của

Hoàng Cúc đã tạo nên nguồn cảm xúc dạt

dào và nhà thơ đã viết tác phẩm Đây thôn Vĩ

Dạ.

- Đọc 3 khổ thơ và đoán nội dung từng khổ

- Liệt kê các thủ pháp nghệ thuật?

- Câu thơ đầu, thuộc loại câu gì? là câu hỏi

của ai? Tại sao?

Câu hỏi tu từ, mở ra nhiều sắc thái:

+ Là câu hỏi nhưng gợi cảm giác như lời

trách móc nhẹ nhàng, lời mời gọi tha thiết

của cô gái thôn Vĩ với nhà thơ

+ Lời nhà thơ tự trách mình, tự hỏi mình 

ao ước thầm kín của người đi xa mong được

sáng tạo mãnh liệt trong phong trào thơ Mới: “ngôi sao chổi trên bầu trời

thơ Việt Nam” – Chế Lan Viên

2 Tác phẩm:

- Xuất xứ: trích trong tập Thơ điên (Đau thương)

- Hoàn cảnh sáng tác: Viết 1938, được khơi nguồn cảm hứng từ bức bưu ảnh

mà Hoàng Thị Kim Cúc gửi tặng

- Bố cục: 3 phần

+ Khổ 1: Cảnh ban mai thôn Vĩ và tình người tha thiết

+ Khổ 2: Cảnh đêm trăng thôn Vĩ và niềm đau cô lẻ, chia lìa

+ Khổ 3: Nỗi niềm thôn Vĩ

II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1 Khổ 1: Cảnh ban mai thôn Vĩ và tình người tha thiết.

- Câu hỏi tu từ:

+ Trách móc nhẹ nhàng + Lời mời gọi thiết tha, ân cần

- Điệp từ “nắng”: nhấn mạnh, cái

nắng đặc trưng, diễn tả bước đi của nắng

Trang 3

về lại Thôn Vĩ

- Tại sao tác giả dùng từ “về chơi” mà không

dùng từ “về thăm”

Về thăm

Xa lạ, lâu lâu ghé

thăm hỏi một chút

rồi đi  xả giao,

khách sáo

Về chơi

Gắn bó, xa cách đã lâu, giờ về gặp lại, ở lại thật lâu thân tình, gắn bó

- Như thế nào là Nắng mới lên?

+ Là nắng lúc sáng sớm Từ “mới” tô đậm

sự trong trẻo, tinh khiết của tia nắng đầu

tiên trong ngày

+ Điệp từ “nắng”: nhấn mạnh, gợi tả đặc

điểm của miền Trung, miền trung nắng

nhiều và ánh nắng gay gắt chói chang

ngay từ lúc bình minh Không những thế

điệp từ này còn diễn tả bước đi của nắng

khiến cho câu thơ ngập tràn trong sắc

nắng

- Sự so sánh này xuất phát từ hình ảnh của

những giọt sương đêm còn đọng trên cây

cỏ hoa lá tạo nên một màu xanh ngọc bích,

thanh tân, ngọt ngào, trong suốt đẹp như

một viên ngọc

- Tính từ “mướt” (hàm chứa ý nghĩa của từ

ướt _ láng bóng)  cực tả được sự căng

đầy sức sống, mơn mởn tươi non của cây

lá trong vườn Còn thán từ “quá” thể hiện

thái độ ngạc nhiên trầm trồ của tác giả

trước một khung cảnh lộng lẫy của khu

vườn

- Trong khu vườn xinh đẹp ấy thấp thoáng

cái gì?

Bóng dáng của con người hiện lên qua

- So sánh xanh như ngọc: giọt sương

đêm còn đọng trên cây cỏ hoa lá

- Tính từ mướt quá: sự mượt mà,

mơn mởn tươi non

Câu thơ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên ở thôn Vĩ lúc sáng sớm vừa hữu tình ngời sáng, vừa tràn đầy nhựa sống.

- Hình ảnh Lá trúc che ngang mặt

chữ điền: gợi vẻ đẹp, phúc hậu, kín

đáo, e lệ

Trang 4

hình ảnh “mặt chữ điền”

- Mặt chữ điền là mặt như thế nào? Là mặt

của ai?

Hình ảnh “mặt chữ điền” đã gây ra khá

nhiều tranh cãi Bởi vì có người cho rằng

Đó là khuôn mặt của cô gái thôn Vĩ Đó là

khuôn mặt của chàng trai thôn Vĩ Khuôn

mặt của chủ thể trữ tình Khuôn cửa sổ

vuông

 “mặt chữ điền” dù là ai đi nữa nói chung

đều diễn tả nét hiền lành phúc hậu của con

người, ẩn nấp phía sau “lá trúc che ngang”

-gợi nét đẹp kín đáo e lệ

Nhìn lại câu thơ này ta thấy:

-GV chuyển ý: Khép lại khổ thơ này, chúng

ta thấy thôn Vĩ hiện lên rất đẹp, thông qua

cảnh đẹp này nhà thơ gửi gắm tình yêu tha

thiết của mình đối với xứ Huế, đối với Thôn

Vĩ và nhà thơ còn gửi gắm một khao khát,

khao khát được về chơi thôn Vĩ, nhẹ nhàng

nhưng đau đớn Bởi vì sao, vì đây là khát

khao không thể nào với tới, do khát khao

không thể với tới ấy cho nên đến khổ thơ thứ

Khổ thơ thứ nhất: Tình yêu thiên nhiên và con người tha thiết của nhà thơ.

2 Khổ 2: Cảnh đêm trăng thôn Vĩ và niềm đau cô lẻ, chia lìa.

- Hai câu đầu: "Gió theo lối…

……, bắp lay"

+ Nhịp thơ: 4/3 ngăn cách bởi dấu phẩy nhằm nhấn mạnh sự đứt gãy

+ Ẩn dụ trong phép tiểu đối: "gió theo

lối gió" >< "mây đường mây": gợi sự

chia lìa, cách trở

+ Nhân hóa: "Dòng nước buồn thiu":

nỗi buồn man mác trong lòng tâm tư

Lá trúc che

ngang

mặt chữ điền

Phúc hậu, kín đáo, e lệ

Thiên

nhiên

Con người

Giao hòa

Trang 5

hai không còn những hình ảnh đẹp đẽ, tinh

khôi dịu dàng như thế này nữa mà hình ảnh

trở nên hư ảo

? Gọi HS đọc khổ thơ thứ 2 GV ghi 2 câu

thơ lên bảng

? Tìm những thủ pháp nghệ thuật được sử

dụng trong khổ thơ này và nói lên tác dụng,

ý nghĩa của việc sử dụng những thủ pháp đó?

? Vì sao nhà thơ lại nhìn thấy sự chia lìa

trong những sự vật không thể chia lìa

-GV bình giảng: Các em hãy nhớ lại bài thơ

Tràng Giang, nhà thơ Huy Cận cũng nhìn

thấy điều này “con thuyền xuôi mái nước

song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm

ngả” hình như thuyền và nước không thể

gắn kết với nhau Từ xưa thuyến và nước

luôn luôn đi liền với nhau nhưng chính sự

ám ảnh của một nỗi buồn vong quốc đã

khiến Huy Cận nhìn thấy sự tan tác chia lìa

trong những sự vật không thể chia lìa Còn ở

đây, Mặc Tử bị ám ảnh bởi điều gì mà nhà

thơ nhìn thấy sự tan tác trong gió và mây

Đọc về cuộc đời của nhà thơ và đã tìm hiểu

về khổ thơ thứ nhất thì chúng ta cũng cảm

nhận được rất là rõ ràng cái mà Mặc Tử đang

đeo mang chính là nỗi ám ảnh về 1 cuộc chia

li vĩnh viễn với cuộc đời cho nên nhìn đâu

tác giả cũng nhìn thấy sự tan tác chia xa

Và nghệ thuật tu từ nhân hóa “dòng nước

buồn thiu” đã thổi vào lời thơ, vào khung

cảnh một tâm trạng, kết hợp với từ “lay”, chỉ

một từ “lay” mà gợi lên được một nỗi buồn

hiu hắt, man mác trong khung cảnh, trong

tâm tư của nhà thơ Nỗi buồn này gợi ta nhớ

đến nỗi buồn quen thuộc mang hơi hướng

thơ ca dân gian:

“Ai về giồng nứa qua truông

nhà thơ

 Bức tranh thiên nhiên ảm đạm, lạnh lẽo, buồn hiu hắt

- Hai câu sau: "Thuyền ai

…… kịp tối nay?"

+ Chờ đợi, khắc khoải

+ Ám ảnh thời gian + Nỗi đau thân phận

Câu hỏi

tu từ

Nhãn tự

“kịp”

Trang 6

Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em.”

? Bức tranh thiên nhiên ở khổ thơ này có gì

khác biệt so với khổ thơ đầu?

? Đến hai câu thơ sau hình ảnh đã bắt đầu

rơi vào hư ảo với “bến sông trăng” và “con

thuyền chở trăng” Và câu hỏi tu từ “thuyền

ai….nay?” đã thể hiện tâm trạng gì của nhà

thơ?

-GV: “kịp” - khi chúng ta chờ đợi 1 người,

mà chúng ta lo sợ không biết người ấy có

đến kịp hay không, nghĩa là chúng ta đang bị

ám ảnh bởi thời gian = HMT lúc này quỹ

thời gian sống trên đời này ngày càng vơi

dần, cho nên thi nhân đang đợi chờ muốn

níu kéo thời gian, mà không biết thời gian có

cho phép hay không Chữ “kịp” này đã mở ra

cho ta hiểu nỗi đau sâu thẩm mà nhà thơ

đang mang, đó là nỗi đau gì? Đây là nỗi đau

của 1 thân phận, 1 thân phận giàu khao khát

giàu yêu thương nhưng cuối cùng phải xa lìa

cuộc đời

? Nếu là HMT, cũng bị đày vào cõi cô đơn,

chỉ có cái chết, chỉ có bệnh tật chỉ có niềm

đau thì điều các em mong đợi nhất là điều

gì?

-GV: Còn HMT, ông mong chờ 1 người tri

kỉ? Và “trăng” trong thơ HMT chính là tri kỉ

của ông, đi vào thơ HMT ta thấy trăng trải

dài trong sự nghiệp sáng tác của tác giả:

“Hôm nay có một nửa trăng thôi,

Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi!

Ta nhớ mình xa thương đứt ruột!

Gió làm nên tội buổi chia phôi!”

Và dù một nửa hay 1 vầng trăng trọn vẹn thì

nhà thơ vẫn mong đợi nó về trong khắc

 Khổ thơ thứ hai đã vẽ nên một bức tranh sông Hương huyền ảo, phảng phất tâm trạng u buồn, cô đơn, khắc khoải chờ đợi và khát khao hạnh phúc cháy bỏng của nhà thơ.

3 Khổ 3: Nỗi niềm thôn Vĩ.

- Hai câu đầu: "Mơ khách

……… không ra"

+ Điệp ngữ: "khách đường xa - khách

đường xa":

 Làm tăng nhịp độ cảm xúc (chậm, buồn  nhanh gấp, phiêu bồng hơn, mờ ảo hơn)

 Khát khao hòa mình với cuộc đời

+ Miêu tả tăng tiến “Áo em > trắng

quá > nhìn không ra”: lột tả vẻ đẹp

tinh khiết của từ phiếm chỉ “em”, vừa

thể hiện hiện thực phủ phàng

Trang 7

khoải

? Câu hỏi tu từ đã khép lại khổ thơ thứ hai

Em hãy nêu tóm tắt nội dung chính của khổ thơ này?

-GV chuyển ý: Dù nhà thơ luôn chìm đắm

trong tận cùng của nỗi cô đơn nhưng chúng

ta vẫn cảm nhận được trong tâm tư của nhà thơ vẫn hướng về cuộc đời, vẫn hướng về con người và tất cả những điều đó sẽ được nhà thơ thể hiện ở khổ thơ cuối cùng Và bây giờ chúng ta sẽ bước vào khổ thơ thứ ba và đây cũng chính là khổ thơ cuối cùng của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

? Chia lớp thành 4 nhóm:

+ Tổ 1: Trong khổ thơ cuối này tác giả đã

sử dụng thủ pháp nghệ thuật gì? Nêu tác

dụng của nó? Và hãy cho biết “Khách

đường xa” được nhắc đến trong khổ thơ là

ai?

+ Tổ 2: Cụm từ “Trắng quá” gợi cho em

cảm giác gì? Đại từ phiếm chỉ “Em” là để

chỉ ai?

+ Tổ 3: Em hiểu như thế nào là “sương

khói mờ nhân ảnh”? Đại từ phiếm chỉ

“ai” là để chỉ đối tượng nào?

+ Tổ 4: Câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có

đậm đà” cho ta thấy tâm trạng gì của tác

giả?

-GV bình giảng:

+ Tổ 1: Trong thế giới mộng tưởng của chính

mình, nhà thơ đã mơ mình là khách đường

xa mà nhà thơ cũng mơ được gặp người tri

kỉ Dù hiểu ở nghĩa nào thì điều này cũng nhấn mạnh vào nỗi khao khát, đau đớn trong nỗi cô đơn chồng chất của nhà thơ, nỗi khát

Trang 8

khao hòa mình với cuộc đời.

+ Tổ 2: Ở khổ thơ thứ nhất chúng ta có từ

“mướt”, “mướt quá” Ở khổ thơ này chúng

ta có từ “trắng”, “trắng quá” Nghệ thuật

tăng tiến đã lột tả một màu trắng đầy ám ảnh,

một màu trắng có thể làm lóa mắt người đối

diện cho nên nhìn không ra Nhưng nếu hiểu

như vậy là chúng ta hoàn toàn chưa hiểu

được những điều HMT muốn gửi gắm Ở

đây cô lưu ý các em, màu trắng là 1 màu

thường trực trong thơ Hàn, HMT có màu

nắng trắng, màu trăng trắng, màu áo trắng,

màu sông trắng Trong bài Mùa xuân chín

nhà thơ có viết:

"Chị ấy, năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?"

Và ở đây màu áo trắng đến nổi ám ảnh

trong tâm hồn của nhà thơ đó là màu áo

trắng của ai? Nhiều nhà nghiên cứu cho

rằng, trong khi trị bệnh trong trại phong Quy

Hòa được sự chăm sóc của các ma sơ, nhà

thơ cảm thấy họ là những hình tượng rất đẹp

và màu áo trắng họ mặc nó ám ảnh ở trong

tâm hồn của nhà thơ Đây cũng là một cách

để lý giải Từ “em” ở đây là môt từ phiếm

chỉ, không rõ ràng, có thể “em” này là cô

Kim Cúc, “em” này có thể là cô Mộng Cầm

cũng có thể là cô Mai Đình cũng có thể là cô

Ngọc Sương (những người tình trong thơ)

cũng có thể là một cô em gái nào đó của

cuộc đời Dù “em” là ai chúng ta cũng có thể

thấy 1 điều, dường như trong thơ HMT hình

ảnh của những người con gái, nhất là con gái

Huế luôn gắn liền với 1 cái gì đó đẹp, thanh

xuân, thanh khiết:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan,

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc,

Trên giàn thiên lý - Bóng xuân sang.

- Hai câu sau: "Ở đây …………

… đậm đà?"

+ "sương khói mờ nhân ảnh ": Sương

khói làm mờ bóng người xa

+ Đại từ phiếm chỉ “Ai”: tứ thơ chặt

chẽ, ý thơ liền mạch

+ Câu hỏi tu từ “Ai biết… có đậm

đà?”:

 Hoài nghi băn khoăn

 Khẳng định tình cảm của tác giả

 Hoài nghi >< thiết tha với cuộc sống, con người

Khổ 1

Khổ 2

Khổ 3

TG Sáng Đêm

Tâm tưởn g

KG Thực

Thự

c -ảo

Mộn g

Thi ên nhiê n

Tươ i sáng , tràn sức sống

Ảm đạm , lạnh lẽo

Hư ảo, mờ nhò e

Tâ m trạn g

Hi vọn g, nhớ mon g

Mon g chờ khắc khoả i Hoài nghi

Trang 9

Như vậy, cũng có thể hiểu nhà thơ muốn

dùng sắc áo trắng này để gợi tả vẻ đẹp tinh

khiết đó Và các em lưu ý “em” này dù là ai

đi nữa thì tất cả cũng chỉ là ảo ảnh, là hoài

niệm xa xôi, thực tế nhà thơ không thể nhìn

thấy, không thể với tới được Cho nên nỗi

tuyệt vọng đó đã được nhà thơ lột tả bằng 1

câu thơ “Áo em trắng quá nhìn không ra”.

Tóm lại, câu thơ này vừa lột gợi tả vẻ đẹp

tinh khiết của từ phiếm chỉ “em” vừa thể

hiện hiện thực phủ phàng tất cả đều nằm

trong tầm tuyệt vọng không thể nào với tới

+ Tổ 3: Đại từ “Ai” phiếm chỉ không rõ

ràng xuất hiện từ đầu bài thơ đến cuối bài

thơ “vườn ai”, “thuyền ai”, “ai biết tình ai”,

dù ai này là tác giả hay là người thôn Vĩ

chúng ta cũng thấy được rằng nó xuất hiện

như một mạch ngầm làm cho tứ thơ chặt chẽ,

ý thơ liền mạch và nó thể hiên tâm tư tình

cảm của nhà thơ

+ Tổ 4: Ở đây câu hỏi tu từ mang hai sắc thái

trái ngược nhau:

 Có thể đó là câu hỏi hoài nghi băn

khoăn: không biết tình cảm của người

Huế có đậm đà hay không

 Khẳng định tình cảm nhớ nhung sâu

sắc của tác giả với thiên nhiên và con

người thôn Vĩ

Chúng ta thấy ở khổ thơ cuối cùng này hình

ảnh trở nên hư ảo hơn Nhưng mà dù hư ảo

hay hiện thực thì chúng ta vẫn cảm nhận

được tuy tâm trạng hoài nghi mặc cảm và

đau thương nhưng vẫn thiết tha đối với cuộc

sống, vẫn hướng về cuộc đời và con người

? Trước khi bước sang phần tổng kết bài học

cô mời một bạn điền vào bản Kết cấu mạch

thơ:

III TỔNG KẾT

1 Nghệ thuật:

- Trí tưởng tượng phong phú

- Nghệ thuật so sánh, nhân hóa, thủ pháp lấy động gợi tĩnh, sử dụng câu hỏi tu từ, …

- Hình ảnh sáng tạo, hòa quyện giữa thực và ảo

2 Ý nghĩa văn bản:

- Bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ và lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà tâm trạng đầy uẩn khúc của nhà thơ

Trang 10

Hoạt động 4: Hướng dẫn HS tổng kết

- Tổng kết lại nghệ thuật đặc sắc đã sử dụng trong bài thơ và gọi HS phát biểu ý nghĩa văn bản

Ngày đăng: 04/07/2018, 00:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w