1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

giáo án đây thôn vĩ dạ lanh nguyễn 1

15 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 155 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến thức - Cảm nhận được tình yêu đời, lòng ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc của một hồn thơ, thể hiện qua niềm tha thiết đến khắc khoải đ/v cảnh và con người.. Và Hàn Mặc Tử là một

Trang 1

Ngày soạn :

Ngày dạy:

Người soạn : Nguyễn Thị Lan Anh

Tiết 83,84: Văn bản :

ĐÂY THÔN VĨ DẠ Hàn Mặc Tử

-I MỤC TIÊU BÀI HỌC

1 Kiến thức

- Cảm nhận được tình yêu đời, lòng ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc của một hồn thơ, thể hiện qua niềm tha thiết đến khắc khoải đ/v cảnh và con người

- Nhận ra được dạng liên kết vừa đứt đoạn vừa nhất quán khá điển hình của mạch thơ

- Chỉ ra được lối tạo hình giản dị mà tài hoa của thi phẩm

2 Kỹ năng

- Đọc - hiểu một văn bản thơ trữ tình hiện đại

- Phân tích , cảm nhận về một hình ảnh thơ, một khổ thơ, một tác phẩm thơ

3 Thái độ

-Cảm thông với nhà thơ, sống có khát vọng ngay cả trong lúc đau thương…

Năng lực: năng lực giao tiếp, năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực giải

quyết vấn đề, năng lực nghiên cứu, sáng tạo, năng lực hợp tác,

II CHUẨN BỊ BÀI HỌC

1 Phương tiện

- Học sinh: Sách giáo khoa,vở ghi,

- Giáo viên: Giáo án, sách giáo khoa, sách giáo viên, máy chiếu,

2 Phương pháp : Truyền đạt trực tiếp, phân tích mẫu, thực hành, dạy học

theo nhóm, đàm thoại, nêu và giải quyết vấn đề, tự học,

TRƯỚC LỚP HỌC :

- Nhiệm vụ học tập cho hoạt động hình thành kiến thức :

+ HS đọc trước văn bản và chú thích trong sách giáo khoa, chuẩn bị phần tác giả, tác phẩm vào vở ghi của mình

Hình thức : thảo luận lớp, thảo luận nhóm, cá nhân,

III TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

TRONG LỚP HỌC :

 Ổn định lớp

 Kiểm tra sĩ số

1 HOẠT ĐỘNG KHỞ ĐỘNG

Trang 2

- Mục tiêu : thu hút sự tập trung chú ý, tư duy, nhận thức , gợi hứng thú , chuẩn bị tâm thế vào học bài mới

- Phương pháp : Vấn đáp, nêu và giải quyết vấn đề

- Thời gian : 5 phút

Giáo viên cho học sinh quan sát hình ảnh, yêu

cầu :

Các hình ảnh trên gợi cho em liên tưởng đến

những địa danh và sự vật nào của Xứ Huế :

- GV: Chiếu các hình ảnh lên máy

chiếu

- HS: HS tham gia trò chơi

GV nhận xét khen thưởng

1 Áo dài Huế

2 Sông Hương

3 Cầu Tràng Tiền

4 Núi Ngự

5 Chùa Thiên Mụ

6 Ngọ Môn

7 Nhà Vườn Huế

Lời vào bài :

Xứ Huế từ xa xưa đã đi vào thơ ca của nhiều tác giả Và Hàn Mặc Tử là một trong số đó, ông đã đưa Huế đến với tất thẩy mọi vùng miền đất nước để rồi xứ Huế được vang lên như một cái tên bất hủ trong những áng thơ nhẹ nhàng của ông

Xứ Huế có gì qua những câu thơ của Hàn Mặc Tử, chúng ta hãy cùng phân tích bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

2 HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

- Mục tiêu : Trình bày được những nét chung về tác giả, tác phẩm Khái quát được nội dung và nghệ thuật bài thơ

- Phương pháp và kĩ thuật : Vấn đáp, đọc diễn cảm, thuyết trình, phân tích , bình giảng, Khái quát- tổng hợp

- Thời gian : 30 phút

GV chia lớp thành hai nhóm, mỗi nhóm cử một

đại diện lên hoàn thành bảng sau ( sử dụng thẻ kĩ

năng)

Tên khai sinh Nguyễn Trọng Trí

(1912-1940) Quê quán Làng Mĩ Lệ, tổng Võ Xá,

huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới

Nghề nghiệp Làm công tác ở Sở Đạc Điền,

I.Tìm hiểu chung 1.Tác giả

- Tên khai sinh: Nguyễn Trọng Trí

- Quê: Huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới

- Cuộc đời chịu nhiều vất vả đau thương:

+ Ông từng bị mắc bệnh nan

y – bệnh Phong

Trang 3

làm báo Cuộc đời Cuộc đời nhiều bi thương

24 tuổi mắc bệnh Phong

28 tuổi ông mất ở trại Phong Quy Hòa

Đặc điểm thơ Hồn thơ mãnh liệt, gắn bó tha

thiết với cuộc đời và quằn quại đau đớn

Sự nghiệp sáng

tác

Làm thơ từ năm 14, 15 tuổi Các tác phẩm chính: Gái quê, thơ điên, xuân như ý

HS: Sử dụng thẻ kĩ năng để hoàn thành bài tập.

GV: gọi học sinh nhận xét, cho ý kiến

HS: nhận xét

GV: nhận xét đánh giá và bổ sung:

Những điểm ảnh hưởng rất sâu đậm đến các

sáng tác của nhà thơ, đó chính là:

- Hàn Mặc Tử từng mắc bệnh nan y, đó chính là

bệnh Phong hay người đời còn gọi là bệnh hủi

Đây là một trong những bệnh mà ngày xưa

người ta gọi là tứ chứng nan y và ít nhiều nó có

tính chất là lây lan thông qua những vết xước và

đường máu Chính vì vậy mà Hàn Mặc Tử

thường bị người đời xa lánh cho nên ông luôn có

tâm hồn cô đươn đến cực điểm và càng cô đơn

thì lại càng khát khao tình người, khát khao

được cảm thông, được thấu hiểu.(Như trong tác

phẩm Chí Phèo, nhà văn Nam Cao mới chỉ miêu

tả Thị là người có dòng dõi mả hủi chứ không

phải bị hủi, thế mà thị đã bị ngưới đời ghẻ lạnh,

xa lánh, không ai muốn tới gần thị) -Hàn Mặc

Tử đã từng yêu nhiều lần và đều là tình yêu đơn

phương, những mối tình mà chúng ta có thể biết

+ Hàn Mặc Tử từng yêu rất nhiều lần: Mộng Cầm, Hoàng Cúc, Mai Đình

+ Hàn Mặc Tử theo đạo thiên chúa giáo

- Đặc điểm thơ: Hồn thơ mãnh liệt, gắn bó tha thiết với cuộc đời và quần quại đau đớn

- Tác phẩm chính : gái quê, thơ

Điến, xuấn như ý

Trang 4

như mối tình với nữ sĩ Mai Đình, mối tình với một người con gái có cái tên rất là thi vị đó chính là Mộng Cầm, đặc biệt là mối tình với Hoàng Thị Kim Cúc hay còn gọi tắt là Hoàng Cúc, chính lầ cảm hứng để nhà thơ viết lên bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”

- Hàn Mặc Tử từng là một con chiên ngoan đạo, tức là ông theo đạo thiên chúa giáo và từng

có tên thánh là Pherro Nguyễn Trọng Trí, tư duy tôn giáo cũng có ảnh hưởng rất sâu sắc đến thơ Hàn Mặc Tử Có lẽ ít ở đâu trong thơ người ta thấy xuất hiện nhiều đến như thế hình ảnh đức

mẹ Maira như là một niềm tin, như là một sự ngưỡng mộ, như là niềm thành kính thiêng liêng nhất của Hàn Mặc Tử Và có thể nói về mặt nào

đó thì thơ của Hàn Mặc Tử chính là sự kết hợp giữa tính trữ tình, tư duy tôn giáo trến cơ sở của

cá nhân cá thể

- - Mặt khác thì vào những đêm trăng, theo như

các bác sĩ và đặc biệt là các bác sĩ trị bệnh Phong thì người ta nhận định rằng những đêm trăng thường là những đêm mà người bệnh thường cảm thấy ít đau đớn nhất, cho nên có lẽ

vì vậy mà trong thơ Hàn Mặc Tử, hình ảnh trăng được xuất hiện rất nhiều lần, song song với hình ảnh máu, nếu như máu là biểu tượng của cho đau thương thì trăng chính là biểu hiện cho sự cứu đỗi linh hồn, cho hạnh phúc Đấy có lẽ cũng

là một trong những lý do khiến cho trong bài thơ

“Đây thôn Vĩ Dạ” của ông lại mong đợi vầng trăng thiết tha đến như vậy.

-Hàn Mặc Tử là một thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh, cho nên các sáng tác của ông hầu hết là dừng lại ở thời điểm năm 1940 bởi vì sau đó nhà

Trang 5

thơ đã qua đời vì bệnh nan y Nhưng Hàn Mặc

Tử đã để lại một sự nghiệp sáng tác rất đồ sộ với

nhiều tác phẩm thơ in dấu ấn với nhiều loại thơ

khác nhau.

+ Đầu tiên có thể kể đến tập “gái quê” (1936),

tập thơ này về phần nào đấy có thể hình dung là

một tập thơ rất là cổ điển theo phong cách

Đường luật.

+ Thứ hai có thể kể đến là tập “thơ điên” sau

đổi thành “đau thương” Và điên ở đây chúng ta

không thể hiểu đó là một trạng thái bệnh lý mà là

một trạng thái sáng tạo đến cùng cực , cực điểm,

tới mức mà si mê, tới mức mà toàn bộ tâm hồn

anh hoa phát tiết ra ngoài cho nên được gọi là

điên Và cũng có thể nói thêm là có một trường

thơ điên gọi là trường thơ điên Bình Định do

Hàn Mặc Tử là người đứng đầu , nhân vật thứ

hai đó chính là Chế Lan Viên, người thứ ba

chính là Bích Khê, người thứ tư chính là Yến

Lan Cho nên tập thơ điên nó còn có ý nghĩa cho

tinh thần của trường thơ.

+ Ngoài ra Hàn Mặc Tử còn có một số tập thơ

khác như là: Xuân như ý, Thượng thanh khí,

Cẩm châu duyên, Duyên kì ngộ.

-GV: Xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của

tác phẩm ?bố cục?

HS: Trả lời.

GV mở rộng : về hoàn cảnh sáng tác của bài thơ

này thì cũng từng có nhiều cách hiểu khác nhau

nhưng ở đây chúng ta có thể lưu ý đến lời kể của

nhà thơ Quách Tấn , là một trong những người

bạn rất thân thiết với Hàn Mặc Tử Theo như lời

kể của nhà thơ Quách Tấn thì thời còn làm ở Sở

Đạc Điền thì Hàn Mặc Tử có thầm yêu một cô

nữ sinh trường Đồng Khánh - con gái của ông

chủ Sở Đạc Điền tên là Hoàng Thị Kim Cúc

2.Tác phẩm a) Xuất xứ:

- Sáng tác 1938, in trong tập thơ

Điên ( về sau đổi thành đau thương)

b) Hoàn cảnh sáng tác:

- Khi Hàn Mặc Tử đang lâm bệnh

- Được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một

Trang 6

nhưng mà Hàn Mặc Tử thường gọi gắn gọn là

Hoàng Cúc để thể hiện tình cảm tha thiết và lãng

mạn của mình Thì Hoàng Cúc vốn là người ở Vĩ

Dạ nhưng lúc bấy giờ lại theo cha ra sống ở

BÌnh Định, nhưng cái tình cảm ấy còn chưa đâu

vào đâu thì Hàn Mặc Tử ra Sài Gòn làm báo và

lòng vẫn nuôi hy vọng cho mối tình đơn phương

với Hoàng Cúc Lúc Hàn Mặc Tử trở về Quy

Nhơn thì Hoàng Cúc đã theo cha về ở hẳn tại

Huế.

+ về sau theo lời kể của Quách Tấn thì Hoàng

Tùng Ngâm là một người em thúc bá của Hoàng

Cúc có gửi cho Hoàng Cúc một bức thư báo tin

là Hàn Mặc Tử đã bị bệnh nặng nhưng vẫn nhớ

thương Hoàng Cúc và đề nghị Hoàng Cúc viết

vài dòng để hỏi thăm Hàn Mặc Tử.

+ Được thư, Hoàng Cúc mới sang hiệu ảnh ở

bên đường mua một tấm bưu thiếp , bức bưu

thiếp ấy có chụp cảnh sông Hương, một cái khóm

trúc với một người con gái đang trèo thuyền và

xa xa là đám trời cũng có thể là rạng đông cũng

có thể là hoàng hôn

+ Đằng sau tấm bưu thiếp Hoàng Cúc có viết:

Thúc hạ gửi lời hỏi thăm sức khỏe thúc hạ, mong

thúc hạ sớm bình phục.

+ Khi Hàn Mặc Tử nhận được tấm bưu thiếp ấy

ở một xóm vắng Bình Định, khi mà nhà thơ đang

bị cách ly thì nhà thơ rất là nghẹn ngào Và tấm

bưu thiếp đó tác động rất lớn đến hồn thơ của

Hàn Mặc Tử, nó gợi cho nhà thơ nhớ được về xứ

Huế và nó thức dậy với niềm yêu đời vô bờ bến vì

vậy mà thi sĩ đã cầm bút viết bài thơ này.

GV: hướng dẫn và mời HS đọc bài thơ.

HS: đọc bài thơ.

GV : nhận xét

cô gái vốn quê ở Vĩ Dạ

c) Bố cục:

- Khổ 1: cảnh ban mai Thôn Vĩ

- Khổ 2: Cảnh sông nước đêm trăng

- Khổ 3: Tâm tình của thi nhân.

Trang 7

GV: Phát phiếu học tập, yêu cầu HS thảo luận

nhóm theo bàn

? Câu hỏi mở đầu bài thơ có gì đặc biệt?

? Cảnh Thôn Vĩ hiện lên như thế nào?

HS trả lời :

- Câu đầu là câu hỏi, lời trách, lời mời “chơi”

thân mật, tự nhiên

GV bình giảng: Mở đầu bài thơ là câu hỏi tu từ

cùng giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết vừa như

trách móc, vừa như hờn giận, vừa như lời mời

chân thành của người con gái xứ Huế Câu hỏi

cũng chính là lời tự trách của nhà thơ với bản

thân khi không thể về thăm lại vùng đất Vĩ Dạ,

nơi nhà thơ từng có những kỉ niệm tốt đẹp Hoàn

cảnh hiện tại không cho phép nhà thơ về thăm Vĩ

Dạ nhưng bằng tất cả nỗi nhớ, hồi ức đã có, Hàn

Mặc Tử đã vẽ lên bức tranh Vị Dạ thật sinh động,

độc đáo

- Bức tranh thôn Vĩ tươi đẹp, sống động:

+ Nắng hàng cau

->Nắng tinh khôi, rực rỡ

+ Nắng mới lên

-> ánh nắng ban mai tinh khiết, trong lành

+ Vườn ai

+ Khóm trúc

+ mặt chữ điền: hiền lành, phúc hậu

- Lá trúc che ngang: dịu dàng, kín đáo

 Bức tranh thiên nhiên tươi sáng,

II Đọc – hiểu văn bản

1 Khổ thơ 1: Cảnh ban mai Thôn Vĩ

- “Sao anh ” : Câu hỏi tu từ nhiều sắc thái : lời trách nhẹ nhàng hay cũng là lời mời gọi tha thiết

- Cảnh thôn Vĩ: vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng:

+ vẻ đẹp của nắng hàng cau - nắng mới lên gợi đúng đặc điểm của cái nắng miền Trung : nắng nhiều và chói chang , rực rỡ lúc bình minh + Vẻ đẹp mượt mà, tươi tốt ,dầy sức

sống: Vườn ai mướt qua ,xanh như

ngọc.

- Lá trúc mặt chữ điền: bóng dáng con người xuất hiện tạo nên sự hấp dẫn cho lời mời gọi

=> Vẻ đẹp hữu tình của thiên nhiên thôn Vĩ, cảnh xinh xắn , con người phúc hậu, thiên nhiên và con người hài hòa với nhau trong vẻ đẹp kín đáo dịu dàng Đằng sau bức tranh phong cảnh là tình yêu thiên nhiên, con người tha thiếtvà niểm băn khoăn day dứt của tác giả

Trang 8

GV giảng thêm: Ấn tượng sâu nhất vương lại từ

câu thơ chính là không gian ngập tràn sắc nắng

Không phải "nắng ửng" trong làn khói mơ tan,

không phải "nắng chang chang" dọc theo bờ sông

trắng, nắng ở đây, là thứ "nắng mới", không

huyền hồ ảo diệu, không đậm màu đậm hương,

nó tinh khôi và trong trẻo đến lạ Nắng đổ xuống

hàng cau, cau hướng lên hứng nắng nhẹ nhàng,

một khu vườn mướt xanh được gội sạch bởi

sương đêm, sáng sớm nay được đằm mình trong

nắng mới Cái "mướt" mà Hàn gọi dậy ở khu

vườn, cái "ngọc" mà Hàn ví với màu xanh, chúng

gợi ra bao nhiêu là sắc điệu Vừa gợi màu mà vừa

gợi ánh, vừa óng chuốt lại thật tinh khôi Người

ta ngỡ ngàng về một cảnh vườn thôn từng quen

nay trong trẻo đến lạ

Nhớ về thôn Vĩ còn là nhớ về những nét dáng

thân thương của con người nơi đây Không tả mà

chỉ gợi, bằng bút pháp cách điệu hóa, thi sĩ đủ

cho ta cảm nhận về con người Huế chân thật, dịu

dàng, về con gái Huế đằm thắm, nữ tính, thấp

thoáng sau một mảnh trúc che ngang là gương

mặt chữ điền rất Huế

GV hướng dẫn HS tìm hiểu khổ thơ thứ hai GV

chia lớp thành 04 nhóm và phát phiếu học tập.

Nhóm 1: Cảnh thôn Vĩ hiện lên như thế nào ở

khổ 2, nó có sự khác biệt gì so với khổ 1?

GV nhận xét, bổ sung.

Nhóm 2: Nhận xét nghệ thuật miêu tả qua hình

2) Khổ thơ 2 Cảnh sông nước đêm trăng.

- Cảnh thôn Vĩ thật êm đềm thơ mộng ,nhịp điệu khoan thai ,êm đềm: Gió mây nhè nhẹ bay đi ,dòng chảy lững lờ ,cây cỏ khẽ đung đưa

- Hình ảnh: Gió lối gió, mây đường mây biểu hiện của sự chia cách

- Nhân hóa: Dòng nước làm nổi lên bức tranh thiên nhiên chia lìa buồn

Trang 9

ảnh “gió”, “mây”, “sông”, chỉ ra nét độc đáo

của nó ?

GV nhận xét, bổ sung.

Nhóm 3: Nhận xét về cách sử dụng biện pháp tu

từ trong khổ này ?Tâm trạng của chủ thể trữ tình

thay đổi thế nào ?

GV nhận xét, bổ sung.

Nhóm 4: Hình ảnh bến sông trăng gợi cho em

cảm giác gì về vẻ đẹp của thiên nhiên ? Đằng

sau phong cảnh ấy là tâm sự gì của nhà thơ ?

GV bình giảng:Một bức tranh gợi buồn, gợi sầu

Gió nhẹ thổi, mây nhẹ trôi, hoa bắp nhẹ lay, dòng

Hương giang trầm mặc Cái dáng Huế qua mấy

mươi thế kỉ cơ hồ cũng chỉ có thế Không khí

trầm tịch của đất cố đô được gợi lại chỉ qua mấy

nét chấm phá Nhưng hãy thử đọc kĩ, và nhìn

đằng sau câu thơ xem còn bao nhiêu nét nghĩa

nữa Quả vậy, đây không chỉ là một bức tranh

ngoại cảnh, nó là tranh tâm cảnh, là điệu tâm hồn

Cứ nghe cái điều ngang trái trong câu thơ là rõ

Lẽ thường gió thổi mây bay, ở đây gió mây đôi

ngả, xa cách như chẳng thể chung đường Cảnh

đã được nội tâm hóa, thấm đượm sự chia li Đến

nỗi mà, cái buồn đã được gọi thành tên: "buồn

thiu" Hai chữ "buồn thiu" đã gói trọn nỗi buồn

đau của con người, của mối trần duyên tê tái

GV hướng dẫn HS tìm hiểu khổ thứ 3

GV: Câu thơ “Áo em ” em hiểu

thế nào về câu này ? Câu hỏi cuối cùng bộc lộ

bã Thể hiện sự chuyển biến về trạng thái cảm xúc của chủ thể trữ tình cảnh đẹp như lạnh lẽo,

dường như phảng phất tâm trạng thờ

ơ xa cách cuộc đời đối với mình

- Bến sông trăng: hình ảnh lạ, gợi lên vẻ đẹp lãng mạn,nhẹ nhàng,tất

cả đang đắm chìm trong bồng bềnh

mơ mộng,như thực như ảo

- Câu hỏi: Có chở trăng về kịp tối nay: sáng lên hi vọng gặp gỡ nhưng lại thành ra mông lung, xa vời

=> Cảm xúc chuyển biến đột ngột

từ niềm vui của hi vọng gặp gỡ sang trạng thái lo âu đau buồn thất vọng khi tác giả nhớ và mặc cảm về số phận bất hạnh của mình

Ở đó ta còn thấy được sự khao khát tha thiết đợi chờ một cách vô vọng

c) Khổ thơ 3: Tâm tình của thi nhân.

Trang 10

tâm trạng gì và nó có liên quan ntn với câu hỏi

mở đầu?

Mối tình của tác giả có liên quan như thế nào đến

những tâm sự trong bài thơ này?

GV nhận xét, chốt ý

HS trả lời:

- khách đường xa: sự xa xôi, cách trở

- “ trắng quá nhìn không ra”: thấp thoáng, mờ ảo

Thể hiện tâm trạng hụt hẫng, bàng hoàng, xót xa

- sương khói mờ nhân ảnh: không gian bất định,

con người mờ ảo trong thiên nhiên., “sương

khói” làm tăng vẻ hư ảo, mộng mơ

GV bình giảng: Chữ "mơ" đặt ở đầu, chơi vơi

sau đó là tiếng gọi "khách đường xa" đầy khắc

khoải, mang theo sự chơ vơ hụt hẫng, bỏ lại bao

ngẩn ngơ buồn tiếc Hình ảnh khách thể xuất hiện

trở lại, ngỡ như cứ bước xa dần khỏi vòng tay

Hàn, đi về một cõi xa xăm không thể chạm đến

Người con gái mang sắc áo trắng tuyệt đối, trinh

nguyên vô ngần, suốt đời Hàn tôn sùng nay lại

trở nên mờ nhòa, khó giữ Tất cả như mờ ảo hơn:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Không gian mông lung, lạnh lẽo, mịt mùng trong

sương khói, huyền hồ trong ảo ảnh Nó choán

trùm lên cả ý thức và tiềm thức, thắt buộc lòng

người đến tê dại Nghe câu hỏi khắc khoải cuối

cùng: "Ai biết tình ai có đậm đà?", ta thảng thốt

nhận ra, hóa ra bấy lâu người thi sĩ cũng chỉ

mong chờ điều ấy, khao khát điều ấy, đó là tình

người, tình đời Đời thi sĩ sống đã vốn chẳng

được vui, đến cuối đời cũng chỉ mong tìm được

mảnh hồn tri ngộ Hàn Mặc Tử của chúng ta,

không "kì dị" như bao người nói Chàng có trái

tim rất người, có những tình cảm rất người, mà

có lẽ đến nhiều năm sau này vẫn có không ít

- Mơ khách : Khoảng cách về thời gian, không gian

- Áo em : hư ảo,mơ hồ, hình ảnh người xưa xiết bao thân yêu nhưng

xa vời,không thể tới được nên t/g rơi vào trạng thái hụt hẫng,bàng hoàng, xót xa

- Ai biết : biểu lộ nỗi cô đơn trống vắng trong tâm hồn của t/g đang ở thời kì đau thương nhất.Lời thơ bâng khuâng hư thực gợi nỗi buồn xót xa trách móc

=> Khi hoài niệm về quá khứ xa xôi hay ước vọng về những điều không thể nhà thơ càng thêm đau đớn Điều đó chứng tỏ tình yêu tha thiết cuộc sống của một con người luôn

có khát vọng yêu thương và gắn bó với cuộc đời.

Ngày đăng: 25/03/2020, 19:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w