1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÌNH CẢNH LẺ LOI NGƯỜI CHINH PHỤ_CÓ LỜI GIẢNG

11 168 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 32,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy ngay câu thơ sau nàng đã tự trả lời bằng câu phủ định: "Đèn có biết dường bằng chẳng biết" →càng làm cho KG trở nên vắng lặng, khắc sâu nỗi cô đơn lẻ loi - Điệp ngữ vòng: “đ

Trang 1

TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ

(Trích Chinh phụ ngâm- Đặng Trần Côn)



I Mục tiêu cần đạt

1 Kiến thức

Tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến, đòi quyền được hưởng hạnh phúc lứa đôi thể hiện qua việc miêu tả thế giới nội tâm đầy những mong nhớ, cô đơn, khao khát, … của người chinh phu.ï

2 Kĩ năng: Đọc – hiểu, tiếp cận thể loại ngâm khúc

3 Thái độ: Cảm nhận được tâm trạng cô đơn, sầu muộn của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi khi chồng đi chinh chiến, thấy được tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến và đề cao hạnh phúc lứa đôi

II Chuẩn bị

1 Giáo viên: SGK, SGV, thiết kế bài học

2 Học sinh: tập bài học, SGK

III Phương pháp: Đọc diễn cảm, nêu vấn đề, phát vấn, thuyết giảng…

IV Tiến trình dạy học

1.Ổn định lớp.

2 Kiểm tra bài cũ

* Hoạt động 1: (2p) Giới thiệu bài:

Nhắc đến Đặng Trần Côn, người ta nghĩ ngay đến tác phẩm nổi tiếng

nhất của ông là “Chinh Phụ ngâm” Tác phẩm này được viết bằng chữ Hán

và được bà Đoàn Thị Điểm dịch sang bản chữ Nôm Đây là tác phẩm thể hiện rõ

nỗi đau khổ của người chinh phụ phải sống trong cảnh cơ đơn, chia lìa đơi lứa, đồng thời bộc lộ niềm khao khát hạnh phúc lứa đơi

- Bàn về đức tính hiếu học của ĐTC cĩ một giai

thoại như sau: Tương truyền lúc ấy, chúa Trịnh

Giang cấm nhân dân Thăng Long ban đêm

khơng được đốt lửa, để đèn sáng, cho nên ơng

phải đào hầm dưới đất, thắp đèn mà học

*Chuyển ý: “Chinh phụ ngâm” vừa ra đời đã

nổi tiếng, được nhiều người ưa thích, dịch sang

chữ Nơm → ĐTĐ là chính xác và hay nhất

I Tìm hiểu chung

1 Tác giả:

- Đặng Trần Cơn (? - ?)

- Quê quán: làng Nhân Mục, Hà Nội

- Sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII

- Là một người thơng minh, tài hoa

và hiếu học

- Về sáng tác: ngồi tác phẩm chính

Chinh phụ ngâm, ơng cịn làm thơ và

phú bằng chữ Hán

2 Dịch giả:

- Đồn Thị Điểm (1705-1748)

Trang 2

- Năm 37 tuồi mới lấy chồng, nhưng vừa cưới

xong ơng phải đi xứ ở Trung Quốc Trong thời

gian ơng đi xứ, bà phải sống cuộc sống khơng

khác người chinh phụ là mấy, cĩ lẽ vì vậy bà đã

tìm thấy sự đồng cảm với người chinh phụ trong

tác phẩm “Chinh phụ ngâm”

*Lưu ý: Trong số đĩ bản dịch được khắc in và

lưu truyền rộng rãi nhất gọi là bản dịch hiện

hành, chúng ta đang tìm hiểu bản dịch hiện

hành, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa rõ dịch

giả là ai, cĩ người cho rằng đĩ là Đồn Thị

Điểm nhưng lại cĩ thuyết nĩi là Phan Huy Ích

→ khơng ai cĩ thể phủ định tác phẩm đã thực sự

chạm đến trái tim người đọc

- Trích từ CPN, thuộc phần 2: Khi người chinh

phụ trở về phịng khuê)

? Người chinh phụ hiện lên qua những hành

động nào? Những hành động này diễn tả tâm

trạng gì của người chinh phụ?

*GV giảng: đối với con người, nhất là khi yêu,

lúc mong nhớ người mình yêu thì nỗi nhớ sẽ

bộc lộ rất rõ qua hành động:

“Nhớ ai, bồi hổi, bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”

Hay: Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ

Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

- Hiệu: Hồng Hà nữ sĩ

- Quê: Kinh Bắc (Hưng Yên)

- Bà thơng minh từ nhỏ, đoan trang, văn hoa, lễ độ

- Bà lập gia đình khá muộn

2 Tác phẩm “ Chinh phụ ngâm”

- Thể loại:

+ Nguyên tác: trường đoản cú (476 câu)

+ Bản dịch: thể song thất lục bát (405 câu)

- Hồn cảnh sáng tác: Đầu đời Lê Hiển Tơng cĩ nhiều cuộc khởi nghĩa nơng dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long Triều đình cất quân đánh dẹp → Đặng Trần Cơn cảm

thời thế đã sáng tác “Chinh phụ ngâm”

3 Đoạn trích

- Vị trí: câu 193 – 216

- Bố cục: 2 phần +8 câu đầu: Nỗi cơ đơn, lẻ loi của người chinh phụ

+8 câu tiếp: Nỗi sầu muộn triền miên

+8 câu cuối: Nỗi nhớ thương, đau đáu

II ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

1 Nỗi cơ đơn, lẻ loi của người chinh phụ (8 câu đầu ):

- Hành động: Dạo, ngồi, rủ thác địi phen - hành động vơ nghĩa, khơng

mục đích, lặp đi lặp lại → gợi tả tâm trạng nhớ nhung, bồn chồn khơng yên

Trang 3

Có lẽ sau khi tiễn chồng ra trận, nàng trở về căn

phòng của hai vợ chồng, nay chỉ còn mình nàng,

không tránh khỏi tâm trí dâng tràng nỗi nhớ

nhung người chồng đang chinh chiến ở biên ải

xa dẫn đến hàng loạt hành động không tự chủ

được, thẩn thơ như người mất hồn

? Theo em yếu tố ngoại cảnh nào khiến cho

tâm trạng của người chinh phụ thêm nặng

trĩu? Tại sao?

- Chim thước: trông chờ chim thước báo tin,

chẳng có tin tức gì, một chút dấu hiệu, một chút

hi vọng nhỏ nhoi cũng không có

? Tác giả đã sử dụng những thủ pháp nghệ

thuật nào để diễn tả tâm trạng trĩu nặng của

người chinh phụ?

- Lúc này quay vào trong đối diện với căng

phòng vắng, chỉ có mỗi ngọn đèn leo loét bầu

bạn, không hỏi đèn thì biết hỏi ai Nhưng dù sao

ngọn đèn kia chũng chỉ là vật vô tri vô giác, hỏi

cũng như không Chính vì vậy ngay câu thơ sau

nàng đã tự trả lời bằng câu phủ định: "Đèn có

biết dường bằng chẳng biết" →càng làm cho KG

trở nên vắng lặng, khắc sâu nỗi cô đơn lẻ loi

- Điệp ngữ vòng: “đèn biết chăng – đèn có

biết” - khiến cảm giác cô đơn ấy như kéo dài ra

đến nỗi không thể nào kìm nén được nàng buộc

phải thốt lên những lời than vãn đau đớn: "Lòng

thiếp riêng bi thiết mà thôi/Buồn rầu nói chẳng

nên lời/Hoa đèn kia với bóng người khá

thương”

- “Hoa đèn”: ngọn bấc đã cháy hết, chỉ còn tàn

đỏ → liên tưởng đến sự tàn lụi, héo hon của

kiếp người Thể hiện thái độ xót xa cho tình

cảnh lẻ loi, cuộc hôn nhân dở dang của của

người chinh phụ

? Ở 8 câu thơ tiếp theo tác giả đã sử dụng

những thủ pháp nghệ thuật nào để diễn tả

tâm trạng sầu muộn triền miên của người

- Ngoại cảnh: Đèn, chim Thước:

Trông ngóng tin tức người chồng phương xa → nỗi buồn tăng lên gấp bội

+ Nhân hóa

+ Câu hỏi tu từ “đèn biết chăng?” + Điệp ngữ vòng “đèn biết chăng – đèn có biết”:

+ Ẩn dụ “hoa đèn”

→ Không gian vắng lặng, cô đơn,

lẻ loi, nỗi đau kéo dài

2 Nỗi sầu muộn triền miên (8 câu tiếp):

- Cảnh vật thiên nhiên: Tiếng gà, cây Hòe

+ Từ láy eo óc, phất phơ → nhớ

nhung thao thức, trĩu nặng sầu đau

Trang 4

- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

- Từ láy “eo óc”: âm thanh, từ xa vọng lại,

nghe văng vẳng không rõ, đây phải là KG im

lìm, vắng vẻ, tịch mịch Một đêm chỉ có 5 canh,

mà nàng thức hết 5 canh → nhớ nhung chồng

khiến nàng thao thức không ngủ được

- Từ láy “phất phơ”: Nếu như cây hòe trong

“Cảnh ngày hè”: “Hòe lục đùn đùn tán rợp

giương”, động từ mạnh làm cho cây hòe của NT

căng tràn sức sống, thì cây hòe của Đặng Trần

Côn phất phơ, rủ bóng giống như hàng tóc của

người con gái cúi đầu vì buồn rầu, nhớ người

thương

?Câu hỏi nhóm đôi: so sánh bản dịch với

nguyên tác tìm điểm khác biệt?

“Khắc giờ đằng đẵng

như niên

Mối sầu dằng dặc tự

miền biển xa”

“Sầu tựa hải Khắc như niên”

→Vừa dịch sát nghĩa vừa sáng tạo thêm làm nỗi

nhớ của người chinh phụ trở nên cụ thể Tâm

trạng sầu muộn khi chờ đợi trào dâng như biển

lớn, từ ngày xa cách người thương mỗi giờ mỗi

khắc dài như một năm

Bản dịch không chỉ diễn tả bước đi của thời

gian vô cùng chậm chạp, mà còn tạo ra âm điệu

ngân xa, như tiếng thở dài, mỏi mòn, chán

chường, vô vọng Vì phải sống trong cảnh

chồng biền biệt nơi chiến trận, không có tin tức,

không rõ ngày về

?Tuy nhiên nàng cũng rất cố gắng, cố gắng

vượt thoát khỏi cuộc sống tẻ nhạt ấy Bằng

cách nào? Thủ pháp nghệ thuật?

- Mùi hương đưa nàng trở về quá khứ, tâm hồn

nàng lạc đi tìm những kí ức đẹp đã quá xa vời

- “Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?”.

Khoảng thời gian chờ chồng đi chinh chiến trở

- So sánh + từ láy “đằng đẵng”,

“dằng dặc”: diễn tả bước đi của thời gian - chậm chạp → sự chờ đợi mệt mỏi, chán chường, vô vọng

- Điệp từ “gượng”→ gượng gạo, miễn cưỡng

Hành động

Mục đích Kết quả

Đốt hương

Cho tâm hồn thư thái

Hồn đà mê mải

Trang 5

về đã hủy hoại tuổi thanh xuân của nàng Nàng

khóc cho tuổi xuân héo tàn, cho hạnh phúc, tình

yêu và tuổi trẻ dở dang

- Nhưng ghi gảy đàn, nàng lại nơm nớp lo sợ

dây đàn đứt → Tác giả sử dụng loạt hình ảnh

mang tính ước lệ tượng trưng nhằm nói lên nỗi

lo khôn nguôi của người chinh phụ về tình cảm

vợ chồng, về người chinh phu đang cách xa

ngàn dặm

+ Sắt cầm: đàn sắt và đàn cầm hòa âm với

nhau, tượng trưng cho cảnh vợ chồng hòa

thuận

+ Dây uyên: Uyên ương là biểu tượng cho lứa

đôi gắn bó, hòa hợp

+ Phím loan: Chim loan phượng cũng là biểu

tượng cho tình yêu đôi lứa

Soi gương

Để trang điểm,

Lệ lại châu chan

Gảy đàn

Tạo âm thanh tươi vui, giải tỏa bớt nỗi nhớ mong

Kinh đứt – ngại chùng

→ Hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng nhằm nói lên nỗi lo khôn nguôi của người chinh phụ về người chinh phu đang cách xa ngàn dặm

=> Tâm trạng bế tắc của người chinh phụ

→Tiểu kết: 16 câu thơ đầu thể hiện tình cảnh lẻ loi, nỗi

cô đơn sầu muộn của người chinh phụ.

2 Gửi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa.

a 6 câu thơ đầu:

- Hình ảnh thiên nhiên:

+ Gió đông: gió mùa xuân, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên

+ Non Yên: núi Yên Nhiên, nơi phương bắc xa xăm – nơi người chồng đang chinh chiến

- Biện pháp nghệ thuật:

+ Hình ảnh ước lệ: non Yên

+ Phủ định: chẳng.

+ Điệp ngữ vòng: non Yên, trời + Từ láy: thăm thẳm, đau đáu

=> Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, không chỉ là không gian vô tận ngăn cách hai vợ chồng,

mà còn là nỗi nhớ không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà

b 2 câu thơ cuối:

- Hai câu thơ:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu?

Trang 6

Cảnh buồn người có vui đâu bao

giờ?

=> Câu thơ mang tính khái quát, triết

lí sâu sắc

=> Nỗi nhớ lan tràn sang cảnh vật

- Lời thơ chuyển sang độc thoại nội tâm, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng người chinh phụ với hình ảnh người chinh phu tràn ngập trong tâm tưởng

→Tiểu kết: 8 câu thơ cuối như lời gửi gắm nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa xôi.

III Tổng kết.

1 Nội dung:

- Nỗi cô đơn sầu muộn của người chinh phụ

- Sự khao khát hạnh phúc lứa đôi

2 Nghệ thuật:

- Miêu tả tâm lí nhân vật (tả cảnh ngụ tình, độc thoại nội tâm)

- Một số biện pháp nghệ thuật: điệp ngữ, điệp từ, so sánh, từ láy, động

từ, câu hỏi tu từ…

v Câu hỏi: Phân tích tâm trạng của người chinh phụ ở 8 câu thơ đầu

I Mở bài

- Tác giả

- Tác phẩm

- Nội dung chính đoạn thơ/ bài thơ

II Thân bài

- LĐ 1: Tâm trạng nhớ thương da diết, bồn chồn không yên

“ Dẫn thơ…”

+ Được diễn tả qua hành động “đi, ngồi, rủ thác” → vô nghĩa, lặp

lại: điều đó cũng dễ hiệu, vì trong tình yêu con người thường thể

hiện nỗi nhớ thương qua hành động: “ca dao”

- LĐ 2: Cô đơn, lẻ loi

+ Ngoài rèm “chim thước” - giải thích → trông ngóng, hi vọng

Trang 7

+ Trong rèm “đèn” → nhân hóa ngọn đèn trở thành người bạn, nói lên khát khao muốn có người sẻ chia, bên cạnh đó còn sử dụng nghệ thuật điệp ngữ vòng làm cho tâm trạng của nàng như kéo dài thêm ra, không kìm nén được mà thốt lên thành những lời than vãn + Trong đó hình ảnh ẩn dụ “hoa đèn” → liên tưởng…

*Nghệ thuật: Bằng thủ pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, điệp ngữ, điệp từ, so sánh, từ láy, động từ, câu hỏi tu từ…ĐTC đã lột tả chân thực tâm trạng cũng như thân phận đáng thương của người vợ lính lúc bấy giờ

III Kết bài

- Ông đã rất thành công khi xây dựng hình ảnh người chinh phụ

- Dưới ngòi bút tài năng của ĐTC hình ảnh người chinh phụ vừa có giá trị hiện thực, là tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa Vừa có giá trị nhân đạo, là tiếng nói đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc lứa đôi của con người

v Đề bài: Cảm nhận về tâm trạng người chinh phụ trong 8 câu thơ đầu của đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

I Dàn ý chi tiết

1 Mở bài

Giới thiệu về tác giả, tác phẩm: Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn là một áng thơ hay thuộc thể ngâm khúc, hơn hết đoạn trích còn để lại cho hậu thế một giá trị hiện thực vô cùng sâu sắc đặc biệt chính là tâm trạng hiu quạnh cô đơn của người chinh phụ trong 8 câu thơ đầu tiên

2.Thân bài

– Ý nghĩa hai câu thơ đầu

+Hai câu thơ đầu, Đặng Trần Côn tâm trạng của người chinh phụ đã được

khắc họa qua các hình động: “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

+Tiếng than đầy oán trách của người phụ nữ vắng bóng chồng, khi chồng phải ra chiến trận, chính cái hành động lặp đi lặp lại “gieo từng bước”,

“rèm thưa rủ” việc miêu tả các hành động ngoại hình mà dụng ý chính của tác giả chính là miêu tả tâm trạng cô đơn trống vắng, nỗi nhớ da diết chồng của người chinh phụ

Trang 8

+Khung cảnh là buổi chiều tối, với một hiên vắng hành động lặp đi lặp lại

“gieo từng bước” đầy mệt mỏi như muốn nói lên cái chờ đợi cái trống vắng lặp đi lặp lại của người phụ nữa xa chồng

+Hành động gieo từng bước như nỗi lòng nặng trĩu mong ngóng ngày người chồng trở về

+“Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen” chiếc rèm cuốn lên hạ xuống như vô

thức thề hiện một trạng thái tâm lí buồn bã, chán chường

+Cảm giác bất an lo lắng cho người chồng ngoài chiến trận vừa là nỗi nhớ tha thiết, cảm xúc dồn nén càng làm cho người chinh phụ trở nên buồn bã, ngóng trông nhiều hơn

– Phân tích hai câu thơ tiếp

+ Chờ đợi nhưng chẳng thấy tin? Chim “thước” là biểu tượng của điềm lành sẽ có người đi xa trở về

+Thế nhưng chả thấy hình bóng của chim thước để baso tin nỗi nhớ đầy rẫy khắc khoải, ngóng chờ một tín hiệu dù chỉ là nhỏ nhoi nhưng không

có càng làm người nỗi buồn người chinh phụ càng tăng lên bội phần +Nhưng trong khung cảnh đau buồn này thì chỉ có ngọn đèn leo lét làm bạn với nàng

=> Sự cô đơn đến cùng cực đã làm cho người chinh phụ phải thốt lên

“Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” Ngọn đèn có thể soi sáng nỗi lòng của nàng người phụ nữ không, có rọi sáng được sự nhớ nhung của nàng dành cho chồng không?

– phân tích hai câu thơ tiếp

+“ Đèn có biết dường bằng chẳng biết

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”

+Tác giả sử dụng điệp ngữ “Đèn biết chăng -đèn có biết” càng làm cho

nỗi cô đơn của người phụ nữ kéo dài ra, triền miên ra

+Hình ảnh ngọn đèn được sử dụng hai lần như thể là nỗi trút bầu tâm sự của nhân vật trữ tình , ngọn đèn là vật vô tri nó chăng thể hiểu được nỗi lòng của người phụ nữ, nó chỉ có tasc dụng là giải toải tâm trạng cho người chinh phụ mà thôi

Trang 9

+Nhìn ngọn đèn heo hắt trong đêm tối càng làm lòng người thêm ưu phiền mà thô Ngọn đèn sáng ấm áp thể hiện cái đối nghịch của sự cô đơn, rầu rĩ

– phân tích hai câu thơ kết:

+“ Buồn rầu nói chẳng nên lời,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

+Câu thơ thứ tám kết lại là hình ảnh hoa đèn, như thế nỗi nhớ nhung cứ đọng lại, dồn nén lại, đỏ rực như bấc đèn nung nóng, ánh sáng lên như hoa

+Trong bóng đêm đen như mực người chinh phụ chỉ biết trút bầu tâm sự với ngọn đèn, với cái bóng của chính mình in lên tường cho vơi đi nỗi cô đơn nỗi nhớ chồng da diết mà thôi

3 Kết bài

– ý nghĩ của 8 câu thơ đầu

Tám câu thơ đầu trong đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”

đã cho người đọc thấy được tâm trạng của người phụ nữ, cùng khung cảnh hiu quạnh, cô đơn của người phụ nữ phải xa chồng, tất cả do chiến tranh đã khiến những cặp vợ chồng son phải xa nhau trong nhớ thương, các biện pháp tu từ đã khắc họa nên bao nỗi ưu sầu, nỗi cô đơn trống trải của những người ở lại chờ tin người đi xa

v Bài tham khảo

Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích trong “Chinh phụ

ngâm” của Đặng Trần Côn là một áng thơ hay thuộc thể ngâm khúc, hơn hết đoạn trích còn để lại cho hậu thế một giá trị hiện thực vô cùng sâu sắc đặc biệt chính là tâm trạng hiu quạnh cô đơn của người chinh phụ trong 8 câu thơ đầu tiên

Hai câu thơ đầu, Đặng Trần Côn tâm trạng của người chinh phụ đã được

khắc họa qua các hình động:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

Trang 10

Tiếng than đầy oán trách của người phụ nữ vắng bóng chồng, khi chồng phải ra chiến trận, chính cái hành động lặp đi lặp lại “gieo từng bước”,

“rèm thưa rủ” việc miêu tả các hành động ngoại hình mà dụng ý chính của tác giả chính là miêu tả tâm trạng cô đơn trống vắng, nỗi nhớ da diết chồng của người chinh phụ Khung cảnh là buổi chiều tối, với một hiên vắng hành động lặp đi lặp lại “gieo từng bước” đầy mệt mỏi như muốn nói lên cái chờ đợi cái trống vắng lặp đi lặp lại của người phụ nữa xa chồng Hành động gieo từng bước như nỗi lòng nặng trĩu mong ngóng ngày người chồng trở về

“Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen” chiếc rèm cuốn lên hạ xuống như vô

thức thề hiện một trạng thái tâm lí buồn bã, chán chường Cảm giác bất

an lo lắng cho người chồng ngoài chiến trận vừa là nỗi nhớ tha thiết, cảm xúc dồn nén càng làm cho người chinh phụ trở nên buồn bã, ngóng trông nhiều hơn, nhưng:

“ Ngoài rèm thước chẳng mách tin”

Chờ đợi nhưng chẳng thấy tin? Chim “thước” là biểu tượng của điềm

lành sẽ có người đi xa trở về Thế nhưng chả thấy hình bóng của chim thước để baso tin nỗi nhớ đầy rẫy khắc khoải, ngóng chờ một tín hiệu dù chỉ là nhỏ nhoi nhưng không có càng làm người nỗi buồn người chinh phụ càng tăng lên bội phần Nhưng trong khung cảnh đau buồn này thì chỉ có ngọn đèn leo lét làm bạn với nàng

“Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”

Sự cô đơn đến cùng cực đã làm cho người chinh phụ phải thốt lên

“Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” Ngọn đèn có thể soi sáng nỗi lòng của nàng người phụ nữ không, có rọi sáng được sự nhớ nhung của nàng dành cho chồng, hai câu thơ tiếp theo lại càng diễn tả thêm sự ưu phiền của người chinh phụ:

“ Đèn có biết dường bằng chẳng biết

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”

Tác giả sử dụng điệp ngữ “Đèn biết chăng -đèn có biết” càng làm cho nỗi

cô đơn của người phụ nữ kéo dài ra, triền miên ra Hình ảnh ngọn đèn được sử dụng hai lần như thể là nỗi trút bầu tâm sự của nhân vật trữ tình , ngọn đèn là vật vô tri nó chăng thể hiểu được nỗi lòng của người phụ nữ,

nó chỉ có tasc dụng là giải toải tâm trạng cho người chinh phụ mà thôi Nhìn ngọn đèn heo hắt trong đêm tối càng làm lòng người thêm ưu phiền

Ngày đăng: 13/03/2020, 22:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w