Biết được sự phân công lao động khác nhau giữa các gia đình làm công nhân và gia đình bình thường và giữa hai mùa mưa, nắng… - Tìm hiểu được các nguồn lực người dân sử dụng trong sản xuấ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
****************
TRƯƠNG HUỲNH KHẢI
TÌM HIỂU SỰ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG CỦA GIỚI TRONG HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP Ở THÔN 4 VÀ THÔN 5, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NÔNG LÂM KẾT HỢP
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
****************
TRƯƠNG HUỲNH KHẢI
TÌM HIỂU SỰ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG CỦA GIỚI TRONG HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP Ở THÔN 4 VÀ THÔN 5, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG
Ngành: Nông Lâm Kết Hợp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS BÙI VIỆT HẢI
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gởi lời cảm ơn chân thành đến:
Bố mẹ và gia đình đã nuôi dưỡng và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi có điều kiện học tập tốt nhất có thể
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh cùng toàn thể quý Thầy Cô trong khoa và các khoa khác đã tận tình giảng dạy cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Bùi Việt Hải đã tận tình và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm đề tài
UBND xã Quốc Oai, cảm ơn gia đình hai bác trưởng thôn cùng toàn thể bà con trong thôn 4 và thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Hơn hết tôi xin cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện của gia đình chú Đàm Văn Toán
Cuối cùng xin cảm ơn tất cả các bạn bè và tập thể lớp DH07NK
Trân trọng cảm ơn!
Người thực hiện luận văn Trương Huỳnh Khải
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Tìm hiểu sự phân công lao động của giới trong các hệ thống nông lâm kết hợp tại thôn 4 và thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện từ tháng 3/2011 đến tháng 7/2011 tại tỉnh Lâm Đồng và TP Hồ Chí Minh
Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu được sự phân công lao động và quyền quyết định theo giới trong hệ thống nông lâm kết hợp ở quy mô hộ gia đình Từ đó tìm ra nhu cầu chiến lược và nhu cầu thực tiễn của giới, phác họa kế hoạch phát triển giới trong các hệ thống nông lâm kết hợp tại địa phương
Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng các công cụ để thu thập thông tin như phỏng vấn nông hộ, thảo luận nhóm, PRA…
Kết quả đạt được:
- Tìm hiểu được cách người dân tại địa phương phân công lao động trong các hoạt động tái sản xuất, sản xuất và cộng đồng Biết được sự phân công lao động khác nhau giữa các gia đình làm công nhân và gia đình bình thường và giữa hai mùa mưa, nắng…
- Tìm hiểu được các nguồn lực người dân sử dụng trong sản xuất, cách họ tiếp cận và sử dụng chúng như thế nào
- Tìm hiểu các nhu cầu của người dân trong các hoạt động, từ đó rút ra những kết luận và đệ trình các phương án hành động để có được sự phân công lao động hiệu quả hơn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt .iii
Mục lục iv
Danh sách chữ viết tắt vi
Danh sách các bảng vii
Danh sách các hình ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Một số khái niệm về giới và NLKH 3
2.2 Một số chính sách bình đẳng của nhà nước 4
2.3 Một số nghiên cứu về giới ở Việt Nam .5
Chương 3 ĐỊA ĐIỂM – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
3.1 Khái quát về địa điểm nghiên cứu 7
3.1.1 Điều kiện tự nhiên xã Quốc Oai 7
3.1.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội 10
3.1.3 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu: thôn 4 và thôn 5, xã Quốc Oai 14
3.2 Nội dung nghiên cứu 15
3.3 Phương pháp nghiên cứu 17
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
4.1 Hồ sơ bối cảnh 19
4.1.1 Bối cảnh về lịch sử thôn 4 và thôn 5 19
Trang 64.1.2 Bối cảnh tự nhiên và xã hội của khu vực nghiên cứu 20
4.2 Hồ sơ hoạt động 24
4.2.1 Phân công lao động theo thời vụ 24
4.2.1.1 Phân công lao động theo lịch thời vụ 24
4.2.1.2 Phân công lao động theo mùa 25
4.2.2 Phân công lao động trong các hoạt động tái sản xuất 32
4.2.3 Phân công lao động trong các hoạt động cộng đồng 37
4.2.4 Phân công lao động trong hệ thống nông lâm kết hợp 40
4.2.4.1 Phân công lao động trong trồng trọt 40
4.2.4.2 Phân công lao động trong chăn nuôi 46
4.3 Sơ đồ nguồn lực 46
4.3.1 Các chỉ tiêu phân hạng hộ gia đình 46
4.3.2 Các nguồn lực và tiếp cận các nguồn lực phân chia theo giới 47
4.3.3 Quyền quyết định trong tiếp cận tài sản phân chia theo giới 49
4.4 Nhu cầu thực tế và nhu cầu chiến lược của giới 51
4.4.1 Nhu cầu thực tế của giới 51
4.4.2 Nhu cầu chiến lược của giới 55
4.4.3 Hồ sơ hành động 56
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 65
Trang 7CHỮ VIẾT TẮT
VNDCCH: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
AN – QP: An ninh Quốc phòng UNDP: United Nations Development Programme:
Mạng lưới phát triển toàn cầu LHQ
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Thành phần dân cư theo nhóm dân tộc ở xã Quốc Oai 10
Bảng 3.2 Hiện trạng giao thông xã Quốc Oai 13
Bảng 4.1 Thể hiện trình độ học vấn và cơ cấu nghề nghiệp 23
Bảng 4.2 Lịch hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân 24
Bảng 4.3 Phân công lao động của hộ khó khăn vào mùa nắng 26
Bảng 4.4 Phân công lao động đối với các hộ trung bình – khá vào mùa nắng 27
Bảng 4.5 Phân công lao động của các gia đình khó khăn vào mùa mưa 29
Bảng 4.6 Phân công lao động các hộ trung bình - khá vào mùa mưa 30
Bảng 4.7: Phân công lao động theo mùa của trẻ em dưới 15 tuổi 32
Bảng 4.8: Phân công lao động trong hoạt động tái sản xuất 33
Bảng 4.9: Cơ cấu thời gian lao động trong ngày của nam và nữ giới trong các công việc nhà 34
Bảng 4.10 Đồng hồ sinh học của vợ chồng ở thôn 4, thôn 5 – Quốc Oai 35
Bảng 4.11 Đồng hồ sinh học đối với trẻ em trai và gái dưới 15 tuổi 37
Bảng 4.12 Phân công lao động trong các hoạt động cộng đồng 38
Bảng 4.13 Phân công lao động, quyền ra quyết định và thực hiện giữa các thành viên trong gia đình ở giai đoạn chuẩn bị trồng 40
Bảng 4.14 Việc quyết định chọn giống, mua giống cây, quyết định trồng cây và trồng cây 42
Bảng 4.15 Phân công lao động, quyền quyết định và tham gia trong việc chăm sóc cây trồng 43
Bảng 4.16 Bảng thể hiện việc thu hoạch và bán sản phẩm 44
Bảng 4.17 Phân công lao động giới trong hoạt động chăn nuôi 46
Bảng 4.18 Chỉ tiêu phân hạng hộ gia đình 47
Bảng 4.19 Bảng các nguồn lực tại thôn 4 và 5 47
Trang 9Bảng 4.20 Quyết định của giới trong tiếp cận tài sản 50
Bảng 4.21 Bảng xếp hạng khó khăn của người dân thôn 4 và 5 51
Bảng 4.22 Nhu cầu thực tế của nhóm nam giới 51
Bảng 4.23 Nhu cầu thực tế của nữ giới 52
Bảng 4.24 Nhu cầu thực tế của nhóm có cả nam giới và nữ giới 53
Bảng 4.25 Nhu cầu chiến lược của nam giới 55
Bảng 4.26 Nhu cầu chiến lược của nữ giới 55
Bảng 4.27 Phân tích khả năng tham gia của nam giới trong các hoạt động NLKH 57
Bảng 4.28 Phân tích khả năng tham gia của nữ giới trong các hoạt động NLKH 57
Bảng 4.29 Bảng tiếp cận xây dựng chương trình hành động có phân tích giới trong hệ thống NLKH 58
Trang 10
DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 4.1 Sơ đồ phác thảo tài nguyên thôn 4 – xã Quốc Oai 21
Hình 4.2 Sơ đồ phác thảo tài nguyên thôn 5 – xã Quốc Oai 21
Hình 4.3 Sơ đồ phác thảo xã hội thôn 4 – xã Quốc Oai 22
Hình 4.4 Sơ đồ phác thảo xã hội thôn 5 – xã Quốc Oai 23
Biểu đồ 4.1 Sự phân công lao động trong các hoạt động cộng đồng 38
Biểu đồ 4.2 Biểu đồ thể hiện việc đưa ra quyết định chọn giống, mua giống cây, quyết định trồng cây và trồng cây (tính theo %) 42
Biểu đồ 4.3 Biểu đồ quyết định thu hoạch và bán sản phẩm 45
Trang 11họ (Vũ Đức Thư, 2008)
Ở các vùng nông thôn, do sự nhận thức chưa đầy đủ và đúng mức của các bên liên quan và có thể ngay bản thân bên trong cộng đồng về vai trò giới nên bất bình đẳng đang xảy ra Tình trạng bất bình đẳng giới được thể hiện trong các công việc mà nam giới và nữ giới tham gia, thái độ và sự đánh giá của xã hội đối với những công việc mà nam và nữ giới làm, cơ hội phát triển cá nhân… Chính vì những suy nghĩ lệch lạc về vấn đề giới phần nào đã ảnh hưởng đến sự phân công lao động, việc tiếp cận và sử dụng các nguồn lực cũng như quyền quyết định các hoạt động trong gia đình của các thành viên Điều này đã tạo ra những định kiến, những rào cản ảnh hưởng đến sự phát triển của cả nam và nữ giới, đặc biệt là nữ giới
Nhìn lại cách tiếp cận giới trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, có thể nhận thấy có một giai đoạn trong đó sự tham gia của phụ nữ trong tiến trình phát triển được chú ý Không phải mọi hành động hướng tới phụ nữ đều được coi là bình đẳng giới Bình đẳng giới phải được xem xét trong bối cảnh của những mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới, trong các hoạt động cộng đồng và trong quá trình lập quyết định nhắm đến quá trình phát triển bền vững, đó là sự bình đẳng của cả nam
Trang 12và nữ giới trong việc lập quyết định Điều này hướng đến chúng ta phải tạo quyền
và tăng quyền cho phụ nữ (Nguyễn Thị Kim Tài, 2002)
Xã hội càng phát triển thì việc xóa bỏ những định kiến về giới và tạo bình đẳng giới càng trở nên cấp bách Vấn đề này cần phải trải qua một khoảng thời gian dài và cần có sự cố gắng của các bên liên quan Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp hiểu biết về giới đều rõ ràng Trong lâm nghiệp, để có một cái nhìn tương đối toàn diện về giới, những câu hỏi thường được đặt ra như ai (nam hay nữ giới) được quyền đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Ai sẽ quản lý
và sử dụng các nguồn lực cho các hoạt động tạo ra kế sinh nhai? Việc lựa chọn và đánh giá kinh tế các loại cây trồng sẽ theo nhãn quan của nam giới hay nữ giới? Ai
sẽ tham gia vào các khóa tập huấn khuyến nông khuyến lâm? Đây cũng chính là những câu hỏi mà đề tài này đưa ra để “tìm hiểu sự phân công lao động của giới trong hệ thống nông lâm kết hợp tại xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng”
Vì giới hạn của đề tài cho phép, đề tài chỉ thực hiện tại hai thôn, đó là thôn 4 và thôn 5 của xã Quốc Oai
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu về phân công lao động, cách tiếp cận nguồn lực và quyền quyết định của giới trong các hoạt động ở cấp độ gia đình và cộng đồng địa phương
Xác định và phân tích nhu cầu của giới liên quan tới các hoạt động nông lâm kết hợp tại địa phương
Đề xuất các chương trình hành động nhằm tạo bình đẳng giới trong các hoạt động sản xuất ở địa phương
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số khái niệm về giới và NLKH
Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể Nói cách khác, nói đến giới là là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ góc độ xã hội (dẫn theo Bùi Việt Hải, 2008)
Phân tích giới là quá trình thu thập, phân tích các số liệu một cách có hệ thống thông tin về giới Phân tích giới bao gồm việc xác định những hoạt động kinh
tế mà phụ nữ và nam giới tiến hành, những nguồn lực họ sử dụng, quản lý và những lợi ích họ nhận được Nó là phương pháp thiết thực để xem xét tính đa dạng nông
hộ và cộng đồng, và vận dụng các hiểu biết đa dạng này trong lâm nghiệp nói chung
và trong việc phát triển các hệ thống nông lâm kết hợp nói riêng Phân tích giới cũng dự đoán kết quả và thành công, do đó tránh những kết quả tiêu cực đối với phụ
nữ hay mối quan hệ giới có thể xảy ra trong quá trình phát triển để có thể tiến gần đến bình đẳng giới (dẫn theo Nguyễn Thị Hoàn, 2009)
Mục đích của phân tích giới là phân tích vị trí của nam giới và nữ giới trong
xã hội để xác định nhu cầu và tiềm năng của họ, nhằm đạt hiệu quả lao động cao và đảm bảo sự tham gia của nữ giới và nam giới, đáp ứng được cả hai giới và làm cho
họ thấy hài lòng Nó tập trung vào các hoạt động và nguồn lực của cả hai giới, làm sáng tỏ nơi nào là khác biệt giữa họ, nơi nào họ bổ sung cho nhau (dẫn theo Nguyễn Thị Hoàn, 2009)
Nhu cầu của giới là nhu cầu của phụ nữ và nam giới có nguyện vọng, yêu cầu được đáp ứng để thực hiện tốt vai trò của mình Nhu cầu giới có thể rất khác
Trang 14nhau giữa các vùng, các nhóm người, các gia đình; tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hoá, chính trị xã hội Nhu cầu giới là thực tế hay là chiến lược phụ thuộc vào điều kiện sống cụ thể, cho nên nhu cầu thực tế của phụ nữ hay nam giới của một dân tộc ở xã hội này có thể là những nhu cầu chiến lược của phụ nữ hay nam giới ở
xã hội khác và ngược lại (dẫn theo Bùi Việt Hải và ctv, 2008)
Bình đẳng giới là bối cảnh lí tưởng trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng
vị trí như nhau, họ có các cơ hội bình đẳng và phát hiện đầy đủ tiềm năng nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ kết quả đó Trước kia người ta tin rằng, sự bình đẳng có thể đạt được bằng cách trao cho phụ nữ và nam giới các cơ hội như nhau và thừa nhận rằng điều này sẽ đem lại kết quả như nhau Nhưng đối xử bình đẳng không luôn luôn đem lại kết quả bình đẳng (dẫn theo Bùi Việt Hải và ctv, 2008)
Nông lâm kết hợp là hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở đặc tính sinh thái
và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các mức độ nông trại khác nhau từ kinh tế hộ nhỏ đến “kinh tế trang trại” (ICRAF, 1997)
2.2 Một số chính sách bình đẳng của nhà nước
Năm 1946 ngay sau khi dành được độc lập, khai sinh ra nước VNDCCH, hiến pháp đầu tiên khẳng định sự bình đẳng trong đối xử với phụ nữ và nam giới của nhà nước:
Điều 1: Nước Việt Nam là nước DCCH, tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo
Điều 6: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa
Điều 9: Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện
Hiến pháp gần đây nhất, 1992:
Trang 15Điều 63: Công nhận nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục
2.3 Một số nghiên cứu về giới ở Việt Nam
Ở nông thôn, có sự khác biệt về thời gian làm việc giữa phụ nữ và nam giới, tuy thời gian giành cho công việc tạo thu nhập là như nhau, nhưng so với nam giới, phụ nữ phải mất thời gian gấp hai lần cho việc nhà không được thù lao Vì vậy, phụ
nữ lúc nào cũng mất thời gian làm việc nhiều hơn đáng kể so với nam giới dù ở thời điểm nào trong cuộc đời mình dẫn đến thời gian giành cho nghỉ ngơi của họ ít hơn khá nhiều so với nam giới và cũng không có thời gian cho các hoạt động xã hội và học tập trao đổi kinh nghiệm (UNDP, 2002)
Người ta nói “Phụ nữ chân yếu tay mềm” nhưng thời gian làm việc, lượng công việc mà phụ nữ làm thì nhiều nhưng thành quả lao động đó họ được hưởng rất
ít, với đồng lương rẻ mạt Theo số liệu điều tra khảo sát của Lê Thị Chiêu Nghi (2001) thì mức dân cư 1992 – 1993, tiền lương phụ nữ bằng 69% tiền lương nam giới Lực lượng lao động nữ chiếm 50,28% so với tổng số lao động tham gia trong các hoạt động kinh tế Riêng lao động nữ ở nông thôn chiếm 80,69% so với tổng số lao động nữ và 39,97% so với tổng số lao động nói chung
Lê Thị Lý (2001) khi nghiên cứu vai trò giới trong quản lí tài nguyên thiên nhiên vùng cao cho rằng, cả phụ nữ và nam giới người dân tộc M’nông đều tích cực tham gia các hoạt động canh tác nông nghiệp và quản lý bảo vệ, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên Cả hai giới đều có quyền quyết định, kiểm soát nguồn lực thông qua các hoạt động cụ thể trên hiện trường, trong gia đình, cộng đồng Rõ ràng
cả hai giới đều hiểu khá sâu sắc về môi trường tự nhiên, các nguồn lực và tầm nhận
Trang 16thức, hiểu biết là không hoàn toàn như nhau Tuy nhiên, với sự chênh lệch về hiểu biết và nhận thức so với nam giới, đồng thời do cùng một lúc thực hiện nhiều vai trò
và chức năng thiên bẩm của giới tính nên bản thân người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi, vất vả trong cuộc sống, sinh hoạt và công việc
Theo Nguyễn Văn Ân (2010) khi tìm hiểu về phân công lao động trong giới
ở ấp Bình An, xã An Bình, huyện Phú Giáo, Bình Dương cho thấy hầu hết nam giới
là người đưa ra quyết đinh chọn giống cây trồng, thời điểm trồng cây, chăm sóc và thu hoạch Nữ giới là người tham gia tích cực trong các hoạt động nông lâm kết hợp, nhất là trong các khâu chăm sóc cây trồng và thu hoạch
Theo K’Tuổi (2008), khi tìm hiểu vai trò của giới và phân công lao động trong quản lý tài nguyên rừng của cộng đồng thôn Păng Pế Đơng, xã Đạ R’Sal, huyện Đam Rông, Lâm Đồng, đối với người phụ nữ M’nông tại đây thì họ rất ít được có cơ hội để tham gia các hoạt động của cộng đồng như các tiến trình xây dựng các dự án bảo vệ rừng hay những buổi huấn luyện về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây trồng của cán bộ khuyến nông khuyến lâm, đều này một phần là do họ hay bận rộn với công việc trong gia đình hơn, với lại một phần cũng do họ thiếu nhận thức về giới, họ vẫn quan niệm rằng, đối với những công việc quan trọng như vậy phải do nam giới tham gia
Theo Hoàng Thị Dung và các cộng sự (2006) cho rằng phụ nữ dân tộc, nhất
là phụ nữ dân tộc vùng sâu, vùng xa thì những quyền quyết định liên quan đến sử dụng đất đều do già làng, trưởng bản Khi qui hoạch sử dụng đất, người trong gia đình được mời là đàn ông, các hộ do phụ nữ làm chủ thường được coi là “hộ ăn theo, nói leo” Bên cạnh đó, nguồn vốn phát triển cũng như vậy, thông thường khi cho vay vốn thì cán bộ tín dụng xuống bản người ta tập hợp đàn ông chứ không tập hợp phụ nữ Và lí do nữa là thị trường, nhất là ở dân tộc ít người thì chị em phụ nữ không có khả năng tiếp thị các sản phẩm họ làm ra Những tỉnh vùng xa họ thường
bị tác động trước những cuộc mua bán, họ không biết giá bán trên thị trường”
Trang 17Chương 3 ĐỊA ĐIỂM – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1 Khái quát về địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên xã Quốc Oai
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Đạ Tẻh - tỉnh Lâm Đồng nằm ở phía Tây tỉnh Lâm Đồng, xã Quốc Oai nằm ở phía Bắc – Tây Bắc của huyện Đạ Tẻh ( tỉnh Lâm Đồng ) và có tọa độ địa lý từ 11034’ đến 11038’ độ vĩ Bắc từ và từ 107030’ đến 107033’ kinh độ Đông
Xã có đặc điểm nổi bật là khu dân cư được bao bọc bởi rừng núi xung quanh, thuận
lợi cho việc giao đất khoán rừng cho người dân
- Phía Bắc giáp: xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng
- Phía Nam giáp: Thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng
- Phía Đông giáp: xã Mỹ Đức, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng
- Phía Tây giáp: xã An Nhơn, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng
(Nguồn: Dự thảo báo cáo kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối 2006 – 2010 có điều chỉnh quy hoạch xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng)
3.1.1.2 Địa hình
Xã Quốc Oai có dạng địa hình khá phức tạp, được chia làm ba dạng:
- Dạng địa hình thấp trũng lượn sóng
- Dạng đồi bát úp
- Dạng địa hình núi cao
(Nguồn: Dự thảo báo cáo kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối 2006 – 2010 có điều chỉnh quy hoạch xã Quốc Oai ,huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng)
Trang 183.1.1.3 Khí hậu
Xã Quốc Oai mang đầy đủ các yếu tố khí tượng của huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng Xã Quốc Oai chịu ảnh hưởng của khí hậu Đông Nam Bộ, nên chế độ nhiệt và
số giờ nắng cao, lượng mưa thấp, số ngày mưa thấp
- Có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên Nam Trung Bộ
- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,60C
- Nhiệt độ trung bình cao nhất (từ tháng 2 đến tháng 4) là 26,40C
Vào mùa mưa lũ thường có nhiều cơn mưa lớn và tập trung hơn, cùng với yếu tố địa hình, đã gây ra tình trạng ngập ở các khu vực địa hình thấp đặc biệt là các khu vực trũng ven sông
3.1.1.4 Quá trình hình thành
Quốc Oai là một xã hình thành do nhập cư, gồm có 7 thôn ( trong đó có một thôn người dân tộc – thôn Đạ Nhar ) với tổng dân số 3872 người với 912 hộ ( UNBD xã Quốc Oai, 2011 ) bao gồm dân tộc Mạ tại chỗ, có một số bà con từ tỉnh khác đi kinh tế mới và một số dân tộc tỉnh Cao Bằng mới di cư vào Có sự khác biệt
về hoạt động sống và về tập quán canh tác giữa cộng đồng dân tộc thiểu số bản xứ
và những người nhập cư
Trang 193.1.1.5 Hiện trạng sử dụng tài nguyên thiên nhiên
3.1.1.5.1 Thủy văn
Nước ngầm: mực nước ngầm thay đổi theo mùa và phụ thuộc vào mực nước các sông suối, được nhân dân trong xã đã khai thác tối đa để sử dụng vào nguồn nước sinh hoạt
Xã Quốc Oai có 2 con suối lớn nằm ở phía đông và phía tây của xã Hai suối này là nguồn cung cấp nước tưới tiêu chính cho các hộ canh tác nông nghiệp Tuy nhiên ,vào mùa khô nước ở 2 suối này không đủ cung cấp phục vụ cho tưới tiêu
Bên cạnh đó ,trong xã chưa có hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh (chỉ có 1 – 2 thôn có được nguồn nước tử thủy lợi hồ Đạ Tẻh) nên việc mất mùa trong mùa khô
là yếu tố hạn chế chính cho sản xuất nông nghiệp ở xã Ngoài ra, vào mùa mưa, lượng nước tập trung ở 2 con suối khá nhanh, làm rửa trôi tầng đất mặt và gây ngập úng cục bộ cho những khu vực trũng thấp Hiện nay việc giải quyết vấn đề nước tưới vào mùa khô là rất cấp thiết cho bà con trong xã Dự án xây đập thủy lợi tuy đã được triển khai nhưng vẫn chưa đáp ứng đươc vấn đề nước tưới của bà con
(Nguồn: Dự thảo báo cáo kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối 2006 – 2010 có điều chỉnh quy hoạch xã Quốc Oai , huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng)
3.1.1.5.2 Tài nguyên đất
Tài nguyên đất gồm hai nhóm đất chính là nhóm đất đỏ vàng và nhóm đất dốc tụ
+ Nhóm đất đỏ vàng
Đất đỏ vàng: đất nâu đỏ và nâu vàng trên đá Bazan là loại đất có độ phì cao
và tốt nhất trong các loại đất đồi núi ở nước ta, rất thích hợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp như điều, tiêu, chè, cà phê…
Đất đỏ vàng trên phiến sét: loại đất này có màu vàng đỏ đặc trưng thành phần cơ giới trung bình, tầng đất mịn dày trên 50cm Lẫn nhiều đá ở những nơi có
độ dốc thấp Gồm khu dân cư đã được khai phá để trồng điều nhưng nhiều nơi đã bị khai hoang vì tầng đất mặt bị xói mòn, rừa trôi
Trang 20Đất màu vàng trên phù sa cổ: là loại đất hình thành từ phù sa cổ của các sông
suối, cấu tượng viên, rất chặt tầng đất dày trên 100cm, có nơi kết von sắt nhôm,
khoảng 15 – 25% Ở sâu dưới 70m Thành phần cơ giới nhìn chung là thịt nhẹ đến
trung bình ở lớp mặt
Nhóm đất dốc tụ: được hình thành trong các thung lũng hoặc lợp thủy đồ do
quá trình rửa trôi và các sản phẩm khác từ trên núi nên thường ngập nước, phù hợp
trồng lúa nước
Có địa hình phân mạch Có độ cao 200 – 650m so với mực nước biển
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Quốc Oai là 8568 ha
Đất lâm nghiệp: 6669,6 ha chiếm 77,89%
Đất nông nghiệp: 1575,32 ha chiếm 18,32%
Đấy chuyên dùng: 114,26 ha chiếm 1,33%
Đất phi nông nghiệp 208.82 ha chiếm 2,46%
3.1.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội
3.1.2.1 Dân số, dân tộc và tôn giáo
Theo số liệu điều tra dân số của phòng thống kê xã Quốc Oai đến đầu năm
2011 dân số trong toàn xã là 3.872 nhân khẩu với 912 hộ.Trong đó dân tộc gốc địa
phương, gọi là dân tộc Mạ hay Châu Mạ có 217 hộ /899 khẩu chiếm 23,79%; dân
tộc thiểu số phía bắc có 70 hộ /302 khẩu chiếm 7,67% và dân tộc kinh có 625
hộ/2671 khẩu chiếm 68,54%.Người dân trong xã đa số theo đạo Phật chiếm 42% và
theo thiên chúa giáo và tin lành chiếm 20,35% số hộ toàn xã ; còn lại không theo
tôn giáo nào cả
Bảng 3.1 Thành phần dân cư theo nhóm dân tộc ở xã Quốc Oai
Trang 21Tổng 912 3872
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh –
quốc phòng năm 2010 kế hoạch thực hiện nhiệm vụ KT – XH, AN – QP năm 2011
xã Quốc Oai , huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng)
3.1.2.2 Giáo dục
Trên địa bàn xã Quốc Oai gồm các trường:
- Trường Trung Học Cơ Sở Quốc Oai ( với 362 học sinh )
- Trường Tiểu Học Quốc Oai ( với 366 học sinh )
- Trường Tiểu Học Quốc Oai ( với 194 học sinh )
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an
ninh-quốc phòng năm 2010 kế hoạch thực hiện nhiệm vụ KT – XH, AN – QP năm 2011
xã Quốc Oai , huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng )
3.1.2.3 Tình hình kinh tế
3.1.2.3.1 Mức sống và thu nhập
Mức thu nhập cao nhất trên địa bàn xã là 4 triệu/hộ/ha Thấp nhất là 0.6 triệu
đồng.Về các phương tiện sinh hoạt như xe máy, radio, tivi, còn hạn chế, nghèo, đời
sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn
Đối với các hộ gia đình người kinh và nhóm dân tộc tiểu số phía bắc thì thu
nhập chủ yếu từ các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi Riêng đồng bào dân tộc trong
thôn Đạ Nhar có thu nhập chủ yếu là từ việc thu hái và khai thác các sản phẩm từ
rừng
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh –
quốc phòng năm 2010 kế hoạch thực hiện nhiệm vụ KT – XH, AN – QP năm 2011
xã Quốc Oai , huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng)
3.1.2.3.2 Trồng trọt
Tổng diện tích đã gieo trồng của xã Quốc Oai năm 2010 đạt 1689 ha Trong
đó:
- Cây lương thực: tổng diện tích gieo trồng 411 ha
- Cây chất bột: diện tích đã gieo trồng được 45 ha
Trang 22- Cây thực phẩm các loại: đã gieo trồng và thu hoạch được 55 ha
- Cây công nghiệp và cây khác : tổng diện tích gieo trồng là 1064.32
Về năng suất và sản lượng một số cây trồng chủ lực của xã năm 2010:
- Cây lúa: Năng suất trung bình cả năm đạt 32,6 tạ/ha
- Cây điều: năng suất trung bình từ 500 -600 kg/ha
- Cây tiêu: năng suất trung bình 1,2 tấn/ha
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng năm 2010 kế hoạch thực hiện nhiệm vụ KT – XH, AN – QP năm 2011
xã Quốc Oai , huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng)
3.1.2.3.3 Chăn nuôi
Toàn xã Quốc Oai, tổng đàn trâu có 295 con, đàn bò có 375 con, đàn heo có
800 con, tổng gia cầm các loại có khoảng 14000 con Tình hình chăn nuôi trên địa bàn xã ổn định, công tác phòng chống dịch bệnh luôn được chú trọng, do đó không
có phát sinh dịch bệnh trong chăn nuôi
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh-quốc phòng năm 2010 kế hoạch thực hiện nhiệm vụ KT – XH, AN – QP năm 2011 xã Quốc Oai , huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng)
3.1.2.3.4 Lâm nghiệp
Diện tích đất lâm nghiệp của xã Quốc Oai có 6.699 ha Hiện nay Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh đã giao cho 5 doanh nghiệp 1785,8 ha Công tác quản lý bảo vệ rừng luôn được chú trọng
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng năm 2010 kế hoạch thực hiện nhiệm vụ KT – XH, AN – QP năm 2011
xã Quốc Oai , huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng)
3.1.2.3.5 Công tác khuyến nông
Uỷ Ban Nhân Dân Xã Quốc Oai thường xuyên quan tâm và hỗ trợ nhân dân trong việc sản xuất Tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn cho người dân về giống cây trồng mới cũng như phương thức sản xuất có hiệu quả Mua cây cao su giống cho
28 hộ và mua cây ca cao giống cho 51 hộ trong xã Hỗ trợ giống lúa chất lượng cao
Trang 23cho 79 hộ và hỗ trợ giống ngô cho 41 hội Mua phân bón cho các hộ chăm sóc cây
ca cao 9.260 kg, phân bón cho các hộ sản xuất lúa và ngô 14.200 kg
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh –
quốc phòng năm 2010 kế hoạch thực hiện nhiệm vụ KT – XH, AN – QP năm 2011
xã Quốc Oai , huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng)
3.1.2.4 Cơ sở hạ tầng
3.1.2.4.1 Giao thông
Tại xã Quốc Oai đã có các tuyến đường: đường huyện lộ trải nhựa; đường
liên thôn hay nội bộ thôn trải đá, một số đã trải nhựa được trình bày ở Bảng 3.2
Bảng 3.2 Hiện trạng giao thông xã Quốc Oai
dài (Km)
Chiều rộng (m)
Lộ giới (m)
Diện tích ( ha )
( Nguồn: Dự thảo báo cáo kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối 2006 – 2010 có điều
chỉnh quy hoạch xã Quốc Oai ,huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng )
Trang 24Công tác quản lý thủy lợi luôn được quan tâm và có sự chỉ đạo kịp thời đối với các thôn trong việc nạo vét kênh mương, khơi thôn dòng chảy đảm bảo việc tiêu thoát nước phục vụ sản xuất
3.1.3 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu: thôn 4 và thôn 5, xã Quốc Oai
3.1.3.1 Thôn 4
Thôn 4 là một trong những thôn nghèo của xã Không nằm trên trục quốc lộ chính Do đó con đường chính của thôn chỉ được trải đá Qua nhiều năm thì hiện tại con đường đã bị xuống cấp
Khí hậu trong thôn cũng giống như khí hậu của toàn xã là khí hậu cao
nguyên Nam Trung Bộ, mưa nhiều Mùa mưa và mùa nắng rõ rệt Mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến đầu tháng 11
Hiện nay thôn có 100 hộ với 438 nhận khẩu Người dân trong thôn sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp
Thành phần dân tộc trong thôn rất đa dạng
Dân tộc Kinh chiếm 76%
24% là dân tộc Tày, Mùng, Giao, Mường, Thái
Về tôn giáo thì ở đây có đạo phật và thiên chúa Đạo phật: 3 hộ
Thiên chúa: 7 hộ Còn lại là không theo đạo Tổng diện tích đất canh tác trong thôn là 150 ha trong đó có 30 ha trồng lúa,
90 ha trồng điều, có 23 ha trồng điều xen ca cao, café
Trang 253.1.3.2 Thôn 5
Thôn 5 được bố trí trải dài hai bên quốc lộ chính của xã nên có nhiều điều kiện thuận lợi hơn thôn 4
Khí hậu thôn 5 cũng giống như khí hậu của toàn xã
Hồ Đạ Nam nằm trên thôn 5 Là nơi khởi nguồn của hệ thống thủy lợi và năm 2010
Trong thôn có 125 hộ với 535 nhân khẩu Người dân trong thôn sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp
Trong thôn có 3 dân tộc: Kinh, Mường, Tày
Về tôn giáo là trông thôn không có hộ nào theo
Đất nông nghiệp trong thôn có 198,8 ha
Đất lâm nghiệp có 145 ha
3.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Các yếu tố ảnh hưởng và phân tích về giới
• Tìm hiểu và phân tích bối cảnh tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc phân công lao động và bình đẳng giới:
o Về tự nhiên: gồm các nguồn lực như đất đai, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, …
o Về kinh tế: gồm các khía cạnh về điều kiện kinh tế hộ gia đình, nguồn vốn hỗ trợ sản xuất,
o Về xã hội: các chính sách, định chế tác động đến việc phân công lao động
• Phân tích sự phân công lao động, việc tiếp cận nguồn lực và quyền quyết định trong sản xuất:
1 Phân công lao động trong gia đình
- Phân công lao động theo giới
- Phân công lao động theo thời vụ
- Phân công lao động theo mùa
- Phân công lao động trong các hoạt động tái sản xuất
Trang 262 Phân công lao động trong các hoạt động cộng đồng
4 Hồ sơ nguồn lực của giới
- Chỉ tiêu phân hạng hộ gia đình
- Các nguồn lực và tiếp cận các nguồn lực phân chia theo giới
5 Quyền quyết định của giới trong tài sản
o Nhu cầu chiến lược
- Của nam giới
- Của nữ giới
Nội dung 3: Bình đẳng giới và các chương trình hoạt động
o Đánh giá bình đẳng giới và phân công lao động ở địa phương
Phân tích khả năng tham gia của nam giới trong các hoạt động NLKH
Trang 27Phân tích khả năng tham gia của nữ giới trong các hoạt động NLKH
o Đề xuất các chương trình hoạt động nhằm tạo bình đẳng giới trong hoạt động sản xuất
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Các thông tin thứ cấp về tình hình tự nhiên, kinh tế, xã hội của ấp được thu thập qua các tài liệu lưu trữ tại UBND xã và những người đưa tin then chốt như chủ tịch, bí thư xã, và trưởng ấp để có cái nhìn tổng quan về bối cảnh khu vực và để có thể biết được yếu tố nào có ảnh hưởng đến sự phân công lao động, vai trò và khả năng tiếp cận, sử dụng các nguồn lực tại địa phương
Kế thừa một số kết quả PRA từ đợt thực tập các môn học thuộc bộ môn NLKH và LNXH của lớp Nông Lâm Kết Hợp khoá 33 tại thôn 4 và thôn 5, xã Quốc Oai Nay những số liệu trong đợt thực tập này được sử dụng như là thông tin nền và nhằm kiểm tra chéo thông tin cho quá trình thu thập thông tin sơ cấp
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Một số kết quả trong đợt thực tập của lớp Nông Lâm Kết Hợp khoá 33 được
kế thừa và bổ sung trong lần thu thập thông tin thứ cấp này như sơ đồ phác thảo tài nguyên, sơ đồ phác thảo xã hội, lát cắt, lịch thời vụ, lịch sử thôn bản, phân hạng mức sống,
Sau khi thu thập các thông tin nền, chúng tôi tiến hành sử dụng bảng câu hỏi bán cấu trúc để phỏng vấn người dân Đối tượng phỏng vấn là giới nam và nữ ở cấp
độ hộ gia đình Vì trong nghiên cứu này, hộ gia đình được chọn như một đơn vị phân tích nên tổng thể sẽ là các hộ gia đình trong ấp, và số hộ cần phỏng vấn được tính theo công thức sau:
Trong đó: - n: số hộ cần phỏng vấn
- N: tổng số hộ trong ấp
Trang 28- t: hệ số tin cậy của kết quả ( t = 1,96)
- d: sai số mẫu (10%)
- S2: phương sai mẫu (0,25) Theo thông tin thứ cấp thì tổng số hộ trong hai thôn là N = 225 hộ Áp dụng công thức trên thì số hộ cần điều tra n = 68 hộ
Ngoài ra, chúng tôi tiến hành thực hiện công cụ đồng hồ sinh học để mô tả việc sử dụng thời gian hàng ngày của từng nhóm đối tượng; công cụ bảng phân công lao động theo giới để biết được đối tượng nào, làm cái gì, ở đâu và khi nào?
Và công cụ khung phân tích nguồn lực để biết được ai tiếp cận, sử dụng những nguồn lực nào và hưởng lợi ra sao tại khu vực nghiên cứu?
Thảo luận nhóm: Lựa chọn các hộ có kiểu canh tác theo mô hình NLKH để tiến hành thảo luận nhóm Việc thảo luận này được áp dụng với 3 nhóm đối tượng bao gồm: nhóm toàn nam giới, nhóm toàn nữ giới và nhóm nam nữ
3.3.3 Phương pháp xử lí số liệu
Từ các số liệu đã thu thập được, tiến hành thảo luận nhóm sau khi đã có số liệu nhằm cho điểm các yếu tố thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của người dân
Thảo luận nhóm để xác định được các nhu cầu thực tế và chiến lược của mỗi nhóm khi họ tham gia các hoạt động trong hệ thống NLKH Từ đó lập bảng cho điểm để đánh giá các nhu cầu cấp thiết nhất
Phân tích SWOT để thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của giới nam và nữ khi tham gia các chương trình hành động về NLKH
Tất cả các thông tin thu thập được tổng hợp, phân tích và đúc kết trong 4 bộ
hồ sơ của phương pháp phân tích giới là CARP: bối cảnh (Context, C), hoạt động (Activity, A), nguồn lực (Resource, R) và chương trình hành động (Programm, P)
Trang 29Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hồ sơ bối cảnh
4.1.1 Bối cảnh về lịch sử thôn 4 và thôn 5
4.1.1.1 Sơ lược về dòng lịch sử thôn 4
Thôn 4, xã Quốc Oai là một thôn mới thành lập từ năm 1988, một trong những thôn nghèo của xã
Thôn 4 giáp ranh với thôn 5, thôn 6 và thôn 3 Vì giáp với thôn 3 là thôn trung tâm của xã nên đường ra xã tương đối cũng gần
Trước khi thành lập thôn 4 do tập đoàn 4 chủ yếu là người Hà Tây đi xây dựng kinh tế mới vào
Đến 1988-1989 mới thành lập thôn 4
Sau khi thành lập thôn một năm thi trường tiểu học cũng được xây
Đến năm 2000 thì thực hiện chương trình 135 giai đoạn 1 xây dựng điện, đường, trường, trạm Đến năm 2004 nâng cấp từ đường đất lên đường đá
Năm 2005 thì đã kéo điện Mở ra một bước mới trong phát triển kinh tế Năm 2006 thì thôn 4 tách làm 2 nhánh 1 bên là xóm Hà Thái, một bên là xóm Bắc Sơn
Đến năm 2010 thì bắt đầu xây dựng hệ thống thủy lợi
Đặc điểm tự nhiên thì đất ở đây chủ yếu là đất dốc và đồi núi, chủ yếu là trồng điều, một số hộ thì trồng lúa nước, cafe, cacao Thời tiết ở đây cũng có 2 mùa: mùa mưa và mùa khô rõ rệt
Trang 304.1.1.2 Sơ lược về dòng lịch sử thôn 5
Năm 1986 thôn 5 được thành lập, ban đầu thôn 5 có 86 hộ
Năm 1988 người dân bắt đầu trồng điều, bước đầu thúc đẩy cho nông nghiệp nơi đây
Vì là thôn nằm hai bên ven quốc lộ chính của xã nên năm 1993 thì được kéo điện giúp người dân tăng chất lượng cuộc sống và phát triển kinh tế
Năm 2000 thì thực hiện chương trình 135 giai đoạn 1 xây dựng điện, đường, trường, trạm
Tài nguyên rừng nơi đây phong phú nên năm 2003 có 46 hộ trong thôn được giao khoán rừng
Năm 2005 thì trường mầm non phân hiệu Hoa Sen được xây dựng
Năm 2006 có hai dự án của Mỹ được đưa về, thứ nhất là dự án Winrock về trồng cây Sả lấy tinh dầu, bước đầu nhằm mở ra hướng sản xuất mới, hứa hẹn đem lại nhiều hiệu quả góp phần xoá đói giảm nghèo và tự vươn lên làm giàu; thứ hai là
dự án Acdivocavề việc phát triển sản xuất Ca cao bền vững cho các hộ nông dân
Năm 2009 có chương trình 30A của chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững cho các hộ gia đình
Năm 2010 thì bắt đầu xây dựng hệ thống thủy lợi Và được sự ủng hộ đông đảo của người dân
4.1.2 Bối cảnh tự nhiên và xã hội của khu vực nghiên cứu
4.1.2.1 Bối cảnh tự nhiên
+ Địa hình
Địa hình thôn 4 và thôn 5 bao gồm nhiều đồi núi cao ven đường Một số nơi
là đất rẫy Nơi đây thích hợp cho việc trồng điều, nay có thêm cao su và tràm
Trang 31
Hình 4.1 Sơ đồ phác thảo tài nguyên thôn 4 – xã Quốc Oai
Hình 4.2 Sơ đồ phác thảo tài nguyên thôn 5 – xã Quốc Oai
Vì thôn 4 và thôn 5 là hai thôn tiếp giáp nhau nên các loại cây trồng nơi đây tương đối giống nhau
Nhìn vào sơ đồ tài nguyên ta thấy cây trồng chính hiện nay là: điều, cacao, cà phê Thời gian này cây điều nơi đây đang già đi và cho năng suất thấp, do đó người dân mong muốn có thêm các loại điều ghép để tăng năng suất
Trang 32Hiện nay tổng diện tích đất nông nghiệp thôn 4 có 150 ha trong đó có 30ha trồng lúa và 90ha điều (có 23ha điều trồng xen)
Về thôn 5 thì có 170 ha trồng điều (có tới hơn 90% đang thu thoạch), trong
đó trồng xen là 150 ha Đất lâm nghiệp có 145 ha
Thôn 5 là nơi được xây dựng hồ Đạ Nam, nơi khởi công chính của công trình thủy lợi nên có nhiều điều kiện thuận lợi hơn thôn 4
Vào thời điềm điều tra thì một số nơi ở thôn 4 đang được xây dựng hoặc chưa có hệ thống thủy lợi, do đó phần nào ảnh hưởng tới việc sản xuất của người dân vào mùa khô
+ Vị trí
Tuy thôn 4 không nằm trên đường quốc lộ chính của xã, nhưng với vị trí giáp thôn 5 và thôn 3 là nơi trung tâm chính của xã nên việc đi lại cũng thuận tiện, thôn 4 cũng là nơi xây dựng trường THCS Quốc oai của xã nên về mặt nào đó cũng mang lại thuận lợi cho các em nhỏ
Hình 4.3 Sơ đồ phác thảo xã hội thôn 4 – xã Quốc Oai
Trang 33Hình 4.4 Sơ đồ phác thảo xã hội thôn 5 – xã Quốc Oai
Thôn 5 với vị trí nằm trên đường quốc lộ chính của xã, nên việc giao thông tương đối thuận lợi Là nơi xây dựng hệ thống thủy lợi đầu tiên
Trường mầm non Hoa Sen được xây dựng đầu tiên tại thôn 5 tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho thôn 5 trong việc gởi con cái đi học
Tại đây, xưởng gỗ Minh Đạt cũng giải quyết việc làm cho rất nhiều người trong xã
4.1.2.2 Bối cảnh xã hội
Về nghề nghiệp và trình độ văn hóa: thôn được thành lập từ dân di cư nhưng trình độ học vấn của người dân so với mặt bằng chung là cao Đa số người dân trong thôn là làm nghề nông, trong quá trình thu thập thông tin, chúng tôi thu được kết quả trong Bảng 4.1
Bảng 4.1 Thể hiện trình độ học vấn và cơ cấu nghề nghiệp
Trang 34nước
Theo bảng số liệu cho thấy có 45.59% là trình độ THCS, 47.96% là THPT, 2.94% là đại học Dù là dân di cư nhưng trình độ học vấn của họ là cao, điều này rất thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức, kĩ thuật mới nhất là với nam giới
Hiện nay ở đây, người dân ở đây thu nhập chủ yếu dựa vào nghề nông Qua tìm hiểu, có đến 92,65% số hộ làm nông nghiệp Các hộ đi làm thuê ở nơi khác chỉ chiếm 1.47%, họ chỉ làm thêm những lúc rãnh rỗi, từ buôn bán, dịch vụ 1.47% và cán bộ nhà nước chiếm 4.41%
4.2 Hồ sơ hoạt động
4.2.1 Phân công lao động theo thời vụ
4.2.1.1 Phân công lao động theo lịch thời vụ
Sau quá trình tìm hiểu hoạt động sản xuất ở địa phương, cũng như được sự giúp đỡ của người dân, chúng tôi đã nắm được một số thông tin về các loại cây trồng và vật nuôi của người dân trong thôn (Bảng 4.2)
Bảng 4.2 Lịch hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân
Trang 35Tiêu N*,M
N,M
Lúa nước N,M N,M
N,M N,M
Heo
N,M N*,M N*,M
Gà
N*,M N*,M N*,M N*,M Chú thích: Chăm sóc
Ta thấy từ tháng 1 – 4, người dân chủ yếu tập trung vào thu hoạch điều và tiêu Đây cũng là khoảng thời gian cần nhiều lao động nhất Những tháng còn lại thì chỉ chăm sóc là chủ yếu
Vào giữa năm thì thời gian rãnh nhiều, công việc làm thêm lúc này là rất quan trọng
4.2.1.2 Phân công lao động theo mùa
Thôn 4, thôn 5 có nền khí hậu thuộc phía Bắc của huyện Nằm cách thị trấn hơn 10km về hướng Đông Bắc, mang khí hậu cao nguyên Nam Trung Bộ, nên nhiệt
độ thấp và mát mẻ Mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến đầu tháng 11 Tùy thuộc vào mỗi mùa thì thời gian, mức độ công việc khác
Trang 36nhau Qua phỏng vấn tìm hiểu sự phân công lao động giữa các nhóm hộ khá, trung bình và nghèo theo mùa, kết quả về phân công lao động theo mùa được thể hiện ở các bảng như sau:
Bảng 4.3 Phân công lao động của hộ khó khăn vào mùa nắng
Nấu ăn buổi tối, ăn cơm
Nghỉ làm, về nhà Dọn dẹp nhà cửa Tắm rửa, ăn cơm 20h – 21h
Rửa chén bát Dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ Trò chuyện
Trò chuyện Xem ti vi
ăn sáng xong thì người vợ lo dọn dẹp, người chồng uống nước và chuẩn bị dụng cụ
đi làm Tuỳ vào chỗ làm gần hay xa mà thời gian đi làm khác nhau
Trang 37Nhìn vào bảng trên, ta thấy công việc của người phụ nữ làm đan xen nhau với nhiều công việc Vì đây là vào mùa thu hoạch điều nên họ mang cơm ăn buổi trưa luôn, họ nghỉ ăn cơm lúc 11h30 và ăn xong họ làm tiếp, không có thời gian nghỉ ngơi Thời gian nghỉ buổi chiều là thời gian mà người phụ nữ bận rộn với công việc gia đình nhất: chuẩn bị nấu ăn, tắm rửa cho con và dọn dẹp nhà cửa Vào mùa
vụ như thế này, các công việc trong gia đình được sự chia sẻ của người chồng và con cái, họ giúp người phụ nữ các công việc như: dọn dẹp nhà cửa hoặc cắm cơm
và cũng có thể 2 vợ chồng cùng làm việc nhà Còn những ngày bình thường, các công việc tái sản xuất trong gia đình đều do người phụ nữ đảm nhận Xong buổi cơm tối, khoảng 21h30 họ đi ngủ để mai dậy sớm làm việc
Bảng 4.4 Phân công lao động đối với các hộ trung bình – khá
Ăn sáng Rửa chén bát Chuẩn bị đi làm
Ăn sáng Uống cà phê Chuẩn bị dụng cụ đi làm
7h Đi làm cùng với người mình
Trang 38Tắm rửa con cái & cho mình tắm rửa 20h - 21h
Ăn cơm Rửa chén bát Giặt giũ
Ăn cơm, nghỉ ngơi, xem ti vi
Cũng như các gia đình khó khăn, họ cũng có rẫy ở xa nhà và để tranh thủ thời gian nên họ thường mang cơm đi ăn luôn vào bữa trưa Họ làm việc đến 12h trưa nghỉ làm để ăn cơm Lúc chúng tôi đi làm đề tài này thì vào mùa thu hoạch điều Theo người dân, sau khi ăn trưa xong thì họ làm luôn công việc và đến 19h họ nghỉ làm về nhà, chuẩn bị bữa tối Vào mùa vụ, cũng như các hộ khó khăn, trong gia đình có sự chia sẻ làm các công việc nhà giữa 2 vợ chồng và có sự tham gia của con cái trong nhà Qua đó, cũng đã thể hiện được phần nào sự tiến bộ trong tư tưởng của người đàn ông ngày nay Vào mùa vụ nên các gia đình thường ăn cơm muộn vào lúc 20h, đây là thời gian trong ngày để cả gia đình nói chuyện với nhau trong ngày Thời gian này công việc nhiều, làm cả ngày nên sau buổi ăn tối, họ thường đi ngủ sớm sau một ngày làm việc vất vả Tuy nhiên, qua bảng trên chúng ta thấy trong một ngày, người phụ nữ làm nhiều thời gian hơn và ở hầu hết các gia đình trong thôn
Trang 39Qua 2 bảng số liệu trên ta thấy thời gian bắt đầu làm việc giữa các hộ khó khăn và các hộ trung bình là khác nhau Công việc của các hộ khó khăn thường bắt đầu thường bắt đầu sớm hơn so với các hộ trung bình – khá
Bảng 4.5 Phân công lao động của các gia đình khó khăn vào mùa mưa
5h
Dậy, vệ sinh cá nhân Chuẩn bị bữa sáng Dọn dẹp nhà cửa
Ngủ
6h – 7h
Ăn cơm Rửa chén bát Chuẩn bị đi làm
Dậy, vệ sinh cá nhân
Ăn cơm Chuẩn bị dụng cụ đi làm
Nghỉ về nhà Tắm rửa Cùng vợ làm công việc nhà
Trang 40Nhận xét:
Vào mùa mưa, công việc làm phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết Mùa mưa, với các hộ khó khăn bắt đầu cũng muộn hơn và kết thúc sớm hơn Bắt đầu một ngày mới, với các công việc buổi sáng vẫn như thường lệ Thời gian đi làm cũng muộn hơn mùa nắng, nếu không mưa thì họ đi làm lúc 8h Buổi trưa 11h họ đã nghỉ chuẩn
bị ăn cơm, nếu không mưa thì họ bắt đầu làm tiếp công việc còn mưa thì họ nghỉ đi
về nhà Vào mùa mưa, công việc bị ảnh hưởng rất nhiều, họ kết thúc ngày làm việc lúc 16h Về nhà, người phụ nữ bận rộn với công việc gia đình như: cơm nước, nhà cửa các công việc này chiếm nhiều thời gian Vào thời gian này, người đàn ông ở các hộ khó khăn thường tìm công việc làm thêm ở bên ngoài để tăng thêm thu nhập lúc rãnh rỗi
Bảng 4.6 Phân công lao động các hộ trung bình - khá vào mùa mưa
5h30
Dậy
Vệ sinh cá nhân Chuần bị bữa sáng Dọn dẹp nhà cửa
Ngủ
6h30 – 7h
Ăn cơm Rửa chén bát Chuẩn bị đi làm
Dậy
Vệ sinh cá nhân
Ăn cơm Uống cà phê Chuẩn bị đi làm
11h – 12h30
Ăn cơm Rửa chén bát Ngủ trưa
Về nhà
Ăn cơm Ngù trưa