BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH *********** DUƠNG THỊ THANH THÚY TÌM HIỂU KHẢ NĂNG LAN RỘNG CỦA MÔ HÌNH TRỒNG SA NHÂN TÍM DƯỚI TÁN RỪNG TỰ NHIÊN TẠ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***********
DUƠNG THỊ THANH THÚY
TÌM HIỂU KHẢ NĂNG LAN RỘNG CỦA MÔ HÌNH TRỒNG
SA NHÂN TÍM DƯỚI TÁN RỪNG TỰ NHIÊN TẠI XÃ
ĐĂK ROONG – HUYỆN KBANG
– TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành nông lâm kết hợp
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 7/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***********
DUƠNG THỊ THANH THÚY
TÌM HIỂU KHẢ NĂNG LAN RỘNG CỦA MƠ HÌNH TRỒNG
SA NHÂN TÍM DƯỚI TÁN RỪNG TỰ NHIÊN TẠI XÃ
ĐĂK ROONG – HUYỆN KBANG
– TỈNH GIA LAI Ngành nông lâm kết hợp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Nguời huớng dẫn: Th.s NGUYỄN QUỐC BÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2011
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn tới: Tập thể các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp đã tận tình truyền đạt kiến thức cũng như hướng dẫn những kinh nghiệm thực tế giúp cho tôi có được những kiến thức quí báu về ngành nghề của mình cũng như giúp tôi có thêm những kỷ năng, những bài học kinh nghiệm từ thực tế
Tôi xin chân thành cảm ơn đến thầy Th.s Nguyễn Quốc Bình, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dân tôi hoàn thành khóa luận này
Tập thể lớp nông lâm kết hợp khóa 2007-2011 đã gắn bó và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học cung như trong thời gian làm khóa luận tố nghiệp
Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên xã Đăk roong đã giúp tôi trong quá trình thu thập số liệu ở cơ sở và hướng dẫn tôi những kinh nghiệm thực tế và anh Trần Ngọc Anh đã giúp đỡ tôi phiên dịch tiếng Ba Na trong thời gian tôi thu thập số liệu tại thôn Hà Đừng 2
Cộng đồng người Ba Na tại thôn Hà Đừng 2 đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
Gia đình và những người thân của tôi đã giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành được khóa luận này
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN
Tp Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2011
Sinh viên DƯƠNG THỊ THANH THÚY
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 5
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 6
Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng lang rộng của mô hình phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả kinh tế ngoài ra còn cân nhắc đến các yếu tố bên trong và bên ngoài nông hộ Trong đó thì thị trường giá cả là vấn đề có ảnh hưởng lớn đến khả năng lan rộng của mô hình trồng sa nhân tại địa bàn xã Qua điều tra cho thấy tất cả các mô hình trồng sa nhân tím của người dân trên địa bàn xã đều có hiệu quả và đạt năng suất cao Khuyến khích nhân rộng các mô hình trồng sa nhân điển hình nhất để có mức đầu tư đích đáng, cải thiện chất lượng của sản phẩm, đảm bảo đầu ra, tăng lợi nhuận sản xuất cho người dân
Các yếu tố của nông hộ ảnh hưởng đến việc lựa chọn mô hình trồng sa nhân dưới tán rừng tự nhiên: Trong đó dòng thị trường là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến quyết định lựa chọn mô hình trồng sa nhân dưới tán rừng tự nhiên của nông hộ, kế đến là các yếu tố bên trong của nông hộ và cuối cùng là yếu tố tự nhiên
Đánh giá một số hiệu quả môi trường đem lại từ mô hình trồng sa nhân tím, một mô hình
Trang 7ABSTRACT
Research "Study of the ability to widely spread of the model of (Amomum longiliqulare T.L.Wu) cultivation at the substatum of the natural forest in the Central Highlands, in Dak Roong commute - KBang district - Gia Lai
province" learns about amomum longiligulare cultivation model at the substatum of the local natural forest, analyzing evaluating economic efficiency of the model and giving out recommendations aimed at maintaining, improving the efficiency of the model, this is, moreover, a foundation to spread out at other households’ farms
in nearby areas
Research results showed that all models of (Amomum longiliqulare T.L.Wu) plantation are effective and high productive This encourages local farmer to develop most typical models with deserving input spendings in order to accelerate the quality of the product, ensure outputs, increase profits
Elements affecting rural households to select models of (Amomum longiliqulare T.L.Wu) cultivation at the substatum of the natural forest are the consuming market which is the most inportant one to decide kinds of models, elements inside farmer households and finally the natural elements
Assessments of environmental effects from (Amomum longiliqulare T.L.Wu) cultivation, some measures of soil and water conservation at local areas and the ability to protect the environment from the model
Trang 8MỤC LỤC
TRANG TỰA i
LỜI CẢM ƠN ii
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN iii
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN iv
TÓM TẮT v
ABSTRACT vi
MỤC LỤC vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮC x
DANH SÁCH CÁC BẢNG xi
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ xii
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tại 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan về xã Đăk roong, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai 3
2.2.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.2.1.1 Vị trí địa lí 3
2.1.1.2 Khí hậu, thời tiết 3
2.1.1.3 Địa hình 4
2.1.1.4 Tài nguyên thủy văn 4
2.1.1.5 Tài nguyên đất 4
2.1.1.6 Tài nguyên rừng 5
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa 5
2.1.2.1 Dân số, phân bố dân cư 5
2.1.2.2 Tình hình y tế và giáo dục 5
2.1.3 Văn hóa – xã hội, thể dục – thể dục 6
2.1.4 Công tác lao động, việc làm và chính sách xã hội 7
2.1.5 Kinh tế 7
Trang 92.1.6 Lâm nghiệp 9
2.1.7 An ninh – quốc phòng 10
2.1.2 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 10
2.1.2.1 Lịch sử hình thành xã 10
2.1.2.2 Phân chia lao động theo giới của 60 hộ điều tra tại thôn Hà Đừng 1 trên địa bàn nghiên cứu của xã Đăk roong 11
2.2 Tông quan nghiên cứu 13
2.3 Lợi ích của mô hình trồng sa nhân dưới tán rừng tự nhiên 16
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Nội dung nghiên cứu 18
3.2 Phương pháp nghiên cứu 19
3.2.1 Dung lượng mẫu và phương pháp chọn mẫu điều tra 19
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 19
3.2.3 Phương pháp phân tích, xử lý và tổng hợp thông tin 20
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Thực trạng mô hình trồng sa nhân dưới tán rừng tại xã Đăk roong, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai 22
4.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của người dân về mô hình trồng sa nhân dưới tán rừng tự nhiên tại thôn Hà Đừng 1, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai 23
4.2.1 Hiệu quả kinh tế 24
4.3 Sự chấp nhận của người dân đối với việc lựa chọn mô hình trồng sa nhân dưới tán rừng tự nhiên tại xã Đăk roong 25
4.3.1 Các yếu tố bên trong nông hộ 25
4.3.1.1 Điều kiện và đặc điểm của nông hộ 25
4.3.1.2 Nguồn lực của nông hộ 27
4.3.1.3 Thành phần dân tộc và tập quán canh tác 28
4.3.2 Các yếu tố bên ngoài nông hộ 29
4.3.2.1 Dòng thị trường sản phẩm từ mô hình trồng sa nhân tím 29
4.3.2.2 Nhu cầu sản phẩm từ sa nhân tím của thị trường 31
Trang 104.3.2.3 Các chương trình hỗ trợ và chương trình khuyến nông 31
4.3.2.4 Các yếu tố tự nhiên 31
4.4 Phân tích SWOT của mô hình trồng sa nhân tím 32
4.5 Khả năng lan rộng của mô hình trồng sa nhân tím dưới tán rừng tự nhiên 34
Chương 5 KÊT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
5.1 Kết luận 35
5.2 Kiến nghị 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHỤ LỤC 38
Trang 119 VH – TT: Văn hóa – thông tin
9 UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu cây trồng của xã năm 2010 7
Bảng 2.2: Vật nuôi trong xã Đăk roong năm 2010 9
Bảng 2.3: Lịch sử hình thành xã 10
Bảng 2.4: Phân chia lao động theo giới và tuổi của 60 hộ điều tra tại thôn Hà 12
Bảng 2.5: Một số loại sa nhân tại Việt Nam 14
Bảng 4.2: Kết quả điều tra về năng suất của năng suất qua các năm từ năm 2007 đến năm 2010 23
Bảng 4.3: Trình độ học vấn của nông hộ .25
Bảng 44: Nguồn cập nhật thông tin để nâng cao kiến thức chuyên môn về kỹ thuật canh tác của các hộ điều tra 26
Bảng 4.5: Tình hình sử dụng nguồn vốn 28
Bảng 4.6: Kết quả phân tích SWOT 32
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 4.1: Mô hình trồng sa nhân tím dưới tán rừng tự nhiên 22
Hình 4.2: Biểu đồ hiệu quả kinh tế của mô hình trồng sa nhân 24
Hình 4.3: Giá sa nhân tím thay đổi qua các năm từ 2007 đến 2009 29
Sơ đồ 4.1: Kênh phân phối sản phẩm từ mô hình trồng sa nhân tím 30
Trang 14Hiện nay rừng tự nhiên đang bị tàn phá nghiêm trọng và sa nhân đang bị khai thác tự do nên ngày càng bị thu hẹp về diện tích Giống sa nhân tím cũng bị mất dần
và thoái hóa Nếu không kiệp thời trồng mới, khoanh nuôi, bảo về và tác động các biện pháp tích cực thì những nguồn gene cây trồng có giá trị cao dần bị mất Việc trồng sa nhân tím dưới tán rừng tự nhiên và rừng trồng một mặt vừa tạo ra giống cây trồng mới có giá trị kinh tế cao, mặt khác mang tính đa dạng cho cây trồng trong nông nghiệp cho huyện Kbang nói riêng và tỉnh nói chung Ngoài có giá trị về mặt dược liệu ra sa nhân tím còn có giá trị về kinh tế theo số liệu điều tra tại xã Đăk roong với giá khoảng từ 12.000 – 18.000 đồng/kg sa nhân tưới, sau khi phơi khô sa nhân có giá từ 160.000 – 220.000 đồng/kg sa nhân, thì sau trồng 2 năm đã cho thu nhập từ 10 – 15 triệu đồng/ha, và những năm sau đó còn cao hơn nhiều
Trang 15Theo điều tra thì sa nhân tím phấn bố dưới tán rừng khá nhiều góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân đồng thời làm tăng thêm nguồn thu nhập cho gia đình Đặc điểm và điều kiện tự nhiên tại xã Đăk roong khá phù hợp cho việc triển khai nuôi trồng cây sa nhân tím dưới tán rừng Đặc biệt là thời điểm sa nhân tím ra hoa vào tháng 4 – 5 thì cũng là lúc mùa mưa bắt đầu làm cho độ ẩm của không khí cao nên tỉ lệ đậu quả cao và quả to Xuất phát từ những điểm trên nên tôi
làm đề tài về:” Tìm hiểu khả năng lan rộng của mô hình trồng sa nhân tím dưới tán rừng tự nhiên, tại xã Đăk roong – huyện Kbang – tỉnh Gia Lai” để thấy
được hiệu quả kinh tế của cây sa nhân tím dưới tán rừng và khả năng lan rộng của
mô hình trồng sa nhân tím dưới tán rừng Việc trồng sa nhân tím dưới tán rừng tự nhiên góp phần hạn chế xói mòn, giữ nước và dưỡng chất trong đất Sa nhân tím không tranh chấp đất với một số loại cây trồng khác mà chỉ tận dụng diện tích đất dưới tán rừng để làm tăng thêm nguồn thu nhập trong một đơn vị diện tích Từ đó
cơ sở cho việc giới thiệu, chuyển giao và nhân rộng mô hình và phương thức trồng
sa nhân tím dưới tán rừng để đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân không chỉ trong địa bàn xã mà có thể sang các vùng lân cận khác hoặc các tỉnh khác
1.2 Mục tiêu của đề tại
Để đáp ứng được mục đích của nghiên cứu, mục tiêu cần đạt được là:
Mô tả thực trạng của việc trồng sa nhân dưới tán rừng tự nhiên tại xã Đăk roong, huện Kbang, tỉnh Gia Lai Trong mục tiêu này cần đi sâu vào:
o Điều tra về diện tích
o Tìm hiểu về tình hình sinh trưởng và phát triển
o Tìm hiểu khả năng thích ứng với điều kiện tự nhiên của sa nhân tại địa phương
Phân tích hiệu quả kinh tế và sự chấp nhận của người dân về mô hình trồng
sa nhân tím dưới tán rừng tự nhiên
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn và khả năng lan rộng của mô hình trồng sa nhân tím tại xã Đăk roong, huyện Kbang
Trang 16Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về xã Đăk roong, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
2.2.1.1 Vị trí địa lí
Xã Đăk roong là một xã vùng sâu vùng xa nằm ở phía Bắc của huyện Kbang cách trung tâm huyện gần 60km Giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt
là vào mùa mưa lũ
Tiếp giáp với:
- Phía Đông giáp với xã Sơn Lang
- Phía Tây giáp với xã Kon Pờ Ne
- Phía Nam giáp với xã Kroong
- Phía Bắc giáp với xã Hiếu
2.1.1.2 Khí hậu, thời tiết
Khí hậu thời tiết ở xã Đăk roong nằm trong khu vực khí hậu Duyên Hải Miền Trung, mang đậm nét khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa hè mát dịu, mùa đông khô lạnh, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ không khí tương đối điều hòa, biên độ nhiệt của năm thấp hơn so với những nơi khác trong huyện, nhiệt độ bình quân trong xã là 24oC đến 25oC, nhiệt độ cao nhất là 30oC và nhiệt độ thấp nhất là
21oC
Gió :
- Mùa khô gió mùa Đông Bắc
- Mùa mưa gió mùa Đông Nam
Trang 172.1.1.3 Địa hình
Địa hình trong khu vực xã chủ yếu là đồi núi cao, trung bình và núi thấp giảm dần về phía trung tâm xã Độ cao trung bình từ 400 m đến 500 m, ngoài ra xã cón có một số các đỉnh núi cao trên 800 m, nhưng nhìn chung xã Đăk roong có 3 dạng địa hình chính:
Dạng địa hình lượn sóng : loại địa hình này thường có độ cao trung bình từ
350 m đến 400 m Có độ dốc dao động từ 5% đến 15% từ những tính chất và dạng địa hình trên thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp của người trong xã
Dạng địa hình đồi núi có độ cao trung bình: có sườn dốc lớn, độ cao trung bình từ 400 m đến 500 m Dạng địa hình này có thể kết hợp trồng xen canh các loại cây trồng tạo thành những mô hình nông lâm kết hợp phát triển tốt và đem lại hiệu quả cao
Dạng địa hình đồi núi cao: có độ cao từ 500 m trở lên Đây là dạng địa hình
mà thực vật chủ yếu là rừng tự nhiên
Trong xã dạng địa hình đồi núi trung bình chiếm phần lớn, đây là loại địa hình có diện tích rừng khá lớn cần được bảo vệ, và cũng là điều kiên thuận lợi cho người dân địa phương triển khai mô hình trồng sa nhân tím dưới tán rừng tự nhiên
2.1.1.4 Tài nguyên thủy văn
Nước mặt: nguồn nước mặt trên địa bàn xã chủ yếu là từ sồng Ba và một số con suối nhỏ khác Nhìn chung thì hệ thống sông, suối của xã thường cạn nước vào mùa khô, do đó việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp của địa bàn xã còn hạn chế
Nước ngầm: rất phong phú và có chất lượng rất tốt
2.1.1.5 Tài nguyên đất
Đất đai ở đây phần lớn là đất đỏ bazan rất thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp lâu niên Đặc biệt đây là vùng có tiềm năng về các dự án trồng thí điểm các loài cây công nghiệp khác như: ca cao, macca, cao su… có giá trị cao
Trang 182.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa
2.1.2.1 Dân số, phân bố dân cư
Dân số: xã Đăk roong có 719 hộ gia đình với 2966 nhân khẩu, chủ yếu là dâ tộc Ba Na chiếm 85% tổng dân số của xã Trong đó:
Nam giới: 1530 người
Nữ giới: 1436 người
Hộ Ba Na: 676 hộ với 2866 khẩu
Hộ người kinh: 43 hộ với 94 khẩu
Hộ người dân tộc khác: 6 khẩu
Phân bố dân cư: dân cư trong xã phân bố tập trung theo thôn làng trong hệ thống phân chia hành chính của xã Trong xã có 15 làng nằm rãi rác cách xa nhau
Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của xã cao nhưng theo số liệu điều tra của năm 2010 thì tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên giảm xuống 14%
Về công tác phòng chống dịch bệnh: trong 5 trạm y tế duy trì thường xuyên
và chủ động triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe cho người dân
Trang 19Công tác đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát thường xuyên
Chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, chương trình bảo vệ sức khỏe và phòng chóng suy dinh dưỡng ở trẻ em… được các ngành chức năng triển khai thực hiện tốt
Ngoài ra còn có các chương trình y tế khác như: cấp màn cho người dân, tẩm hóa chất phòng chống sốt rét, cân trẻ em dưới 5 tuổi để điều tra suy dinh dưỡng
Giáo dục:
Về công tác giáo dục – đào tạo được sự quan tâm của cấp ủy đảng cùng với chính quyền địa phương và các đoàn thể thì chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao và đổi mới
Bậc trung học: đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên gồm có 35 người Trong đó nữ 15 người và dân tộc 08 người.Tổng lớp học: 28 lớp được chia theo khu vực Với tổng số học sinh : 650 học sinh trong đó có 635 học sinh dân tộc
Bậc tiểu học: gồm 21 lớp với 463 học sinh trong đó có 447 học sinh là người dân tộc
Bậc trung học cơ sở: gồm 6 lớp với 191 học sinh trong đó có 196 học sinh là người dân tộc
Trường mẫu giáo: theo số liêu năm 2010 tổng số lớp là 9 lớp, với 180 học sinh, trong đó dân tộc là 162 học sinh
Công tác bán trú : nhà trường đã tổ chức và huy động được học sinh ở các thôn làng xa về học bán trú tại khu vực chính của trường, gồm các lớp từ lớp 4 đến lớp 9
2.1.3 Văn hóa – xã hội, thể dục – thể dục
Ban văn hóa TD – TT xã phối hợp với các ban ngành của xã tổ chức xuống làng tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và tổ chức
tuyên truyền các ngày lễ lớn, tổ chức giao lưu văn hóa văn nghệ và thể dục, thể thao để chào mừng các ngày lễ
Trang 20Đời sống văn hóa: trên địa bàn của xã không có đối tượng buôn bán văn hóa
phẩm trái phép Không có các tệ nạn xã hội
Công tác truyền thanh: tại các điểm làng có đặt các cụm loa phát thanh phục
vụ cho người dân, nhìn chung chất lượng chương trình và giờ phát sóng đã đáp ứng
được nhu cầu văn hóa tinh thần và cung cấp thông tin kiệp thời cho người dân
2.1.4 Công tác lao động, việc làm và chính sách xã hội
- Công tác xóa đói giảm nghèo
- Thực hiện chính sách xã hội: tổ chức thăm hỏi và tặng quà cho các đối
tượng chính sách UBNN xã đã phân công cán bộ xuống dưới tất cả các làng trong
địa bàn xã để tặng quà cho đúng đối tượng theo quy định
- Công tác bảo hiểm xã hội: toàn xã có 108 đối tượng chính sách người có
công Việc chi trả cấp lương hưu hàng tháng cho các đối tượng ưu đãi đảm bảo kiệp
thời, chính xác và đúng đối tượng
- Công tác tôn giáo: toàn xã có 09 hộ theo đạo với 28 tín đồ của 2 tôn giao là
công giáo và phật giáo
- Công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em: phối hợp tổ chức thăm hỏi và tặng
quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và khó khăn vào các ngày lễ như: tết nguyên
đán, ngày quốc khánh, tết thiêu nhi, tết trung thu…
2.1.5 Kinh tế
Cơ cấu kinh tế của xã: theo số liệu của năm 2010, tổng diện tích đất tự nhiên
của xã là: 36100ha
Bảng 2.1: Cơ cấu cây trồng của xã năm 2010
Cơ cấu kinh tế Diện tích(ha)
Cây lương thực 482
Lúa nước 136 Lúa rẫy 213
Sắn 40
Trang 21Cây thực phẩm 187
Rau các loại 25
Cây trồng khác 70.5
Tre lấy măn 70.5
Cây công nghiệp dài ngày 320
Xoan 86 Bời lời 56
Cây ăn quả 10
Cam, chuối, dưới 10
( Nguồn: UBND xã Đăk roong)
Qua bảng 2.1 cho thấy thành phần các loại cây trồng tại địa bàn xã cũng khá phong phú với tổng diện tích gieo trồng là: 1.069,5 ha Trong đó:
- Cây lương thực là 482 ha gồm: lúa nước 136 ha, sản lượng 369 tấn; lúa rẫy
213 ha, sản lượng 191 tấn; bắp lai 93 ha, sản lượng 350 tấn; sắn 40 ha, sản lượng 72 tấn
- Cây thực thực phẩm là 187 ha gồm: đậu cô ve 162 ha, sản lượng 200 tấn, rau các loại 25 ha
- Cây công nghiệp dài ngày là 320 ha gồm: cà phê 173 ha trong đó trồng mới
4 ha; xoan diện tích chăm sóc giảm xuống còn 86 ha; bời lời diện tích chăm sóc 56 ha; cao su 5 ha
- Cây ăn quả là 10 ha
Trang 22Bảng 2.2: Vật nuôi trong xã Đăk roong năm 2010
Cơ cấu vật nuôi Số lượng (con)
(Nguồn: UBND xã Đăk roong)
Qua bảng 2.2 cho thấy người dân tại địa bàn xã phân lớn là chăn nuôi gia súc lớn, với tổng số đàn gia súc là 2.999 con gồm: đàn trâu 1.297 con, đàn bò 445 con, đàn heo 697 con, gia súc khác 560 con Nhìn chung tiềm năng phát triển chăn nuôi gia súc ở đầy còn rất lớn vì diện tích rừng, núi khá lớn Tuy nhiên do thiếu vốn và người dân không có đủ kiến thức về chăn nuôi, chưa có dịch vụ thú y tại chỗ nên chăn nuôi chưa được phát triển
Ngoài ra người dân vẫn có chăn nuôi gia cầm với số lượng là 7.551 con
2.1.6 Lâm nghiệp
UBNN xã đã phối hợp với công ty lâm nghiệp và vườn quốc gia Kon Ka Kinh đứng chân trên địa bàn, tổ chức xuống 15/15 làng để tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đặc biệt là công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng Trong năm 2010 không có vụ cháy rừng nào xãy ra, hiện tượng phá chặt phá rừng làm nương rẫy vẫn còn diễn ra chủ yếu nằm ở thôn Kon Lanh Tè và làng Kon Von 1 nhưng đã được lực lượng quản lý bảo vệ rừng của công
ty lâm nghiệp và cán bộ kiểm lâm tại địa phương kiệp thời ngăn chặn Và đã đưa ra nhiều biện pháp hình thức xử lý phạt hành chính
Trang 232.1.7 An ninh – quốc phòng
Công tác quân sự tại địa phương: tổ chức các cuộc điều tra truy quét trên địa bàn tại các khu vực giáp ranh, phối hợp với các lực lượng công an trong công tác phòng chống tội phạm Tiếp tục kiện toàn nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, nâng cao năng lực chiến đấu Tiến hành tổ chức huấn luyện các lực lượng dân quân
Công tác an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội: tình hình an ninh chính trị nhiều nơi trên địa bàn xã còn diễn ra phức tạp UBNN xã đã chỉ đạo lực lượng công
an xã phối hợp và phân công dân quân thường xuyên bám dân để nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, vận động người dân luôn luôn cảnh giác và đề phòng bọn phản động
2.1.2 Thông tin về địa bàn nghiên cứu
2001 Trạm y tế xã được xây dựng lại
2003 - 2006 Trường học lần lược được xây dựng từ mầm non đến trung học cơ sở
2006 Hệ thống thủy lợi được triển khai thi công
2008 Hệ thống nước sạch được đưa vào sử dụng
2009 Mạng điện thoại di động viettel được phủ song
2010 Hệ thống đường giao thong chính được nâng cấp từ đường đất lên đường nhựa
(Nguôn: UBND xã Đăk roong)
Xã Đăk roong sau khi được thành lập thì được chia thanh 15 thôn làng nằm rãi rác cách xa nhau Để việc chăm sóc sức khỏe cho người dân được thuận tiện và tốt hơn vào 2001 trạm y tế được tiến hành xây dựng lại
Trang 24Từ năm 2003 đến năm 2006 trường học được xây dựng lần lược từ mầm non cho đến trung học cơ sở
Đầu năm 2006 tiến hành xây dựng hệ thống thủy lợi
Từ năm 2008 đến năm 2010 tiến hành một số công trình như nâng cấp hệ thống đường giao thông, hệ thống nước sạch được đưa vào phục vụ sinh hoạt hằng ngày của người dân, mạng lưới điện thoại di động của viettel được phủ sóng đã góp phần nâng cao đời sống của người dân nơi đây
2.1.2.2 Phân chia lao động theo giới của 60 hộ điều tra tại thôn Hà Đừng 1 trên địa bàn nghiên cứu của xã Đăk roong
Việc phân công lao động trong hoạt động sản xuất thì các thành viên trong gia đình luôn chia sẻ công việc với nhau, họ không phân biệt là bắt buộc khâu đó là phải do nữ hay nam giới làm, trong quá trính sản xuất chỉ có khâu làm đất thì chủ yếu là do nam giới chủ động, còn các khâu chăm sóc, thu hoạch thì họ cùng nhau quyết định
Trong gia đình thì các công việc tái sản xuất là rất quan trọng Nó có tác động lớn đến cuộc sống của các thành viên trong gia đình, tái sản xuất thường bao gồm các công việc như là các công việc nội trợ, chăm sóc con cái, nuôi dưỡng cha
mẹ, sửa chửa nhà cửa….qua điều tra thu được bảng sau:
Trang 25Bảng 2.4: Phân chia lao động theo giới và tuổi của 60 hộ điều tra tại thôn Hà
Đừng 1 trên địa bàn nghiên cứu của xã Đăk roong
Trẻ em gái
Trẻ em trai
Sản xuất
Chuẩn bị đất canh tác, làm đất, làm
cỏ, phun thuốc, trồng cây…
Làm cỏ, xới đất, chăm sóc cây trồng, chăm sóc gia súc nhỏ và gia cầm
thu hoạch
Phụ chăm sóc vườn
Phụ chăm sóc vườn
Chăn thả gia súc lớn như:
trâu, bò, dê…
Chăn thả gia súc lớn như: trâu,
bò, dê… vào rừng tìm hái các loại lâm sản ngoài
gỗ như: nấm, tre, nứa…
Tái sản xuất
Tu sửa nhà cửa, chuồng trại và các công việc nặng khác trong gia đình…
Chăm sóc gia đình
và con cái
Trông nom cháu nhỏ và trông coi nhà cửa…
Phụ việc nhà, tham gia các hoạt động trường, lớp…
Tham gia các hoạt động
trường lớp
(Nguồn: điều tra – tổng hợp)
Từ bảng 2.4 cho thấy có sự phân chia lao động theo giới trong sản xuất cũng như tái sản xuất người đàn ông luôn đảm nhiệm những công việc nặng nhọc hơn người phụ
nữ Trong sản xuất người đàn ông: chuẩn bị đất canh tác, làm đất, phun thuốc
Trang 26Trong tái sản xuất thì người đàn ông tu sửa nhà cửa, chặc cây to để sửa chuồng trại, làm hàng rào…người phụ nữ làm những công việc nhẹ nhàng hơn như làm cỏ, thu hoạch, chăn nuôi gia súc nhỏ… trong tái sản xuất thì chủ yếu chăm sóc gia đình
2.2 Tông quan nghiên cứu
Sa nhân là một loại LSNG có tên địa phương là lave, thân thảo cao 1,5 – 2,5
m Thân rễ khỏe bò lan dưới lớp đất mỏng, có khi nổi lên trên mặt đất Lá gần như không có cuống, phiến lá hình elip dài 20 – 30 cm, rộng 5 – 6 cm, gốc lá có hình nêm đều, mép nguyên, chóp lá nhọn và có đuôi, hai mặt lá đều nhẵn và có bẹ ôm thân bong ra ở gần đỉnh Hoa dạng bông mọc thành cụm từ thân cây có cán dài, mỗi cụm từ 3 – 5 hoa trở lên Quả cuống ngắn có gai, hình tròn hoặc trứng dài có 3 ô mang 3 khối hạt, hạt có hình đa diện, đêu có áo hạt, vỏ có vân hay u lồi
Trên thế giới chi amomum có khoảng 250 loài phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới núi cao, Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có 24 loài
Năm 1937 Gagnepain có thống kê mô tả 19 loài sa nhân trong thực vật chí Đông Dương
Sa nhân có phân bố hầu hết các nước ở Đông Nam Á và phía nam Trung Quốc Trước đây hàng năm các nước này xuất khẩu từ 400 – 500 tấn sa nhân khô ra thị trường thế giới Nhưng trong những năm gần đây thị trường sa nhân vẫn sôi động tuy nhiên sản lượng có giảm nhiều vì diện tích rừng tự nhiên bị tàn phá và việc gây trồng sa nhân chưa được đẫy mạnh
Tại Việt Nam: sa nhân ( Amomum sp) là một trong những vị thuốc quý
chuyên trị các bệnh về đường ruột, kém tiêu hóa Ngoài ra sa nhân còn được dùng làm gia vị, hương liệu rất được ưa chuộng trên thị trường nội địa Tại Việt Nam có khoảng 16 loài mang tên sa nhân
Lịch sử khai thác sa nhân: nhân dân ta từ lâu đời đã khai thác sa nhân trong rừng tự nhiên, trong những năm gần đây do diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp làm cho sản lượng của sa nhân cũng giảm xút Vì vậy nhiều địa phương đã tiến hành khoanh nuôi và gây trồng sa nhân dưới tán rừng tự nhiên và rừng trồng như ở
Trang 27Mai Châu( Hòa Bình), Mộc Châu( Sơn La), Nghĩa Đàn( Nghệ An), Phú Yên, Kbang( Gia Lai)… hiện nay ở các khu rừng bảo tồn như: vườn quốc gia Ba Vì, Tam Đảo, Ba Bể… cây sa nhân đã được phục hồi nhanh chóng, có triển vọng và cho thu hoạch quả có chất lượng tốt Tuy sa nhân là một loại sản phẩm có giá trị xuất khẩu của nước ta trên thị trường thế giới nhưng các công trình nghiên cứu về cây sa nhân còn rất hiếm
Bảng 2.5: Một số loại sa nhân tại Việt Nam
2
A.xanthioides wall ex Bak
Quảng Nam, Đắc Lắc, Hòa Bình
3
A auran tia cum H.TTSai
4 A.longiligulareT.L.Wu Sa nhân tím
Phú Thọ, Phú Yên, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Định
5 A.lappaceum Ridl Sa nhân Hoàng Liên Sơn
8 A.bislorum jack Sa nhân hai hoa
Trang 2811 A.schmidtii Gagnep Sa nhân hồi Lai Châu, Sơn La
12 A.thyr Soideum Gagnep Sa nhân hoa thưa Ninh Bình
13 A.repens Sorner Sa nhân rễ gãm Lào Cai, Ninh Bình
14 A.davieanum Piere Sa nhân Lai Châu, Sơn La
15 A.cardamomum willd Đậu Khấu Trung Bộ
(Nguồn: dự án sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ - tài liệu nghiên cứu tổng hợp cây lâm sản ngoài gỗ)
Qua bảng 2.5 cho thấy sa nhân có nhiều loại, có đặc điểm sinh thái khác nhau Và có khu vực phân bố rộng rãi Sa nhân mọc tự nhiên ở các vùng đồi, đến các vùng cao nguyên như Tây Nguyên, Mộc Châu( Sơn La), Đặc biệt sa nhân phân
bố nhiều ở một số tỉnh như: Phú Thọ, Ninh Thuận, Bình Định, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Đắc Lắc, Gia Lai
Gần đây tại Việt Nam đã có một số đề tài về nghiên cứu cấy sa nhân như: Đề
tài nghiên cứu về tuyển chọn xuất xứ giống sa nhân tím ( Amomum longiligulare
T.L.Wu) cho năng suất cao chất lượng tốt tại huyện Kbang – tỉnh Gia Lai của tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương( viện KHKT nông nghiệp Duyên Hải Nam Trung Bộ) Kết quả của nghiên cứu sau khi trồng kiểm nghiệm bốn xuất xứ của sa nhân tím là Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, Quảng Ngãi dưới tán rừng xoan 4 – 5 tuổi thì cả bốn xuất
xứ đều sinh trưởng, phát triển tốt và sau 18 tháng cả bốn xuất xứ đều cho quả bói, năng suất khô của năm đầu tiên từ 2,1 – 26,8 kg/ha Trong bốn xuất xứ thì sa nhân tím có xuất xứ Bình Định cho năng suất khô năm đầu tiên cao nhất là 26,8 kg/ha
Đề tài nghiên cứu về mô hình trồng sa nhân tím(Amomum longiligulare
T.L.Wu) tại huyện Sơn Hòa – tỉnh Phú Yên của tiến sĩ nguyễn Thanh Phương( viện KHKT nông nghiệp Duyên Hải Nam Trung Bộ) Kết quả thu được như sau: sau khi trồng sa nhân tím trên đất dốc đã hạn chế được xói đất do mưa, cải thiện điều kiện dinh dưỡng của đất, góp phần hạn chế thói hóa đất và hiện tượng hoang mạc hóa trồng sa nhân tím dưới tán rừng keo 3 năm tuổi và dưới tán rừng thứ sinh nghèo kiệt thì sa nhân sinh trưởng phát triển tốt, sau trồng 8 tháng thì cây cho quả bói Năng suất khô của năm đầu tiên là 13,2 kg/ha( dưới tán rừng keo) và 0,5 kg/ha( dưới tán
Trang 29rừng tự nhiên nghèo kiệt) Năng suất khô của năm thứ 2 là 45,1 kh/ha( dưới tán rừng keo) và 16,4 kg/ha( dưới tán rừng tự nhiên thứ sing nghèo kiệt)
Ngoài hai đề tài trên còn có đề tài nghiên cứu về sinh trưởng của cây sa nhân tím sau một năm trồng dưới tán rừng keo, tán rừng tự nhiên và khoanh nuôi tái sinh
tự nhiên tại cao nguyên Vân Hòa, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên của tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương ( viện KHKT nông nghiệp Duyên Hải Nam Trung Bộ, trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ tỉnh Phú Yên) Kết quả là: tại cao nguyên Vân Hòa sau 12 tháng trồng sa nhân tím dưới tán rừng keo 2 -3 năm tuổi và dưới tán rừng tự nhiên thứ sinh nghèo kiệt thì cây sinh trưởng phát triển tốt Sa nhân tím sau
8 tháng khoanh nuôi tự nhiên đã cho quả bói và năng suất khô là 19,7 kg/ha( vụ 1), sau 12 tháng năng suất khô là 23 kg/ha( vụ 2) Như vậy năng suất khô của cả năm đạt được 42,7 kg/ha
Và trong những năm gần đây đã có nhiều bài viết giới thiệu về cây sa nhân
về mặt dược học của các tác giả: Đỗ Tất Lợi, Vũ Văn Chuyên, Đỗ Huy Bích, Phạm Hoàng Hộ, Nguyễn Chiêu… như vào năm 1995 Đào Lan Phương đã có nghiên cứu thành phần hóa học về tinh dầu của quả sa nhân Bên cạnh đó còn có các nghiên cứu
về việc gây trồng, tái sinh của Lê Văn Giáo, Nguyễn Đình Cầm, Nguyễn Thiên Kiêm, Đình Văn Tự
Từ những kết quả nghiên cứu đã tổng kết và đề xuất các biện pháp kỹ thuật gây trồng, bảo vệ và chăm sóc sa nhân nhằm đạt hiệu quả cao
Một số mô hình sa nhân trồng tại Việt Nam:
- Mô hình trồng sa nhân dưới tán rừng tự nhiên
- Mô hình trồng sa nhân dưới tán rừng trồng
- Mô hình trồng sa nhân trong vườn cà phê
- Mô hình trồng sa nhân trong vườn
2.3 Lợi ích của mô hình trồng sa nhân dưới tán rừng tự nhiên
- Cung cấp nguồn dược liệu quý để chữa bệnh
- Tạo công ăn việc làm cho người dân tại địa phương
- Tăng thêm nguồn thu nhập cho nông hộ