1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC TRỒNG XEN TRONG VƯỜN ĐIỀU TẠI THÔN 5, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG

67 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC TRỒNG XEN TRONG VƯỜN ĐIỀU TẠI THÔN 5, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG Xem nội dung đầy đủ tại: https://123doc.org/document/4975101-phan-chau-hiep.htmTÌM HIỂU MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC TRỒNG XEN TRONG VƯỜN ĐIỀU TẠI THÔN 5, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG Xem nội dung đầy đủ tại: https://123doc.org/document/4975101-phan-chau-hiep.htmTÌM HIỂU MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC TRỒNG XEN TRONG VƯỜN ĐIỀU TẠI THÔN 5, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG Xem nội dung đầy đủ tại: https://123doc.org/document/4975101-phan-chau-hiep.htm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

***************

PHAN CHÂU HIỆP

TÌM HIỂU MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC TRỒNG XEN TRONG VƯỜN ĐIỀU TẠI THÔN 5, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ

TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH LÂM NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07 / 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

***************

PHAN CHÂU HIỆP

TÌM HIỂU MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC TRỒNG XEN TRONG VƯỜN ĐIỀU TẠI THÔN 5, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến:

Ba mẹ đã sinh thành và nuôi dưỡng tôi nên người, đã tạo mọi điều kiện tốt

nhất cho tôi học tập

Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Ban

chủ nhiệm Khoa Lâm nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên

cứu

Thầy Đặng Hải Phương đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá

trình thực hiện đề tài

Cán bộ xã Quốc Oai, Gia đình chú Đàm Văn Toán cùng toàn thể người dân

ở thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng đã nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ

tôi trong thời gian thực tập tại địa phương

Thầy chủ nhiệm La Vĩnh Hải Hà cùng tập thể lớp DH07NK đã quan tâm

giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tất cả các bạn gần xa của tôi đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt những

năm học vừa qua

Xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2011

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài tốt nghiệp: “Tìm hiểu một số phương thức trồng xen trong vườn điều tại thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện từ ngày 01/02/2011 đến ngày 21/07/ 2011

Đề tài này nhằm mục tiêu tài liệu hóa một số PTTX phổ biến trong vườn điều và đề xuất lựa chọn hai PTTX trồng xen trong vườn điều phù hợp với thực tế tại thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng

Kết quả nghiên cứu cho thấy các PTTX tại địa phương khá đa dạng Hiện nay tại thôn 5 có những PTTX sau:

Phương thức trồng xen điều - cà phê

Phương thức trồng xen điều - tiêu

Phương thức trồng xen điều - ca cao

Phương thức trồng xen điều - cà phê - sầu riêng

Phương thức trồng xen điều - cao su

Phương thức trồng xen điều - cao su - mít

Phương thức trồng xen điều - dầu lông

Phương thức trồng xen điều - cỏ

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG Trang tựa i Lời cảm tạ ii Tóm tắt iii Danh mục các từ viết tắt vii

Danh sách các bảng viii

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

2.1 Tổng quan về cây điều 2

2.1.1 Nguồn gốc và xuất xứ của cây điều 2

2.1.2 Gíá trị kinh tế và giá trị sử dụng 2

2.1.3 Một số đặc điểm chung của cây điều 3

2.1.4 Hiện trạng của cây điều trên thế giới 3

2.2.3 Cơ sở khoa học của những lợi ích trồng xen 7

2.3 4Một số nghiên cứu về trồng xen trong vườn điều ở nước ta hiện nay 10

2.3 Địa điểm nghiên cứu thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng 11

2.3.1.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội 13

2.3.2.1 Lịch sử hình thành và các sự kiện quan trọng của thôn 5 14

Trang 6

3.1.2.3 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội 15

2.3.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội của Xã Quốc Oai

2.3.3.1 Thuận lợi 15

2.3.3.2 Khó khăn 16

3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 17

3.2 Nội dung nghiên cứu 17

3.3 Phương pháp nghiên cứu 17

4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20

4.1 Một số phương thức trồng xen tại địa phương 20

4.1.1 Phương thức trồng xen Điều - Cà phê 22

4.1.3 Phương thức trồng xen điều - ca cao 26

4.1.3 Phương thức trồng xen điều - ca cao 27

4.1.4 Phương thức trồng xen Điều - Cà phê - Sầu riêng 28

4.1.5 Phương thức trồng xen điều - cao su 30

4.1.6 Phương thức trồng xen điều - cao su – mít 31

4.1.7 Phương thức trồng xen điều - dầu lông 33

4.1.8 Phương thức trồng xen điều - cỏ 34

4.2 Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức của các Phương thức trồng xen

35 4.3 Đề xuất hai PTTX thích hợp nhất với thực tiễn địa phương 38

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ THẢO LUẬN 44

5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.1.1 Các PTTX tại địa phương 44

Trang 7

5.1.2 Ưu nhược điểm của các PTTX 44

5.1.3 Đề xuất hai PTTX thích hợp với thực tiễn địa phương 45

5.2 Kiến nghị 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Phân bố quản lý sử dụng đất ở xã Quốc Oai 12

Bảng 2.1: Phân bố quản lý sử dụng đất ở xã Quốc Oai 12

Bảng2.2: Thành phần dân cư theo nhóm dân tộc ở xã Quốc Oai 13

Bảng 4.1: Diện tích trồng xen trong vườn điều của 74 hộ tại thôn 5 20

Bảng 4.3: Các khoảng cách trồng điều tại thôn 5 21

Bảng 4.4 Năng suất và giá điều trong 3 năm gần đây ở thôn 5 22

Bảng 4.7: Nhu cầu về vốn sản xuất của 74 hộ thực hiện PTTX tại thôn 5 37

Bảng 4.8: Xác định PTTX ưu tiên bằng công cụ so sánh bắt cặp 39

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 4.1 Sơ đồ phương thức trồng xen Điều - Cà phê 22

Hình 4.3 Sơ đồ phương thức trồng xen Điều - Tiêu 24

Hình 4.5 Sơ đồ phương thức trồng xen Điều - Ca cao 26

Hình 4.7 Phương thức trồng xen Điều - Cà phê - Sầu riêng 28

Hình 4.8 PTTX Điều - Cà phê - Sầu riêng tại thôn 5 ( 1) 29

Hình 4.9 PTTX Điều - Cà phê - Sầu riêng tại thôn 5 ( 2) 29

Hình 4.10 Sơ đồ phương thức trồng xen Điều - Cao su 30

Hình 4.12 Sơ đồ phương thức trồng xen Điều - Cao su - Mít 31

Hình 4.14 Sơ đồ phương thức trồng xen Điều - Dầu lông 33

Hình 4.16 Sơ đồ phương thức trồng xen Điều - Cỏ 34

Hình 4.17 PTTX Điều - Cỏ 35

Trang 11

Chương 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, việc trồng xen (TX) giữa các loại cây trồng với nhau rất phổ biến Đặc biệt đối với những hộ gia đình có ít đất sản xuất, TX là hướng sản xuất được chọn Có rất nhiều mô hình TX như hoa màu với hoa màu, hoa màu với cây công nghiệp, cây công nghiệp với cây công nghiệp…và có nhiều cách TX: TX ở một giai đoạn nào đó, hoặc TX song song cùng lúc TX làm đa dạng cây trồng trên cùng một diện tích canh tác, đa dạng hóa các sản phẩm đầu ra, tránh được những tổn thất xấu

có thể xảy ra khi có sự biến động giá cả thị trường hoặc thời tiết bất lợi, đảm bảo an ninh lương thực và tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân

Ở thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng cũng không ngoại lệ Tại đây, trước kia người dân chỉ trồng cây điều Tuy nhiên cây điều hiện nay đã không còn mang lại hiệu quả nữa do già cỗi, sâu bệnh, ít trái Bên cạnh đó thu nhập từzdy cây điều cũng không cao, thời gian thu hoạch dài Vì vậy, người dân đã tiến hành TX các loại cây khác trong vườn điều với mong muốn cải thiện thu nhập

Đến với thôn 5, tôi mong muốn tài liệu hóa được một số phương thức trồng xen (PTTX) trong vườn điều và đề xuất lựa chọn hai PTTX phù hợp với thực tiễn tại thôn 5 để nhân rộng ra Chính vì vậy, được sự đồng ý của Bộ môn Nông Lâm Kết Hợp và Lâm Nghiệp Xã Hội cùng với sự hướng dẫn của thầy Đặng Hải Phương, tôi thực hiện đề tài “Tìm hiểu một số Phương thức trồng xen trong vườn điều tại thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng”

Trang 12

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tổng quan về cây điều

2.1.1 Nguồn gốc và xuất xứ của cây điều

Cây điều (còn được gọi là đào lộn hột) có tên khoa học là Anarcadium

occidentale L, có nguồn gốc ở vùng Nam Mỹ Cây điều được du nhập vào nước ta

từ năm 1938, do người Bồ Đào Nha đưa vào trồng thử ở các tỉnh Nam Bộ; đến năm

1958 mới được trồng phổ biến ở Bình Dương, Tây Ninh và các tỉnh Nam Trung Bộ (Trích dẫn bởi Đặng Trọng Dũng, 2007)

2.1.2 Gíá trị kinh tế và giá trị sử dụng từ cây điều

Cây điều có thể xếp vào cây công nghiệp, cây ăn quả và cây lâm nghiệp có giá trị sử dụng nhiều mặt và là nguồn xuất khẩu quan trọng của nhiều nước trên thế giới Các sản phẩm thu được từ cây Điều rất đa dạng và có giá trị kinh tế cao

Nhân điều là sản phẩm được giao dịch chủ yếu trên thị trường quốc tế Nhân Điều có giá trị dinh dưỡng cao Dầu vỏ hạt có giá trị cao và có rất nhiều công dụng như dùng điều chế nước sơn chống thấm, làm thuốc nhuộm, làm hương liệu, mỹ phẩm…Quả điều (quả giả ) có thể dùng để chế biến nước giải khát, xiro, rượu vang

Vỏ cây có thể lấy tannin Lá cây có thể chữa bệnh mất ngủ, chữa bệnh phồng lỡ, bỏng lửa Rễ có thể dùng làm thuốc chống nôn.Gỗ điều được dùng làm bàn ghế gia dụng hoặc xuất khẩu, nguyên liệu đun nấu.Nhựa điều có thể dùng làm keo dán, thuốc sát trùng Bả ép vỏ hạt dùng làm ván ép, than hoạt tính, chất đốt

Như vậy ngoài giá trị kinh tế là nhân và dầu vỏ hạt điều, các sản phẩm phụ của cây điều nếu có công nghệ chế biến thích hợp cũng sẽ mang lại hiệu quả

Trang 13

kinh tế, tăng đáng kể thu nhập cho ngành sản xuất điều (Trích dẫn bởi Lê Tài Hùng Biện, 2009)

2.1.3 Một số đặc điểm chung của cây điều

Hoàng Chương và Cao Vĩnh Hải (1998) cho rằng để cây điều sinh trưởng tốt cần có yếu tố thời tiết như sau: Lượng mưa thích hợp từ 1000 - 15000 mm/năm và tập trung mùa mưa từ 4 - 6 tháng, có mùa khô kéo dài tương đương Nhiệt độ bình quân tháng là 270C, nhiệt độ cực tiểu trong ngày từ 120 C - 250C, nhiệt độ cực đại trong ngày là 250C - 350C Điều có thể chịu nhiệt độ 400C, tuy nhiên ở nhiệt độ này trong giai đoạn phát triển quả non, đôi khi cũng làm rụng bông và quả Điều là cây

ưa sáng, do đó nên trồng mật độ thích hợp, bảo đảm ánh sáng đầy đủ cây cho năng suất khá cao Ẩm độ tương đối của không khí: cây điều trổ bông và kết hạt thuận lợi trong điều kiện ẩm độ tương đối thấp Nếu ẩm độ cao đều quanh năm và nhất là lúc điều trổ bông sẽ cản trở sự mở của bao phấn, đầu nhụy không được thụ phấn, bông

sẽ thối rụng Ngoài ra độ ẩm cao tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh làm ảnh hưởng đến khả năng đậu quả Những vùng trồng điều thuận lợi trên thế giới có độ

ẩm tối thiểu trung bình từ 46 % - 56%, tối đa trung bình từ 68% - 77% Cây điều có thể trồng trên các loại đất khác nhau như: đất cát ven biển, đất xám, đất phèn Nhưng chỉ sinh trưởng tốt trên đất có thành phần cơ giới nhẹ (Trích dẫn Lê Tài Hùng Biện , 2009)

Đường Hồng Dật (2001) cho rằng tùy theo loại cây điều trồng từ hạt hay ghép mà có thời kì sinh trưởng và phát dục khác nhau Đối với cây Điều trồng từ hạt (thực sinh) thông thường khoảng 3 - 4 năm thì bắt đầu trổ bông kết quả Còn cây trồng bằng phương pháp ghép khoảng 18 tháng thì cho ra hoa kết quả (Trích dẫn bởi Lê Tài Hùng Biện, 2009)

2.1.4 Hiện trạng của cây điều trên thế giới

Theo FAO,1997 diện tích điều trên toàn thế giới chiếm 1,2 triệu ha với tổng sản lượng khoảng 700 ngàn tấn hạt điều thô Tổng sản lượng nhân hạt điều trên thị trường thế giới hàng năm vào khoảng 160 ngàn tấn với tổng giá trị hơn 2 tỷ USD

Ấn Độ, Brazil chiếm hơn 90% thị trường xuất khẩu thế giới

Trang 14

Các nước đang trồng điều hiện nay phân bố như sau

Châu Á: Ấn Độ, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippin, Srilanca, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam

Châu Đại Dương: nước Úc

Châu Mỹ: Brazil, Colombia, Costarica, Cuba, Dominica, Equado, Mỹ, Guatemala, Guyna, Jamaica, Mexico, Panama, Peru, Puetorica

Châu Phi: Angola, Benin, Camerun, Kenya, Madagasca, Mozambique, Nigeria, Senegal, Nam Phi (Trích dẫn Lê Tài Hùng Biện, 2009)

2.1.5 Hiện trạng của cây điều ở Việt Nam

Phạm Đình Thanh (2003) cho rằng cây điều được trồng ở Việt Nam từ thế kỷ

18, nhưng việc khai thác tiềm năng kinh tế của cây điều ở Việt Nam thực sự khởi đầu từ thập niên 80, người dân được khuyến khích trồng điều lấy hạt xuất khẩu Diện tích điều tập trung ở khu vực miền Trung vào phía Nam Việt Nam, phân bố ở

4 vùng Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó Đông Nam Bộ có diện tích lớn nhất, chiếm 60% diện tích trồng điều ở Việt Nam, kế đến là duyên hải Nam Trung Bộ (24 %) và Tây Nguyên (11%), Đồng Bằng Sông Cửu Long (5%) Theo FAO ( 2004 ) diện tích điều thu hoạch của Việt Nam có khuynh hướng tăng dần theo thời gian, năm 2004 đạt 282.300 ha Hiệp hội điều Việt Nam (2005) báo cáo diện tích điều nước ta khoảng 380.000 ha bao gồm diện tích điều trồng mới và thu hoạch (Trích dẫn Lê Tài Hùng Biện, 2009)

Tại khu vực nghiên cứu tỉnh Lâm Đồng, cây điều có mặt trên đất Lâm Đồng

từ trên dưới 30 năm Cây điều được xem là một trong những loại cây trồng “xóa đói giảm nghèo” nhanh của nhà nông Diện tích điều của cả tỉnh Lâm Đồng khoảng 16.000 ha Trong đó, ba huyện phía nam trồng nhiều nhất Huyện Đạ Huoai có 6.400 ha, huyện Cát Tiên có 4.700 ha và huyện Đạ Tẻh có 2.400 ha Và vùng điều lớn đáng kể thứ hai của Lâm Đồng là huyện Đam Rông với gần 1.000 ha (Khắc Dũng, 2011))

Trang 15

2.2 Một số luận điểm về trồng xen

2.2.1 Những khái niệm về trồng xen

Mục đích chính của các nông hộ là sử dụng đất tối đa và thu được nhiều sản phẩm nhất trên mảnh đất của mình mà vẫn duy trì được độ phì đất Một trong những khả năng có thể đáp ứng được mục đích này là khai thác đất trong một hệ thống cây trồng gọi là “trồng xen”

Boursard (1982) quan niệm trồng xen tức là sự phối hợp hay là xen kẽ các loại cây trồng khác nhau trên cùng một diện tích tạo nên một tổng thể thực vật có nhiều tầng, nghĩa là có sự liên kết phù hợp lẫn nhau giữa các cây trồng có vóc dáng

và hệ rễ khác nhau, sao cho tổ hợp cây trồng nay nhận được năng lượng mặt trời nhiều nhất ở độ cao khác nhau và hệ thống rễ khai thác các tầng đất khác nhau (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Korikanthimath và cộng sự (1994) cho rằng trồng xen hay trồng phối hợp bằng đa dạng hóa cây trồng thì ngược với trồng thuần Mục đích chính của đa dạng hóa là tránh lệ thuộc quá nhiều vào một loại sản phẩm duy nhất và tăng tổng thu nhập cho các chủ vườn từ sản phẩm của các cây trồng phụ Hiệu quả của các nguồn

cơ bản sản xuất cây trồng như không gian, đất, bức xạ mặt trời và nước có thể đạt được tối đa nhờ áp dụng các hệ thống thâm canh như canh tác đa tầng, các hệ thống canh tác đa tầng thực chất là các hệ thống đa canh có thành phần cây trồng khác nhau (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Đoàn Văn Điếm (1997) quan niệm trồng xen kẽ các loại cây có yêu cầu cường độ bức xạ khác nhau là biện pháp rất hiệu quả, vừa tranh thủ được không gian vừa không bỏ phí năng lượng Một số loại cây trồng xen có tương tác có lợi do

bổ sung dinh dưỡng cho nhau (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Willey (1979) định nghĩa khi hai hay nhiều hơn những cây trồng được trồng cùng nhau trên cùng một mảnh đất, những cây trồng này có thể gieo cùng hoặc thu hoạch cùng thời gian Trồng xen hay canh tác đa tầng góp phần đa dạng hóa sức sản xuất và thu nhập, giúp duy trì tính đa dạng sinh học, chống lại các rủi ro do biến động về sinh thái và thị trường Nó cũng giúp cho sự bảo tồn sinh thái và điều này

Trang 16

là thiết yếu không những chỉ để duy trì điều kiện sản xuất lý tưởng mà còn bảo vệ mội trường cho các thế hệ con cháu tương lai ( Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

2.2.2 Những mối quan hệ trong trồng xen

Những lợi ích và những bất lợi của trồng xen đã được Boursard thảo luận kĩ, ông cũng lưu ý nhiều tới việc chọn các cây trồng tương hợp với nhau trong mỗi phối hợp Khi chọn một loại cây để đưa vào hệ thống trồng xen phải xem xét tới nhiều yếu tố:

Khả năng thích ứng với khí hậu, đất đai trong vùng của cây trồng chính Nhu cầu về nước của cây trồng xen

Vóc dáng hay tư thế ngoại hình có lấn át cây trồng chính không

Chu kỳ sinh trưởng, thời gian cho thu hoạch

Nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng xen

Nguồn nhân công có sẵn

Bổ sung: Đây là trường hợp mà năng suất của một cây trồng sẽ giúp cho việc tăng năng suất của cây khác Điều này coi như sự hợp tác lẫn nhau và khả năng này không thường xuyên

Phụ thêm: Trong trường hợp này, năng suất của một cây trồng không ảnh hưởng chút nào đến năng suất cây khác Điều này xảy ra khi thời gian chín của hai cây trồng xen hoặc thời gian sinh trưởng của chúng cách xa nhau

Trang 17

Ngăn cản lẫn nhau: Đây là trường hợp mà năng suất thực của mỗi loại cây ít hơn mong muốn Trường hợp này ít xảy ra trong thực tế (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

2.2.3 Cơ sở khoa học của những lợi ích trồng xen

Sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên hiệu quả hơn

Rathore và cộng sự (1980) cho rằng cùng mật độ, trồng ngô theo hàng kép (khoảng cách giữa hai hàng đơn trong hàng kép là 30 cm, khoảng cách giữa hai hàng kép là 90 cm) và trồng xen đậu xanh giữa các hàng kép đã thu được 24,9 tạ ngô + 3,3 tạ đậu xanh/ha Như vậy, những tia ánh sáng chiếu trên khoảng cách giữa các hàng ngô và đậu sử dụng có hiệu quả (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Theo Dương Hồng Hiên, trồng xen ở trên đồi có tác dụng lớn trong việc giữ đất, giữ nước và giữ độ ẩm đất do xen canh tạo ra các thảm xanh che phủ đất nên có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn và điều hòa chế độ nước trong đất (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Cải tạo độ phì cho đất

Theo Nguyễn Đậu và cộng sự (1991) các cây đậu đỗ thực phẩm như đậu tương, lạc nếu được trồng xen với cây lương thực như ngô, sắn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, cải tạo được độ phì nhiêu của đất và chống xói mòn trên đất dốc Ví

dụ lạc được trồng xen với ngô và sắn có thể cung cấp khoảng 10 tấn chất hữu cơ tươi/ha cho đất và làm giảm xói mòn đất từ 3 - 5 lần so với đối chứng không trồng xen

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Công Vinh và Thái phiên (1997) cho thấy trên đất đồi núi xen canh sắn với đậu, lạc chất hữu cơ do thân lá lạc, đậu trả lại cho đất từ 2- 5 tấn chất khô/ha, tương đương 55- 57 kg Urê, 17 - 23 kg P2O5, 10 - 29

kg K2O, 28 - 38 kg Ca và 13 - 15 kg Mg (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Theo Bùi Huy Đáp thì trồng xen là một cách khai thác và bồi dưỡng đất tuy không được “nghỉ hẳn”, nhưng hình như nó vẫn được nghỉ vì các cây trồng

đã bổ sung, thay thế nhau kịp thời trên đồng ruộng (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Trang 18

Khống chế cỏ dại và sâu bệnh

Kết quả nghiên cứu của Willey (1979) chỉ ra rằng trồng xen cao lương + đậu mắt cua, cao lương + đậu xanh và cao lương + đậu triều, như những phương tiện làm giảm đến mức tối thiểu tác hại của cỏ dại và giảm số lần làm cỏ bằng tay mà không làm giảm đến năng suất của cây trồng chính, như vậy tiền lời thực từ những công thức trồng xen cao lương + đậu mắt cua và cao lương + đậu xanh với một lần làm cỏ là cao hơn cao lương + đậu triều với hai lần làm cỏ (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Bartilan và Harwood (1973) khi nghiên cứu trồng xen ngô + khoai lang, ngô + lạc ở Philippin cho thấy sinh trưởng của cỏ dại trong trồng xen canh ít hơn trồng khoai lang, lạc thuần, nhưng lại lớn hơn ngô thuần (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Về tác hại của sâu bệnh, dịch hại trong trồng xen tăng hay giảm còn nhiều ý kiến trái ngược nhau

Theo Robb (1977) thì việc phòng trừ dịch bệnh trong trồng xen, có triển vọng rộng lớn cho việc nghiên cứu cơ sở sinh thái của dịch bệnh hại trong quần thể trồng xen Sự gây hại của ruồi hại bông cao lương cực kì hiếm khi đậu đỏ được gieo giữa hàng (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Theo Bùi Huy Đáp (1967), trồng xen có sự cân bằng tương đối lớn ổn định về sinh thái Trong điều kiện cụ thể, xen canh cây họ đậu với ngũ cốc giúp cho cây đỡ bị sâu bệnh hơn so với độc canh, dẫn đến năng suất cao và ổn định (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Tonhasca, Stinner (1991) trong thí nghiệm đa dạng cấu trúc trồng xen

ở Ohio (Mỹ) đã cho thấy trồng xen theo băng làm giảm một vài dịch hại (như sâu đục rễ ngô) (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Trồng xen tạo sự ổn định năng suất

Rao và Willey (1980) tính toán sự tương quan giữa năng suất thu được với chỉ số môi trường đã cho thấy trồng thuần đậu triều có thể sẽ bị thất thu 1 năm trong 5 năm, trồng thuần cao lương sẽ bị thất thu 1 năm trong 8 năm, luân canh

Trang 19

hai loại cây sẽ bị thất thu 1 năm trong 13 năm, nhưng trồng xen chỉ thất thu 1 năm trong 36 năm (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Willey (1979) cho rằng cơ sở sinh lý chủ yếu của tính ổn định lớn hơn

về năng suất của trồng xen là nếu một cây thất bại hoặc sinh trưởng kém, cây khác

có thể đền bù và như thế sự đền bù không thể xảy ra nếu những cây trồng được trồng tách biệt (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Weil, Mc Fadden (1991) đã khẳng định ngô và đậu trồng xen có thể cho năng suất tổng số lớn hơn là trồng tách biệt (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Thái Phiên và Lê Thị Dung (1998) cho rằng việc trồng xen lạc và các loại đậu đỗ khác với sắn là một hình thức canh tác rất thích hợp trên đất dốc trồng sắn ở miền núi phía Bắc nước ta Sắn được trồng với khoảng cách 0,9 x 0,7 m và lạc được trồng giữa hai hàng sắn Kết quả thí nghiệm cho thấy lạc trồng xen sắn cho năng suất tăng 12,3 % so với trồng sắn thuần vì lượng thân lá lạc sau khi được vùi cho sắn đã cung cấp một lượng dinh dưỡng đáng kể cho sắn (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Trồng xen tăng thu nhập hệ thống

Seok Dong Kim (1993) cho rằng ở Triều Tiên, trồng xen đậu tương với đại mạch, ngô, thuốc lá hoạc hành tỏi mang lại hiệu quả kinh tế cao Trồng xen cây ngắn ngày (như ngô, lạc) với chôm chôm, xoài cho hệ số sử dụng đất tương đương cao nhất bằng 2,24 (1993) và bằng 2,10 (1994) và lợi ích cao nhất ở tất cả các mùa (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Tamburian và Seanong (1992) nghiên cứu đậu tương trồng xen với ngô với hình thức trồng đậu tương sớm hơn trồng ngô 15 ngày với mật độ 35000 cây/ha cho năng suất cao nhất (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Những kết quả nghiên cứu của Lê Văn Trinh, Hà Minh Trung và cộng

sự (1993) về trồng xen cây họ đậu với cà phê ở Tây Bắc và Hoàng Thị Lương (1995) về trồng xen đậu trong các lô cà phê, cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản ở Tây

Trang 20

Ngyên cho biết nó có tác dụng làm cho cây cà phê, cao su phát triển tốt hơn và cho hiệu quả kinh tế cao(Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Đinh Văn Cự và cộng sự (1995) cho rằng trồng xen cây lạc với cao su 1- 3 năm tuổi ở Đồng Nai đạt lợi nhuận 3,58 – 3,98 triệu đồng/ha/vụ với tỷ suất lợi nhuận 113- 116 % Tại Buôn Ma thuột, khi trồng xen đậu, lạc, lúa cạn với cà phê, cao su thì lãi thuần do thu cây trồng xen đạt 1,45 - 3,36 triệu đồng/ha/vụ (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

2.2.4 Một số nghiên cứu về trồng xen trong vườn điều ở nước ta hiện nay

Nguyễn Đức Ý, 2010 với đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi các thành phần trong hệ thống nông lâm kết hợp giai đoạn 2000 – 2010 ở Ấp 5,

xã Hòa Hội, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu”, kết quả nghiên cứu cho thấy trước đây cây điều được trồng độc canh với khoảng cách 8 x 8 m nhưng do hiệu quả kinh tế không cao nên khi chuyển đổi người dân đã tỉa thưa cây điều với khoảng cách 16 x 16 m, cây cà phê được trồng xen canh theo khoảng cách 3 x 3 m Khi cây cà phê lớn dần theo người dân ở đây họ sẽ không tỉa thưa cây điều mà chỉ tỉa thưa cành nhánh để giữ bóng cho cây cà phê

Đề tài “Tìm hiều một số kĩ thuật chống xói mòn đất bằng các kiểu canh tác nông lâm kết hợp của người dân địa phương tại thôn 6, xã Kiến Thành, huyện Đăkr’Lâp, tỉnh Đăk Nông” của Lê Thị Thủy, 2009, kết quả nghiên cứu cho thấy tre

là loại cây dễ sống cũng là loại cây chống xói mòn tốt Tre được trồng xen với điều nhưng trồng rải rác để giảm nước chảy bề mặt, được trồng với khoảng cách 5 x 5 m

Đinh Thị Tuyết Nhung, 2009 với đề tài “Mô tả và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc người dân quyết định chuyện đổi sang cao su trong vườn hộ tại xã Thanh Phú, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước” với kết quả nghiên cứu cho biết trồng xen hai loài cây điều và cao su thì hai loài cây này với tán rộng có tác dụng ngăn cản tác động của mưa nắng xuống mặt đất, tránh được cỏ dại, kết hợp với bộ

rễ sâu có khả năng giữ nước tránh được xói mòn và khả năng giữ ẩm cho đất Lá rụng xuống hàng năm, cành nhánh cắt tỉa của cao su và điều bỏ tại gốc cung cấp chất hữu cơ cho đất

Trang 21

Luận văn Thạc Sĩ Khoa Học Nông Nghiệp “Xác định mật độ hợp lý của ca cao trồng xen dưới tàn cây điều trên địa bàn tỉnh Bình Phước” của Trần Minh Đức,

2005 với kết luận số trái trung bình của mỗi cây ca cao tại mật độ 204 cây điều/ha (12,3 trái/cây) lớn hơn mật độ 178 cây điều/ha (7,6 trái/cây ) Năng suất hạt khô ca cao đạt trung bình 513kg/ha ở các nghiệm thức trồng 1111 cây ca cao, trong khi đó năng suất hạt khô ca cao chỉ đạt 426 kg/ha ở các nghiệm thức có mật độ ca cao trung bình ( 816 cây/ha ) Năng suất ca cao đạt thấp nhất ( 339 kg hạt khô/ha ) khi trồng xen trong vườn điều có mật độ trung bình

2.3 Địa điểm nghiên cứu thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng 2.3.1 Giới thiệu chung về xã Quốc Oai

2.3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Huyện Đạ Tẻh - tỉnh Lâm Đồng nằm ở phía Tây tỉnh Lâm Đồng, xã Quốc Oai nằm ở phía Bắc - Tây Bắc của huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng

Xã Quốc Oai có tọa độ địa lý từ 11034’00 đến 11038’00 vĩ độ bắc và từ 107030’00 đến 107033’00 kinh độ đông Phía Bắc giáp với xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm, tỉnh

Lâm Đồng Phía Nam giáp với Thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng Phía Đông giáp với xã Mỹ Đức, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng Phía Tây giáp: xã

An Nhơn, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng (Theo Phòng địa chính xã Quốc Oai,

2010)

Địa hình: Xã Quốc Oai có dạng địa hình khá phức tạp, được chia làm ba dạng: dạng địa hình thấp trũng lượn sóng, dạng đồi bát úp, dạng địa hình núi cao

Khí hậu: Xã Quốc Oai mang đầy đủ các yếu tố khí tượng của huyện Đạ Tẻh,

tỉnh Lâm Đồng.Có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,6 0C Nhiệt độ trung bình cao nhất (từ tháng 2 đến tháng 4) là 26,4 0C Nhiệt độ trung bình thấp nhất (tháng 12) là 22,8 0C Độ ẩm trung bình hàng năm là

82 % Độ ẩm trung bình thấp nhất 75 % (vào tháng 2 và tháng 3) Độ ẩm trung bình cao nhất 88 % (vào tháng 8).Hướng gió phổ biến trong vùng là gió Đông, Đông Bắc

và gió Tây Tốc độ trung bình 10 -12 m/s, gió có tầng suất tốc độ lớn nhất đến 21 -

Trang 22

25 m/s.Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa trung bình năm từ

2200 - 2400 mm

Thủy văn: Nguồn nước mặt trên địa bàn xã Quốc Oai được cung cấp bởi các nguồn chính như suối Đạ Nhar, suối Đạ Miss, nguồn nước mưa tại chỗ Nước ngầm: mực nước ngầm thay đổi theo mùa và phụ thuộc vào mực nước các sông suối, được nhân dân trong xã đã khai thác tối đa để sử dụng vào nguồn nước sinh hoạt

Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Quốc Oai là 8598 ha được trình bày ở bảng 2.1 như sau:

Bảng 2.1: Phân bố quản lý sử dụng đất ở xã Quốc Oai

Mục đích sử dụng Diện tích

( ha)

Tỷ lệ ( %)

Trang 23

2.3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số: Toàn xã Quốc Oai có 912 hộ với 3872 nhân khẩu (Theo UBND xã

Quốc Oai, 2011) được trình bày theo bảng 3.2 như sau:

Bảng 2.2: Thành phần dân cư theo nhóm dân tộc ở xã Quốc Oai

Dân tộc Số hộ Số nhân khẩu Tỷ lệ

Trồng trọt; Tổng diện tích đã gieo trồng của xã Quốc Oai năm 2010 đạt

1575,32 ha Trong đó cây lương thực có tổng diện tích gieo trồng 411 ha.Cây chất

bột có diện tích đã gieo trồng là 45 ha.Cây thực phẩm các loại: đã gieo trồng và thu

hoạch được 55 ha.Cây công nghiệp và cây khác có tổng diện tích gieo trồng là

1064,32 Về năng suất và sản lượng một số cây trồng chủ lực của xã năm 2010: Cây

lúa có năng suất trung bình cả năm đạt 32,6 tạ/ha Cây điều: năng suất trung bình từ

500 - 600 kg/ha và cây tiêu: năng suất trung bình 1,2 tấn/ha

Chăn nuôi: Toàn xã Quốc Oai, tổng đàn trâu có 295 con, đàn bò có 375 con,

đàn heo có 800 con, tổng gia cầm các loại có khoảng 14000 con Tình hình chăn

nuôi trên địa bàn xã ổn định, công tác phòng chống dịch bệnh luôn được chú trọng,

do đó không có phát sinh dịch bệnh trong chăn nuôi

Công tác khuyến nông: Uỷ Ban Nhân Dân Xã Quốc Oai thường xuyên quan

tâm và hỗ trợ nhân dân trong việc sản xuất Tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn cho

người dân về giống cây trồng mới cũng như phương thức sản xuất có hiệu quả Mua

cây cao su giống cho 28 hộ và mua cây ca cao giống cho 51 hộ trong xã Hỗ trợ

Trang 24

giống lúa chất lượng cao cho 79 hộ và hỗ trợ giống ngô cho 41 hội Mua phân bón cho các hộ chăm sóc cây ca cao 9.260 kg, phân bón cho các hộ sản xuất lúa và ngô 14.200 kg

2.3.2 Giới thiệu về thôn 5, xã Quốc Oai

2.3.2.1 Lịch sử hình thành và các sự kiện quan trọng của thôn 5

Thôn 5 được thành lập vào năm 1986 và có các sự kiện quan trọng được trình bày theo bảng 3.4 như sau:

2000 Làm đường trải nhựa

2003 Giao khoán rừng cho 46 hộ

2005 Xây trường mầm non phân hiệu Hoa Sen 3

2006

Có 2 dự án của Mỹ: Winrock và Acdivoca Nội dung

dự án Acdivoca: trồng xen ca cao dưới tán cây điều

Nội dung dự án Winrock: trồng rừng bảo tồn sinh học

2009 Có chương trình 30A: giảm nghèo, hỗ trợ giống cây cao su và ca cao cho người nghèo.

2010 Xây đập và hệ thống mương bêtông tưới tiêu

2011 Hệ thống đập và mương bê tông tưới tiêu đưa vào hoạt

động Số hộ là 126

(Theo kết quả điều tra, 2011)

2.3.2.2 Điều kiện tự nhiên

Vị tríđịa lý: Thôn 5 nằm phía Bắc xã Quốc Oai Phía Bắc giáp thôn 7 - xã Quốc Oai Phía Nam giáp thôn 3 - xã Quốc Oai Phía Tây giáp thôn 4 - xã Quốc Oai Phía Đông giáp xã Mỹ Đức - huyện Đạ Tẻh

Địa hình: Thôn 5 có địa hình rất đặc biệt.Hai bên là địa hình đồi cao Ở giữa

Trang 25

2.3.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số và đặc điểm chung: Thôn 5 có 126 hộ với 541 nhân khẩu với 360 người trong độ tuổi lao động Trong đó có 4 hộ dân tộc Tày với 9 nhân khẩu, 5 hộ dân tộc Mường với 13 nhân khẩu Dân cư sống tập trung hai bên đường, chủ yếu sản xuất nông nghiệp Số hộ nghèo chiếm tỉ lệ khá cao được trình bày như bảng 2.4

Bảng 2.4: Phân loại hộ tại thôn 5

Các tiêu chí Nhóm nghèo Cận nghèo Nhóm khá

Thu nhập (VND/người/tháng)

số hộ)

41 hộ ( chiếm 32,67

% tổng số hộ ) (Theo kết quả điều tra, 2011) Tôn giáo: Hầu hết người dân ở thôn 5 không theo tôn giáo

Nông nghiệp: Đa số người dân ở thôn 5 trồng cây công nghiệp như điều, tiêu, cà phê, ca cao, cao su Một số hộ trồng lúa, cây ăn quả, hoa màu, cỏ chăn nuôi và cây

sả chanh Trong đó, cây điều vẫn là cây chủ lực Tổng diện tích đất nông nghiệp của thôn 5 là 198 ha

Lâm nghiệp: việc giao khoán đất rừng chưa mang lại hiệu quả cho người dân Có 46

hộ được nhận giao khoán (Theo kết quả điều tra, 2011)

2.3.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của Xã Quốc Oai nói chung và Thôn 5 nói riêng

2.3.3.1 Thuận lợi

Có giao thông thuận lợi

Tiềm năng đất đai trên địa bàn xã còn lớn, đặc biệt đất cho sản xuất nông nghiệp

Trang 26

Tình hình đời sống của nhân dân cơ bản ổn định

3.1.3.2 Khó khăn

Số hộ nghèo còn nhiều

Thời tiết thay đổi bất thường ảnh hưởng đến sản xuất người dân

Trang 27

Chương 3

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nhằm tìm hiểu một số PTTX trong vườn điều tại thôn 5, xã Quốc Oai, huyện

Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng; luận văn có các mục tiêu cụ thể sau: Tài liệu hóa một số PTTX phổ biến trong vườn điều tại thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng và đề xuất lựa chọn hai PTTX trong vườn điều phù hợp với thực tế tại địa phương

3.2 Nội dung nghiên cứu

Mô tả một số PTTX trong vườn điều: loài cây trồng xen, cách bố trí, khoảng cách trồng, mối quan hệ giữa các thành phần TX

Xác định Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức của các Phương thức trồng xen

Đề xuất hai PTTX hợp lý dựa trên các tiêu chí về điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu, nước tưới) và các tiêu chí về xã hội (chính sách Nhà nước, nguồn lực về vốn, lao động, kinh nghiệm sản xuất của nông hộ, thị trường của nông sản)

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập thông tin thứ cấp từ UBND xã Quốc Oai và Trưởng Thôn về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương

Thu Thập thông tin sơ cấp thông qua sử dụng các công cụ trong PRA: dòng lịch sử , phân loại hộ, quan sát thực tiễn, sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn người dân, chụp ảnh, SWOT, so sánh bắt cặp, ma trận cho điểm được trình bày ở bảng 3.6

Trang 28

Bảng 3.1: Khung logic

Phương pháp thu thập số liệu

Nguồn thu thập số liệu Thời gian thực

hiện Tài liệu hóa một số PTTX phổ

biến trong vườn điều tại thôn 5,

xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh,

tỉnh Lâm Đồng

Mô tả một số PTTX trong vườn điều: hiện trạng , cách bố trí, khoảng cách trồng, mối quan hệ giữa các thành phần trồng xen

- Quan sát, chụp ảnh và phỏng vấn bằng bảng câu hỏi

- Tài liệu thứ cấp

-Những hộ gia đình có tiến hành phương thức trồng xen trong vườn điều

Từ ngày 21/03/2011 đến ngày 07/04/2011

Xác định Điểm mạnh - Điểm yếu -

Cơ hội - Thách thức của các Phương thức trồng xen

- Phỏng vấn

và công cụ SWOT

Từ ngày 08/04/2011 đến ngày 14/4/2011

Đề xuất lựa chọn hai PTTX

trong vườn điều phù hợp với

thực tế tại địa phương

Đề xuất hai PTTX hợp lý dựa trên các tiêu chí về điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu, nước tưới) và các tiêu chí về xã hội (chính sách nhà nước; nguồn lực về vốn, lao động , kinh nghiệm sản xuất của nông hộ, thị trường nông sản)

- Phỏng vấn, so sánh bắt cặp, ma trận cho điểm

Từ ngày 15/04/2011 đến ngày 21/04/2011

Trang 29

3.3.2 Phương pháp xử lý thông tin

Tiến hành tổng hợp, xử lý và phân nhóm các thông tin thu thập được Đối với thông tin thứ cấp chia thành hai nhóm: thông tin từ UBND xã và thông tin từ Trưởng thôn Đối với thông tin sơ cấp được chia thành: thông tin từ quan sát thực tiễn và chụp ảnh, thông tin từ sử dụng phân tích SWOT, thông tin từ sử dụng công

cụ so sánh bắt cặp, thông tin từ công cụ ma trận cho điểm và thông tin từ phỏng vấn

Thông tin từ UBND xã và thông tin từ Trưởng Thôn được chọn lọc và sử dụng cho phần giới thiệu về địa phương nghiên cứu

Thông tin từ sử dụng công cụ phân tích SWOT để cho ra bảng phân tích SWOT cho đối tượng nghiên cứu (Các PTTX trong vườn điều)

Thông tin từ sử dụng công cụ so sánh bắt cặp và ma trận cho điểm dùng để chọn ra giải quyết việc phần đề xuất PTTX thích hợp tại địa phương

Thông tin từ phỏng vấn kết hợp với phần mềm Excel Dùng phần mềm Excel

để xử lý thông tin về diện tích trồng xen ở bảng 4.1 phần kết quả và thảo luận Thông tin phỏng vấn dùng để giải quyết các nội dung nghiên cứu còn lại

Trang 30

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Một số phương thức trồng xen tại địa phương

Kết quả điều tra cho thấy thôn 5 có 90 hộ dân trồng cây điều, chiếm 71,4 % tổng số hộ dân của thôn Tổng diện tích cây điều của 90 hộ là 178,4 ha, chiếm 90,1

% diện tích đất nông nghiệp (Phụ lục 2 - Phần Phụ lục)

Trong số 90 hộ dân trồng điều thì có 74 hộ dân đã tiến hành trồng xen cây khác trong vườn điều Các Phương thức trồng xen và diện tích trồng xen trong vườn điều được trình bày như bảng 4.1

Bảng 4.1: Diện tích trồng xen trong vườn điều của 74 hộ tại thôn 5

STT

Các PTTX trong vườn điều

Số hộ

áp dụng

Diện tích vườn điều

Diện tích trồng xen trong vườn điều (ha)

Tỷ lệ diện tích trồng xen trên tổng diện tích trồng xen (%)

Trang 31

Đặc điểm chung của cây điều tại thôn 5: Đa số cây điều đã được trồng hơn

10 năm Phần lớn cây điều được trồng từ hạt Chỉ có 9 ha diện tích điều mới được trồng khoảng 3 - 4 năm từ giống điều ghép được trình bày như bảng 4.2

Bảng 4.2: Tuổi của cây điều tại thôn 5

Tuổi cây điều

(năm)

Diện tích điều

Số hộ áp dụng (hộ)

Bảng 4.3: Các khoảng cách trồng điều tại thôn 5

(Theo kết quả điều tra, 2011)

Đa số người dân tại thôn 5 rất ít bón phân cho cây điều Khâu chăm sóc chủ yếu là làm cỏ, cắt tỉa cành nhánh và phòng trừ sâu bệnh hại Người dân thường thu hoạch điều vào tháng 2 - 3 Năng suất cây điều tại thôn 5 trong ba năm gần đây (từ năm 2009 đến đầu năm 2011) giảm mạnh Đặc biệt đầu năm 2011 thì toàn bộ diện tích điều bị mất mùa được trình bày như bảng 4.4

Trang 32

Bảng 4.4: Năng suất và giá điều trong 3 năm gần đây ở thôn 5

Năm

Năng suất điều trung

bình (kg/ha)

Giá điều trung bình (đồng / kg)

2011 300 - 400 26000 - 28000

(Theo kết quả điều tra, 2011)

4.1.1 Phương thức trồng xen Điều - Cà phê

Hình 4.1: Sơ đồ phương thức trồng xen Điều - Cà phê

Theo kết quả điều tra thì tại thôn 5 có 30 hộ thực hiện PTTX Điều - Cà phê trong tổng số 74 hộ trồng điều có trồng xen, chiếm tỷ lệ là 40,5 % Diện tích trồng xen là 55,5 ha, chiếm 38,8 % tổng diện tích trồng xen

Loài cây trồng xen trong vườn điều là cây cà phê Đa số cây cà phê trồng đã được 5 - 6 năm, đã cho thu hoạch Một số diện tích cây cà phê mới trồng 2 - 3 năm được trình bày như bảng 4.5

Trang 33

Bảng 4.5 : Tuổi cây cà phê tại thôn 5

PTTX điều - cà phê

Diện tích trồng xen ( ha )

Số hộ áp dụng ( hộ )

Tuổi cây cà phê ( năm )

để trồng với kích thước của hố trồng là 50 x 50 x 60 cm Khi trồng người dân thường bón lót phân chuồng, vôi, thuốc chống mối và kiến Thời điểm trồng thường

là đầu mùa mưa (khoảng tháng 6 đến tháng 7)

Do trồng xen trong vườn điều nên cũng hạn chế được cỏ dại Việc làm cỏ cho cây cà phê khoảng 2 - 3 lần/năm Thường vào đầu mùa mưa, người dân đã tiến hành bón phân cho cây cà phê Loại phân bón là phân chuyên dùng cho cây cà phê

và phân chuồng Trước đây, cây cà phê không được tưới do không có nguồn nước Cuối năm 2010, hệ thống thủy lợi Hồ thôn 5 đã hoạt động phục vụ tốt việc tưới cho cây cà phê Cây cà phê tại địa phương ít bị sâu bệnh

Thường vào tháng 10 đến tháng 12, cà phê được thu hoạch Chỉ hái những quả chín và thu hoạch tới đâu tỉa bớt cành và nhánh đến đó Sau khi thu hoạch, quả

cà phê không cần phơi mà bán trực tiếp cho thương lái

Cây cà phê được trồng xen theo hàng trong vườn điều Giữa hai hàng cây điều là hai hàng cây cà phê Cây cà phê được trồng với khoảng cách phổ biến là 3 x

3 m Giữa cây điều và cây cà phê có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cây điều có vai trò rất quan trọng trong giai đoạn cây cà phê còn nhỏ Tán của cây điều giúp hạn chế cỏ dại, giữ ổn định ẩm độ và chống đỡ các tác động bên ngoài như mưa gió, tạo điều kiện thuận lợi cho cây cà phê phát triển bình thường Cây điều cũng có thể tận

Ngày đăng: 11/06/2018, 19:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w