Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Nghiên Cứu Sự ảnh Hưởng Của Hệ Thống Canh Tác Lên Cộng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ KHUYẾN NÔNG
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
Ngành: Phát Triển Nông Thôn và Khuyến Nông
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN NGỌC THÙY
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2011
Trang 3Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Nghiên Cứu Sự ảnh Hưởng Của Hệ Thống Canh Tác Lên Cộng Đồng Người Mạ Tại Thôn Đạ Nhar, Xã Quốc Oai, Huyện Đạ Tẻh, Tỉnh Lâm Đồng” do Kờ Thị Lan, sinh viên khóa 33, ngành Phát Triển Nông Thôn Và Khuyến Nông, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày:
T.S NGUYỄN NGỌC THÙY Người hướng dẫn
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được
sự giúp đỡ của rất nhiều người, những người mà sau đây tôi xin gửi lời tri ân chân thành đến họ
Lời đầu tiên con kính gửi lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Ba mẹ, những người đã hết lòng nuôi nấng, dạy dỗ, đã chịu nhiều vất vả hi sinh để cho con được đi học đến nơi đến chốn Nhờ đó, con có được ngày hôm nay Đặc biệt trong thời gian thực hiện khóa luận, cám ơn Ba mẹ và cả gia đình ta đã luôn ủng hộ, động viên con, giúp con có nghị lực để vượt qua những lúc khó khăn nhất
Với lòng thành cảm ơn sâu sắc em xin gởi đến ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm cùng tất cả các thầy cô trong khoa Kinh Tế đã hết lòng truyền đạt những kiến thức vô cùng quý báu, giúp chúng em thoát khỏi những bở ngỡ ban đầu về ngành học, về nỗi lo lắng sau khi tốt nghiệp ra trường
Xin chân thành cảm ơn thầy NGUYỄN NGỌC THÙY, thầy đã tận tình hướng dẫn và cho em những lời phê bình, lời khuyên chân thành trong suốt thời gian thực hiện khóa luận, giúp em luôn cố gắng nỗ lực và trưởng thành nhiều hơn
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo UBND xã Quốc Oai, chị Ka Dụ - Thôn phó thôn Đạ Nhar và bà con nơi đây đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực tập tại địa phương
Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn, những người đã luôn bên tôi, giúp đỡ
và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện khóa luận này
Một lần nữa kính mong tất cả nhận ở tôi lời tri ân sâu sắc, chân thành nhất
TPHCM, ngày tháng năm 2011 Sinh viên thực hiện
KỜ THỊ LAN
Trang 5NỘI DUNG TÓM TẮT
Kờ Thị Lan Tháng 07 năm 2011 “Ảnh Hưởng Của Sự Thay Đổi Hệ Thống Canh Tác Lên Đời Sống Cộng Đồng Người Mạ Tại Thôn Đạ Nhar, Xã Quốc Oai, Huyện Đạ Tẻh, Tỉnh Lâm Đồng”
Ko Thi Lan July 2011 “Impacts of the change in farming system to Ma communities life in Da Nhar village, Quoc Oai commune, Da Teh district, Lam Dong province”
Đề tài tìm hiểu sự thay đổi về hệ thống canh tác của nguời Mạ tại thôn Đạ Nhar
từ xưa đến nay Bằng một số phương pháp như: thống kê mô tả, phân tích lịch thời vụ, phân tích SWOT, đề tài đã phân tích và nhận xét về ảnh hưởng của từng hệ thống canh tác (HTCT) lên đời sống của cộng đồng này
Để hiểu rõ điều kiện sản xuất trong từng thời điểm và nhận dạng sự thay đổi trong cuộc sống của người Mạ nơi đây, đề tài còn tìm hiểu về đặc điểm kinh tế, văn hóa – xã hội từ xưa đến nay của cộng đồng này Bên cạnh đó, đề tài còn tìm hiểu các chính sách của nhà nước đã tác động đến quá trình thay đổi hệ thống canh tác
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dưới tác động của những chính sách phát triển, các yếu tố thị trường (như giá cả, nhu cầu tiêu thụ…) và một số yếu tố khách quan, chủ quan khác đã thay thế HTCT truyền thống của người Mạ (nương rẫy quảng canh) thành các HTCT hiện có tại địa phương (độc canh cây công nghiệp như: cây điều và độc canh cây lúa) Các HTCT hiện tại kém hiệu quả không những làm cho đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, làm tăng sự lệ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng vì mục đích mưu sinh mà còn ảnh hưởng tới môi trường đất, môi trường rừng
Từ đó, đề tài đề xuất các giải pháp đối với hệ thống canh tác và một số giải pháp khác nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của cộng đồng này
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt viii
Danh mục các bảng ix
Danh mục các hình x
Danh mục phụ lục xi
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Cấu trúc khóa luận 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 4
2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
2.2 Tổng quan về xã Quốc Oai 5
2.2.1 Điều kiện tự nhiên xã Quốc Oai 5
2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 7
2.2.3 Đánh giá chung về thực trạng của xã 13
2.2.4 Tổng quan về thôn Đạ Nhar 13
CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Cơ sở luận 15
3.1.1 Khái niệm và một số đặc điểm về người dân tộc thiểu số 15
3.1.2 Một số vấn đề về nông thôn 16
3.1.3 Khái niệm hệ thống canh tác 21
3.2 Phương pháp nghiên cứu 22
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu 22
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 22
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 23
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
Trang 74.1 Lịch sử di cư của đồng bào Mạ tại thôn Đạ Nhar và nguồn gốc đất đai tại
thôn 26
4.1.1 Vài nét chung về cộng đồng người Mạ truyền thống 26
4.1.2 Lịch sử di cư của đồng bào Mạ tại thôn Đạ Nhar và nguồn gốc đất đai
……… 28
4.2 Mô tả hệ thống canh tác truyền thống của người Mạ 29
4.2.1 Mô tả các công đoạn và kỹ thuật của quá trình canh tác nương rẫy truyền thống 29
4.2.2 Hệ thống cây trồng trên nương rẫy 31
4.2.3 Lịch canh tác truyền thống 32
4.2.4 Lịch thời vụ trong sản xuất nông nghiệp truyền thống 33
4.2.5 Nhận xét về khả năng sản xuất của hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống 34
4.3 Đặc điểm của mẫu điều tra 35
4.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi HTCT 42
4.5 Phân tích ảnh hưởng của sự thay đổi hệ thống canh tác 43
4.5.1 Sự thay đổi về văn hóa, xã hội của người Mạ tại thôn Đạ Nhar 43
4.5.2 Sự thay đổi về kinh tế 44
4.5.3 Một số thay đổi về môi trường 58
4.6 Xây dựng các giải pháp nhằm góp phần cải thiện đời sống của cộng đồng người Mạ 59
4.6.1 Giải pháp cải thiện hệ thống canh tác tại địa phương 59
4.6.2 Giới thiệu một số mô hình canh tác có hiệu quả 61
4.6.3 Giải pháp về vốn 62
4.6.4 Giải pháp nâng cao trình độ kỹ thuật trong sản xuất 63
4.6.5 Giải pháp khuyến nông 64
4.6.6 Giải pháp cơ sở hạ tầng 66
4.6.7 Giải pháp tạo việc làm cho người dân 66
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
Trang 85.2.1.Đối với chính quyền địa phương 69 5.2.2 Đối với người dân thôn Đạ Nhar 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC
Trang 9NHNN & PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TTTT Thông tin truyền thông
UBDT & MN Ủy ban dân tộc và miền núi
VSMTNT Vệ sinh môi trường nông thôn
XĐGN Xóa đói giảm nghèo
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 4.1 Lịch Sử Di Cư của Đồng Bào Mạ tại Thôn Đạ Nhar và Nguồn Gốc Đất Đai
Bảng 4.2 Tương Quan Giữa Các Tháng Của Lịch Người Mạ với Các Tháng Trong Năm Của Lịch Âm và Lịch Dương 32Bảng 4.3 Lịch Thời Vụ Truyền Thống Của Một Năm Trên Rẫy Lúa Của Người Mạ 33Bảng 4.4 Năng Suất Lúa Rẫy Trong Một Năm Được Mùa (Với Diện Tích Khoảng 1,5ha) của Một Hộ Người Mạ ở Thôn Đạ Nhar Sau Giải Phóng Năm 1975 34Bảng 4.5 Trình Độ Học Vấn Của Chủ Hộ 36
Bảng 4.7 Tình Hình Tiếp Cận Thông Tin Của Hộ Người Mạ 38Bảng 4.8 Tình Trạng Nhà Ở Của Người Mạ Tại Thôn Đạ Nhar 38Bảng 4.9 Tình Hình Tiếp Cận Dịch Vụ của Hộ 39Bảng 4.10 Các Nguồn Vốn Vay Của Hộ Người Mạ Trong Thôn Đạ Nhar 40Bảng 4.11 Mục Đích Vay Vốn Của Các Hộ Người Mạ 40Bảng 4.12 Tình Hình Sử Dụng Phương Tiện Sản Xuất Của Hộ 41Bảng 4.13 Quy Mô Diện Tích Đất Canh Tác Vườn Nhà 44Bảng 4.14 Quy Mô Diện Tích Đất Canh Tác Rẫy Của Hộ 45Bảng 4.15 Quy Mô Diện Tích Đất Ruộng Của Hộ Dân 45Bảng 4.16 Kết Quả Phân Tích SWOT Hệ Thống Độc Canh Cây Điều 49Bảng 4.17 Kết Quả Phân Tích SWOT HTCT Ca Cao Xen Dưới Tán Điều 52Bảng 4.18 Lịch Thời Vụ Trong Sản Xuất Nông Nghiệp Tại Thôn 53Bảng 4.19 Xếp Hạng Các Khó Khăn Trong Sản Xuất Tại Thôn Đạ Nhar 54
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1 Bản Đồ Phác Thảo Thôn Đạ Nhar, Xã Quốc Oai 14Hình 4.1 Lắt Cắt Thôn Đạ Nhar, Xã Quốc Oai 35
Trang 12DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Danh Sách Các Hộ Điều Tra
Phụ Lục 2 Bảng Câu Hỏi Điều Tra Hộ Người Mạ
Phụ lục 3 Một Số Bảng
Phụ lục 4 Hình Một Số Nông Cụ Làm Rẫy
Trang 13Thôn Đạ Nhar thuộc xã Quốc Oai, Huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng là một trong những địa bàn có đặc điểm như vậy Tại đây có nhiều đồng bào thiểu số sinh sống, trong đó chủ yếu là người Mạ Mặc dù, những năm gần đây nhờ có sự đầu tư của nhà nước thông qua các chương trình, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, đời sống người dân
có được cải thiện phần nào.Tuy nhiên, nhìn chung đời sống người dân vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số tại thôn Đạ Nhar
Xã Quốc Oai là địa bàn có địa hình dốc, đất dễ bị rửa trôi trong mùa mưa, khả năng thấm nước chậm dễ gây ngập úng ở những vùng trũng lòng chảo Vào mùa khô khả năng giữ nước kém, đất dễ nứt nẻ, mực nước ngầm xuống sâu ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây trồng, điều kiện sinh hoạt và sản xuất gặp nhiều khó khăn Ngoài ra, hoạt động sản xuất của họ luôn gặp rủi ro về dịch hại sâu bệnh gây mất mùa
và thất thu nghiêm trọng Mặt khác, họ còn gặp rủi ro lớn về thị trường tiêu thụ sản phẩm Thêm vào đó, việc thiếu vốn đầu tư, thiếu khoa học kỹ thuật, khả năng tiếp cận với các dịch vụ văn hóa, xã hội khác của người dân còn hạn chế Đây là những nguyên
Trang 14Chính vì vậy, việc nghiên cứu sự thay đổi hệ thống canh tác và ảnh hưởng của
nó lên đời sống người dân là cần thiết nhằm đưa ra giải pháp cải thiện hệ thống canh tác một cách hợp lý Tìm hiểu về hệ thống canh tác của người dân để hiểu rõ về tập quán canh tác, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất nhằm nắm bắt được nhu cầu, nguyện vọng và những bất cập của họ trong cuộc sống cũng như trong sản xuất Từ
đó, đề tài đưa ra những giải pháp phù hợp và hiệu quả nhằm góp phần cải thiện đời sống của người dân
Với các lý do đã được đề cập như trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài
“Ảnh Hưởng Của Sự Thay Đổi Hệ Thống Canh Tác Lên Đời Sống Cộng Đồng
Người Mạ Tại Thôn Đạ Nhar, Xã Quốc Oai, Huyện Đạ Tẻh, Tỉnh Lâm Đồng”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu tổng quát của đề tài là tìm hiểu về sự thay đổi hệ thống canh tác của cộng đồng người Mạ, thông qua đó thấy được ảnh hưởng của những hệ thống canh tác này lên đời sống của họ như thế nào.Từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp để giúp
đỡ họ trong đời sống cũng như trong hoạt động sản xuất
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mô tả hệ thống canh tác truyền thống của người Mạ
- Phân tích một số chính sách của nhà nước đối với ĐBDTTS
- Phân tích ảnh hưởng của sự thay đổi hệ thống canh tác lên đời sống của cộng đồng người Mạ tại thôn Đạ Nhar
- Đề xuất giải pháp cải thiện những hạn chế của hệ thống canh tác hiện tại, hoặc giới thiệu hệ thống canh tác mới có hiệu quả hơn để thay thế, và đưa ra một
số giải pháp khác nhằm nâng cao đời sống cho cộng đồng này
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: các hộ người Mạ tại thôn Đạ Nhar
- Phạm vi không gian: đề tài được thực hiện tại thôn Đạ Nhar, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng
- Phạm vi thời gian:
Dữ liệu nghiên cứu: tìm hiểu hoạt động canh tác trong năm 2010 và thời gian trước đó
Trang 15Thời gian thực hiện khóa luận từ 2/3/2011 đến 20/6/ 2011
1.4 Cấu trúc khóa luận
Cấu trúc khóa luận gồm 5 phần chính, bố cục theo cấc chương sau:
- Chương 1: Mở Đầu
Đặt vấn đề, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của khóa luận
Phù hợp với định hướng phát triển và chủ trương của Đảng và nhà nước ta, khai thác tài nguyên thiên nhiên của mỗi vùng nhằm nâng cao thu nhập cho người dân và hướng đến sản xuất nông nghiệp bền vững, đặc biệt đối với vùng sâu vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số là điều cần thiết và phù hợp với định hướng phát triển chung của địa phương
- Chương 2: Tổng quan về tài liệu nghiên cứu; giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã, đồng thời giới thiệu khái quát về thôn, từ đó xác định những thuận lợi và khó khăn của vùng nghiên cứu
- Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Từ hoàn cảnh thực tế của địa phương, xây dựng cơ sở lý luận phù hợp Dựa vào phần cơ sở lý luận đó để xem xét những kết quả nghiên cứu ở chương sau Vì vậy, phương pháp nghiên cứu được sử dụng mang tính tổng hợp nhằm thu thập thông tin sơ cấp, thứ cấp phục vụ cho nhận xét, đánh giá và kết luận của khóa luận
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trình bày kết quả nghiên cứu có được từ việc tổng hợp và phân tích những thông tin, số liệu thu thập trong thời gian khảo sát địa bàn nghiên cứu Bên cạnh đó dựa vào kết quả nghiên cứu để thảo luận và đề xuất những giải pháp cụ thể và phù hợp
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trình bày những kết quả rút ra trong quá trình nghiên cứu, đưa ra những kiến nghị hợp lý đúng với nhu cầu, nguyện vọng của người dân
Trang 16CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Có nhiều nghiên cứu về hệ thống canh tác (HTCT) của các tác giả khác nhau với nhiều cách tiếp cận khác nhau chẳng hạn như:
Trần Thanh Cao (2006) đã nghiên cứu đề tài “Chọn lựa mô hình canh tác phù hợp trên vùng đệm của rừng phòng hộ ven biển tỉnh Sóc Trăng” Về cơ bản đề tài đề xuất một số mô hình canh tác phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cho vùng nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động nông nghiệp có hiệu quả sẽ mang lại cuộc sống ổn định cho người dân góp phần làm giảm tính lệ thuộc vào rừng vì mưu sinh của dân cư trong vùng
Một nghiên cứu khác có tên “khảo sát tình hình thu nhập và giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân tộc nhập cư tại xã An Nhơn, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng” của Triệu Văn Sư (2006) đã phân tích đặc điểm và tình hình sản xuất của các hộ người dân tộc nhập cư
Cũng như Triệu Văn Sư, Tạ công Nhàn (2007) đã tiếp cận HTCT thông qua
“Tìm hiểu nguồn thu nhập và giải pháp để nâng cao thu nhập cho ĐBDT Châu Mạ ở
xã Phước Lộc, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng” Đề tài đã nhận dạng điều kiện tự nhiên và đánh giá tình hình sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình người Mạ tại địa bàn nghiên cứu
Trang 17Cũng nghiên cứu về HTCT nhưng Nguyễn Thùy Liên (2008) đã tiếp cận trên phạm vi rộng hơn so với hai nghiên cứu của hai tác giả là Triệu Văn Sư và Tạ Công Nhàn Tác giả Nguyễn Thùy Liên Nghiên cứu “Đời sống kinh tế - xã hội của người dân tộc Stiêng tại xã Thanh An, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước: Thực trạng và giải pháp” Đề tài
đã nhận dạng điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của các hộ gia đình người Stiêng; tìm hiểu sự thay đổi trong phong tục tập quán và các điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội của người Stiêng từ xưa đến nay Bên cạnh đó, đề tài còn tiến hành khảo sát
và đánh giá hoạt động sản xuất của những hộ này
Ba đề tài của ba tác giả bao gồm Triệu văn Sư, Tạ Công Nhàn, Nguyễn Thùy Liên đều cho thấy một kết quả chung về những nguyên nhân dẫn tới nghèo đói đối với ĐBDTTS đó là những vấn đề như: thiếu vốn sản xuất, thiếu TBKHKT trong canh tác, chi phí sản xuất cao, thị trường nông sản bấp bênh…
Tất cả những nghiên cứu trên đây được tác giả tham khảo về phương pháp để hỗ trợ cho nghiên cứu của mình
2.2 Tổng quan về xã Quốc Oai
2.2.1 Điều kiện tự nhiên xã Quốc Oai
2.2.1.1 Vị trí địa lý – Địa hình
Vị trí địa lý
Xã Quốc Oai có tọa độ địa lý nằm trong khoảng từ 107030’00 đến 107033’00 kinh độ Đông và 107034’00 đến 107033’00 vĩ độ Bắc
Ranh giới tiếp giáp:
+ Phía Bắc giáp xã Lộc Bắc huyện Bảo Lâm
+ Phía Nam Tây Nam giáp Thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh
+ Phía Đông và Đông Nam giáp xã Mỹ Đức huyện Đạ Tẻh
+ Phía Tây Tây Nam giáp xã An Nhơn huyện Đạ Tẻh
Địa hình
Nhìn tổng thể xã Quốc Oai có độ dốc từ Bắc Tây Bắc xuống phía Nam Đông Nam Địa hình dốc đã gây hạn chế như: Đất dễ bị rửa trôi trong mùa mưa, khả năng thấm nước chậm dễ gây úng ngập ở những vùng trũng, lòng chảo Vào mùa khô khả năng giữ nước kém, đất dễ nứt nẻ, mực nước ngầm xuống sâu ảnh hưởng đến sinh
Trang 182.2.1.2 Đặc điểm khí hậu thời tiết
Xã Quốc Oai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, nền nhiệt và bức xạ mặt trời cao đều quanh năm, không có mùa đông lạnh Lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều tạo ra 2 mùa: mùa mưa và mùa khô
Về mùa mưa, lượng mưa rất lớn từ khoảng 1.600- 1.900mm, mưa kéo dài trong 6 tháng từ tháng 5 đến tháng 11
Do nằm ở ví độ thấp nên nhiệt độ không khí trung bình hàng năm cao từ
25-270C Độ ẩm không khí cũng thay đổi theo 2 mùa rõ rệt, vào mùa mưa độ ẩm không khí >80%, vào mùa khô độ ẩm không khí <80%
2.2.1.3 Nguồn nước – thủy văn
Là địa phương có địa hình cao và dốc nên các con suối chảy qua địa bàn không thực sự thuận lợi cho sự phát triển sản xuất và nuôi trồng thủy sản Xã có một con suối chính nằm ở phía Đông và một số đoạn suối nhỏ nằm ở phía Tây có lượng nước không đáng kể Diện tích đất nuôi trồng thủy sản chỉ có : 36,5ha Toàn bộ là diện tích ao do các hộ dân tự đào để nuôi cá Với diện tích manh mún và nhỏ lẻ nên việc nuôi cá chủ yếu để phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình, có ít hộ nuôi kinh doanh nhưng thực tế thu nhập không đáng kể
Hệ thống thủy lợi: Hiện nay xã mới có 3 thôn được sử dụng nước tưới hồ thủy lợi Đạ Tẻh gồm thôn 1, thôn 2 và thôn 6, các thôn còn lại chủ yếu sử dụng nước mưa
và sử dụng nước giếng đào, nước suối để phục vụ sản xuất, sinh hoạt Từ nguồn vốn
hỗ trợ của Nhà nước, hiện nay xã đã và đang xây dựng hệ thống hồ thủy lợi thôn 5 để phục vụ tưới tiêu cho một số địa bàn của một số thôn còn lại trong xã (Bảng 2.1 Mạng Lưới Sông, Suối Xã Quốc Oai, phụ lục 3)
2.2.1.4 Đất đai
Xã Quốc Oai thuộc huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng có tổng diện tích đất tự nhiên là: 8.598,1ha
Trong đó:
- Đất lâm nghiệp: 7.023,1ha
- Đất sản xuất nông nghiệp : 1.575ha
- Đất sản xuất lúa : 170,48ha
- Đất trồng điều :705ha
Trang 19- Đất chuyên dùng: 116ha
- Đất chưa sử dụng : 79,5ha
Theo kết quả kiểm kê đất đai đầu năm 2010 một số diện tích đất có sự biến động cụ thể Tổng diện tích đất tự nhiên: 8.598,1 ha Trong đó:
- Đất lâm nghiêp là: Từ 7.054,24 ha giảm còn: 6.699,6 ha
- Đất sản xuất nông nghiệp: Từ 1.340,67 ha tăng lên: 1.575,32 ha
- Đất chuyên dùng: Từ 116,91 ha giảm còn: 114,26 ha
- Đất chưa sử dụng: từ 79,50 ha giảm còn: 00ha
- Đất phi nông nghiệp: 208,82 ha
Có hai nhóm đất chính đó là:
+ Nhóm đất đỏ vàng có diện tích 8.540ha, được chia làm ba nhóm phụ gồm: đất Nâu vàng trên phù sa cổ biến đổi do trồng lúa nước và đất đỏ vàng trên đá phiến sét
+ Nhóm đất dốc tụ có diện tích 41,6ha: Nhóm đất này được hình thành trong các thung lũng, hợp thủy từ các mẫu đất trên địa hình cao đưa xuống (Bảng 2.2 Diện Tích Các Loại Đất ở Xã Quốc Oai và Bảng 2.3 Hiện Trạng Sử Dụng Và Kế Hoạch Sử Dụng Đất Của Xã Quốc Oai, phụ lục 3)
2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.2.2.1 Dân số - lao động
Toàn xã có 907 hộ/3.872 khẩu.Trong đó:
+ Dân tộc gốc địa phương có 217 hộ/899 khẩu chiếm 23,92%
+ Dân tộc thiểu số (DTTS) phía Bắc có 70 hộ/302 khẩu chiếm 7,72%
Trang 20+ Hộ nghèo có 248 hộ chiếm 27,34%( theo tiêu chí cũ)
+ Đối tượng chính sách có 57 hộ
+ Đối tượng trợ cấp thường xuyên: 90
Là địa phương có nguồn lao động dồi dào Tuy nhiên về đặc điểm lao động của địa phương còn có những thuận lợi và khó khăn nhất định:
- Về thuận lợi: Đa số lao động của địa phương là người xuất phát từ nông dân
lao động, họ cần cù chịu khó, có sức khỏe tốt Trong cuộc sống, họ đùm bọc thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau, chấp hành tốt các chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước cũng như các quy định của địa phương Đây là một thuận lợi cho địa phương thực hiện việc hoạch định chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội
- Về khó khăn: Do trình độ dân trí còn thấp, tỉ lệ người DTTS chiếm khá cao
31,64% Trong đó dân tộc gốc địa phương chiếm 23,92% và DTTS phía bắc chiếm 7,72% dân số xã Tỉ lệ lao động lâm nghiệp là chủ yếu chính vì vậy nên việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương sẽ bị hạn chế Trong khi đó số người được đào tạo về chuyên môn, kỹ thuật không đáng kể dẫn đến sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát gây khó khăn cho việc quản lý dịch hại trên địa bàn
Địa bàn xã được phân bố trên 7 thôn, với đặc thù dân cư ở liền kề với diện tích đất sản xuất nông nghiệp của gia đình Việc sản xuất manh mún và tự phát theo hộ gia đình như hiện nay đã làm hạn chế phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên canh và định hướng kinh tế trang trại
2.2.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp
Mặc dù hiện nay tình hình kinh tế - xã hội của địa phương còn gặp nhiều khó khăn về mọi mặt như đời sống vật chất của người dân còn thiếu thốn, hưởng thụ văn hóa còn hạn chế, chưa được tiếp thu kịp thời các TBKHKT tiên tiến.Vì vậy nhìn chung đại bộ phận người dân của địa phương còn nghèo
Tuy nhiên, các cấp ngành đã và đang đầu tư nhiều chương trình dự án cho địa phương cụ thể: chương trình 135 của hai giai đoạn I và II, dự án hạ tầng cơ sở nông thôn dựa vào cộng đồng, đề án giảm nghèo nhanh và bền vững theo nghị quyết 30a/CP
và các chương trình hỗ trợ sản xuất Các chương trình dự án trên đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Nhất là hiện nay địa phương đang
Trang 21thực hiện đề án giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2009 – 2015 theo nghị quyết 30a/CP đã được UBND tỉnh phê duyệt Đây là lợi thế lớn để địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề kinh tế, nâng cấp cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm, hệ thống thủy lợi…
Cây trồng chủ yếu của địa phương là cây điều, cây tiêu, cà phê, ca cao, lúa nước, cây ăn trái và một số diện tích cây cao su tiểu điền đang triển khai trồng thí điểm theo dự án của Nhà nước hỗ trợ Bên cạnh đó, địa phương còn đẩy mạnh phát triển ngành chăn nuôi để tăng thu nhập
Trồng trọt
Năm 2009, diện tích gieo trồng cả năm đạt 1.575ha, duy trì từ 40 – 50ha sản xuất lúa chất lượng cao Với đề án 30a/CP về giảm nghèo nhanh và bền vững Trong năm 2009, xã đã tổ chức cho người dân chuyển đổi được 192,8ha cây cao su tiểu điền Năm 2010 đạt 1.689ha đạt 93,1% kế hoạch giao, tăng 8,1% so với cùng kỳ 2009
Tổng sản lượng đối với các loại cây lương thực, thực phẩm, cây chất bột trong năm 2010 ước đạt 1.393 tấn đạt 81% kế hoạch giao, giảm 15 % so với cùng kỳ 2009
Trong đó:
Cây lương thực: tổng diện tích gieo trồng đạt 411 ha đạt 90,3% kế hoạch giao Giảm 15ha so với năm 2009, (trong đó vụ lúa Đông xuân đã gieo trồng được 75 ha đạt 75% kế hoạch: vụ lúa Hè thu 146ha đạt 104% kế hoạch; vụ mùa 145 ha đạt 85,2%; diện tích cây ngô trong 02 vụ Đông Xuân và Hè Thu là 45ha đạt 100% kế hoạch)
Cây chất bột: diện tích gieo trồng được 45ha đạt 70,3% kế hoạch giao Năng suất đạt 40 tạ/ha, không tăng so với năm 2009
Cây thực phẩm các loại: đã gieo trồng và thu hoạch được 55 ha đạt 78,5% kế hoạch giao, không tăng so với năm 2009
Cây công nghiệp và cây khác: tổng diện tích gieo trồng năm 2010 đã thực hiện 1.189 ha đạt 97,06% kế hoạch giao, tăng 214 ha so với năm 2009 Trong đó: Cây điều
có 706 ha, cây tiêu có 14,5 ha, cây dâu có 02 ha, cây cà phê có 70 ha (trong đó có 55
ha người dân trồng xen trong vườn điều), cây ca cao có 60,1ha (trồng xen trong vườn điều)
Trang 22Cây cao su: Kết quả điều tra của UBND xã hiện nay diện tích cây cao su trồng năm 2009 theo đề án 30a chỉ còn lại là 110/198ha (trong đó chủ yếu là trồng xen trong vườn điều), cây ăn trái các loại có 42 ha, còn lại là các loại cây trồng khác
- Về năng suất và sản lượng một số cây trồng chủ lực của xã năm 2010:
+ Cây lúa: vụ Đông Xuân diện tích 75 ha mất trắng; vụ Hè Thu diện tích 146ha năng suất đạt 42 tạ/ha; vụ mùa diện tích 145 ha năng suất ước đạt 40 tạ/ha Năng suất trung bình cả năm ước đạt 32,6 tạ/ha
+ Cây điều: vụ điều năm nay một số diện tích đã cho năng suất khá cao so với cùng kỳ 2009, năng suất trung bình đạt từ 500kg đến 600kg/ha, tăng 250% so với vụ mùa năm 2009
+ Cây tiêu: do dịch bệnh và nắng hạn một số diện tích đã bị chết và một số diện tích không phát triển nên người dân đã phá bỏ chuyển đổi cây trồng nên sản lượng năm nay giảm mạnh Năng suất trung bình ước đạt 1,2 tấn/ha Giảm 20% so với cùng
kỳ năm 2009
Trong mùa khô do thiếu nước sản xuất và ảnh hưởng của dịch bệnh trên cây trồng nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất Vì vậy năm 2010 tổng diện tích gieo trồng cơ bản đạt kế hoạch đề ra, tuy nhiên sản lượng lương thực đã giảm mạnh so với cùng kỳ 2009
Chăn nuôi
Năm 2009, tổng đàn gia súc có 1.850 con, tổng đàn gia cầm có 12.000 con
Năm 2009 ước giá trị chăn nuôi 660 triệu Toàn xã hiện có 6 trại sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi
Tuy nhiên, hiện nay chỉ có 3 trang trại duy trì tốt về sản xuất nông nghiệp, các trang trại chăn nuôi hầu như đã chuyển sang lĩnh vực sản xuất Toàn bộ số trang trại của địa phương là những trang trại nhỏ nên không thu hút được nhiều lao động, mà chủ yếu là lao động gia đình
Năm 2010, tổng đàn trâu có 295 con đạt 70,2% kế hoạch, đàn bò giảm mạnh so với cùng kỳ hiện chỉ còn 375 con đạt 68,2% kế hoạch giao, đàn heo hiện có 750 con đạt 83,3% kế hoạch, tổng gia cầm các loại có khoảng 12.000 con đạt 80% kế hoạch Tình hình chăn nuôi trên địa bàn năm 2010 ổn định, công tác phòng chống dịch bệnh luôn được chú trọng, địa phương đã thường xuyên chỉ đạo cho nhân dân chủ động thực
Trang 23hiện việc tiêu khử trùng và vệ sinh chuồng trại chăn nuôi do đó không phát sinh dịch bệnh Trong năm địa phương đã phối hợp tổ chức tiêm phòng 2 đợt cho gia súc, kết quả đạt 100%
Về Lâm Nghiệp
Năm 2008, dự án WR về bảo tồn đa dạng sinh học đã cùng với địa phương đã thành lập một hợp tác xã về sản xuất cơ chế tinh dầu sả Hiện nay hợp tác xã này vẫn duy trì hoạt động có hiệu quả
Nhìn chung nền kinh tế của địa phương đang gặp nhiều khó khăn Kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi Những lúc nông nhàn nhân dân thường gia công hạt điều Vì vậy mức sống và thu nhập của nhân dân còn rất thấp
Năm 2009, thu nhập bình quân đầu người của xã đạt 7,5 triệu/người/năm Là một xã thuần nông, lực lượng lao động chủ yếu tham gia sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và kinh tế từ rừng.Vì vậy, tỉ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 80% Các ngành dịch vụ và lâm nghiệp chiếm 15%, còn lại khoảng 5% là lao động công nghiệp ( chủ yếu là lao động trẻ đi làm tại các khu công nghiệp ngoài tỉnh )
Năm 2010, công tác QLBVR vẫn được chú trọng từ việc tuần tra, kiểm soát đến
xử lý các trường hợp vi phạm lấn chiếm rừng, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép Tuy nhiên, tình hình phát rừng làm rẫy, vận chuyển, tàng trữ và mua bán lâm sản trái phép trong năm vẫn diễn biến khá phức tạp Từ đầu năm tới nay các ngành chức năng của xã và huyện đã phát hiện và thu giữ trên 21m3 gỗ và các lọai tàng trữ trái phép tại địa bàn thôn 5 và thôn Đạ Nhar với 29 vụ vi phạm không rõ đối tượng, tịch thu 4 cưa máy và 20 xe máy và đưa về Hạt Kiểm Lâm huyện Xảy ra 4 vụ cháy rừng làm thiệt hại 5,3ha rừng, trong đó có 1,5ha là trồng của 1 hộ được giao năm 2008 Phát hiện 7
vụ phát rừng trái phép làm thiệt hại 1,3ha tại tiểu khu 537, 538, 527 Phối hợp với công ty Lâm Nghiệp Đạ Tẻh tổ chức đi giải tỏa diện tích phát rừng làm rẫy trái phép năm 2009 của bà con dân tộc Đạ Nhar là hơn 20ha
Trang 242.2.2.3 Cơ sở hạ tầng
Về điện
Hệ thống điện lưới của xã đã cơ bản phủ kín 7/7 thôn, đảm bảo cho việc cung cấp điện sinh hoạt, sản xuất cho nhân dân Tổng chiều dài của đường điện trung thế là 8.680m, đường điện hạ thế dài 8.160m, có 10 trạm điện trên tổng số hộ sử dụng
là 765 hộ Tỉ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên và an toàn trên địa bàn xã hiện đã đạt 95%
Về giao thông
Hệ thống đường giao thông của xã hiện nay cơ bản đảm bảo giao thông đi lại và vận chuyển hàng hóa Tuyến đường trục chính liên xã được bê tông nhựa hóa kéo dài 8,3km.Tổng số đường liên thôn của xã có 15km, nhờ có chương trình 135 giai đoạn I, dự án hạ tầng cơ sở nông thôn (HTCSNT) dựa vào cộng đồng đã tiến hành nâng cấp và đổ đá cấp phối được 9/15km đường liên thôn Các tuyến đường xóm có tổng chiều dài là 9km hiện toàn bộ vẫn là đường đất chưa được nâng cấp, đi lại rất khó khăn Là địa bàn chưa quy hoạch được việc bố trí dân cư và khu vực sản xuất tập trung, hiện nay dân ở rải rác trên diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình
Vì vậy, toàn bộ các tuyến đường thôn, xóm và các tuyến đường dân cư không có đường ra vùng sản xuất tập trung
Hiện trạng đường:
+ Đường liên huyện: đã bê tông nhựa, đạt 100%
+ Đường liên thôn: toàn bộ đã được đổ đá cấp phối
+ Đường liên xóm: toàn bộ chưa được cứng hóa, nhựa hóa
2.1.2.4 Trường học
Địa phương đã có đủ 3 bậc học gồm: Mầm non, Tiểu học và THCS
Cơ sở trường lớp được đầu tư xây dựng khang trang, thiết bị phục vụ dạy và học đảm bảo Quãng đường từ nhà đến trường không quá xa Chất lượng giáo dục luôn được địa phương quan tâm Chính vì vậy, tỷ lệ đậu tốt nghiệp, lên lớp thẳng luôn đạt ở mức cao
2.2.2.5 Y tế
Hiện xã đã có trạm y tế tại khu vực trung tâm và một phân trạm đặt ở khu vực thôn có ĐBDT gốc địa phương Năm 2008, trạm y tế xã đã được công nhận là trạm chuẩn quốc gia
Trang 252.2.3 Đánh giá chung về thực trạng của xã
2.2.3.1 Những thuận lợi
Địa phương có nguồn tài nguyên đất dồi dào, hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu
tư xây dựng cơ bản, kênh mương nội đồng được từng bước kiên cố hóa dẫn nước về tưới cho diện tích lúa 3 vụ Đặc biệt, Đảng và Nhà nước đã có các chương trình hỗ trợ sản xuất đối với người dân
Hàng năm, địa phương tổ chức mở lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật giúp người dân áp dụng vào sản xuất Xã có nguồn nhân lực lao động dồi dào, nhân dân cần
cù lao động sản xuất
Tập quán canh tác thủ công đã từng bước được thay thế vào phương thức sản xuất mới như đưa cơ giới hóa vào sản xuất…Sản phẩm từ nông nghiệp đã mang tính hàng hóa và có lợi nhuận sau khi đã trừ hết chi phí đầu tư
2.2.3.2 Những khó khăn
Thực trạng của địa phương hiện nay vẫn là một địa bàn kinh tế xã hội chậm phát
triển Địa hình không bằng phẳng là điều kiện khó khăn trong việc chỉ đạo sản xuất, diện tích đất chuyên canh tác trồng lúa không tập trung, nhân dân sản xuất manh mún không đồng trà, đồng vụ gây khó khăn cho việc quản lý dịch hại
Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn yếu, đầu tư cho sản xuất còn chưa đáp ứng với yêu cầu của quy trình kỹ thuật
Hệ thống đường giao thông nông thôn chưa được hoàn thiện Thủy lợi chưa đảm bảo Cơ sở vật chất còn thiếu thốn Tỉ lệ hộ nghèo còn cao, thu nhập bình quân đầu người thấp
Về y tế việc khám và chữa bệnh chưa được đảm bảo
Cơ cấu lao động chưa phù hợp, tỉ lệ lao động được đào tạo nghề còn rất thấp Chưa có sự phát triển mạnh các hình thức sản xuất theo mô hình hợp tác xã và kinh tế trang trại Việc quy hoạch phát triển hạ tầng KT - XH môi trường theo tiêu chuẩn chưa đạt, chưa quy hoạch được các khu dân cư có hướng văn minh
2.2.4 Tổng quan về thôn Đạ Nhar
Thôn Đạ Nhar còn có tên gọi khác là thôn 7 là một thôn vùng sâu vùng xa thuộc
xã Quốc Oai
Trang 26Là địa bàn tập trung nhiều ĐBTS sinh sống, trong đó có 217 hộ tương ứng với
899 khẩu là đồng bào Mạ chiếm 23,92% dân số toàn xã, với dân số của xã là 907 hộ tương ứng với 3.872 khẩu Địa bàn thôn có địa hình phức tạp, không có hệ thống thủy lợi để phục vụ nước tưới trong mùa khô, người dân chủ yếu canh tác cây điều và lúa nương.Việc thay đổi về tập quán canh tác chưa thể chuyển biến do trình độ hiểu biết
để tiếp cận với khoa học kỹ thuật còn hạn chế nhất định Một vài năm trở lại đây do điều kiện thời tiết nên cây điều liên tục mất mùa làm cho đời sống của người dân càng gặp nhiều khó khăn Nguồn thu nhập để cải thiện cuộc sống chủ yếu trông vào nghề khai thác lâm sản phụ và làm thuê cho các chủ rừng Tỷ lệ hộ nghèo chiếm khá cao so với mặt bằng chung của huyện
Đây là những đặc điểm cơ bản về đời sống của người dân tại thôn Đạ Nhar cũng chính là những khó khăn, hạn chế trong việc phát triển kinh tế xã hội chung của
xã Quốc Oai
Hình 2.1 Bản Đồ Phác Thảo Thôn Đạ Nhar, Xã Quốc Oai
Nguồn: KQĐT
Trang 27CHƯƠNG 3
CƠ SỞ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở luận
3.1.1 Khái niệm và một số đặc điểm về người dân tộc thiểu số
Trên thế giới có nhiều khái niệm về dân tộc thiểu số (DTTS) của các tổ chức phát triển
Năm 2010, theo ngân hàng thế giới: DTTS là cộng đồng người có những đặc điểm riêng biệt liên quan tới tính gắn bó với đất đai của tổ tiên, với các thiết chế xã hội truyền thống, sản xuất tự cung tự cấp, có ngôn ngữ, nhận dạng, bản sắc xã hội và văn hóa
Sản xuất tự cung tự cấp là đặc điểm kinh tế nổi bật Do những hoàn cảnh riêng
họ thường có địa vị xã hội và kinh tế thấp Tất cả những điều đó làm hạn chế khả năng bảo vệ các lợi ích và chủ quyền đất đai và nguồn lực sản xuất khác, hạn chế khả năng tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển cho chính họ, cũng như làm cho họ dễ bị thiệt thòi trong quá trình phát triển Về mặt đời sống và thu nhập, các DTTS là bộ phận dân cư nghèo nhất trong xã hội Văn hóa, đất đai và các nguồn lực kết hợp với nhau một cách độc đáo và dễ bị tổn thương bởi những hay đổi do phát triển dự án gây ra
Dù khác nhau về tên gọi, địa bàn cư trú, nguồn gốc lịch sử và tiếng nói, các dân tộc Việt Nam có đặc điểm chung là dân số ít, cư trú xen kẽ, sống chủ yếu ở vùng núi
và cao nguyên, trình độ phát triển KT – XH không đồng đều, văn hóa đa dạng nhưng thống nhất Để nhận diện sự phát triển không đồng đều và nhằm phục vụ công tác giảm nghèo, UBDT&MN đã phân phối cả nước thành 3 vùng có đời sống khác nhau là vùng I (hay vùng thấp, có đời sống từ đủ ăn đến khá giả), vùng II (hay vùng giữa, có
Trang 28đời sống tạm ổn dịnh) và vùng III (hay vùng cao, đời sống thấp kém, với 60% dân số hộ trở lên thuộc diện nghèo đói)
Khái niệm cộng đồng thường dùng để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về qui mô và đặc tính xã hội Ý nghĩa rộng lớn nhất của cộng đồng là tập hợp người với các liên minh rộng lớn như toàn thế giới (cộng đồng thế giới), một châu lục (cộng đồng Châu Á, cộng đồng Châu Âu…), một khu vực (cộng đồng ASEAN)
Cộng đồng được áp dụng để chỉ một kiểu xã hội, căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc, hay tôn giáo Nhỏ hơn nữa, cộng đồng còn được dùng khi gọi tên các đơn vị như làng/bản, xã, huyện… những người chung về lý tưởng
xã hội, lứa tuổi, giới tính, thân phận xã hội…
3.1.2 Một số vấn đề về nông thôn
3.1.2.1 Kinh tế hộ gia đình và đặc điểm kinh tế hộ gia đình miền núi
Kinh tế hộ gia đình là loại hình sản xuất tự cấp tự túc kết hợp với sản xuất hàng hóa chủ yếu dựa trên sức lao động và tư liệu sản xuất của hộ gia đình Kinh tế hộ gia đình giữ vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho các hộ nông dân ở miền xuôi cũng như miền núi
Do điều kiện đặc thù về kinh tế - sinh thái miền núi nên kinh tế gia đình ở đây cũng có những đặc điểm riêng:
- Kinh tế hộ gia đình thường phát triển tổng hợp, nhiều ngành nghề, mức độ chuyên môn hóa chưa cao Ở miền núi, kinh tế hộ gia đình thường gắn liền sản xuất nông nghiệp với sản xuất lâm nghiệp tạo thành hệ sinh thái bền vững khép kín theo mô hình RVAC
- Miền núi thường nằm ở thượng nguồn các sông, suối cho nên cần chú ý đến yêu cầu phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh thái khi lựa chọn các biện pháp kinh doanh
- Kinh tế hộ gia đình chủ yếu sủ dụng lao động trong gia đình hoặc anh chị em
họ hàng, nhưng vẫn có thể mướn lao động ngoài khi sản xuất thời vụ hay đột xuất
- Vì ít vốn nên khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật đang ở giai đoạn đầu,
kỹ thuật đơn giản, quy mô nhỏ, ít tốn kém và dễ áp dụng
Trang 29Tuy nhiên cùng với nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì lao động
hộ gia đình sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển thành kinh tế trang trại một
số chủ hộ tích lũy được kinh nghiệm và tiền vốn, nắm được kỹ thuật mới và mở rộng quan hệ kinh tế bên ngoài, thuê thêm nhân công, mua sắm thêm máy móc thiết bị để sản xuất mở rộng Đó là con đường phát triển của kinh tế hộ gia đình đi lên kinh tế trang trại
3.1.2.2 Phát triển nông thôn (PTNT)
Khái niệm phát triển nông thôn
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về PTNT Mỗi tổ chức hoặc chương trình PTNT có thể có khái niệm phù hợp nhất với mục tiêu hoạt động và diều kiện kinh tế
xã hội đặc thù Như vậy không có một định nghĩa duy nhất về PTNT Các định nghĩa khác nhau về PTNT được xây dựng thể hiện tính đa dạng và phức tạp của lĩnh vực này Mỗi định nghĩa có ý nghĩa định hướng hoat động này trong những giai đoạn và phạm vi nhất định Theo khái niệm chung nhất PTNT là hoạt động phát triển kinh tế xã hội ở các vùng nông thôn, nó chú trọng nhiều đến phát triển con người Đây là một phạm trù rộng được nhận thức với nhiều quan điểm khác nhau PTNT đã được nghiên cứu từ lâu và có sự thay đổi về nhận thức qua các thời kỳ khác nhau
Ngân hàng thế giới (WB, 1995) đã đưa ra định nghĩa: “PTNT là một chiến lược cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển” Chiến lược này cũng nhằm mở rộng phúc lợi của quá trình phát triển cho những cư dân nông thôn, những người đang tìm kiếm sinh kế ở nông thôn
Phát triển nông thôn cũng không thể tách rời nguyên lý chung của sự phát triển PTNT cũng hướng vào ba thành phần cơ bản của sự phát triển đó là: Kinh tế, xã hội và môi trường Bên cạnh đó, PTNT còn quan tâm đến tăng cường, hợp tác của con người
và năng lực cộng đồng để phát triển nông thôn
Từ những đặc trưng của nông thôn, người ta tìm thấy PTNT cũng phải giải quyết các thành phần của nó:
Trang 30 Phát triển kinh tế
Nông thôn có những đặc trưng riêng và hầu như đó là những vấn đề khó khăn ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển Thực tế kinh tế ở nông thôn rất đơn giản về loại hình và ngành nghề cũng chậm phát triển Thành phần chủ yếu tập trung ở kinh tế nông hộ và hoạt động chính là sản xuất nông nghiệp, các ngành phi nông nghiệp cũng như công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và xây dựng chưa phát triển hoặc phát triển chậm Vì vậy, phát triển kinh tế nông thôn phải chú ý đến nhiều thành phần kinh tế, chú ý đến nhiều khâu trong quá trình sản xuất, đồng thời cải tiến sản xuất với mở rộng thị trường tiêu thụ
- Cải tiến quá trình đầu tư, đầu vào của sản xuất:
Các yếu tố đầu vào của nông nghiệp bao gồm: đất đai, giống, phân bón, nước, lao động, trang thiết bị, vốn sản xuất… Nó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất,
mà cụ thể là khả năng tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, cải tiến quy trình lao động Cải tiến quá trình đầu tư nhằm sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có thông qua việc áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp quản lý và canh tác mới trong tất
cả các khâu của sản xuất từ làm đất, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch Thực hiện cơ giới hóa sản xuất và đưa KH – CN vào sản xuất, tạo đa dạng hóa và tối đa hóa nông sản để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Muốn vậy cần xác định các loại cây trồng, vật nuôi thích hợp cho địa phương gắn với quy hoạch sản xuất, hình thành các vùng chuyên canh trên cơ sở lợi thế so sánh và tiềm năng của địa phương, vùng
- Cải tiến quá trình tổ chức và quản lý sản xuất
Đây là quá trình có sự tham gia của con người để quản lý các yếu tố đầu vào để thực hiện sản xuất Tổ chức phân công lao động và bố trí sử dụng các yếu tố sản xuất hợp lý để tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm Quá trình này bị chi phối bởi kỹ năng, trình độ của người lao động và người quản lý cũng như trình độ kỹ thuật của trang thiết bị máy móc và quy trình kỹ thuật sản xuất Vấn đề đào tạo, huấn luyện cung cấp kiến thức cho người sản xuất là hết sức quan trọng để cải tiến quá trình tổ chức và quản lý sản xuất
- Cải tiến quá trình tiêu thụ sản phẩm
Thực tế hoạt động sản xuất nông nghiệp ở nông thôn thực hiện bởi nông hộ phân tán, thiếu tập trung và hầu như mang tính tự cấp tự tự túc Vì thế tiêu thụ sản
Trang 31phẩm ở nông thôn thiếu linh hoạt bị chi phối bởi tư thương và nhiều cấp trung gian Hơn thế nữa thiếu thông tin về thị trường cũng ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở nông thôn
Cải tiến quá trình tiêu thụ nông sản phẩm chú ý đến mở rộng thị trường tiêu thụ,
mở rộng hoạt động chế biến và bảo quản nông sản để nâng cao chất lượng sản phẩm,
đa dạng sản phẩm hoàn chỉnh để thỏa mãn người tiêu dùng Đồng thời phải cung cấp thông tin và xây dựng mạng lưới thu mua, tiêu thụ sản phẩm như các hoạt động liên kết với các xí nghiệp, các công ty nông nghiệp có liên quan đến quá trình cải tiến tiêu thụ
Phát triển về mặt xã hội
- Song song với phát triển kinh tế, còn đáp ứng nhu cầu về mặt xã hội Đó
là những vấn đề việc làm, thu nhập giáo dục, y tế, nhà ở và các phúc lợi xã hội khác…
- Giải quyết việc làm: Phải dựa trên nền sản xuất nông nghiệp vơi quá trình phát triển, mở rộng các ngành nghề, dịch vụ có liên quan Ngành nghề và dịch vụ cần
đa dạng và hợp lý trong cơ cấu nông nghiệp và cơ cấu kinh tế chung
Giải quyết việc làm ở nông thôn cũng phải chú ý đến tính chất, quy mô và trình
độ ngành nghề Nói như vậy cũng có nghĩa là không phải thoát ly sản xuất nông nghiệp một cách thái quá vì mở rộng ngành nghề mà cần có định hướng cho hợp lý Đầu tư cho sản xuất nông nghiệp thật tốt, sắp xếp phân công lao động dư thừa từ sản xuất nông nghiệp vào các ngành nghề mới thích hợp nhằm tăng thu nhập cho người lao động và cải thiện đời sống ở nông thôn
- Cải tiến thu nhập:
Tăng nguồn thu cho nông dân, nông thôn phải gắn với hoạt động mở rộng
và phát triển sản xuất, chứ không phải thụ động chờ viện trợ hoặc cứu đói Song song với quá trình sử dụng công nghệ mới vào sản xuất, còn tạo điều kiện để người dân có kiến thức chuyên môn, kỹ năng canh tác và năng lực quản lý tài nguyên sẵn có nhằm tạo ra nhiều thu nhập Cải tiến kỹ thuật, chuyển giao phương pháp, giới thiệu nhiều kiểu canh tác, sản xuất có hiệu quả kinh tế để người sản xuất áp dụng
- Về quy hoạch dân cư nông thôn
Tình trạng phân bố dân cư theo tự nhiên đã ảnh hưởng nhiều đến năng lực sản
Trang 32khó khăn trong quá trình nâng cấp cơ sở hạ tầng cho nông thôn và gây lãng phí không cần thiết Quy hoạch dân cư nhằm ảnh hưởng đến giải pháp tối ưu về bố trí sản xuất theo hướng CNH và tạo điều kiện hình thành khu dân cư theo chuẩn mực mới, đảm bảo yêu cầu vệ sinh và thực hiện văn minh nông thôn Song cũng thừa nhận rằng suy nghĩ và phong tục xưa nay ở nông thôn cũng rất khó khăn để hoàn chỉnh quy hoạch đang có Vì vậy, trước mắt cần chú trọng những vùng quy hoạch khu dân cư mới và cải tạo dần những khu đã có từ lâu nhằm thực hiện tốt các công trình cấp thoát nước và
vệ sinh nông thôn
- Tăng cường giáo dục, y tế, nước sạch và chăm sóc sức khỏe cho người dân nông thôn:
- Cần có đầu tư của Nhà nước để phát triển lĩnh vực này, tạo điều kiện để phát triển nông thôn về mặt phúc lợi xã hội Trước tiên, cần thông tin sâu rộng chủ trương của Nhà nước trong giáo dục xóa mù chữ, cải tiến phòng học, cải tiến điều kiện giảng dạy…để trẻ em trong độ tuổi đều phải đến trường Bên cạnh đó, cũng cần trang bị những cơ sở kỹ thuật tiên tiến để khám và chữa bệnh tại địa phương của người dân, đào tạo và bồi dưỡng tay nghề chuyên môn cho cán bộ y tế cơ sở để đáp ứng nhu cầu của sự phát triển
- Về văn hóa:
Lễ hội, phong tục tập quán truyền thống có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất
và đời sống của người dân nông thôn Một mặt, nó giúp cho người dân tin tưởng vào một mùa bội thu Mặt khác, nó giúp họ thỏa mái hơn sau những giờ làm việc mệt mỏi
Vì vậy, duy trì và phát triển văn hóa nông thôn sẽ góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân
Chú trọng đến môi trường trong quá trình phát triển
Đó là vấn đề ổn định và cải thiện tốt hơn môi trường tự nhiên và môi trường sống trong quá trình khai thác tài nguyên phục vụ sản xuất vì nhu cầu của con người Môi trường nông thôn hiện nay cũng đang chịu nhiều áp lực của phát triển Khai thác
và sử dụng tài nguyên nông thôn đã làm suy thoái môi trường, nhất là vấn đề khai thác rừng quá độ, sử dụng quá nhiều chất độc trong sản xuất Vì vậy cần áp dụng những phương pháp canh tác mới, quy trình kỹ thuật mới nhưng vẫn đáp nhu cầu kinh tế, giải quyết nhu cầu xã hội và cải thiện môi trường nói chung
Trang 333.1.3 Khái niệm hệ thống canh tác
3.1.3.1 Khái niệm hệ thống canh tác
Thuật ngữ tiếng Anh “Farming systems” ngày nay được sử dụng rất phổ biến trong nghiên cứu và phát triển sản xuất nông nghiệp của nhiều quốc gia trên thế giới
Hệ thống canh tác và hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems) trong nhiều trường hợp theo một số tác có thể dùng thay thế cho nhau (Phạm Chí Thành, 1998) Tuy nhiên nói đến hệ thống canh tác là nói đến sản xuất nông nghiệp trong phạm vi vùng sản xuất nhỏ hẹp, một nông trại, trong đó nông hộ được coi như tế bào hợp thành và thường được quan tâm trong nghiên cứu, phát triển hệ thống canh tác (PGS.TS.Phạm Văn Hiền và TS TRần Danh Thìn, 2009)
3.1.3.2 Các thuộc tính của hệ thống canh tác:
Thông thường, có 5 yếu tố được sử dụng để mô tả hay đánh giá một hệ thống canh tác (Conway, 1985; Cúc và ctv, 1990) là:
- Khả năng sản xuất: khả năng sản xuất hoặc thu nhập trên một đơn vị tài
nguyên (đất, lao động, năng lượng, vốn…)
Thí dụ: kg lúa sản xuất trên một ha hàng năm, thu nhập hàng năm của nông hộ, thu nhập thuần trên một hecta,…
- Tính ổn định: mức độ khả năng sản xuất được duy trì theo thời gian đáp ứng
với các biến động ở quy mô nhỏ về môi trường như điều kiện kinh tế thị trường, điều kiện thời tiết
- Tính vững bền: Khả năng sản xuất của một hệ thống được duy trì theo thời
gian khi có những vấn đề bất lợi hoặc những sự đảo lộn sẽ xảy ra
Các bất lợi là những xáo trộn có thể dự đoán được, có quy mô nhỏ, và đôi khi kéo dài (như gia tăng nồng độ muối trong đất, suy giảm độ phì đất, nông dân mắc nợ, giống cây trồng mất tính kháng…) Sự đảo lộn ở đây là những xáo trộn bất thường, không thường xuyên, không dự đoán được, nhưng khá nghiêm trọng (như một dịch hại mới phát sinh, đợt lũ hay hạn hán bất thường, biến động lớn về chính trị…)
- Tính công bằng: Sự phân bố sản phẩm hay lợi nhuận của hệ thống đến những
người tham gia quá trình sản xuất, hoặc những người thụ hưởng trong cộng đồng như thế nào
Trang 34Hệ thống càng mang tính công bằng cao khi lương thực, thu nhập, các nguồn tài nguyên hay các sản phẩm nông nghiệp được chia sẻ một cách công bằng trong các thành viên của nông trại, làng xã, khu vực, hay quốc gia
- Lợi nhuận: khả năng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất và xã
hội
3.1.3.3 Phương pháp nghiên cứu hệ thống canh tác
Mục tiêu nghiên cứu hệ thống canh tác
- Nhằm bố trí canh tác hợp lý để sử dụng tối ưu các tài nguyên từng vùng sinh thái và của nông hộ
- Nhằm tác động các biện pháp kỹ thuật thích hợp với điều kiện tự nhiên và bối cảnh kinh tế, xã hội, tập quán canh tác và hoàn cảnh nông dân
- Nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo phát triển bền vững
Đặc trưng của nghiên cứu - hệ thống canh tác
- Như vậy, đặc trưng của nghiên cứu HTCT (farming system research/FSR)
là sự tập trung vào các nông trại nhỏ như hệ thống cơ bản cho nghiên cứu và phát triển, và sự tham gia của chính người nông dân vào tất cả các giai đoạn của tiến trình nghiên cứu và phát triển (Gilbert và ctv, 1980; Harwood,1979; Norman, 1980; Shaner và ctv, 1982)
- Ngoài ra, còn phải kể đến tính liên ngành, sự kết hợp chặt chẽ giữa khoa học tự nhiên - kỹ thuật và khoa học kinh tế - xã hội, giữa cán bộ địa phương - nông dân - nhà nghiên cứu - người hoạch định chính sách
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu ngẫu nhiên 70 hộ người Mạ ở thôn Điều tra 70 hộ người Mạ, đồng thời tiến hành phỏng vấn sâu những người am hiểu trong thôn, những người đã sống lâu năm tại địa bàn, cán bộ thôn là người Mạ, các cán bộ xã Quốc Oai, một số người
Mạ sống lâu năm tại huyện Đạ Tẻh, Ban dân tộc Thị Trấn Đạ Tẻh – huyện Đạ Tẻh
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.2.2.1 Số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu từ UBND xã Quốc Oai, Ban dân tộc huyện Đạ Tẻh, và từ sách báo, tạp chí, internet
Trang 353.2.2.2 Số liệu sơ cấp
Thu thập số liệu từ bảng điều tra những thông tin của 70 hộ người Mạ tại thôn
Đạ Nhar Ngoài ra, đề tài còn tiến hành phỏng vấn sâu 10 người Mạ sống đã lâu (trước khi huyện Đạ Tẻh được thành lập) tại địa bàn thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
Tính toán và sử lý số liệu bằng phương pháp khoa học dựa trên cơ sở các kiến thức đã được trang bị từ các môn học
Dùng phương pháp quan sát, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích ma trận SWOT, phương pháp biểu đồ lịch thời vụ, phương pháp ma trận so sánh bắt cặp xếp hạng, phần mềm Word, Excel để mô tả, tính toán, tổng hợp số liệu thu thập được
3.2.3.1 Phương pháp quan sát
Quan sát trực tiếp là quan sát một cách có hệ thống các đối tượng, sự kiện, quá trình, quan hệ, hoặc con người và ghi chép lại các quan sát Quan sát trực tiếp là một cách tốt để kiểm tra chéo các kết quả của bảng điều tra
Phương pháp này được áp dụng rộng rãi ở mọi lúc, mọi nơi để nghiên cứu, phát hiện thực trạng vùng quan sát Ngoài ra còn được dùng để thẩm định và kiểm tra các loại thông tin thu được cũng như nhu cầu và giải pháp thực hiện do người dân đề ra
3.2.3.2 Phương pháp mô tả
Đây là phương pháp thu thập thông tin, số liệu nhằm đánh giá tổng quát đặc trưng về một mặt nào đó của tổng thể cần nghiên cứu Trong phạm vi đề tài này, phương pháp được sử dụng để trình bày về hiện trạng các hệ thống canh tác, thực trạng đời sống của người dân ở địa bàn nghiên cứu
3.2.3.3 Phương pháp SWOT
Là phương pháp thu thập, phân tích, và đánh giá nguồn thông tin cung cấp bởi nông dân và những người khác trong cộng đồng, hoặc từ các tài liệu sẵn có Nó được dùng để xác định bối cảnh, tình hình hiện tại và khả năng tương lai về mặt kinh tế - xã hội cũng như sản xuất tại thời điểm nhất định trong một cộng đồng, hay trong một nông hộ qua đánh giá các mặt mạnh (Strength), yếu (Weakness), triển vọng
Trang 36- Mạnh: các điều kiện, phẩm chất, nguồn tài nguyên thúc đẩy tăng trưởng sản xuất và
do đó góp phần vào sự phát triển tốt hơn
- Yếu: các yếu tố bất lợi, những điều kiện không thích hợp làm cản trở sự phát triển Hai mặt trên biểu thị cho điều kiện tại chỗ và hiện tại
- Triển vọng: những phương hướng cần được thực hiện nhằm tối ưu hóa các điều kiện phát triển, các biện pháp thực hiện để đạt được các mục tiêu đề ra
- Rủi ro: Các yếu tố có khả năng tạo ra những kết quả xấu, không mong đợi làm hạn chế hoặc triệt tiêu sự phát triển
Hai mặt này có thể hoặc không xảy ra trong hiện tại, chỉ là những dự đoán
3.2.3.4 Phương pháp biểu đồ lịch thời vụ
Dùng để xác định sự phân bố mùa vụ và các hoạt động sản xuất khác nhau trong
mối liên quan với các yếu khí tượng (mùa mưa – khô, thời gian bị ngập lũ, thời hay xảy ra bão…), diễn biến xuất hiện dịch hại, diễn biến nhu cầu về vật tư, lao động, tiền vốn, chi tiêu… qua từng tháng trong năm
3.2.3.5 Phương pháp ma trận so sánh bắt cặp xếp hạng
- Liệt kê tất cả các vấn đề khó khăn trên bảng theo chiều ngang và so sánh từng cặp, ghi vào ô tương ứng vấn đề quan trọng hơn
- Đếm số lần xuất hiện của từng vấn đề khó khăn
- Sắp hạng theo số lần xuất hiện
3.2.3.6 Phương pháp bản đồ phác thảo về địa điểm
Bản đồ phác thảo về địa điểm là những bản vẽ phác họa được thực hiện với sự tham gia của một số người chủ chốt trong cộng đồng Chúng thể hiện thông qua hiểu biết của người dân về sự bố trí các tài nguyên, các hoạt động, cơ sở hạ tầng, các khó khăn và thuận lợi, v.v…của khu vực sinh sống của cộng đồng
3.2.3.7 Phương pháp trắc đồ (lắt cắt)
Trắc đồ là một mặt cắt đứng đi ngang qua một vùng nghiên cứu trên đó có mô
tả những đặc điểm chủ yếu về hoạt động sản xuất, các nguồn tài nguyên đất, nước, vật nuôi, tôm cá, thủy sản, …cùng những hạn chế trở ngại và những cơ hội triển vọng
phát triển
Trắc đồ có thể thể hiện theo hướng Bắc – Nam hoặc từ cao xuống thấp, hoặc
theo hướng lựa chọn khác sao cho có thể bao hàm được các tiểu vùng sinh thái và sản
Trang 37xuất chính, đảm bảo thể hiện một cách tối đa các biến thiên địa hình, tài nguyên, điều kiện kinh tế xã hội của cộng đồng Đối với cộng đồng lớn và đa dạng có thể cần rất nhiều trắc đồ
Trắc đồ rất thông dụng trong việc mô tả hệ sinh thái nông nghiệp, cũng như giúp hiểu được các hoạt động sản xuất chủ yếu trong vùng hay trong một nong trại riêng lẽ
Trang 38CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Lịch sử di cư của đồng bào Mạ tại thôn Đạ Nhar và nguồn gốc đất đai tại thôn
4.1.1 Vài nét chung về cộng đồng người Mạ truyền thống
- Tên gọi khác: Châu Mạ
- Tiếng nói của người Mạ thuộc ngữ hệ Nam Á
- Ngôn ngữ: Môn - Khơme
- Lịch sử: Người Mạ là một dân tộc thiểu số bản địa ở tỉnh Lâm Đồng
Đặc điểm văn hóa – xã hội
Về lương thực – thực phẩm: Nguồn lương thực chính của người Mạ là cây lúa nương, còn thực phẩm là các loại rau rừng và các loại rau bầu, bí, mướp, trồng xen trên rẫy lúa Họ còn đánh bắt cá và làm bẫy các loại thú rừng để cải thiện thêm bữa ăn hàng ngày Cơm được đựng trong một vật được kết từ một loại cỏ có tên gọi là rlơ, đôi khi có trang trí hoa văn và đường viền
Lúc bấy giờ, người ta chủ yếu uống nước suối không đun sôi, nước được trữ trong quả bầu hồ lô Họ nhận ra nước chứa trong quả bầu này rất mát và ngọt hơn nước khi chưa rót vô bầu
Về nơi ở: Người Mạ sống tập trung ở tỉnh Lâm Đồng, một số ở Đăk Lăk, Đồng Nai Họ sống trong những ngôi nhà sàn cao để chống thú dữ Khi ở vùng đất bằng những gia đình lớn (đông người, nhiều thế hệ, có cùng huyết thống) sống chung một ngôi nhà dài (hìu rọt) để thuận tiện cho việc giúp đỡ nhau trong cuộc sống cũng như trong sản xuất
Trang phục: Thông thường, đàn ông đóng khố, mặc áo; phụ nữ mặc áo, quấn váy Phụ nữ lớn tuổi ưa đeo nhiều trang sức, thường dùng các vòng kim loại và chuỗi cườm, các loại hoa tai lớn bằng ngà voi được ưa chuộng
Trang 39Phương tiện vận chuyển và phương tiện sản xuất: những chiếc gùi rất thông dụng đươc đan từ cây mung (Hình 1, phụ lục 4) vừa là phương tiện vận chuyển vừa là công cụ thu hoạch Phương tiện sản xuất như các lọai cuốc, xà gạc (hình 2, phụ lục 4), rìu (hình 3, phụ lục 4) Ngoài ra, họ còn làm các cây nỏ để phục vụ cho hoạt động săn bắn, các dụng cụ được đan từ cây mung để đi bắt cá
Hôn nhân gia đình: nhà trai chủ động trong hôn nhân, nếu chưa nộp đủ sính
lễ cho nhà gái thì sau lễ cưới chú rễ phải sang ở nhà vợ Mức độ sính lễ tùy theo mỗi gia đình quy định Sính lễ trước đây thường là các loại cồng, chiêng, chóe quý, chóe rượu cần, tấm chăn bằng thổ cẩm Sau khi tổ chức đám cưới xong, chú rễ và gia đình chú rễ phải thịt heo mời nhà gái và mọi người trong làng để tỏ lòng biết ơn của chú rễ
và gia đình chú rễ đối với gi đình của cô dâu
Tín ngưỡng: Trước đây, người Mạ chủ yếu thờ ông bà tổ tiên, các vị thần: thần sông, thần núi, thần nông Ngày nay, ngoài loại hình tín ngưỡng nêu trên, các tôn giáo khác như đạo tin lành, thiên chúa giáo, đạo phật đã xâm nhập vào một số bộ phận người Mạ
Văn hóa: Người Mạ có nhiều truyện cổ, truyền thuyết, thần thoại độc đáo nhưng chỉ được truyền miệng, lớp người xưa đã không còn nhiều, thế hệ sau chưa tích cực gìn giữ những văn hóa kể trên nên đã dần bị mai một Người Mạ có nhiều nhạc cụ truyền thống độc đáo như bộ cồng chiêng, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc
3 lỗ gắn vào trái bầu khô Nhưng cho đến nay những nhạc cụ này và người biết sử dụng chúng thường rất hiếm Những nhạc cụ này không còn nhiều đa phần vì khi chủ nhân của chúng mất đi chúng cũng được chôn theo dưới đáy mồ, bởi đó là những vật quý của chủ nhân khi còn sống
Trang 404.1.2 Lịch sử di cư của đồng bào Mạ tại thôn Đạ Nhar và nguồn gốc đất đai
Bảng 4.1 Lịch Sử Di Cư của Đồng Bào Mạ tại Thôn Đạ Nhar và Nguồn Gốc Đất Đai tại thôn
Nguồn: Điều Tra và Tổng Hợp
Trước
1975
- Địa phận nay thuộc huyện Đạ Tẻh lúc bấy giờ thuộc huyện Đạ Huoai, gồm 3 xã Xi Nhanh
(thuộc xã Quốc Oai), Lú Tôn (Thị Trấn Đạ Tẻh), Hợp Vông (xã Triệu Hải, huyện Đạ Tẻh)
- Người dân của 3 xã này gọi chung là dân vùng 3
- Người dân sinh sống ở xã Xi Nhanh chính là người Mạ ở thôn Đạ Nhar ngày nay Toàn bộ
dân số của cả 3 xã là người Mạ, chủ yếu sống bằng việc canh tác nương rẫy
- Đất đai vào thời điểm này vẫn là đất rừng, người Mạ đã tự khai hoang và quản lý theo hình
thức cộng đồng
1/1976 - Ba xã Xi Nhanh, Lú Tôn, Hợp Vông được sáp nhập thành liên xã
11/1976 - Liên xã được đổi tên thành Xã Lộc Trung thuộc huyện Bảo Lộc
- Theo chỉ thị của tỉnh Lâm Đồng, để tiến hành cuộc vận động định canh định cư, đồng bào
xã Lộc Trung được bố trí di chuyển từ núi cao xuống vùng đất bằng để lập vườn hộ gia đình và khai hoang làm ruộng nước
1978 - Người dân ở các tỉnh lân cận đã đến xây dựng vùng kinh tế mới
1979 - Tách một phần huyện Bảo Lộc, trong đó có xã Lộc Trung để thành lập huyện Đạ Huoai 6/6/1986 - Huyện Đạ Huoai được chia thành 3 huyện: Đa Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên
- Đồng bào được đầu tư, hỗ trợ vật liệu xây dựng để làm nhà, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất,
chăn nuôi
1988 - Người dân xã Xi Nhanh do không quen với tập quán canh tác ruộng lúa nước nên đã xin
về lại thôn Đạ Nhar ngày nay để tiếp tục canh tác nương rẫy
- Đất đai ở thôn Đạ Nhar lúc bấy giờ thuộc sự quản lý của huyện Đạ Tẻh
89 - 90 - Người dân canh tác cây mía đường theo khuyến khích của Lâm Trường Đạ Nhar
1991 - Người dân chuyển từ canh tác cây mía sang canh tác cây điều theo khuyến khích của nhà
nước (vì lúc bấy giờ cây điều là cây XĐGN) Sau 1991 - Ngoài đất rừng thuộc sự quản lý của Lâm Trường Quốc Oai thì đất đai thuộc địa bàn thôn
trực thuộc sự quản lý của xã Quốc Oai