BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG VỀ LƯỢNG VÀ CÁCH THỨC BÓN CỦA PHÂN BÓN LÁ ĐẾN GIAI ĐOẠN CUỐI THU HOẠCH CÀN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG VỀ LƯỢNG VÀ CÁCH THỨC BÓN
CỦA PHÂN BÓN LÁ ĐẾN GIAI ĐOẠN CUỐI THU HOẠCH
CÀNH HOA (SAU 60 NGÀY) ĐỒNG THỜI TÌM HIỂU ẢNH
HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THUỐC BẢO VỆ CỦ TRƯỚC
GIEO TRỒNG TRÊN CÂY HOA LILY (Lilium.sp)
Họ và tên sinh viên : TRẦN THỊ THẢO
Niên khóa : 2004 – 2008
Trang 2TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG VỀ LƯỢNG VÀ CÁCH THỨC BÓN CỦA PHÂN BÓN LÁ ĐẾN GIAI ĐOẠN CUỐI THU HOẠCH CÀNH HOA (SAU 60 NGÀY) ĐỒNG THỜI TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC
LOẠI THUỐC BẢO VỆ CỦ TRƯỚC GIEO TRỒNG
TRÊN CÂY HOA LILY (Lilium.sp)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô,gia đình và bạn bè đã hết lòng giúp
đỡ, động viên và ủng hộ cho tôi, để tôi có thể hoàn thành xong cuốn luận án này.Trước tiên tôi xin cảm ơn đến:
Ban giám hiệu và toàn thể quý Thầy Cô Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM, ban chủ nhiệm khoa và toàn thể thầy cô giáo trong Khoa Lâm Nghiệp đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt kiến thức cho tôi và đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập tại trường cũng như thời gian tôi thực tập ngoài thực địa
Qua đó tôi xin tỏ lòng biết ơn đến thầy Trần Trọng Nghĩa đã tận tình hướng dẫn
và đã cung cấp một số tài liệu cần thiết cho tôi trong suốt thời gian tôi làm luận án
Và qua đây tôi cũng xin cảm ơn đến thầy Trần Công Doanh cùng với cô chú Thảo Minh, em Phụng và các anh tại vườn trồng hoa Lily của công ty Thảo Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tiến hành làm thí nghiệm tại vườn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Nguyễn Duy Chính giảng viên trường Đại Học Đà Lạt đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian tôi sống và thực tập tốt nghiệp tại thành phố Đa Lạt
Tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn Đinh Văn Cương lớp nông học K30 đã giúp tôi rất nhiều khi tôi thực hiện khóa luận này
Cuối cùng tôi xin gửi lòng biết ơn đến ông bà, bố mẹ, anh trai, em trai đã động viên, giúp đỡ và ủng hộ tôi trong suốt 4 năm theo học tại trường để tôi có được ngày hôm nay
Xin chân thành cảm ơn
Sinh viên:Trần Thi Thảo
Trang 4TÓM TẮT
TRẦN THỊ THẢO, Đại Học Nông Lâm tp.Hồ Chí Minh Tháng 7/2005
“TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG VỀ LƯỢNG VÀ CÁCH THỨC BÓN CỦA PHÂN BÓN
LÁ ĐẾN GIAI ĐOẠN CUỐI THU HOẠCH CÀNH HOA (SAU 60 NGÀY) ĐỒNG THỜI TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THUỐC BẢO VỆ CỦ TRƯỚC
GIEO TRỒNG TRÊN CÂY HOA LILY (Lilium.sp)”
GV hướng dẫn: TRẦN TRỌNG NGHĨA
Đề tài được thực hiện qua 2 nội dung thí nghiêm:
Thí nghiệm 1: Xác đinh cách xử lý, tẩy trùng củ Lily trước khi trồng củ Lily xuống giá thể Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố với 4 lần lặp lại, mỗi nghiệm thức 3 túi bầu và trong mỗi túi bầu trồng 4 cây Lily
NT1 (A): Không xử lý củ (đối chứng)
Trang 5A1: Phân bón tăng 1.5 lần ở tháng thứ 3
A2: Phân bón tăng 2 lần ở tháng thứ 3
Bo: Bón gốc
B1: Bón lá
Mục đích: Xác định được mức phân bón và cách thức bón phân hợp lý nhất tạo điều kiện giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt nhằm nâng cao năng suất chất lượng mang lại hiệu quả kinh tế
Kết quả đặt được: Sau 1 tháng tác động thu được kết quả như sau: Cây hoa LiLy ở nghiệm thức A1B0 đặt kết quả cao nhất ở tất cả các chỉ tiêu theo dõi (trọng
lượng tươi cao hơn, hoa trổ sớm hơn, đều hơn, nụ hoa to hơn, nặng hơn…)
Trang 6MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ x
DANH SÁCH CÁC HÌNH xi
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỞ ĐẦU 2
1.1 Đặt vấn đề 2
1.2 Mục tiêu của đề tài 4
1.3 Mục đích của đề tài 4
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 6
2.1 Đặc điểm kình thái, sinh thái và giá trị kinh tế của đối tượng thí nghiệm 6
2.1.1 Cây Lily 6
2.1.1.1 Đặc điểm hình thái 6
2.1.1.2 Đặc điểm sinh thái 7
2.1.1.3 Gía trị kinh tế 7
2.2 Giới thiệu cây hoa Lily 8
2.2.1 Nguồn gốc và phân loại 8
2.2.1.1 Nguồn gốc 8
2.2.1.2 Phân loại 8
2.3 Cách xử lý giá thể để trồng Lily 8
2.4 Biến động nước 9
2.5 Kỹ thuật trồng Lily trong túi bầu 10
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 11
3.1 Đặc điểm tự nhiên 11
3.1.1 Vị trí địa lý 11
3.1.2 Đặc điểm địa hình 11
Trang 73.1.3 Điều kiện khí hậu 12
3.1.4 Nguồn nước thủy văn 13
3.1.5 Tài nguyên đất 14
3.1.6 Tài nguyên rừng 15
3.1.7 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thành phố Đà Lạt 16
3.1.7.1 Những thuận lợi 16
3.1.7.2 Những hạn chế 17
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 17
3.2.1 Dân số 17
3.2.2 Sự phát triển các ngành kinh tế 17
3.2.3 Các lĩnh vực văn hóa xã hội 18
Chương 4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
4.1 Điều kiện thí nghiệm 19
4.1.1Thời gian và địa điểm thí nghiệm 19
4.1.2 Điều kiện ngoại cảnh 19
4.1.3 Điều kiện kỹ thuật 20
4.1.3.1 Kỹ thuật chăm sóc 20
4.1.3.2 Phòng trừ sâu bệnh 21
4.1.3.3 Phân bón và dinh dưỡng 21
4.2 Nội dung nghiên cứu 23
4.3 Phương pháp nghiên cứu 23
4.3.1 Mô tả thí nghiệm 23
4.3.2 Bố trí thí nghiệm 23
4.3.2.1 Thí nghiệm 1 23
4.3.2.2 Thí nghiêm 2: Thí nghiệm 2_thí nghiệm 2 yếu tố: 24
4.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thu thập số liệu 25
4.3.3.1 Các chỉ tiêu theo dõi 25
4.3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 25
4.4 Vật liệu nghiên cứu 25
Trang 8Chương 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
5.1 Kết quả nghiên cứu 27
5.1.1Thí nghiệm 1 27
5.1.1.1 Số cây chết sau trồng 1 tuần 27
5.1.1.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm) 28
5.1.1.3 Động thái ra lá 29
5.1.1.4 Thời gian ra nụ 30
5.1.2 Thí nghiệm 2 30
5.1.2.1 Chiều cao cây hoa 3 nụ (cm) 31
5.1.2.2 Trọng lượng một nụ hoa 32
5.1.2.3 Chiều dài một nụ hoa 34
5.1.2.4 Trọng lượng tươi cây hoa 1 nụ 35
5.1.2.5 Trọng lượng cây hoa 2 nụ 37
5.1.2.6 Trọng lượng tươi cây 3 nụ 39
5.1.2 Trọng lượng tươi cây 4 nụ 40
5.2 Kết luân chung 42
5.2.1 Thí nghiệm 1 42
5.2.2 Thí nghiệm 2 42
Chương 6 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
6.1 Kết luận 43
6.1.1 Thí nghiệm 1 43
6.1.2 Thí nghiêm 2 43
6.2 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 46
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Diện tích các nhóm đất ở thành phố ĐàLạt 15
Bảng 4.1 Lượng phân cần bón ở tháng 1 21
Bảng 4.2 Lượng phân cần bón ở tháng 2 (tính trên 1 cây) 22
Bảng 4.3 Lượng phân cần bón ở tháng 3 (tình trên 1 cây) 22
Bảng 4.4 Lượng phân cần bón ở tháng thứ 3 22
Bảng 5.1 Số cây chết sau trồng 1 tuần đầu ở các nghiệm thức 27
Bảng 5.2 Thời gian ra nụ ở các nghiệm thức 30
Bảng 5.3 Kết quả theo dõi tăng trưởng chiều cao cây hoa 3 nụ ở các nghiệm thức .31
Bảng 5.4 Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 5.3 31
Bảng 5.5 Kết quả trắc nghiệm phân hạng giữa các nghiệm thức AB 32
Bảng 5.6 Kết quả theo dõi tăng trưởng trọng lượng tươi một nụ hoa 32
Bảng 5.7 Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 5.6 33
Bảng 5.8 Kết quả trắc nghiệm phân hạng giữa các nghiệm thức của yếu tố AB 33
(chỉ tiêu trọng lượng nụ hoa) 33
Bảng 5.10 Kết quả theo dõi tăng trưởng chiều dài một nụ hoa 34
Bảng 5.11 Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 5.10 35
Bảng 5.12 Kết quả theo dõi tăng trưởng trọng lượng tươi cây 1 nụ trên các nghiệm
thức 35
Bảng 5.13 Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 5.12 36
Bảng 5.14 Kết quả trắc nghiệm phân hạng giữa các nghiệm thức của yếu tố AB 36
Bảng 5.15 Kết quả trắc nghiệm phân hạng giữa các nghiệm thức của yếu tố A 36
Bảng 5.16 Kết quả theo dõi tăng trưởng trọng lượng tươi cây 2 nụ ở các nghiệm
thức 37
Bảng 5.17 Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 5.16 38
Bảng 5.18 Kết quả trắc nghiệm phân hạng giữa các nghiệm thức của yếu tố AB 38
Bảng 5.17 Kết quả theo dõi tăng trưởng trọng lượng tươi cây 3 nụ ở các nghiệm
thức 39
Bảng 5.18 Kết quả phân tích phương sai tứ số liệu bảng 5.17 39
Trang 10Bảng 5.21 Kết quả theo dõi tăng trưởng trọng lượng tươi cây 4 nụ ở các nghiệm
thức 40
Bảng 5.22 Kết quả phân tích phương sai từ số liệu bảng 5.21 41
Bảng 5.22 Kết quả trắc nghiệm phân hạng giữa các nghiệm thức của yếu tố AB 41
Bảng 5.23 Kết quả trắc nghiệm phân hạng giữa các nghiệm thức của yếu tố A 41
Trang 11DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ
Trang
Đồ thị 5.1.Động thái tăng trưởng chiều cao của cây hoa Lily ở 4 nghiệm thức 28
Đồ thị 5.2 Động thái ra lá của hoa Lily ở 4 nghiệm thức 29
Đồ thị 5.3 Kết quả so sánh của các mức phân bón và cách thức bón phân đến chiều cao của cây hoa 31
Đồ thị 5.4 Kết quả so sánh của các mức phân bón và cách thức bón phân đến trọng lượng trung bình 1 nụ hoa 33
Đồ thị 5.5 Kết quả so sánh của các nghiệm thức đến chiều dài trung bình 1 nụ hoa 34
Đồ thị 5.6 Kết quả so sánh trọng lượng trung bình 1 cây hoa 1 nụ ở các nghiệm thức 36
Đồ thị 5.7 Kết quả so sánh trọng lượng trung bình 1 cây hoa 2 nụ ở các nghiệm thức 37
Đồ thị 5.8 Kết quả so sánh trọng lượng trung bình 1 cây hoa 3 nụ ở các nghiệm thức 39
Đồ thị 5.9 Kết quả so sánh trọng lượng trung bình 1 cây hoa 4 nụ ở các nghiệm thức 41
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1.Giá thể B được dồn vào túi bầu 46
Hình 4.2 Củ LiLy giống 46
Hình 4.3 Giá thể A 47
Hình 4.4 Giá thể A lấp củ 47
Hình 4.5 Cây Lily 7 ngày sau trồng 48
Hình 4.6 Cây Lily bị bệnh thối thân 48
Hình 4.7 Cây Lily 2 tháng tuổi 49
Hình 4.8 Hoa Lily trước lúc cắt cành thu hoạch .49
Hình 4.9 Cây hoa Lily trước ngày thu hoạch 1 ngày 50
Hình 4.10 Hoa Lyli trước thu hoạch 2 ngày 50
Hình 4.11 Hoa Lily trước thu hoạch 3 ngày 51
Hình 4.12 Hoa Lily đã thu hoạch 51
Hình 4.13 Hoa Lily đã thu hoạch 52
Trang 13LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới thực vật luôn mang những đặc trưng riêng mà không sinh vật nào có được Nó không chỉ đa dạng về các đặc tính sinh học mà còn đa dạng về vô số loài hoa trên hành tinh này Mỗi loài hoa đều mang một đặc tính riêng sao cho quá trình sống
có hiệu quả cao nhất và mang các màu sắc, hương thơm, hình dáng, kích thước, cấu trúc…có sức quyến rũ, hấp dẫn riêng Vì vậy vấn đề tìm hiểu cơ chế cũng như quá trính hình thành hoa luôn là một vấn đề phức tạp và hấp dẫn các nhà khoa học, trong
vô số các loài hoa đó là hoa Lily Hiện nay Lily là một trong những loài hoa chiếm tỉ
lệ tiêu thụ cao trong thị trường thương mại hoa cắt cành do Lily có vẻ đep đầy lôi cuốn
và mùi hương nồng nàn, quyến rũ Vì vậy việc canh tác và nghiên cứu tái sản xuất củ Lily sau cắt cành lần một ở quy mô lớn luôn được các nhà sản xuất, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu
GS Lâm Công Định đã lấy vẻ đẹp của các loài cây và hoa làm nền tôn tạo cho công trình kiến trúc, lấy nét tân kỳ của kiến trúc để làm nỗi bất diệt của thiên nhiên, ấy chính là giá trị đích thực của một nền văn minh mang tính hiện đại.Và khi cuộc sống của con người đã được ổn định, không còn lo ngại đến vấn đề suy thoái môi trường, thì nhu cầu thưởng thức những cánh hoa đẹp của con người càng được nâng lên tầm cao mới Nhưng hiện nay ngoài thị trường chúng ta khó có nhiều loài, nhiều màu sắc khác nhau, mỗi loài hoa có một nét đẹp riêng, một sức hấp dẫn riêng đối với từng người Trong đó Lily là một trong những loài hoa đẹp, hoa của Lily có mùi thơm và đa dạng
về màu sắc Hoa Lily nói lên và thể hiện sự thanh thiên lịch sự, một vẻ đẹp thanh tao hòa nhã, ngoài ra nó còn góp phần làm đẹp cho một số loài hoa khác như Lan Nam Phi,….Ngày nay do nhu cầu thiết yếu sử dụng loài hoa này ngày càng nhiều, nên việc tăng năng suất của loài hoa này là thiết yếu Xuất phát từ nhu cầu thực tế, chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp dưới sự phân công của bộ môn Lâm Sinh, Khoa Lâm Nghiệp, cùng với sự hướng dẫn của thầy Trần Trọng Nghĩa với tiêu trí
“Tìm hiểu ảnh hưởng về lượng và cách thức bón (bón gốc và bón lá) của phân bón
lá đến giai đoạn cuối thu hoạch (sau 60 ngày)đồng thời tìm hiểu ảnh hưởng của các loại thuốc bảo vệ củ trước gieo trồng trên cây hoa Lily’’ Nhằm góp phần và tìm hiểu
nghiên cứu tìm ra biện pháp kỹ thuật nuôi trồng sản xuất loài hoa này để đáp ứng nhu
Trang 14Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ở Việt Nam hoa Lily được đưa vào trồng bắt đầu từ năm 1945, mặc dù đã trải qua một thời gian dài 63 năm trồng hoa Lily trên đất Đà Lạt nhưng đại đa số người dân trồng theo kinh nghiệm của người làm vườn đúc kết được qua thời gian dài trồng các loại hoa Mặc dù vẫn mang lại năng suất và cho thu nhập có lời nhưng ở mức độ chưa cao, lý do là do người dân chưa biết áp dụng phương pháp khoa học kỹ thuật vào để phát triển ngành trồng hoa nói chung và ngành trồng hoa Lily nói riêng trên quy mô sản xuất đại trà mang tính công nghiệp nhằm mang lại số lượng hoa Lily cắt cành có năng suất cao, chất lượng tốt, giá thành rẻ để chiếm được thị trường suất khẩu hoa Lily cắt cành trên thế giới
Ở Đà Lạt đã có công ty Hafam trồng hoa Lily trên quy mô sản xuất đại trà mang tính công nghiệp nhưng công ty này do các chuyên gia nước ngoài quản lý kỹ thuật và trực tiếp lãnh đạo hơn nữa công ty lại độc quyền kỹ thuật trồng hoa cắt cành nói chung và trồng hoa Lily nói riêng, kỹ thuật trồng hoa được bảo mật trong công ty Công ty Hafam hàng năm đã xuất khẩu một số lượng lớn hoa cắt cành nói chung và hoa Lily nói riêng cho trên 120 nước trên thế giới (theo tạp chí hiệp hội hoa Đà Lạt, 2008)
Hiện tại nước ta chưa thể tự cung tự cấp được giống Lily cho nhu cầu gieo trồng hoa của người dân mà hầu hết các loại giống củ Lily được đưa vào gieo trồng ở nước ta đều phải nhập từ Hà Lan về Hà Lan là một trong số các quốc gia cung cấp cho thị trường một số lượng lớn giống củ Lily, Hà Lan có kỹ thuật bảo quản củ thuộc vào dạng tiên tiến trên thế giới: Họ đã xử lý củ ở tất cả các khâu đưa vào trạng thái tốt nhất sẵn sàng chuẩn bị đưa ra gieo trồng Nhưng một sự cố có khả năng xẩy ra là sự chênh lệch về thời gian vận chuyển, chênh lệch nhiệt độ giữa Đà Lạt và Hà Lan cộng thêm
kỹ thuật và cách thức bảo quản củ Lily trong phòng lạnh tại Đà Lạt……là một trong những vấn đề có khả năng gây ra tình trạng chất lượng củ Lily không được đảm bảo
Trang 15trước khi đem gieo trồng.Vì trên thực tế sản xuất hoa Lily cắt cành tại Đà Lạt, khi đưa
củ Lily ra gieo trồng thì những củ kém chất lượng và bệnh tật đã xuất hiện với số lượng lớn Kỹ thuật và cách thức bảo quản củ Lily tại nước Hà Lan phải nói là tương đối hoàn hảo nhưng khi củ Lily được nhập về Việt Nam thì kỹ thuật và cách thức bảo quản của người Việt Nam là trữ củ Lily trong phòng lạnh để chờ mùa vụ (khi nhập củ Lily từ Hà Lan về với một số lượng lớn nhưng thực tế ngay sau khi nhập củ về thì số lượng củ được đưa ra gieo trồng liền chỉ là số lượng rất nhỏ, số còn lại được trữ trong phòng lạnh để chờ mùa vụ sau tiếp tục đưa ra gieo trồng) Đó cũng chính là một trong các lý do làm giảm chất lượng củ Lily vì vậy khi gieo trồng tỉ tệ cây sống cho năng suất, chất lượng cao chưa đặt yêu cầu
Đối với hoa Lily thời gian từ khi gieo trồng cho đến khi cho thu hoạch hoa cắt cành là rất ngắn, do đó hệ rễ đầu tiên (rễ củ) đóng vai trò rất quan trọng Thời gian cây Lily ra rễ thân sớm hay muộn rõ ràng ảnh hưởng tới tốc độ phát sinh cành cho tới lúc
ra hoa, số lượng nụ hoa trên cành hoa và chất lượng nụ hoa (một củ Lily chỉ cho một cành hoa Lily)
Chu kỳ sống của hoa Lily là rất ngắn, vì vậy đa phần trong thời gian một tháng đầu sự chuyển hoá phân cành hoa chủ yếu dựa vào cơ chất sẵn có trong củ Lily mà không liên quan gì đến hệ rễ thân và hệ rễ gốc Thực tế cho thấy tổng trọng lượng của thân, lá, hoa chênh lệch rất lớn so với trọng lượng củ trong khi đó thực tế sản xuất lại không đặt nặng về dinh dưỡng của hệ rễ gốc và rễ thân cộng thêm việc sử dụng phân bón với số lượng tùy tiện chứ trong thực tế hầu như chưa được thí nghiệm Chính điều
đó cho thấy việc sử dụng lượng lớn phân bón hữu cơ và vô cơ là cần thiết nhưng điều này sẽ mất tác dung, mất ý nghĩa nếu chưa giải quyết được đặc tính của hai hệ rễ gốc
và hệ rễ than (ví dụ: cây trầu bà) Bộ phận trên mặt đất đa phần hấp phụ các chất dinh dưỡng, vi lượng, thuốc sâu bệnh và một phần nhỏ lượng phân bón lá (do lá là cơ quan thứ yếu trong hấp phụ dưỡng chất) Ngày nay có rất nhiều chủng loại, sản phẩm phân bón lá mang đầy đủ các nguyên tố đa lượng, vi lượng, những nguyên tố này cần thiết nhưng lá chỉ hấp phụ được một phần, số khoáng thừa còn lại có khả năng gây độc cho
lá, có khả năng làm nền cho vi sinh vật phát triển gây hại lá, có khả năng gây cháy lá làm mất vẻ đẹp của lá ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm (cành hoa)
Trang 16Do đặc tính của cây Lily là có hai hệ rễ, sự phát triển hoàn hảo của hai hệ rễ này đóng vai trò quyết định đến lượng phân hữu cơ và vô cơ hấp phụ tối hảo hay hữu hiệu Do đó dù có bón cho cây Lily một lượng lớn phân hữu cơ và vô cơ nhưng cũng không có ý nghĩa đối với việc chuyển hoá toàn phần hệ rễ ( hút phân bón) Trên cơ sở
đó chúng tôi đề nghị hai loại giá thể trong một túi bầu (giá thể A và giá thể B).Và với những lý do trên đòi hỏi người trồng Lily cần phải hiểu biết một số kiến thức cơ bản
về sinh lý, sinh thái, các biện pháp kỹ thuật, cách bảo quản củ, cách xử lý củ trước khi gieo trồng xuống giá thể và đặc biệt là cách cung cấp phân, số lượng phân cần cung cấp cho cây tuỳ từng giai đoạn phát triển của cây
Trong những năm gần đây nghề trồng hoa, cây cảnh đã phát triển người ta dùng hoa tươi để chúc mừng lễ tết, kết hôn, thăm viếng bạn bè và hoa đã trở thành một vật phẩm tinh thần không thể thiếu được trong môi trường cuộc sống và tâm linh…Nhưng xét về mặt kinh tế, nghề trồng hoa và kinh doanh hoa còn rất nhiều hạn chế như: Giống, vốn, kỹ thuật, phương pháp trồng và thị trường tiêu thụ Đặc biệt ngành sản xuất hoa chưa có định hướng phát triển trên cơ sở khoa học phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của Việt Nam
Được sự đồng ý của bộ môn Lâm Sinh - khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại Học
Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh Tôi thực hiện đề tài với tiêu đề ”Tìm hiểu ảnh hưởng về lượng và cách thức bón (bón gốc và bón lá) của phân bón lá đến giai đoạn cuối thu hoạch (sau 60 ngày)đồng thời tìm hiểu ảnh hưởng của các loại thuốc bảo vệ củ trước gieo trồng trên cây hoa Lily’’
1.2 Mục tiêu của đề tài
Tìm hiểu cách thức xủ lý, tẩy trùng củ trước khi trồng củ Lily xuống giá thể Tìm hiểu sự ảnh hưởng của lượng phân cần bón và cách thức bón phân vô cơ tới quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của hoa Lily
Phân tích đánh giá và so sánh với nghiệm thức đối chứng, chọn ra cách xử lý, tẩy trùng củ trước khi trồng, lượng phân bón và cách thức bón phân phù hợp nhất
1.3 Mục đích của đề tài
Sau khi gieo trồng số lượng cây Lily bị bệnh và chết ít nhất, cây sinh trưởng và phát triển tốt đồng thời cho năng suất và chất lượng cao nhất
Trang 17Xác định được cách thức bón phân và lượng phân vô cơ cần bón cho cây hoa phù hợp nhất để áp dụng đưa vào sản xuất đại trà trên diện tích lớn nhằm mang lại hiệu quả, lợi nhuận kinh tế cao nhất
Trang 18Chương 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 2.1 Đặc điểm kình thái, sinh thái và giá trị kinh tế của đối tượng thí nghiệm
2.1.1 Cây Lily
2.1.1.1 Đặc điểm hình thái
Lily là cây thân thảo Chúng thích hợp với khí hậu ôn hoà và cận nhiệt, Lily là cây ưa bóng chúng thường phát triển ở gần cây bụi hoặc các cây khác, các cây này che bóng mát và giữ cho củ Lily ẩm và mát
Củ Lily không có lớp vỏ bao bọc nhưng có nhiều vảy bọc bên ngoài, củ Lily có nhiều vảy gối lên nhau, những vảy này được xem là cơ quan dự trữ chất dinh dưỡng, vảy mập chắc không có lớp vỏ bao bọc bảo vệ Vảy củ là các lá chuyên dụng về mặt hình thái học dự trữ nước và chất dinh dưỡng, những vảy này có thẻ gắn chặt với nhau hoặc lỏng lẻo Củ Lily thường có màu trắng hoặc vàng nhưng thường nhạt màu hơn khi phơi ra ngoài không khí Mỗi củ Lily có một vung mô sẹo bằng phẳng ở đáy củ được gọi là đế
Rễ: Lily là cây có hai hệ rễ: Có một hệ rễ chùm là rễ chính nằm dưới củ còn được gọi là rễ củ, ngoài ra còn có thêm hệ rễ thân xuất hiện sau khi trồng củ xuống giá thể 15 - 20 ngày Các rễ thân có chức năng giữ chặt thân chống lại thời tiết khắc nghiệt
và chống đỡ sức nặng của cụm hoa đồng thời làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng từ giá thể để nuôi thân
Thân: Trục thân mang nhiều lá và nụ hoa
Lá: Lá đơn có dạng mác, dạng sợi nhỏ hoặc dạng trung gian giữa hai dạng trên,
lá thuôn dài có gân song song với các phiến hẹp Cuống lá ngắn hoặc không có, lá màu xanh bóng mọc dày trên nhánh thân Lily có các lá toả ra từ thân theo chiều ngang, nhiều loài có lá toả ra từ cùng một đốt thân tạo thành một vòng lá hoặc là lá có dạng đối xứng
Hoa: Hoa đều, lưỡng tính, mẫu đơn 3, bao hoa đơn, gồm có 3 cánh hoa và 3 cánh đài nhưng không phân hoá rõ rệt, 6 cánh xếp hai dãy xen kẽ nhau, cánh hợp, dính
Trang 19nhau ở gốc Bộ nhị đực gồm có nhị (bao phấn) xếp thành hai vòng khác nhau và không dính nhau Bộ nhụy cái gồm núm nhụy có ba thùy, mỗi thùy có ba khoang Hoa lớn hình phễu hoặc hình chén mọc hướng lên nằm ngang hoặc rũ xuống, đơn độc hoặc mọc thành cụm ở ngọn Hoa nối với thân bằng một cuống nhỏ Cụm hoa có thể hình tán với tất cả các phát hoa gắn với cùng một đốt hoặc tán phức khi các phát hoa gắn với nhiều hơn một đốt Thời gian từ khi gieo trồng tới khi cho thu hoạch hoa cắt cành đối với củ F1( củ nhập từ Hà Lan về) nằm trong khoảng từ 75 đến 105 ngày, thời gian
từ khi trồng cho đến khi cho thu hoạch hoa cắt cành dài hay ngắn còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: Giống, cách chăm sóc, khí hậu, mùa vụ… với củ F2 từ 4 tháng đến 5 tháng, nuôi cấy mô thì 2 đến 3 năm (tạp chí hiệp hội hoa Đà Lạt, 2008)
Cây: Lily thụ phấn nhờ gió do hoa Lily là hoa đều
Quả: Qủa nang có ba góc và ba nang (Võ Văn Chi 1977)
2.1.1.2 Đặc điểm sinh thái
Cây Lily thích hợp với độ ẩm cao, khí hậu lạnh, là loài cây cần nhiều ánh sáng nhưng không phải là ánh sáng trực tiếp nên người ta thường dùng nilon làm nhà che hoặc bằng nhà kính Lily sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện ánh sáng khoảng 60% - 80%, thích nghi với khí hậu lạnh Nhiệt độ thích hợp vào khoảng 17OC đến
25OC Độ ẩm rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Lily, nếu độ ẩm quá khô củ Lily sẽ bị mất nước dẫn đến quang hợp và hô hấp giảm nhưng nếu quá ẩm củ
sẽ dễ bị thối, rễ úng, cây dễ nhiễm bệnh (Phan Hồng Anh, 2003)
Điều kiện trồng Lily lý tưởng: Giá thể thoát nước tốt, ánh sáng đấy đủ (4 giờ hoặc nhiều hơn trong một ngày), tưới nước thường xuyên, đất mùn, độ pH hơi axit
2.1.1.3 Gía trị kinh tế
Do điều kiện nước ta phải nhập ngoại củ giống Lily nên giá thành một cành hoa Lily cắt cành là tương đối cao (giá một củ giống Lily biến động từ 5.000 đến 8.000 đồng)
Sau khi trồng 75 đến 105 ngày một củ Lily cho một cành hoa (một cành Lily có
ít nhất 1 nụ)
Một cành hoa Lily có giá trị khoảng: Ngày thường 10.000 đến 15.000 đồng, ngày lễ tết 25.000 đến 30.000 đồng,còn tuỳ thuộc vào từng loại giống Lily, chất lượng
Trang 20cành Lily, số nụ trên một cành Lily mà giá trị kinh tế của cành hoa Lily cao hơn hay thấp hơn
2.2 Giới thiệu cây hoa Lily
2.2.1 Nguồn gốc và phân loại
Hiện nay, hình dạng và màu sắc, mùi thơm hoa Lily ngày càng đa dạng xuất phát từ việc lai giữa các loài hoa khác nhau Một số lượng lớn giống Lily có giá trị làm hoa kiểng nhờ hoa của chúng to, đẹp, màu sắc phong phú và hương thơm quyến rũ Lily cùng với hoa Tuylip và Lan Nam Phi là ba loại cây trồng quan trọng trong thị trường thương mại hoa cắt cành
Trang 21Giá thể A: bao gồm 5 thành phần (bột dừa 30%, tro trấu 40%, vỏ đậu phộng, phân bò 10%, super lân 10%) Giá thể này giải quyết hệ rễ mềm, chúng giữ nước, kém ôxi, giữ một lượng phân bón cung cấp cho hệ rễ thân và hệ rễ gốc
Giá thể B: 100% vỏ củ đậu sống đã phơi khô và đã qua xử lý: Giá thể này giúp thông khí và thoát nước tốt phù hợp với rễ Lily
Trước khi dùng giá thể A để lấp củ (củ đã trồng trước ở giá thể B) cần phải trộn đều các thành phần với nhau và phun thuốc xử lý giá thể (thuốc diệt nấm) mục đích hạn chế và tiêu diệt vi sinh vật có hại cho cây trồng
Đối với giá thể B: Phải phơi khô, phun thuốc diệt nấm sau đó mới dồn vào túi bầu Hai giá thể được dồn vào một túi bầu (túi bầu kích cỡ 20cm x 25cm ) Giá thể B
ở dưới (15cm), giá thể A dùng để lấp củ đã được trồng ở giá thể B (lấp 10 cm)
Nước với đặc tính rễ: Sự đa dạng về loài và kiểu sống đã sinh sản ra rất nhiều đặc tính rễ: Rễ thủy sinh, rễ ngập hoàn toàn trong nước oxi hoàn toàn không có, lá làm nhiệm vụ oxi cho rễ Rễ sống trong đất, đa phần các loại rễ này có miền lông hút, đòi hỏi lượng nước trong giá thể đủ nhưng không dư, ở trạng thái dư nước đưa đến oxi rất kém dẫn đến hô hấp hệ rễ kém từ đó gây nên kém hoặc đình trệ hệ thống dinh dưỡng của cây trồng (mặc dù trong giá thể rất giầu dinh dưỡng) Ở trạng thái hợp lý về nước (sự cân bằng về oxi, nước trong giá thể sẽ tạo điều kiện tối hảo cho hệ rễ phát triển, là
cơ sở tăng vấn đề trọng lượng tươi của cây trồng)
Trang 222.5 Kỹ thuật trồng Lily trong túi bầu
Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ hai loại giá thể tiến hành trồng Lily theo các bước sau:
Dồn giá thể B vào túi bầu (dồn 15cm)
Đặt củ Lily xuống giá thể B
Sau một đến hai ngày dùng giá thể A lấp dần lên củ (chú ý phải lấp dần dần) chờ chồi mọc lấp khoảng 10cm
Trang 23Phía Bắc thành phố giáp huyện Lạc Dương
Phía Nam thành phố giáp huyện Đức Trọng
Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Đơn Dương
Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Lâm Hà
Thành phố Đà Lạt có diện tích tự nhiên 39.105ha, dân số 174.100 người chiếm 4% về diện tích và 16.3% về dân số toàn tỉnh (số liệu thống kê năm 2001)
Từ trung tâm thành phố cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 300 km về phía Tây - Nam, ách thành phố Ban Mê Thuật 90 km về phía Bắc, cách thị xã Phan Rang
110 km về phía Đông và cách Nha Trang 130km về phía Đông - Bắc
Đây là một lợi thế để Đà Lạt mở rộng mối giao lưu với các vùng trọng điểm kinh tế phía Nam và các tỉnh Duyên Hải Trung Bộ và Tây Nguyên
Thành phố Đà Lạt là một trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, đào tạo và nghiên cứu khoa học đa nghành của cả nước Sự phát triển của Đà Lạt có mối quan hệ mật thiết với các vùng khác của tỉnh, vì vậy theo dự kiến quy hoạch của thành phố Đà Lạt tới năm 2010 sẽ mở rộng phạm vi du lịch và nghiên cứu từ diện tích cũ lên tới 96.914ha với các vùng phụ cận có diện tích 57.810ha bao gồm các xã phía Nam của huyện Lạc Dương,phía Bắc của huyện Đơn Dương, tiểu vùng Nam Ban của huyện Lâm Hà và huyện Đức Trọng
3.1.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình là một hình thể phản ánh các yếu tố địa chất và các quá trình địa mạo,
do đó nó gắn liền với nguồn gốc địa chất và tuổi của khu vực, địa hình Đà Lạt nhìn
Trang 24chung thuộc dạng sơn nguyên, có thể hình thành ba dạng địa hình cục bộ:Núi cao, đồi
và thung lũng
Địa hình núi cao: Gồm các dãy núi bao quanh khu vực trung tâm Đà Lạt chiếm 70%
diện tích tự nhiên, toàn thành phố có hai khu vực nhỏ
Khu vục nằm ở phía Nam - Đông và phía tây bao dồm các dãy núi có độ cao từ
1500 - 1600m tạo thành một vòng cung bao quanh ba mặt khu trung tâm Hầu hết các diện tích đó có độ dốc rất lớn, nhiều thác, thực bì chủ yếu là rừng thông thuần loại thích hợp cho phát triển Lâm Nghiệp và kinh doanh du lich
Khu vực phía Bắc lá các dãy núi có độ cao từ 1500m - 1650m, đặc biệt có núi Lang - Biang (thuộc huyện Lạc Dương) cao tới 2165m
Địa hình đồi: Gồm các dãy đồi núi thấp, ít dốc có độ cao từ 1500m - 1600m phân bố
tập trung ở khu trung tâm thành phố Đà Lạt và Tà Nung, chiếm gần 30% diện tích đất
tự nhiên,là địa bàn trọng điểm để phát triển đô thị của thanh phố
Địa hình thung lũng: Gồm các dãy núi trũng phân tán ven các suối lớn, chiếm khoảng
1% diện tích đất tự nhiên, phần lớn là các hồ chứa nước Tuy chiếm một diện tích nhỏ nhưng dạng địa hình này có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước, cải tạo khí hậu và tạo những nét đẹp riêng cho cảnh quan thành phố Đà Lạt
3.1.3 Điều kiện khí hậu
Thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng bị chi phối bởi quy luật độ cao và ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu Lâm Đồng nói chung và Đà Lạt nói riêng có những điểm đặc biệt so vói các vùng xung quanh đó là: Mát lạnh quanh năm, mưa nhiều, mùa khô ngắn, lượng nước bốc hơi thấp và hầu như không có bão
Nhiệt độ không khí
Trung bình năm: 18.3oC
Tối cao: 29.4 oC - năm xuất hiện 1961
Tối cao trung bình: 23.9oC
Trang 25Tối thấp: 1019 - xuất hiện năm 1911
Số ngày mưa trung bình trong năm: 167 ngày
Độ ẩm không khí (%)
Trung bình năm: 84
Lượng bốc hơi không đáng kể
Số giờ nắng trung bình trong năm: 1868 giờ
Số ngày có sương mù trung bình trong năm: 80 ngày
Chế độ gió:
Gió mùa hè nóng hơi khô thổi từ tháng 5 đến tháng 10 theo hướng Tây và Tây - Nam, gió mùa đông thổi từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau theo hướng Đông - Bắc và Tây - Bắc, nhìn chung do đặc điểm của khí hậu đã tạo cho Đà Lạt những thuận lợi và khó khăn sau:
Thuận lợi:
Rất thuận lợi cho phát triển du lịch và nghỉ dưỡng, phát triển tốt các loại cây trồng và vật nuôi có nguồn gốc Á Nhiệt Đới và Ôn đới ngay trong vùng có khí hậu nhiệt đới cận xích đạo
Lượng nước tưới cho cây trồng trong mùa khô thấp do lượng bốc hơi ít, khả năng tái sinh của rừng cao, thời gian bảo quản các loại nông sản đặc biệt là các loại rau
và hoa quả khá dài
nên ảnh hưởng rất nhiều đến vận tải hàng không
3.1.4 Nguồn nước thủy văn
Thành phố Đà Lạt nằm ử vị trí đầu nguồn của sông Đồng Nai thuộc khu vực nhánh sông lớn, suối lớn: Đa Nhim, Đa Tam, Cam Ly, Suối Vàng
Sông Đa Nhim nằm ở phía Đông thành phố là một trong hai nhánh chính của
hệ sông Đồng Nai thuộc Địa phận Lâm Đồng, phần lưu vục nằm trong địa phận của
Trang 26Suối Prenn nằm ở khu vực phía Nam thành phố, có hai nhánh chinh là Đatanla
và Prenn có diện tích lưu vực nằm trên ĐàLạt khoảng 121 km2 với hai thác nổi tiếng là Prenn Đatanla và hồ Tuyền Lâm có vai trò trong việc phát triển du lịch và cung cấp nguồn nước tưới cho khu vực phía Bắc huyện Đức Trọng
Suối Cam Ly: Với thác Cam Ly nổi tiếng, bắt nguồn từ các dãy núi Đông Bắc
thành phố khu vực chảy qua trung tâm sau đó đổ về sông Đà Dâng, qua Tà Nung và khu vực Nam ban thuộc huyện Lâm Hà, diện tích lưu vực thuộc địa phận thành phố khoảng 150km2, là nguồn cung cấp nước chính đồng thời cũng là trục tiêu chính của khu vực trung tâm Hiện nay trên khu vực này đã xây dựng nhiều hồ nước có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của thành phố như: Hồ Xuân Hương, hồ
Đa Thiện, hồ Chiến Thắng, hồ Than Thở, hồ Thái Phiên……
Suối Vàng là một nhánh của sông Đà Dâng bắt nguồn từ phía Tây dãy Lang
-Biang khu vực nằm trong địa phận huyện Lạc Dương, hiện có hai hồ lớn ở phía Tây Bắc thành phố là hồ Suối Vàng và hồ Đankia là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho thành phố, có vai trò quan trọng trong sự phát triển du lịch và đô thị mới của
3.1.5 Tài nguyên đất
Theo bản đồ thành phố Đà Lạt tỷ lệ 1/25.000 được lập trên cơ sở kế thừa tài liệu
và bản đồ đất tỉ lệ 1/100.000 của Viện Quy Hoạch và Thiết Kế Nông Nghiệp để điều tra bổ sung, toàn thành phố hiện có 05 nhóm đất với 12 đơn vị phân loại như sau:
Trang 27283,74 129,90
560,48 284,13 515,14
8 420,62 21,203,2
0 8689,63
Rừng là một nguồn tài nguyên thiên nhiên nổi bật và hết sức quý giá, góp phần
tạo nên vẻ đẹp tự nhiên cho thành phố Đà Lạt Chủ yếu là rừng Thông ba lá (16.881 ha
- năm 1999) và các rừng hỗn giao khác
Rừng thành phố Đà Lạt có nhiều loại thú quý hiếm: Hươu, nai, lợn rừng, nhím
và các loài chim quý….ngoài giá trị về du lich, rừng Đà Lạt còn đóng vai trò quan
Trang 28nghiệp, chế biến và tiểu thủ công nghiệp của thành phố Tuy nhiên, hiện tỷ lệ che phủ chỉ còn lại 56% so với tổng diện tích tự nhiên,thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ che phủ trung bình toàn tỉnh (63% - 64%), việc suy giảm tỷ lệ che phủ đã và đang gây những tác hại không nhỏ đến môi trường, nhất là tình trạng bồi lắng các hồ, các hồ chứa ở khu trung tâm thành phố Đà Lạt Vì vậy trong tương lai cũng cần phải tiếp tục ưu tiên đầu tư cho công tác trồng và bảo vệ rừng
3.1.7 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thành phố
Đà Lạt
3.1.7.1 Những thuận lợi
Đà Lạt có vị trí thuận lợi cho mở rộng mối giao lưu vói các trung tâm kinh tế của các vùng, nhất là các tuyến đường nối trực tiếp giữa Đà Lạt với Nha Trang và Ban
Mê Thuật được phục hồi và nâng cấp
Khí hậu Đà Lạt thuận lợi cho phát triển du lịch, nghỉ dưỡng và phát triển tốt các loại cây trồng - vật nuôi có nguồn gốc Á nhiệt đới và ôn đới ngay trong vùng có khí hậu Nhiệt đới cận xích đạo, lượng nước cần tưới cho cây trồng ít hơn so với các vùng khác
Nguồn nước tuy không dồi dào nhưng có thể đáp ứng cho việc phát triển kinh tễ
xã hội với một thành phố loại I - trực thuộc Trung Ương có chức năng đã được xác định
Đất đai có độ phì nhiêu khá tốt, diện tích đất bị thoái hoá chiếm diện tích nhỏ, các loại đất thích hợp cho phát triển cây nông nghiệp về đại thể phân bố khá tập trung thuận lợi cho tổ chức và bảo vệ
Rừng ở Đà Lạt vừa là thắng cảnh, vừa có giá trị kinh tế,bảo vệ môi trường và
có vai trò quan trọng trong phát triển mạng lưới du lịch Thời kỳ năm 1995 đến nay diện tích và trữ lượng trung bình đều tăng là một trong những thành quả đáng khích lệ trong việc bảo vệ môi trường của thành phố
Có nhiều cảnh quan ngoạn mục và độc đáo, kết hợp với các lợi thế về vị trí, khí hậu và tài nguyên nhân văn đa dạng rất thuận lợi cho việc xây dựng các cụm du lịch với các nét đặc sắc của, khu vực là ưu thế nổi trội phát triển du lịch so với các tỉnh ở Miền Nam
Trang 293.1.7.2 Những hạn chế
Sức hút mạnh mẽ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có thể làm giảm bớt
cơ hội đầu tư của nước ngoài vào Lâm Đồng cũng như trên địa bàn Đà Lạt nhất là lĩnh vực Công Nghiệp và Đào Tạo
Việc huy động một số tài nguyên vào phát triển kinh tế phần nào bị hạn chế
do yêu cầu về mối quan hệ với các vùng hạ lưu.Việc mở rộng phạm vi phát triển nội thành có phần bị hạn chế do địa hình bị chia cắt bởi sự án ngữ của các dãy núi cao và
có độ dốc lớn do chỉ có giao thông đường bộ với địa hình chia cắt mạnh và ở xa cảnh biển nên đã ảnh hưởng và hạn chế không nhỏ đến việc phát triển kinh tế xã hội của thành phố Đà Lạt
Đất dốc cùng với lượng mưa và cường độ mưa lớn nên đã bị rửa trôi và xói mòn tiềm ẩn nguy cơ thoái hoá nếu không được bảo vệ tốt và sử dụng hợp lý
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.2.1 Dân số
Trong hơn 100 năm hình thành và phát triển, Đà Lạt đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm nhưng vẫn giữ được nét độc đáo và sức lôi cuốn nhờ các lợi thế về thiên nhiên và cảnh quan
Năm 1975 dân số Đà Lạt có khoảng 95.000 người do thưc hiện chính sách dãn dân đô thị nên đến năm 1990 chỉ tăng lên so với năm 1975 khoảng 21.000 người Khoảng 1990 đến nay dân số đà lạt tăng khá nhanh nhất là tăng cơ học, năm 2001 Đà Lạt có khoảng 177.153 người chiếm 16,3% dân số toàn tỉnh
Đồng bào dân tộc tại chỗ (Lach, Chil, Srê,….) sống tập trung ở xã TaNung
và khu vực Măng - Lin từ 4 - 5 thế kỉ trước Trong quá trình giao lưu vói bên ngoài mà đặc biệt với sự quan tâm củ Đảng và Nhà nước nên tập quán sinh hoạt, trình độ sản xuất, mặt bằng dân trí trong những năm gần đây được nâng lên đáng kể so với năm trước giải phóng nhưng nhìn chung nẫn còn tình trạng lạc hậu và thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của thành phố
3.2.2 Sự phát triển các ngành kinh tế
Trên 96% dân số Đà Lạt là người Kinh được đến từ mọi miền đất nước Qua quá trình phát triển đã tạo nên phong cách riêng của người Đà Lạt: Hiền hoà, thanh
Trang 30Sự phát triển của các ngành kinh tế chủ yếu là của thành phố
Du lịch và dịch vụ
Là một trong những ngành mũi nhọn song mức độ phát triển chưa cao, chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có của nó
Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến nông lâm sản như: Rau, hoa quả, dược liệu, đồ mĩ nghệ, may, đan, thêu,……nhằm phục vụ hỗ trợ cho công tác du lịch Tuy nhiên so với các ngành khác sự tăng trưởng còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân, khách thăm quan du lịch, xuất khẩu và du lịch
Nông Lâm Nghiệp
Hiện nay sự phát triển Nông - Lâm Nghiệp vẫn là thế mạnh của thành phố, trong 10 năm gần đây từ 1990 đến 2000 ngành Nông Nghiệp Đà Lạt đặt được tốc độ tăng trưởng cao nhất so với các ngành khác, tuy nhiên chỉ chú ý đến trồng trọt còn chăn nuôi thì chưa thực sự phát triển Từ năm 1996 đến năm 2000 ngành Lâm Nghiệp
đã có những cố gắng trong việc bảo vệ các diện tích rừng tự nhiên và trồng mới được 1900ha Tuy nhiên việc phân định đất Nông Nghiệp và đất Lâm Nghiệp vẫn còn chưa
rõ ràng, chưa nghiêm ngặt, vẫn còn bị lấn chiếm phá rừng lấy đất sản xuất nông
nghiệp
3.2.3 Các lĩnh vực văn hóa xã hội
Thành quả nổi bật trong sự nghiệp phát triển Văn Hoá - Xã Hội của tỉnh Lâm Đồng nói chung và thành phố Đà Lạt nói riêng là đã làm tốt công tác Giáo Dục - Y Tế, chăm lo đời sống cho người nghèo, thực hiện tốt chính sách dân tộc và ổn định an ninh
xã hội
Trang 31
Chương 4
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện thí nghiệm
4.1.1Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành tại vườn trồng hoa Lily công ty Thảo Minh thành phố
Đà Lạt
Thời gian tiến hành thí nghiệm 2: Bắt đầu từ 02/05/2008 đến 02/06/2008
Thời gian tiến hành thí nghiệm 1: Bắt đầu từ 15/04/2008 đến 01/07/2008
4.1.2 Điều kiện ngoại cảnh
Thí nghiệm được bố trí trong nhà nilon, bốn xung quanh vây lưới sáng màu và được bố trí dưới dàn che bằng lưới kỹ thuật bảo đảm yêu cầu sau: Giảm 50% - 60% ánh sáng trong hai tháng đầu (lưới sẫm màu) Sau hai tháng dỡ bỏ lưới sẫm màu để cây Lily tiếp xúc hoàn toàn với ánh sáng ở tháng thứ ba
Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho Lily sinh trưởng và phát triển phụ thuộc vào chủng loại giống Cây Lily là loại cây ưa khí hậu mát mẻ do có nguồn gốc ôn đới nên
nó chỉ chịu được nhiệt độ nóng trung bình Cây hoa Lily có thể chịu nhiệt độ từ 100C –
300C, cao quá 300C hoặc thấp dưới 100C sẽ làm cho Lily sinh trưởng và phát triển kém Nhiệt độ thích hợp nhất từ 120C – 130C ở giai đoạn cây ra rễ thân và giai đoạn ra hoa là 200C– 250C Cây Lily yêu cầu nhiệt độ thấp hơn trong thời kỳ cây còn nhỏ Đặc biệt là trong thời kỳ ra hoa nếu đảm bảo nhiệt độ cần thiết thì hoa sẽ trổ nhanh, ra đều, hoa sẽ to và đẹp hơn
Chế độ gió: Khu vực thí nghiệm được bố trí trong nhà nilon xung quanh vây lưới nhằm hạn chế gió mạnh và mưa lớn nhưng phải đảm bảo độ thông thoáng
Ánh sáng: Lily là loại cây ưa sáng vào giai đoạn cuối, thời kỳ đầu cây cần ít ánh sáng bởi vì trong thời gian 1 tháng đầu cây còn sử dụng các chất dinh dưỡng dự trữ có sẵn trong củ Khi cây lớn chuẩn bị ra nụ cây cần nhiều ánh sáng hơn để quang hợp, nếu như ánh sáng quá mạnh hoặc quá yếu cũng sẽ ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng
Trang 32Ẩm độ: Cây Lily cần độ ẩm đất từ 80% - 85% và độ ẩm không khí từ 55% - 70%
để sinh trưởng Nếu ẩm độ đất trên 85% cây sinh trưởng mạnh nhưng bộ lá dễ mắc một số nấm bệnh Ẩm độ không khí quá cao sẽ làm cho cây hoa bị thối rễ hoặc cây chứa nhiều nước dễ bị đổ non
Đất: Cây Lily thích hợp với nhiều loại đất nhưng phải đảm bảo được sự thông thoáng Tuỳ theo nhóm hoa Lily mà độ pH giá thể trồng có khác nhau Thông thường giá thể trồng Lily độ pH= 6 - 6,5 là phù hợp nhất và thoát nước tốt khi trời mưa Lily
có bộ rễ không sâu, do đó đất trồng phải có độ sâu phù hợp để thoát nước tốt, độ sâu thấp nhất là 40cm Cần phải kiểm tra độ pH của mẫu đất trước khi trồng
Dinh dưỡng: Phân bón cho cây hoa Lily phải đảm bảo đầy đủ và cân đối Nếu thiếu phân cây sẽ còi cọc và hoa nhỏ, dễ bị sâu bệnh phá hại nhưng nếu bón thừa cây
sẽ vống cao, dễ bị đổ ngã, khả năng chống chịu kém Phân vô cơ có thể bón trực tiếp vào đất hoặc phân phối bằng hệ thống tưới nhằm ngăn ngừa cháy lá
4.1.3 Điều kiện kỹ thuật
Thí nghiệm 1 trồng trực tiếp từ củ, thí nghiệm 2 tác động trên cây đã đặt hai tháng tuổi
Vật liệu dùng cho thí nghiệm: Thuốc trừ sâu, giống, phân bón, giá thể, nhà kính, lưới sang màu, lưới giảm ánh sáng và các dụng cụ thí nghiệm,……
Các dụng cụ dùng trong thí nghiệm: Thước đo, sổ ghi chép số liệu, giá thể, túi bầu (20cm – 25cm), cân điên tử, cân đồng hồ, ống đong, dụng cụ đo lường, thùng tưới nước,……
Kỹ thuật trồng: Trước khi trồng Lily giá thể phải được tưới nước cho đủ độ ẩm Trồng 4 củ Lily trong một túi bầu kích cỡ 20cm x 25cm
4.1.3.1 Kỹ thuật chăm sóc
Cần giữ ẩm giá thể trước khi trồng để bộ rễ gốc của cây không bị tổn thương và
có thể phát triển ngay sau khi trồng củ xuống giá thể Tưới nước đủ ngay sau khi trồng
để bộ rễ gốc có thể tiếp xúc với đất nhưng tránh tưới quá ẩm Thời điểm tưới nước cho cây tốt nhất là vào buổi sáng sớm
Nước tưới là nước sạch không có phèn, tưới bằng bình phun hoặc vòi sen không nên tạo áp lực mạnh làm tổn thương cây
Mùa khô tưới nước cho cây 1 lần một ngày