HỒ CHÍ MINH KHOA LÂM NGHIỆP LÂM LÊ PHÚC Tên đề tài: TÌM HIỂU TIẾN TRÌNH GIAO ĐẤT GIAO KHOÁN BẢO VỆ RỪNG VÀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN Ở THÔN ĐẠ NHAR, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÂM NGHIỆP
LÂM LÊ PHÚC
Tên đề tài: TÌM HIỂU TIẾN TRÌNH GIAO ĐẤT
GIAO KHOÁN BẢO VỆ RỪNG VÀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN Ở THÔN ĐẠ NHAR, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN KỸ SƯ CHUYÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP XÃ HỘI
Tp HCM Tháng 6 năm 2006
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÂM NGHIỆP
Tên đề tài: TÌM HIỂU TIẾN TRÌNH GIAO ĐẤT
GIAO KHOÁN BẢO VỆ RỪNG VÀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN Ở THÔN ĐẠ NHAR, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN KỸ SƯ CHUYÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP XÃ HỘI
Giáo viên hướng dẫn:
TS Bùi Việt Hải
Sinh viên thực hiện:
Tên: Lâm Lê Phúc Khóa: Lâm Nghiệp 28
Tp.HCM Tháng 6 năm 2006
Trang 3MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING NONG LAM UNIVERSITY IN HO CHI MINH CITY
FORESTRY FACULTY
SUBJECT NAME: STUDY THE PROCESS OF
CONTRACTUAL FOREST PROTECTING AND MANAGEMENT AND THE PARTICIPATION OF PEOPLE IN DANHAR HAMLET, QUOC OAI COMMUNE, DATEH DISTRICT, LAM DONG PROVINCE
FINAL ESSAY SPECIALITY OF SOCIAL FORESTRY
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 5
Trang 6
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 7
Trang 8
LỜI CẢM ƠN
Chân thành cảm ơn quý thầy cô trong bộ môn LNXH, các thầy cô trong khoa lâm nghiệp, trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dạy
và giúp đỡ em trong quá trình học tập
Chân thành cảm ơn thầy TS Bùi Việt Hải đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và động viên em trong quá trình thực hiện đề tài
Cảm ơn chú Nguyễn Văn Dũng, Bí thư Ủy ban nhân dân xã Quốc Oai; anh Nguyễn Bá Khai, trưởng phòng quản lý bảo vệ rừng lâm trường Đạ Tẻh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin
Chân thành cảm ơn các cấp chính quyền, bà con trong thôn Đạ Nhar, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng; cán bộ lâm trường Đạ Tẻh, Cán bộ nông nghiệp – địa chính huyện Đạ Tẻh Đặc biệt là gia đình anh Dũng đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình thực tập tại địa phương
Cám ơn bạn bè trong và ngoài lớp đã giúp đỡ tôi về mặt tinh thần cũng như đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn này
TP Hồ Chí Minh, Tháng 6 năm 2006
Lâm Lê Phúc
Trang 9MỤC LỤC
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2 TỔNG QUAN 2
2.1 Mục đích và ý nghĩa của tiến trình giao khoán 2
2.1.1 Mục đích 2
2.1.2 Ý nghĩa 2
2.2 Các chính sách liên quan đến giao rừng đã được ban hành 3
Chương 3: NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 7
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 7
3.2 Nội dung nghiên cứu 7
3.3 Phương pháp nghiên cứu 8
3.3.1 Tham khảo các tài liệu liên quan 8
3.3.2 Tham khảo các văn bản pháp quy 8
3.3.3 Điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân 9
3.4 Địa điểm nghiên cứu 11
3.4.1 Tiêu chí chọn địa điểm nghiên cứu 11
3.4.2 Sơ lược về xã Quốc Oai 11
3.4.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội thôn Thôn Đạ Nhar 13
3.5 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình nghiên cứu 17
3.5.1 Thuận lợi 17
3.5.2 Khó khăn 17
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
4.1 Tiến trình giao khoán rừng, đất lâm nghiệp 18
Trang 104.1.1 Giao khoán rừng để quản lý bảo vệ 18
4.1.2 Khoán đất trồng rừng và khoán quản lý bảo vệ hưởng lợi theo 178 20 4.2 Phân tích tiến trình 23
4.2.1 Ưu điểm 23
4.2.2 Nhược điểm 23
4.3 Sự tham gia của người dân 25
4.3.1 Sự hiểu biết của người dân trong tiến trình giao khoán 25
4.3.2 Cách tiến hành bảo vệ rừng được giao khoán của người dân 27
4.3.3 Tính tự giác của người dân khi thực hiện dự án 29
4.4 Sơ lược về người dân địa phương và khó khăn và thuận lợi của họ trong tiến trình giao khoán 29
4.4.1 Người dân địa phương 29
4.4.2 Khó khăn và thuận lợi 31
4.5 Hiệu quả công tác giao khoán QLBVR 33
4.5.1 Tính công bằng 34
4.5.2 Tính sản xuất 35
4.5.3 Tính xã hội 35
4.5.4 Tính hiệu quả 36
4.5.5 Tính bền vững 37
4.6 Ý kiến phản hồi từ phía người dân khi tham gia công tác QLBVR tại thôn Đạ Nhar 38
Trang 11Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40 5.2 Kiến nghị 41 Tài liệu tham khảo I Phụ lục 1: Hợp đồng khoán bảo vệ rừng II Phụ lục 2: Biên bản nghiệm thu VII
Trang 12DANH SÁCH BẢNG
Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Diện tích rừng trên địa bàn xã Quốc Oai 12
Bảng 2.2 Mức độ giáo dục ở thôn Đạ Nhar 14
Bảng 2.3 Diện tích tự nhiên thôn Đạ Nhar 15
Bảng 2.4 Các nguồn thu nhập chính của người dân thôn Đạ Nhar 16
Bảng 2.5 Thu nhập các sản phẩm từ rừng 16
Bảng4.1 Kết quả giao khoán QLBV rừng 22
Bảng 4.2 Trình độ học vấn của người dân thôn Da Nhar 25
Bảng 4.3 Ý thức của người dân về lợi ích của việc giao khoán bảo vệ rừng 26
Bảng 4.4 Phân tích SWOT đối với người dân ở thôn Đạ Nhar 31
Bảng 4.5 Diện tích nhận khoán ứng với số nhân khẩu trong hộ 34
Bảng 4.6 Tỉ lệ phần trăm của tiền giao khoán so với tổng thu trong 1 năm 35
Bảng 4.7 Sự tham gia tập huấn của người dân 37
Bảng 4.8 Chất lượng rừng tại địa phương từ khi áp dụng chính sách giao khoán qua nhận định của người dân 38
Bảng 4.9 Đánh giá của người dân về mức tiền công khoán quản lý bảo vệ rừng 38
Trang 13NỘI DUNG TÓM TẮT
Đề tài:
TÌM HIỂU TIẾN TRÌNH GIAO ĐẤT GIAO KHOÁN BẢO VỆ RỪNG VÀ
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN Ở THÔN ĐẠ NHAR, XÃ QUỐC OAI,
HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG
Huyện Đạ Tẻh là một huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng cách thành phố HCM khoàng 150 km.là một huyện mới được thành lập nên cuộc sống ở đời sống ở đây còn gặp rất nhiều khó khăn
Xã Quốc Oai nằm về phía Đông Bắc huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng Phía Bắc giáp xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm Phía Đông và Đông Nam giáp xã Mỹ Đức, huyện Đạ Tẻh Phía Nam giáp thị trấn Đạ Tẻh Phía Tây và Tây Nam giáp xã An Nhơn, huyện Đạ Tẻh
Toàn xã có 7 thôn: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 (thôn Đạ Nhar) với tổng diện tích tự nhiên 8.631 ha và tổng 759 hộ/3503 khẩu, bao gồm: dân tộc Châu Mạ tại chỗ, một
số bà con từ các tỉnh khác đi kinh tế mới và một số dân tộc ít người ở tỉnh Cao Bằng mới di cư vào
Mục tiêu nghiên cứu
Để có cơ sở cho việc kết luận và đề nghị các vấn đề của đề tài “Tìm hiểu tiến trình giao đất giao khoán bảo vệ rừng và sự tham gia của người dân ở thôn Đạ Nhar, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng” Mục tiêu nghiên cứu đề tài bao gồm:
Mô tả tiến trình giao khoán rừng mà lâm trường Đạ Tẻh đã thực hiện
Phân tích tiến trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng
Xác định những thuận lợi và khó khăn trong việc thúc đẩy người dân tham gia trong công tác giao khoán bảo vệ rừng
Đánh giá hiệu quả của chương trình giao đất giao rừng trong quản lý bảo vệ rừng bền vững
Trang 14 Xem xét mức độ tham gia của người dân trong tiến trình này
Nội dung nghiên cứu
Tiến trình giao khoán mà lâm trường Đạ Tẻh thực hiện
Phân tích tiến trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng
Những thuận lợi và khó khăn trong việc thúc đẩy người dân tham gia trong công tác giao khoán bảo vệ rừng
Hiệu quả của chương trình giao đất giao rừng trong quản lý bảo vệ rừng bền vững
Mức độ tham gia của người dân trong tiến trình này
Kết luận
Thông qua việc tim hiểu tiến trình giao khoán đất rừng mà lâm trường Đạ Tẻh thực hiện ở thôn Đạ Nhar, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng và qua những điều dự án đã đạt được, chúng tôi rút ra được vài kết luận sau:
- Dự án giao khoán đã mang lại một số hiệu quả nhất định về kinh tế cộng đồng và hộ gia đình, nhưng còn hạn chế trong quá trình QLBVR có sự tham gia của người dân
- Qua dự án, mỗi hộ dân có thêm thu nhập hàng năm trung bình khoảng 1,4 triệu đồng từ tiền trả công QLBVR và tiền nhận đất trồng mới
- Qua dự án, khoảng cách giữa người dân và chính quyền được rút ngắn lại, thuận tiện thêm cho việc triển khai các chủ trương, chính sách của nhà nước sau này
- Chủ trương giao khoán QLBV cho đồng bào dân tộc Châu Mạ tại Đạ Nhar vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong đợi Đó là do sự hiểu biết về dự án của người dân bị lệch lạc mơ hồ dẫn tới mức độ tham gia của người dân trong tiến trình
là tham gia bị động Động lực kinh tế thúc đẩy người dân tham gia quản lý bảo vệ chưa đa dạng, chưa thực sự khuyến khích người dân tham gia một cách tự nguyện
- Phụ nữ chưa được tham gia thảo luận vào công tác bảo vệ mà chủ yếu là nam giới, từ việc họp thôn đến khi ký hợp đồng, giao khoán ngoài thực địa, kể cả việc tuần tra bảo vệ
Trang 15SUMMARY
Subject name:
“Study the process of Contractual Forest protecting and Management and the participation of people in DaNhar hamlet, Quoc Oai commune, DaTeh district, Lam Dong province”
DaTeh district is in Lam Dong province, about 150 Km from Ho Chi Minh city This is the new district so the existence has many difficulties Quoc Oai commune is
in the Easth North DaTeh district The North bounded by Loc Bac commune, Bao Lam district The Earth and the South Earth is bounded by My Duc commune, DaTeh district The South is bounded by Dateh town The Western and Western South is bounded by An Nhon commune, DaTeh district
In this commune, there are 7 hamlet: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 (DaTeh hamlet) with 8631
ha in area, and 759 household/3503 inhabitant, include: Chau Ma nationality, some form another province, and the some ethnic minorities form Cao Bang province
Research target:
To have the foundation for conclude and propose some problem of this subject
“Study the process of Contractual Forest protecting and Management and the participation of people in DaNhar hamlet, Quoc Oai commune, DaTeh district, Lam Dong province” Research target are:
Describe the process of Contractual Forest protecting and Management where DaTeh plantation was executed
Analyze the process of contractual forest protecting and management
Define the advantages and disadvantages in promote the participation in contractual forest protecting and management
Evaluate the effect of contractual forest protecting and management
Examine the participation level in this process
Trang 16Research Content:
The process of land entrust in DaTeh plantation
Analyze of process Contractual Forest protecting and Management
The advantages and disadvantages in promote the participation in Contractual Forest protecting and Management
The participation level is in this process
The distance between inhabitants and government are curtailing, there are
a lot advantages in deploying the advocate, policy in the future
The policy of land entrust and forest management for Chau Ma nationality still haven’t had the expect effect because of the deviation knowledge about the process so the participation are passive The economic motive power doesn’t promote the inhabitant in forest management so much, don’t encourage them to participate voluntary
The women don’t have the might to discuss about forest management from hamlet reunion to sign contact, land entrust and patrol the forest
Trang 17Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng là một trong những nơi có dân
di cư đến để xây dựng vùng kinh tế mới, với tổng diện tích tự nhiên là 8.631ha, dân
số 3.503 người bao gồm người kinh di cư theo diện kinh tế mới Đời sống người dân tộc thiểu số bản địa (người Châu Mạ) còn phụ thuộc nhiều vào rừng, nên sự tiếp cận tự do vào rừng liên tục trong những năm qua đã làm cho rừng giảm về số lượng và chất lượng Điều này đã làm thu hẹp đáng kể diện tích rừng trên địa bàn
xã Do đó, vấn đề tạo việc làm, tạo nguồn thu nhập khác cho người dân để giảm sự phụ thuộc vào rừng là vấn đề khó khăn hiện nay của xã Các vụ vi phạm luật bảo vệ
và phát triển rừng chưa được phát hiện và xử lý kịp thời Thêm vào đó, mặt bằng dân trí còn thấp, kiến thức còn nhiều hạn chế đối với cộng đồng địa phương nói chung và hộ gia đình nói riêng
Xã Quốc Oai là xã thuộc diện vùng sâu vùng xa, đặt biệt khó khăn Việc tiếp cận với xã hội bên ngoài có nhiều hạn chế Vì vậy, vấn đề thực hiện chủ trương chính sách của nhà nước còn gặp rất nhiều khó khăn Để giải quyết những vấn đề gây ra sự suy thoái tài ngyên rừng và giúp người dân có thể tiếp cận được những lợi ích từ các chính sách cũng như chủ trương giúp đỡ, nâng cao đời sống người dân, Lâm trường Đà Tẻh đã cùng với các cơ quan chính quyền đã cùng nhau thực hiện
dự án giao khoán quản lý bảo vệ rừng đến từng hộ gia đình, có những chính sách khuyến khích hỗ trợ người dân địa phương tham gia công tác quản lý và phát triển rừng Vậy cách tổ chức như thế nào? Tiến trình diễn biến ra sao? Sự tham gia của người dân như thế nào? Đó là những câu hỏi cần sự trả lời
Để trả lời các câu hỏi đó, được sự hướng dẫn của thầy Bùi Việt Hải, chúng tôi đã thưc hiện đề tài: “TÌM HIỂU TIẾN TRÌNH GIAO ĐẤT GIAO KHOÁN BẢO VỆ RỪNG VÀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN Ở THÔN ĐẠ NHAR,
XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH TỈNH LÂM ĐỒNG”
Trang 18xã hội
* Ổn định và tái tạo tài nguyên rừng
Khi rừng đã có chủ thì tình trạng người dân tiếp cận tự do vào rừng và việc khai thác rừng trái phép dần dần sẽ chấm dứt Đồng thời, chủ rừng sẽ có trách nhiệm quản lý bảo vệ đối với phần diện tích rừng mà mình nhận và có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi để rừng phát triển tốt về số lượng và chất lượng
2.1.2 Ý nghĩa
* Bảo vệ tài nguyên rừng
Trước tình trạng người dân tiếp cận tự do vào rừng một cách thiếu nhận thức với mục đích trước mắt là vì nhu cầu cuộc sống của họ và gia đình Điều đó đã làm cho tài nguyên rừng ngày càng giảm về số lượng và chất lượng Để bảo vệ tài nguyên rừng, đảng và nhà nước ta đã có chủ trương để đảm bảo phát triển tài nguyên rừng cho phù hợp với nhu cầu của xã hội ngày càng cao và xu thế phát triển của thời đại Nếu rừng được bảo vệ thì có thể bảo vệ được tài nguyên môi trường, giảm xói mòn đất, giảm thiên tai lũ lụt
* Bảo vệ đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái
Trang 19Nếu tài nguyên rừng ngày càng mất dần do sự tiếp cận tự do của con người thì hệ thực vật cũng sẽ dần mất đi Trong tự nhiên, các hệ sinh thái tồn tại theo quy luật cân bằng tự nhiên Khi một hệ sinh thái bị phá vỡ thì sẽ kéo theo chiều hướng bất lợi cho hệ sinh thái khác Chẳng hạn, khi hệ thực vật rừng không còn thì động vật rừng cũng dần dần biến mất Do đó, việc bảo vệ tài nguyên rừng phần nào bảo
vệ sự đa dạng sinh học trong tự nhiên và góp phần bảo vệ cũng như giữ cho các hệ sinh thác tồn tại trong tự nhiên tự điều chỉnh và cân bằng
2.2 Các chính sách liên quan đến giao rừng đã được ban hành
Vào năm 1991, chính phủ Việt Nam đã ban hành Luật bảo vệ và phát triển rừng, tiếp đến là Luật đất đai được ban hành 1993 Để cụ thể hóa các chính sách như trên, nhằm đưa đất lâm nghiệp được quản lý bởi các chủ thể thực sự, những chính sách liên quan đến giao đất lâm nghiệp đã lần lượt ra đời:
Nghị định số 64/CP, ngày 27 tháng 09 năm 1993 của chính phủ về giao đất nông nghiệp
Nghị định 02/CP, ngày 15 tháng 11 năm 1994 của chính phủ ban hành quy định về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Nghị định 01/CP, ngày 04 tháng 01 năm 1995 của chính phủ về giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước
Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Thủ tướng chính phủ
về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Quyết định 327/CT, ngày 15 tháng 09 năm 1992 của chủ tịch Hội đồng bộ trưởng về một số chủ trương chính sách về sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển
Quyết định 202/TTg, ngày 02 tháng 05 năm 1994 của Thủ tướng chính phủ ban hành bản quy định về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng
Trang 20 Chỉ thị số 18/ 1999/CT-TTg, ngày 01 tháng 07 năm 1999 của Thủ tướng chính phủ về một số biện pháp đẩy mạnh việc hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở nông thôn và vào năm 2000 Thông tư liên tịch 62/2000/TTLT/BNN-TCD9C hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp
Thông tư liên tịch số 1442/1999/TTLT-TCD9T-BTC, ngày 12 tháng 09 năm
1999 của Tổng cục địa chính và Bộ tài chính hướng dẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo chỉ thị số 18/ 1999/CT-TTg, ngày 01 tháng 07 năm 1999 của Thủ tướng chính phủ, công văn số 1427/CV/ĐC, ngày 13 tháng 10 năm 1996 của Tổng cục địa chính hướng dẫn xử lý một số vấn đề
về đất đai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Chúng ta thấy, đến thời điểm năm 1999, nghị định 02/CP hết hiệu lực thi hành và được thay thế bằng nghị định 163/CP Các văn bản pháp luật trên quy định những vấn đề liên quan đến công tác giao đất lâm nghiệp Những chính sách này hỗ trợ, bổ sung cho các văn bản hướng dẫn công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra đời sau, bổ sung cho các văn bản hướng dẫn giao đất lâm nghiệp và giao đất nông nghiệp như: nghị định 01/CP, nghị định 163/CP, trong đó quan trọng nhất là nghị định 01/CP và quyết định 17/08/2001/QĐ-TTg Đây là những chính sánh quy định cụ thể về đối tượng, quyền hạn, nghĩa vụ về chế độ hưởng lợi của người nhận đất
Các chính sách giao đất lâm nghiệp ban hành từ năm 1994-1995, những chính sách, chỉ thị hướng dẫn việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như: chỉ thị 18/1999/CT-TTg, thông tư liên tịch 62/2000/TTLT/BNN-TCĐC-BTC, công
Trang 21văn 142/CV/DDC mới được ban hành vào những năm cuối thập kỷ 90, đặc biệt quyết định 178/2001/QĐ-TTg quy định về quyền hưởng lợi của người dân nhận mới ra đời vào năm 2001 Điều này cho thấy sự không thống nhất trong quá trình ban hành luật đã gây ra những khó khăn cho người thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chế độ hưởng lợi chưa rõ ràng cụ thể, khiến người dân băn khoăn khi nhận đất Những năm trước đây, khi thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp, nhiều địa phương phải xây dựng chế độ hưởng lợi cho người dân hoặc tuân theo các điều khoản được quy định trong nghị định 01/CP, nghị định 02/CP, các quy định chỉ viết chung chung không rõ ràng với từng đối tượng và loại rừng cụ thể (điều 15 nghị định 02/CP và điều 8 nghị định 01/CP)
Như vậy, hai nghị định quan trọng về giao đất lâm nghiệp đang được áp dụng tại ban quản lý và lâm trường, đó là nghị định 01/CP về giao khoán đất lâm nghiệp và nghị định 163/CP về giao đất lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Việc vận dụng hai nghị định này được chú trọng phân tích trong các phần sau của nghiên cứu này
Thời gian giao đất trong cả hai nghị định là 50 năm Tuy nhiên đối với nghị định 01/CP, thời gian giao khoán đất cho các hộ gia đình nếu là rừng phòng hộ đặc dụng là 50 năm, rừng sản xuất được giao theo chu kỳ kinh doanh Nghị định 163/CP quy định thời gian giao đất cho hộ gia đình cá nhân là 50 năm, nếu cây có chu kỳ trên 50 năm sẽ được nhà nước giao tiếp, đối với các tổ chức nhà nước thì được giao theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước
Điểm khác biệt rõ rệt nhất giữa hai nghị định này là việc cấp sổ đỏ hay còn gọi là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất Sự khác biệt này cho thấy sự tiến triển về hiệu quả của từng nghị định Ngày 01 tháng 04 năm 1945, chính phủ ban hành nghị định 01/CP quy định việc giao khoán đất ở các lâm trường
và các ban quản lý rừng nhằm chia sẻ trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng với người nông dân và nâng cao thu nhập của những người sống gần rừng Tuy vậy theo nghị định này, người dân nhận khoán không được cấp sổ đỏ và không có những quyền của người sử dụng đất mà chỉ được hưởng lợi theo hợp đồng ký kết mà hai bên giao khoán và nhận khoán đã thỏa thuận Nghị định 01/CP quy định người có thẩm
Trang 226
nghiệp, giám đốc lâm trường, trưởng ban các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, song hiệu quả giao khoán không rõ ràng trách nhiệm của mình với mảnh đất được nhận, bởi vì họ chỉ nhận được một khoản tiền rất ít từ tiền công quản lý bảo vệ, vì thế còn nhiều tác động xấu vào rừng từ phía người dân khi nguồn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp còn hạn chế Mặc khác một số người sử dụng sai mục đích đã chuyển sang sản xuất nông nghiệp
Nghị định 02/CP được ban hành vào năm 1994, nhưng kết quả thực hiện được vẫn còn nhiều hạn chế do nghị định này chưa quy định rõ ràng về quyền hưởng dụng của người dân từ việc nhận đất và rừng Quyền lợi và nghĩa vụ của người nhận đất chưa cụ thể Do đó, năm 1999 chính phủ ban hành nghị định 163/CP nhằm bổ sung những thiếu xót của nghị định 02/CP và nâng cao trách nhiệm và quyền lợi của người nhận đất từ đó nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng có sự tham gia của người dân Đối tượng nhận đất theo nghị định 163/CP sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó sẽ có đủ các quyền như người sử dụng đất nông nghiệp quy định trong luật đất đai, đó là quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa
kế, thế chấp, cho thuê
Trang 23Chương 3
NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Để có cơ sở cho việc kết luận và đề nghị các vấn đề của đề tài “Tìm hiểu tiến trình giao đất giao khoán bảo vệ rừng và sự tham gia của người dân ở thôn Đạ Nhar, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng” Mục tiêu nghiên cứu đề tài bao gồm:
Mô tả tiến trình giao khoán rừng mà lâm trường Đạ Tẻh đã thực hiện
Phân tích tiến trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng
Xác định những thuận lợi và khó khăn trong việc thúc đẩy người dân tham gia trong công tác giao khoán bảo vệ rừng
Đánh giá hiệu quả của chương trình giao đất giao rừng trong quản lý bảo vệ rừng bền vững
Xem xét mức độ tham gia của người dân trong tiến trình này
3.2 Nội dung nghiên cứu
Tiến trình giao khoán mà lâm trường Đạ Tẻh thực hiện
Phân tích tiến trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng
Những thuận lợi và khó khăn trong việc thúc đẩy người dân tham gia trong công tác giao khoán bảo vệ rừng
Hiệu quả của chương trình giao đất giao rừng trong quản lý bảo vệ rừng bền vững
Mức độ tham gia của người dân trong tiến trình này
Trang 248
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Tham khảo các tài liệu liên quan
Phương án tổ chức quản lý bảo vệ và sản xuất kinh doanh của lâm trường
Đạ Tẻh, liên quan đến các vấn đề: tài nguyên rừng, tổ chức quản lý bảo vệ và kinh doanh rừng, hiệu quả kinh tế trong quản lý bảo vệ và kinh doanh rừng, vấn đề chính sách dân tộc và cơ sơ hạ tầng
Hồ sơ thiết kế giao khoán rừng của lâm trường Đạ Tẻh Với các vấn đề: nghiên cứu tài nguyên rừng, quy hoạch vùng giao khoán dự án, đối tượng dân nhận khoán, diện tích và các giải pháp thực hiện
Các biên bản nghiệm thu, thanh quyết toán hàng năm cho các hộ nhận khoán Về sự biến động diện tích và các vấn đề khác có liên quan tới tài nguyên rừng, như việc chích đẽo khai thác nhựa thông…
Văn bản báo cáo tình trạng thực hiện dự án giao khoán của lâm trường Đạ Tẻh Nghiên cứu vấn đề thực hiện dự án giao khoán rừng mấy năm qua đối với người dân nhận khoán và hiệu quả mang lại, kể cả vốn rừng và việc ổn định tình hình kinh tế xã hội
Bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ kinh doanh, bản đồ giao khoán rừng… tỷ lệ 1/25.000, 1/10.000, 1/5.000
3.3.2 Tham khảo các văn bản pháp quy
Công văn quyết định thành lập dự án giao khoán rừng: công văn số 836 thẩm định dự án theo quyết định 327 của UBND tỉnh Lâm Đồng
Quyết định số 878 QĐ/UB của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc phê duyệt dự
án
Quyết định 327/CT năm 1992 về chủ trương giao đất giao rừng của chính phủ, liên hệ với thực tế ở lâm trường Đạ Tẻh và các chính sách đầu tư
Chỉ thị 202/CT ngày 28 tháng 6 năm 1991 của chủ tịch hội đồng bộ trưởng
về việc cho vay vốn sản xuất nông lâm nghiệp
Trang 25Thông tư liên bộ số 02-VB-TT ngày 02 tháng 08 năm 1993 của Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, bộ lâm nghiệp, bộ thủy sản, bộ tài chính, ban tổ chức cán bộ chính phủ Hướng dẫn thi hành nghị định số 13CP ngày 02 tháng 03 năm 1993 của chính phủ về công tác khuyến nông
Thông tư liên bộ số 10/TTLB hướng dẫn thực hiện quyết định 556/TTg ngày
12 tháng 09 năm 1995 của thủ tướng chính phủ về điều chỉnh bổ sung quyết định 327/CT với nhiệm vụ bảo vệ rừng
Nghị định 02 ngày 15 tháng 01 năm 1994 của thủ tướng chính phủ nghiên cứu về việc giao đất giao rừng cho mọi tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng lâu dài
3.3.3 Điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân
Ngoài phương pháp thu thập các thông tin qua nghiên cứu tài liệu thứ cấp,
đề tài còn thu thập các thông tin bổ sung qua phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân Đề tài đề cập đến các vấn đề sau:
Sự tham gia của người dân trong tiến trình dự án; đó là sự hiểu biết, thái độ, hành vi và các mối quan tâm của người dân hy vọng thông qua dự án Lợi ích và khó khăn người dân gặp phải khi giao nhận khoán rừng Như vấn đề công việc làm, thu nhập, quản lý rừng và những lợi ích và bất lợi khác từ việc giao khoán rừng mang lại
Những ý kiến của người dân trong giao khoán rừng: đó là các vấn đề về định chế, quyền sử dụng và hưởng dụng tài nguyên rừng, tính liên quan của các cơ quan nhà nước Vấn đề khuyến cáo trong quá trình phỏng vấn, trao đổi thông tin truyền tải lại cho người dân về lợi ích từ rừng mang lại cho họ khi được nhận khoán rừng
Và các giá trị khác mà rừng mang lại cho con người nếu quản lý tài nguyên này tốt
Để có được lượng thông tin này, phương pháp điều tra nhanh nông thôn thực hiện như sau: (1) Điều tra tổng thể khu vực giao khoán, (2) Vấn đề tài nguyên rừng, đất rừng, (3) Dân sinh kinh tế- xã hội, (4) Vấn đề canh tác nông nghiệp, (5) Cơ sở
hạ tầng của địa phương, (6) Các vấn đề khác có liên quan đến đề tài
Sau khi điều tổng thể, để có được lượng thông tin tổng quát đã tiến hành
Trang 26Để có lượng thông tin đúng và chuẩn xác cho các vấn đề nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc thực hiện với các đối tượng sau:
- Phỏng vấn cán bộ liên quan: Phỏng vấn giám đốc lâm trường, các ủy viên, cán bộ quản lý dự án xã, cán bộ quản lý lâm nghiệp xã
- Phỏng vấn người dân tham gia nhận khoán rừng: Thành phần chủ yếu là chủ hộ nhận khoán
* Họp nhóm
Những người nhận giao khoán qua phỏng vấn và người chưa qua phỏng vấn được tổ chức thành nhóm thảo luận Quá trình họp nhóm chủ yếu là thảo luận, bàn bạc thống nhất những vấn đề chung và mang tính cộng đồng
Trang 273.4 Địa điểm nghiên cứu
3.4.1 Tiêu chí chọn địa điểm nghiên cứu
Địa điểm khu vực thiết kế giao khoán thuộc địa bàn quản lý hành chính 5 thôn (Đạ Nhar, Con Ó, Tổ Lân, thị trấn Đạ Tẻh, Hưởng Lâm) nằm trên các tiểu khu
526, 537, 520, 538, 548, 539, 547, 546, … thuộc địa phận quản lý của lâm trường
Đạ Tẻh
Với giới hạn của một đề tài tốt nghiệp, việc lựa chọn địa điểm nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra của đề tài là một khâu rất quan trọng, địa điểm nghiên cứu phải đại diện cho toàn bộ khu vực giao khoán
Khi đi tìm hiểu thực tế, địa điểm nghiên cứu được lựa chọn là thôn Đạ Nhar thuộc xã Quốc Oai, một xã vùng sâu vùng xa của huyện Đạ Tẻh Xã Quốc Oai được lựa chọn để nghiên cứu bởi vì:
Có người dân tộc thiểu số (Châu Mạ) tham gia nhận khoán
Có cộng đồng dân cư luôn tiếp cận với rừng
Có nhiều dự án đầu tư nhằm hỗ trợ dự án giao khoán, trong đó có vấn đề bảo vệ và phát triển vốn rừng
3.4.2 Sơ lược về xã Quốc Oai
Xã Quốc Oai nằm về phía Đông Bắc huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng Phía Bắc giáp xã Lộc Bắc huyện Bảo Lâm Phía Đông và Đông Nam giáp xã Mỹ Đức huyện Đạ Tẻh Phía Nam giáp thị trấn Đạ Tẻh Phía Tây và Tây Nam giáp xã An Nhơn huyện Đạ Tẻh
Toàn xã có 7 thôn: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 (thôn Đạ Nhar) với tổng diện tích tự nhiên 8.631 ha và tổng 759 hộ/3503 khẩu, bao gồm: dân tộc Châu Mạ tại chỗ, một
số bà con từ các tỉnh khác đi kinh tế mới và một số dân tộc ít người ở tỉnh Cao Bằng mới di cư vào
* Tình hình tài nguyên rừng:
Với 81,4% là đất có rừng cho thấy xã Quốc Oai có thế mạnh về sản xuất lâm nghiệp nói riêng và nông lâm nghiệp nói chung Theo quyết định số 689/QĐUB
Trang 2812
ngày 05 tháng 05 năm 2003 về việc “kiểm kê tài nguyên rừng”, tài nguyên rừng
của xã như sau (xem bảng 2.1)
* Tình hình dân sinh kinh tế xã hội
Quốc Oai là vùng đất mới được khai phá từ sau năm 1975 Trước đây,
trên địa bàn xã là khu vực sinh sống của người Mạ, trong thời gian 1975 – 1978 là
địa bàn xây dựng kinh tế mới của huyện Người dân Quốc Oai đa số là Phật giáo
chiếm 45,2% số hộ, theo đạo thiên chúa và tin lành chiếm 20,35% số hộ, còn lại
các hộ không theo tôn giáo là 35%
Bảng 2.1 Diện tích rừng trên địa bàn xã Quốc Oai
A Rừng tự nhiên 7176,40
Rừng gỗ 3624,90 Rừng tre nứa 1808,10 Rừng hỗn giao 1743,40
B Rừng trồng 101,50
(Nguồn: Phòng QLBVR Hạt Kiểm Lâm huyện Đạ Tẻh)
Toàn xã có 759 hộ/3503 khẩu Trong đó:
- Dân tộc gốc địa phương có 182 hộ/ 823 khẩu, chiếm 23,9%
- Dân tộc thiểu số phía Bắc có 57 hộ/216 khẩu, chiếm 7,5%
- Dân tộc Kinh có 520 hộ/2464 khẩu, chiếm 51,88%
- Hộ nghèo theo tiêu chí mới có 385 hộ, chiếm 51,88%
- Đối tượng chính sách có: 49, trong đó có 11 đối tượng thôn Đạ Nhar mới
được hưởng chế độ đầu năm 2005
Dân số nhìn chung ổn định, bao gồm dân tộc Kinh, Mạ tại chỗ, một số bà
con ở tỉnh Hà Tây và Cao Bằng di cư vào Trên cơ sở kết quả công tác dân số kế
Trang 29hoạch hóa gia đình, trong thời gian qua dự báo tỷ lệ gia tăng dân số trong 10 năm tới từ 1,3% - 1,4% (theo nghị quyết Đảng bộ xã)
Mức thu nhập cao nhất địa bàn xã là 4 triệu/hộ/ha, thấp nhất là 0,6 triệu/hộ/ha Về các phương tiện sinh hoạt đã được cải thiện, đã có 325 hộ có xe máy, 340 hộ có tivi, 42 hộ có điện thoại bàn Cơ cấu nguồn thu nhập của các hộ thể hiện tổng quát qua cơ cấu thu nhập của xã như sau:
- Làm nghề rừng: 22,2%
- Các sản phẩm trồng trọt: 55%
- Chăn nuôi: 15%
- Buôn bán và dịch vụ: 5%
- Tiền lương cán bộ công nhân viên: 2,8%
Nhìn chung, thu nhập của người dân chủ yếu từ các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi 60%, giá bán nông sản phẩm, giá mua các loại vật tư thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng hàng ngày lại cao Bên cạnh đó, những năm gần đây diễn ra hạn hán, lũ lụt ảnh hưởng đến canh tác làm cho thu nhập người dân đã khó càng khó hơn Riêng đồng bào dân tộc thôn 7 thu nhập chủ yếu là tiền nhận khoán quản
lý bảo vệ rừng và chăm sóc rừng Mặc dù đây là việc làm trong thời điểm nông nhàn, song nghề rừng đã tham gia giải quyết công ăn việc làm góp phần đáng kể trong thu nhập của nhân dân Như vậy, Quốc Oai là một trong năm xã đặc biệt khó khăn của huyện Đạ Tẻh
3.4.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội thôn Thôn Đạ Nhar
Thôn Đạ Nhar có đặc điểm của một khu ĐCĐC được bao bọc bởi rừng núi xung quanh, thuận lợi cho việc giao khoán đất rừng cho người dân quản lý bảo vệ
Có sự khác biệt lớn giữa các cộng đồng dân tộc bản địa (Châu Mạ) và những người nhập cư Toàn thôn có 9 buôn cũ (B’Rá, B’Sốp, Tố Lan, Lơ Ngà, B’Quốc Đạ, B’Quốc Đăng, B’Su, Châu Mộng và Đình Sạch) Phần lớn cư dân ở thôn này là cộng đồng dân tộc Mạ, một nhóm dân tộc thiểu số có cuộc sống mang tính tự cung
tự cấp chủ yếu dựa vào tài nguyên rừng
Trang 3014
* Dân số và giáo dục
Toàn thôn có 205 hộ với 868 khẩu, trong đó có 12 hộ người Kinh với 45 khẩu có 193 hộ dân tộc Mạ với 823 khẩu, chiếm 80% Dân cư sống tập trung thành từng cụm dọc hai bên đường vào thôn Với mật độ dân số như vầy, việc phải lo của
họ là làm sao có đủ cái ăn, các mặc cho gia đình Đa phần lao động chính của họ dựa vào khai thác lâm sản ngoài gỗ
Bảng 2.2 Mức độ giáo dục ở thôn Đạ Nhar
Nam Nữ Nam Nữ
Không giáo dục phổ thông 130 131 85 78 424 Bậc tiểu học 79 79 101 95 354 Bậc trung học 40 27 67 Bậc trung học phổ thông 16 4 20
(Nguồn: UBND xã Quốc Oai, 2005)
* Khí hậu, thủy văn
Thôn Đạ Nhar nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 – 10, mùa khô từ tháng 11 – 5 năm sau Mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 7 và 8, còn mưa ít vào tháng 1 và 2
Hệ thống suối, khe rất nhiều do đặc thù của địa hình tạo nên nhưng mùa nắng thì suối cạn, mùa mưa thì gây nên lũ làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân trong thôn
Trang 31Bảng 2.3 Diện tích tự nhiên thôn Đạ Nhar
Đường giao thông huyện lộ 3km, đá cấp phối Đã có hệ thống nước sạch
cung cấp cho người dân Đường điện trung thế dài 3km, đã hạ thế cho 195 hộ Một
trường học gồm 5 phòng học Có một trạm y tế gồm 3 phòng, cấp 4
* Đời sống kinh tế, văn hoá và xã hội
Đời sống người dân có nhiều khó khăn, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn
Theo thống kê năm 2003, thôn có 43 hộ nghèo, 11 đối tượng hưởng trợ cấp thường
xuyên Hiện nay nhà nước vẫn phải trợ cấp hàng năm về gạo, muối, dầu, vải,
Trong sinh hoạt hàng ngày, nguồn thu nhập chính của người dân phần lớn
dựa vào tài nguyên rừng và một số hoạt động nông nghiệp: trồng trọt, chăn nuôi
Nguồn thu nhập chính được thể hiện như sau
Trang 3216
Bảng 2.4 Các nguồn thu nhập chính của người dân thôn Đạ Nhar
STT Các nguồn thu nhập chính Số tiền ước tính (đồng/n) Tỷ lệ (%)
Làm đũa, chẻ tăm Bán
Bán Xây dựng Đun nấu Bán Bán
(Nguồn: kế hoạch hành động cấp xã, 2001)
Trang 333.5 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình nghiên cứu
3.5.1 Thuận lợi
- Người dân trong thôn đa số là đồng bào dân tộc Châu Mạ đã tham gia vào hoạt động nghề rừng Đặc biệt là cộng đồng dân tộc Châu Mạ đều biết tiếng Kinh nên công việc phỏng vấn thuận lợi
- Được sự giúp đỡ tận tình của cộng đồng dân cư địa phương, chính quyền địa phương, UBND xã Quốc Oai, lâm trường, hạt kiểm lâm, phòng nông nghiệp - địa chính, nên việc thu thập thông tin tương đối thuận lợi
3.5.2 Khó khăn
- Khu vực có địa hình phức tạp, đường hư hỏng nặng, cho nên việc đi lại khó khăn vì trong quá trình thu thập trùng hợp vào mùa mưa
- Do người dân sống gần rừng, cuộc sống còn nhiều khó khăn nên họ thường
đi làm suốt cả ngày, chỉ vào buổi tối và chiều mới có thể phỏng vấn khi họ lo chuẩn
bộ trả lời rất dè dặt trong một số câu hỏi phỏng vấn
- Do chưa có kinh nghiệm nên việc giải thích lý do thực hiện đề tài tại địa bàn nghiên cứu chưa rõ Vì thế, đã gây nhiều sự hiểu lầm đối với một số người