1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TỪ MÔ HÌNH TRỒNG XEN CÀ PHÊ TRONG VƯỜN ĐIỀU TẠI THÔN 5, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG

65 183 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 843,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua tìm hiểu, phân tích và đánh giá cho thấy mô hình trồng xen cà phê trong vườn điều đã đem lại hiệu quả cao nhất, phù hợp với điều kiện canh tác của bà con nơi đây.. Trên thực tế chứng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

***************

BÙI GIA ĐOÀN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TỪ MÔ HÌNH TRỒNG XEN CÀ PHÊ TRONG VƯỜN ĐIỀU TẠI THÔN 5, XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH,

TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH LÂM NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06 / 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

***************

BÙI GIA ĐOÀN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TỪ MÔ HÌNH TRỒNG XEN CÀ PHÊ TRONG VƯỜN ĐIỀU TẠI THÔN 5,

XÃ QUỐC OAI, HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG

Ngành: Lâm Nghiệp

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giáo viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06 / 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài em đã nhận được

sự giúp đỡ tận tình của các Thầy Cô giáo, gia đình và bạn bè Em xin bày tỏ lòng

chân thành tới:

Ba mẹ người đã sinh thành, nuôi nấng, yêu thương và dạy dỗ con nên

người, tạo cho con niềm tin, sức mạnh, chỗ dựa vững chắc để con có được ngày

hôm nay, con vô cùng yêu thương và biết ơn ba mẹ

Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, quý

Thầy Cô giảng viên Khoa Lâm Nghiệp đã trang bị kiến thức, kinh nghiệm cho em

trong suốt thời gian em học tập dưới mái trường đại học

Em gửi lời vô cùng biết ơn đến Cô Nguyễn Thị Lan Phương, người đã tận

tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cán bộ xã Quốc Oai, Gia đình chú Đàm Văn Toán cùng toàn thể người dân

ở thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng đã nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ

tôi trong thời gian thực tập tại địa phương

Thầy chủ nhiệm Phan Triều Giang cùng tập thể lớp DH08NK đã quan tâm

giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tất cả các bạn gần xa của tôi đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt những

năm học vừa qua

Xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2012

Trang 4

sự lựa chọn của mô hình, đánh giá sơ bộ hiệu quả về mặt môi trường, sinh thái Làm

cơ sở cho việc nhân rộng mô hình sang các hộ khác hay các vùng lân cận có điều kiện tương tự

Qua tìm hiểu, phân tích và đánh giá cho thấy mô hình trồng xen cà phê trong vườn điều đã đem lại hiệu quả cao nhất, phù hợp với điều kiện canh tác của bà con nơi đây

Các yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến sự lựa chọn mô hình là thị trường và các chương trình khuyến nông, các yếu tố bên trong nông hộ cũng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình của người dân

Mô hình cũng đem lại hiệu quả nhất định về mặt môi trường và xã hội ở địa phương

Trang 5

SUMMARY

Research topic: "Evaluation of efficient land use patterns intercropping coffee - the fifth village, Quoc Oai, Da Teh district, Lam Dong province," is performed from 12/02/2012 to 15/06/2012

Subjects learn from efficient land use patterns intercropping coffee - it locally Describe the preliminary model, analyze the economic efficiency of the model, evaluating the choice of the model, preliminary evaluation of environmental performance, eco As a basis for scaling the model to other households or neighborhoods with similar conditions

Through research, analysis and model evaluation showed that intercropping

of coffee in the garden that gave the best performance, in accordance with the farming conditions of people here

The factors that most influence the choice model is the market and the agricultural extension program, the elements within the household also affects the decision to choose the model of the people

The model also provides the most efficient in terms of the environment and local society

Trang 6

MỤC LỤC

TRANG

TRANG TỰA i LỜI CẢM ƠN ii TÓM TẮT iii SUMMARY iv MỤC LỤC v DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG ix

Chương 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1 1.2 Mục đích 2

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Giới thiệu về cây điều 4

Chương 3: ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

Trang 7

3.1Địa điểm nghiên cứu thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng 12

3.1.2 Lịch sử hình thành và các sự kiện quan trọng của thôn 12

3.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 14

3.2 Nội dung nghiên cứu 14

3.3 Phương pháp nghiên cứu 15

3.3.3 Xử lý, phân tích, và tổng hợp thông tin 17

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

4.1 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của hệ thống sử dụng đất ở địa bàn

nghiên cứu 19

4.1.2 Diện tích vườn nhà, chất lượng đất 20

4.1.3 Kiến thức chuyên môn về kỹ thuật canh tác của người dân 20

4.1.4 Cơ cấu lao động theo tuổi và giới tính của nông hộ 21

4.1.5 Thành phần dân tộc hay truyền thống canh tác 22

4.1.6 Trình độ học vấn 22

4.2 Điều kiện hình thành mô hình cà phê xen điều 23

4.2.1 Mô tả cấu trúc của mô hình trồng cà phê xen điều 23

4.2.2 Điều kiện hình thành mô hình cà phê xen điều 25

4.3.1 Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Cản trở của mô hình trồng xen 27

4.3.2 Đánh giá sự chấp nhân của người dân đối với mô hình trồng cà phê

Trang 8

xen điều 30 4.3.3 Đánh giá hiệu quả môi trường 31

4.3.3.1 Đánh giá một số biện pháp trong công tác bảo tồn đất và nước tại địa

phương 31 4.3.3.2 Đánh giá khả năng bảo vệ môi trường của mô hình 32

4.3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế 32

4.3.5 Đề xuất PTTX thích hợp nhất với thực tiễn địa phương 35

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ THẢO LUẬN 38

5.1 Kết luận 38 5.2 Kiến nghị 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

PHỤ LỤC 43

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

UBND Uỷ Ban Nhân Dân

PTTX Phương thức trồng xen

SWOT Strength - Weakness - Opportunity - Threat

(Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức) PRA Participatory Rural Appraisal

Đánh giá nông thôn có sự tham gia FAO Food Agriculture Organization

Tổ chức lương thực thế giới PSC Phù sa cổ

TĐVH Trình độ học vấn THCS Trung học cơ sở

UBND Ủy Ban Nhân Dân

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

BẢNG TRANG

Bảng 3.2: Diện tích các loại đất xã Quốc Oai 13

Bảng 3.3: Phân bố quản lý sử dụng đất ở thôn 5, xã Quốc Oai 14

Bảng 4.1: Năng suất và giá điều trong 3 năm gần đây ở thôn 5 19

Bảng 4.2: Tình hình tập huấn kỹ thuật 21

Bảng 4.3: Trình độ học vấn 23

Bảng 4.4: Tuổi của cây điều tại thôn 5 24

Bảng 4.5: Các khoảng cách trồng điều tại thôn 5 25

Bảng 4.6: Tuổi cây cà phê tại thôn 5 26

Bảng 4.8: Giá điều trong 3 năm gần đây ở thôn 5 31

Bảng 4.9: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình 33

Bảng 4.10: Xác định PTTX ưu tiên bằng công cụ so sánh bắt cặp 34

Bảng 4.11: Xác định PTTX ưu tiên bằng ma trận cho điểm 35

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH HÌNH TRANG

Hình 4.1: Sơ đồ phương thức trồng xen Điều - Cà phê 24

Trang 12

lý và điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng miền Có rất nhiều mô hình trồng xen như hoa màu với hoa màu, hoa màu với cây công nghiệp hay cây công nghiệp với cây công nghiệp…, và có nhiều cách trồng xen: trồng xen ở một giai đoạn nào đó, hoặc trồng xen song song cùng lúc Đối với những hộ gia đình có ít đất sản xuất thì việc áp dụng phương thức trồng xen thường được chọn Trồng xen làm đa dạng cây trồng trên cùng một diện tích canh tác, đa dạng hóa các sản phẩm đầu ra, tránh được những tổn thất xấu có thể xảy ra, khi có sự biến động giá cả thị trường hoặc thời tiết bất lợi, đảm bảo an ninh lương thực và tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Vì vậy, các mô hình trồng xen được áp dụng rộng rãi từ đồng bằng tới miền núi Trên thực tế chứng minh được các mô hình trồng xen đã đem lại những đóng góp tích cực trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần cải thiện sinh thái, tăng nguồn thu nhập cho người dân, ổn định dân sinh xã hội

Ở thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng đã và đang áp dụng phương thức trồng xen vào trong đất sản xuất canh tác Trước kia người dân chỉ trồng độc canh một loại cây là cây điều nhưng gần đây giá cả bấp bênh, sâu bệnh, thời tiết bất lợi với lại cây điều đã già cỗi nên mang lại thu nhập thấp làm cho đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn Đứng trước vấn đề đó người dân tại đây đã

áp dụng phương thức trồng xen các loại cây khác vào vườn điều nhằm mục đích

Trang 13

nâng cao hiệu quả sử dụng đất đem lại thu nhập cao hơn Trên thực tếngười dân đã

áp dụng trồng xen các loại cây như sầu riêng, tiêu, cà phê, ca cao, cao su, cỏ vào trong vườn điều Qua tìm hiểu cũng như thực tế cho thấy cây cà phê là loại cây chịu bóng rất tốt, chăm sóc đơn giản, giá cả lại cao nên được người dân tại thôn 5 đưa vào trồng xen Mô hình trồng cà phê xen điều đã góp phần tăng thu nhập cho người dân, nâng cao được hiệu quả sử dụng đất, mô hình này còn hướng tới những mục tiêu lâu dài về mặt xã hội cũng như môi trường, mô hình còn làm thay đổi cách nhìn, cách làm của người dân trong sản xuất

Trên cơ sở thiết thực đó, tôi quyết định thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả

sử dụng đất từ mô hình trồng xen cà phê – điều tại thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng ”

Đề tài được sự phân công của bộ môn Lâm Nghiệp Xã Hội – Khoa Lâm Nghiệp – Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của thạc sĩ Nguyễn Thị Lan Phương

1.2 Mục đích

Trên cơ sở những kiến thức được đào tạo ở trường và các công cụ thích hợp

áp dụng vào thực tế để tiến hành điều tra, thu nhận những kết quả mà người dân trên địa bàn thôn 5, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng mang lại trên diện tích cà phê xen điều Từ đó đánh giá được hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường

của việc sử dụng đất mang lại từ việc trồng xen cà phê với điều

1.3 Mục tiêu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung vào ba mục tiêu chính cũng là ba chỉ tiêu đưa ra đánh giá

 Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của hệ thống sử dụng đất tại thôn 5,

xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng

 Đánh giá hiệu quả của hệ thống sử dụng đất tại địa phương

- Đánh giá hiệu quả kinh tế

- Đánh giá hiệu quả về môi trường sinh thái

- Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội

 Đề xuất

Trang 14

1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu mang lại một số ý nghĩa thực tiễn cho những người làm công tác quản lý ngành nông nghiệp, các trung tâm khuyến nông, các hộ gia đình trồng điều

Kết quả nghiên cứu còn là nguồn tham khảo tốt cho trung tâm khuyến nông, các công ty, nông trường, trang trại trồng điều, các nhà hoạch định chiến lược ngành điều thuộc vùng Tây Nguyên

Mô hình còn đưa ra hướng đi chiến lược cho người nông dân, giúp họ có cách nhìn nhận đúng đắn để từ đó đưa ra những giải pháp cũng như kĩ thuật áp dụng tốt hơn vào mô hình trồng xen này

Đây là mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp bà con dân tộc ở vùng khó khăn xóa đói giảm nghèo Mô hình còn nâng cao hiệu quả việc sử dụng đất, cải thiện môi trường sinh thái, biến những ước mơ làm giàu của người dân trở thành hiện thực Qua đó cần nhân rộng mô hình tới tất cả người dân trên địa bàn

Trang 15

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu về cây điều

Cây điều có tên khoa học Anacardium occidentale L Một số vùng nước ta còn gọi là cây đào lộn hột Tên tiếng Anh thường gọi là “Cashew”

Cây điều được du nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ 18, ban đầu được trồng phân tán trong các vườn hộ gia đình và đồn điền Sau năm 1975 cây điều được chọn

là cây trồng phủ xanh đất trống đồi trọc kết hợp lấy hạt, trái Từ năm 1980 trở đi, cây điều được quan tâm mở rộng diện tích trồng theo hướng thu hoạch hạt phục vụ cho chế biến xuất khẩu Năm 1988 ngành chế biến xuất khẩu nhân điều được hình thành; diện tích cây điều lúc đó vào khoảng 35.000 ha trồng từ hạt, trong đó non nửa diện tích đã cho thu hoạch Năm 1999 diện tích cây điều cả nước đã tăng lên 240.000 ha, sản lượng hạt thô 70.000 tấn; cả nước có 60 cơ sở chế biến hạt điều, kim ngạch xuất khẩu đạt 110 triệu đô la Mỹ (USD)

Cây điều (Anacardium occidentale L.) là cây công nghiệp lâu năm có giá trị

kinh tế cao, chịu hạn tốt và có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau (đất đồi trọc, đất triền đồi hoang hóa, đất kém phì nhiêu đất xám, đất đỏ vàng, đất phù sa ) Đặc biệt, cây điều sinh trưởng và phát triển tốt trên tầng đất xám, đất đỏ vàng, đất phù sa nhưng phát triển kém trên tầng đất bị úng thủy Điều sinh trưởng tốt với khí hậu nhiệt đới, chịu được biên độ dao động từ 70C-460C (thích hợp nhất là 240C-

280C) Trong năm tháng nào nhiệt độ dưới 150C điều sinh trưởng và phát triển giảm

rõ rệt Điều thích nghi với độ cao từ 500 m hoặc 600 m trở xuống so với mặt nước biển Độ cao từ 700 m trở lên cây điều ghép sẽ sinh trưởng và phát triển kém Lượng mưa thích hợp nhất trung bình từ 1.000 – 2.000 mm/năm, nhưng vẫn sinh trưởng được ở lượng mưa từ 400-1.000 mm/năm, độ ẩm < 75 % là thích hợp nhất

Trang 16

Sinh trưởng và phát triển của cây điều liên quan chặt chẽ đến chế độ ánh sáng Độ ngày dài và độ mây che phủ Ở những vùng có độ dài ngày và đêm bằng nhau rất thích hợp cho việc trồng Điều Vùng có nhiều sương mù cây vẫn sinh trưởng bình thường nhưng cho trái kém, thích hợp với những vùng có thời gian chiếu sáng khoảng 2.000 giờ/năm

Diện tích điều tập trung ở khu vực miền Trung vào phía Nam Việt Nam, phân bố ở 4 vùng Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó Đông Nam Bộ có diện tích lớn nhất, chiếm 60

% diện tích trồng điều ở Việt Nam, kế đến là duyên hải Nam Trung Bộ (24 %) và Tây Nguyên (11 %), Đồng Bằng Sông Cửu Long (5 %) Theo FAO (2004 ) diện tích điều thu hoạch của Việt Nam có khuynh hướng tăng dần theo thời gian, năm

2004 đạt 282.300 ha Hiệp hội điều Việt Nam (2005) báo cáo diện tích điều nước ta khoảng 380.000 ha bao gồm diện tích điều trồng mới và thu hoạch (Trích dẫn Lê Tài Hùng Biện, 2009)

Tại khu vực nghiên cứu tỉnh Lâm Đồng, cây điều có mặt trên đất Lâm Đồng

từ trên dưới 30 năm Cây điều được xem là một trong những loại cây trồng “xóa đói giảm nghèo” nhanh của nhà nông Diện tích điều của cả tỉnh Lâm Đồng khoảng 16.000 ha Trong đó, ba huyện phía nam trồng nhiều nhất Huyện Đạ Huoai có 6.400 ha, huyện Cát Tiên có 4.700 ha và huyện Đạ Tẻh có 2.400 ha Và vùng điều lớn đáng kể thứ hai của Lâm Đồng là huyện Đam Rông với gần 1.000 ha (Khắc Dũng, 2011)

Cây cao từ khoảng 3 m đến 9 m Lá mọc so le, cuống ngắn Hoa nhỏ, màu trắng có mùi thơm dịu Quả khô, không tự mở, hình thận, dài 2 - 3 cm, vỏ ngoài cứng, mặt hõm vào, cuống quả phình to thành hình trái lê hay đào, màu đỏ, vàng hay trắng Do vậy người ta thường có cảm tưởng phần cuống quả phình ra là quả, còn quả tật đính vào là hạt, do đó mà có tên đào lộn hột (tức đào có hột nằm ngoài quả) Hạt hình thận có chứa dầu béo

Ngoài ra, cây điều còn được coi là một loài cây đa mục đích có khả năng thích ứng theo mùa, chịu hạn tốt, cung cấp loại quả hạch ăn được có thể tiêu thụ

Trang 17

ngoài thị trường lấy thu nhập, năng suất quả và hạt khoảng 45 kg/cây/năm; khoảng 450-850 kg/ha trong rừng trồng, bên cạnh đó điều còn cung cấp các loại sản phẩm

gỗ như: gỗ xẻ nhỏ, gỗ nhiên liệu…(Bùi Việt Hải, 2001)

Phần mềm mọng nước (quả giả) được dùng ăn tươi dưới hình thức thái

mỏng, thêm muối và ớt như một loại rau gia vị trong bữa ăn hoặc làm đồ tráng miệng Phần mềm này phối hợp với một số quả khác làm nước sinh tố giải khát phổ biến ở các tỉnh phía Nam, có hương vị thơm ngon, lạ miệng

Về mặt y học, quả điều (quả thật), vỏ quả măng cụt, rau má mỗi thứ 30 g, hạt cau già 4 g, tất cả phơi khô, thái nhỏ, sắc với 400 ml nước, còn 100 ml, thêm mật ong, uống làm hai lần trong ngày, chữa kiết lỵ lâu ngày Dầu ép từ quả pha loãng, bôi hằng ngày chữa hắc lào, nứt nẻ kẽ chân, gót chân

Phần mềm mọng nước của điều chứa 10 % đường, vitamin C với hàm lượng cao (261,5 mg trong 100 g phần ăn được), nhiều gấp 5-6 lần ở cam, chanh, chuối

Từ bộ phận này, có thể ép lấy dịch rồi cho lên men thành một thứ rượu nhẹ, thơm ngon mùi dâu tây, vị ngọt, hơi chua, chát, có tác dụng bổ dưỡng, làm ăn ngon, lợi tiểu, chống nôn Dùng ngoài, lấy dịch ép này xoa bóp chữa đau nhức hoặc ngậm súc chữa viêm họng, nhấm nháp chống nôn mửa

2.2 Giới thiệu về cây cà phê

Cây cà phê lần dầu tiên đưa vào Việt Nam từ năm 1897 và được trồng thử từ năm 1888 Giai đoạn đầu, cà phê chủ yếu trồng ở Ninh Bình, Quảng Bình… đến đầu thế kỷ 20 mới được trồng ở Nghệ An và một số nơi ở Tây Nguyên Từ 1920 trở

đi, cây cà phê mới có diện tích đáng kể đặc biệt ở Buôn Ma Thuật, Đăklăk Khi mới bắt đầu, qui mô các đồn điền từ 200 - 300 ha và năng suất chỉ đạt từ 400 - 600 kg/ha Cho đến nay, diện tích cà phê trên cả nước khoảng 500.000 ha và sản lượng

có khi lên đến 900.000 tấn Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới

Cà phê trồng ở nước ta có bao gồm cà phê vối (Robusta) chiếm 90 % diện tích, cà phê chè (Arabica) 10 % và cà phê mít (Excelsa) 1 % Do cà phê vối có hàm

lượng caffeine cao (2 - 4 %) nên hương vị không tinh khiết bằng cà phê chè (caffein

Trang 18

1 - 2 %) nên giá chỉ bằng một nửa Cây cà phê chè ưa sống ở vùng núi cao và thưòng được trồng độ cao từ 1000 - 1500 m, nhiệt độ từ 16 - 25°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm Cà phê vối ưa sống ở vùng nhiệt đới, độ cao thích hợp dưới

1000 m, nhiệt độ khoảng 24 - 29°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm và cần nhiều cần nhiều ánh sáng mặt trời hơn so với cây cà phê chè

Một trong nhưng lý do diện tích cà phê vối cao hơn rất nhiều do chúng có sức sinh trưởng tốt và kháng được bệnh Còn cà phê chè lại rất mẫn cảm với các

bệnh như bệnh gỉ sắt (do nấm Hemileia vastatrix), bệnh khô cành, khô quả (do nấm

Colletotrichum coffeanum và vi khuẩn Pseudomonas syringea, P garcae), bệnh

nấm hồng (Corticium salmonicolor)…

Phương pháp cổ điển nhất để chọn giống cà phê bao gồm các bước tuyển chọn quần thể hoang dại tiếp theo lai, đánh giá sản lượng, lai ngược và lai giữa các loài Nhược điểm của phương pháp này là thời gian lâu, thường khoảng 30 năm mới chọn ra được giống mới Ngày nay, công nghệ sinh học đã được ứng dụng rộng rãi trong cải tạo và chọn giống cà phê như nuôi cấy mô, chuyển nạp gen và đánh giá chất lượng cây giống bằng một số phương pháp sinh học phân tử cho kết quả nhanh

Theo chiến lược của ngành cà phê Việt Nam sẽ giảm diện tích cà phê vối và tăng diện tích cà phê chè tuy nhiên vấn đề giống là vấn đề quan trọng nhất Trước

đây giống cà phê chè ở Việt Nam là giống Typica, Bourbon, Caturra amarello hoặc một số giống được trồng mang tính thí nghiệm như Mundo Novo, Catuai Hiện nay, các vùng mới trồng cà phê chè đều thuộc giống Catimor nhưng giống này có nhược

điểm hương vị thiên về cà phê vối nên cần phải nghiên cứu thêm Với nhu cầu cấp bách hiện nay là cần có giống cà phê chè mới có hương vị thơm ngon và kháng được bệnh thì cần phải ứng dụng các tiến bộ khoa học trong tuyển chọn và nhân giống cà phê từ các nguồn nhập ngoại và sẵn có ở Việt Nam

2.3 Một số mô hình trồng xen ở Việt Nam

2.3.1 Những khái niệm về trồng xen

Trồng xen là hình thức cach tác các loại cây trên cùng một diện tích có thể tận dụng tối đa tiềm năng của đât, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhờ tăng sản

Trang 19

phẩm, tiết kiệm công nhân làm đất, làm cỏ, tưới nước, bón phân cho cây trồng Một

số loài cây có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau (loài ưa bóng và loài ưa sáng) Đối với cây trồng dài ngày thì việc trồng xen cây ngắn ngày sẽ tạo điều kiện cho người lao động sớm có thu nhập để “lấy ngắn nuôi dài”

Boursard (1982) quan niệm trồng xen tức là sự phối hợp hay là xen kẽ các loại cây trồng khác nhau trên cùng một diện tích tạo nên một tổng thể thực vật có nhiều tầng, nghĩa là có sự liên kết phù hợp lẫn nhau giữa các cây trồng có vóc dáng

và hệ rễ khác nhau, sao cho tổ hợp cây trồng này nhận được năng lượng mặt trời nhiều nhất ở độ cao khác nhau và hệ thống rễ khai thác các tầng đất khác nhau (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Korikanthimath và cộng sự (1994) cho rằng trồng xen hay trồng phối hợp bằng đa dạng hóa cây trồng thì ngược với trồng thuần Mục đích chính của đa dạng hóa là tránh lệ thuộc quá nhiều vào một loại sản phẩm duy nhất và tăng tổng thu nhập cho các chủ vườn từ sản phẩm của các cây trồng phụ Hiệu quả của các nguồn

cơ bản sản xuất cây trồng như không gian, đất, bức xạ mặt trời và nước có thể đạt được tối đa nhờ áp dụng các hệ thống thâm canh như canh tác đa tầng, các hệ thống canh tác đa tầng thực chất là các hệ thống đa canh có thành phần cây trồng khác nhau (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Đoàn Văn Điếm (1997) quan niệm trồng xen kẽ các loại cây có yêu cầu cường độ bức xạ khác nhau là biện pháp rất hiệu quả, vừa tranh thủ được không gian vừa không bỏ phí năng lượng Một số loại cây trồng xen có tương tác có lợi do

bổ sung dinh dưỡng cho nhau (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

Willey (1979) định nghĩa khi hai hay nhiều hơn những cây trồng được trồng cùng nhau trên cùng một mảnh đất, những cây trồng này có thể gieo cùng hoặc thu hoạch cùng thời gian Trồng xen hay canh tác đa tầng góp phần đa dạng hóa sức sản xuất và thu nhập, giúp duy trì tính đa dạng sinh học, chống lại các rủi ro do biến động về sinh thái và thị trường Nó cũng giúp cho sự bảo tồn sinh thái và điều này

là thiết yếu không những chỉ để duy trì điều kiện sản xuất lý tưởng mà còn bảo vệ

Trang 20

môi trường cho các thế hệ con cháu tương lai (Trích dẫn bởi Huỳnh Văn Khiết, 2004)

2.3.2 Tổng quan một số mô hình trồng xen

Hiện nay trên khắp mọi miền đất nước các mô hình trồng xen đã và đang tồn tại rất phong phú và đa dạng Sự đa dạng đó không những được thể hiện ở nhiều loại kiểu trồng xen mà còn là sự đa dạng nhiều loài cây trong một mô hình Từ mô hình mía xen màu ở ấp Quyết Thắng xã Hiệp Hưng Với việc trồng bí rợ vào rẫy mía người dân đã thu được hiệu quả rất cao cụ thể: Anh Ngũ Văn Đời, ở ấp Quyết Thắng, xã Hiệp Hưng là một trong những hộ áp dụng mô hình trồng xen bí rợ vào rẫy mía cho hiệu quả kinh tế cao ở địa phương Anh Đời cho biết: “Trước kia, chỉ độc canh cây mía nên thu nhập không cao Thấy diện tích đất giữa hai hốc mía còn trống nhiều, tôi đã nảy sinh ý định trồng xen canh một số loại hoa màu để có thêm thu nhập, trang trải cuộc sống gia đình trong lúc chờ bán mía”

Với diện tích 8 công đất tôi trồng 2.500 dây bí rợ (trồng giữa hai đầu hàng mía), sau 3,5 tháng trồng tôi thu hoạch như sau:

- Vốn đầu tư giống, phân bón, thuốc BVTV: 3.500.000 đ

- Thu hoạch: 1,5 kg/dây x 2.500dây = 3.750 kg

- Thu nhập: 3.750 kg x 7.000 đ/kg = 26.250.000 đ

- Lãi: 22.750.000 đ (lãi bình quân 2.750.000 đ/1.000 m2)

Theo tính toán của anh Đời nếu kết hợp trồng xen canh thêm hoa màu thì lợi nhuận trên cùng diện tích có thể nâng lên đáng kể, đồng thời giúp anh có chi phí để trang trải cuộc sống gia đình và tiền đầu tư chăm sóc cây mía tốt hơn Anh Đời nói thêm: “Nhờ có mô hình trồng rẫy dây trên nền đất mía, nhiều năm qua, nguồn thu nhập của gia đình khá hơn, không còn phải trông chờ vào cây mía như trước đây nữa” Hoặc những mô hình trồng thâm canh cây cam xen ổi do huyện đoàn Thanh Chương phối hợp với trung tâm nghiên cứu thực nghiệm rau, hoa, quả Gia Lâm thuộc viện nghiên cứu rau, quả Trung Ương xây dựng đã bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực Mô hình thâm canh “cam xen ổi” được triển khai trên quy mô 20 ha với 40 hộ thanh niên tham gia, được tiến hành thử nghiệm trong 4 năm Theo đó,

Trang 21

cam là loại cây chủ đạo, giống được trồng là cam Xã Đoài và cam bù Ổi trồng từ giống của Đài Loan và ổi Đông Dư Đây là những loại giống có năng suất, chất lượng cao Theo mô hình cứ 3 cây cam trồng xen 1 cây ổi, và chúng có chức năng tương tác, hỗ trợ nhau trong vấn đề phòng trừ sâu bệnh suốt quá trình phát triển Để chương trình mang lại hiệu quả kinh tế cao, trước khi triển khai cán bộ Trung Tâm thực nghiệm đã trực tiếp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc cho các

hộ Theo các nhà khoa học, cây cam rất dễ nhiễm bệnh vàng lá Greening do môi

giới truyền bệnh là rầy chổng cánh Nhưng loại rầy này lại sợ một chất có trong cây

ổi và thường tranh xa khu vực trồng ổi Do vậy, ổi xen cam là biện pháp tối ưu để phòng bệnh cho cam Mô hình này cũng là mô hình đầu tiên được trồng thí điểm tại Nghệ An

Hay những mô hình trồng dừa xiêm dứa-ca cao-măng cụt cho hiệu quả kinh

tế cao của các nông dân ở huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre Tại khu vườn 1,2 ha trồng trồng xen dừa xiêm dứa, ca cao, măng cụt ở xã Thạnh Ngãi của ông Tư Lộc

đã đem về cho ông thu nhập cao 100 cây dừa xiêm dứa trồng năm 2006 ông thu hoạch gần một năm nay, giá thấp nhất 8.000 đồng/trái, cao nhất 15.000 đồng/trái, đạt thu nhập trên 20 triệu đồng Trong 2 năm 2008 - 2009, mỗi năm ông Tư Lộc thu hoạch, sơ chế bán khoảng 1 tấn hạt ca cao, đạt thu nhập khoảng 50 triệu đồng Năm nay, ca cao cho năng suất tăng hơn năm 2009 khoảng 30 % với giá bán ổn định ở mức cao, vườn ca cao sẽ đem về cho ông Tư Lộc thu nhập trên 70 triệu đồng Theo tính toán của ông Tư Lộc, 3 năm nữa với diện tích 1,2 ha đất trồng xen gồm 240 cây dừa xiêm dứa, 1.000 cây ca cao, 200 cây măng cụt giúp ông có khoảng thu nhập không dưới 300 triệu đồng/năm Chỉ riêng cây dừa xiêm dứa trồng được 7 năm tuổi, cho trái ổn định, bình quân 1 cây ông bán 10 trái mỗi tháng, mỗi trái giá bình quân 10.000 đồng, ông sẽ có nguồn thu trên 250 triệu đồng

Kế đến là mô hình trồng bơ trái vụ xen canh cà phê của chị Lê Thị Vân, xã Eakpan, Cư Mgar (Đăk Lăk) Trên diện tích 5 ha cà phê trồng xen 70 cây bơ, Theo chị ước tính, với lượng trái và hoa như thế, thu nhập từ bơ có thể đạt được hơn 65 triệu đồng trong năm nay và hơn 150 triệu/5 ha vào năm thứ 8 (chưa tính cà phê)

Trang 22

Các năm sau năng suất sẽ tiếp tục tăng cao và ổn định Riêng cà phê chị đã trồng khoảng 7 năm, sản lượng luôn ổn định trên 2 tấn cà phê nhân, với giá hiện nay khoảng 40 ngàn đ/kg, hàng năm chị cũng thu về trên 80 triệu đồng “Bơ trồng xen

cà phê rất phù hợp Cây bơ tiếp nhận ánh sáng ở tầng cao, khai thác dinh dưỡng ở tầng sâu; che bóng, chắn gió , giảm nước tưới và sâu bệnh hại cà phê", chị Vân chia

sẻ

Bên cạnh mô hình bơ xen cà phê mang lại hiệu quả kinh tế cao, mô hình trồng xen cà phê-sầu riêng của bà con ở xã IaKly, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cũng mang lại những hiệu quả thiết thực cho người dân Trên diện tích 3,5 ha cà phê được trồng với mật độ 3 m x 3 m, từ năm 2001 - 2003, ông Ri trồng xen 500 cây sầu riêng Các giống sầu riêng Ri6, cơm vành hạt lép được ông mang từ miềm Tây Nam Bộ lên, trồng xen trong vườn cà phê với khoảng cách 12 m một cây (cứ 3 cây

cà phê trồng xen một cây sầu riêng) Năm 2009, số tiền thu được từ sầu riêng của gia đình ông là 350 triệu đồng Trồng xen cây sầu riêng trong vườn cà phê không chỉ cho thu nhập cao từ sầu riêng do cây được liên tục chăm sóc, tưới nước trong mùa khô mà còn có tác dụng che bóng, chắn gió cho vườn cà phê Điều này giúp vườn cà phê của gia đình ông Ri trở nên bền vững và có năng suất ổn định 5,5 - 6 tấn nhân/ha liên tục trong 4 năm liền Bên cạnh đó, năm 2009 ông cũng đã trồng thêm cây lạc dại để che phủ mặt đất, chống xói mòn trong vườn cà phê Những yếu

tố đó đã mang lại cho ông danh hiệu vườn cà phê có năng suất cao, bền vững và thân thiện với môi trường

Trên đây là một số ví dụ về những mô hình trồng xen ở một số địa phương ngoài ra còn rất nhiều mô hình khác mà người dân đang áp dụng trong vườn sản xuất của mình Chúng không những góp phần tạo thêm thu nhập nâng cao đời sống vật chất cho người dân mà còn góp phần mang lại lại những hiệu quả tích cực cho

xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái xung quanh họ

Trang 23

2000 Làm đường trải nhựa.

2003 Giao khoán rừng cho 46 hộ

2005 Xây trường mầm non phân hiệu Hoa Sen 3

2006

Có 2 dự án của Mỹ: Winrock và Acdivoca Nội dung dự án Acdivoca: trồng xen ca cao dưới tán cây điều Nội dung dự án Winrock: trồng rừng bảo tồn sinh học

2009 Có chương trình 30A: giảm nghèo, hỗ trợ giống cây cao su và ca cao cho người nghèo.

2010 Xây đập và hệ thống mương bêtông tưới tiêu

2011 Hệ thống đập và mương bê tông tưới tiêu đưa vào hoạt động Số

hộ là 134

(Theo kết quả điều tra, 2012)

3.1.2 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Thôn 5 nằm phía Bắc xã Quốc Oai Phía Bắc giáp thôn 7 - xã Quốc Oai Phía Nam giáp thôn 3 - xã Quốc Oai Phía Tây giáp thôn 4 - xã Quốc Oai Phía Đông giáp xã Mỹ Đức - huyện Đạ Tẻh

Trang 24

Địa hình: Thôn 5 có địa hình rất đặc biệt Hai bên là địa hình đồi cao Ở giữa

là địa hình bằng phẳng

Khí hậu: Thôn 5, xã Quốc Oai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nên nhận được nhiều năng lượng bức xạ mặt trời Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm cao 250 - 270 Mưa là yếu tố biến đổi mạnh nhất của khí hậu khu vực với lượng mưa rất lớn 2500 - 2700 mm, tập trung vào các tháng 6, 7 và 8

Đất đai: Địa bàn xã Quốc Oai có 02 nhóm đất chính đó là:

+ Nhóm đất Đỏ vàng có diện tích 8540 ha, được chia làm 03 nhóm phụ gồm: đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất nâu vàng trên phù sa cổ biến đổi do trồng lúa nước

% so với tổng diện tích đất tự nhiên

Có địa hình phân mạch Có độ cao 200 - 650 m so với mực nước biển

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Quốc Oai là 8.598,01 ha

+ Đất nông nghiệp: 8.400,34 ha chiếm 97,7 % + Đất đất phi nông nghiệp: 118,17 ha chiếm 1,37 % + Đất chưa sử dụng: 79,50 ha chiếm 0,93 %

Trang 25

Thôn 5, xã Quốc Oai có 200 ha diện tích đất nông nghiệp Chủ yếu trồng các loại cây như điều, cà phê, tiêu, ca cao, cao su, sầu riêng, lúa, sả chanh, cây ăn quả Đất lâm nghiệp 145 ha

Bảng 3.3: Phân bố quản lý sử dụng đất ở thôn 5, xã Quốc Oai

Mục đích sử dụng Diện tích

(ha)

Tỷ lệ (%)

3.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số và đặc điểm chung: Thôn 5 có 134 hộ với 543 nhân khẩu với 413 người từ 14 tuổi trở lên Trong đó có 4 hộ dân tộc Tày với 9 nhân khẩu, 5 hộ dân tộc Mường với 13 nhân khẩu Dân cư sống tập trung hai bên đường, chủ yếu sản xuất nông nghiệp Số hộ nghèo chiếm tỉ lệ khá cao

Tôn giáo: Hầu hết người dân ở thôn 5 không theo tôn giáo

Nông nghiệp: Đa số người dân ở thôn 5 trồng cây công nghiệp như điều, tiêu, cà phê, ca cao, cao su Một số hộ trồng lúa, cây ăn quả, hoa màu, cỏ chăn nuôi

và cây sả chanh Trong đó, cây điều vẫn là cây chủ lực Tổng diện tích đất nông nghiệp của thôn 5 là 200 ha

Lâm nghiệp: Việc giao khoán đất rừng chưa mang lại hiệu quả cho người dân Có 46 hộ được nhận giao khoán

3.2 Nội dung nghiên cứu

Với các mục tiêu đã xác định, đề tài tập trung vào các nội dung sau đây:

Trang 26

 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của việc sử dụng đất ở địa bàn nghiên cứu

 Điều kiện hình thành mô hình cà phê xen điều

 Hiệu quả của mô hình sử dụng đất

 Đề xuất

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

Đối với thông tin thứ cấp:

Thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại UBNN xã, các thông tin về đất đai, bản đồ sử dụng đất, khí tượng thủy văn gặp trưởng phòng nông nghiệp, địa chính xã và thông tin về cây trồng vật nuôi của xã được tham khảo

từ báo cáo giai đoạn 2009 - 2011

Phỏng vấn người dân: Tiến hành phỏng vấn những hộ có đất đã và đang áp dụng các mô hình trồng xen, các hộ đại diện được cho các mức sống trong địa bàn nghiên cứu

Thu thập thông tin sơ cấp:

Thu thập thông tin thông qua sử dụng các công cụ trong PRA: dòng lịch sử, phân loại hộ, quan sát thực tiễn, sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn người dân, chụp ảnh, SWOT, so sánh bắt cặp, ma trận cho điểm được trình bày ở bảng 3.4

Bảng 3.4: Khung logic

Mục tiêu Nội dung nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu

Nguồn thu thập số liệuTìm hiểu những

thuận lợi và khó khăn

của hệ thống sử dụng

đất tại thôn 5, xã

Quốc Oai, huyện Đạ

Tẻh, tỉnh Lâm Đồng

Đánh giá những thuận lợi

và khó khăn của việc sử dụng đất ở địa bàn nghiên cứu

Điều kiện hình thành mô hình cà phê xen điều

Quan sát, chụp ảnh và phỏng vấn bằng bảng câu hỏi

- Tài liệu thứ cấp

- Những

hộ gia

Trang 27

Đánh giá hiệu quả

của hệ thống sử dụng

đất tại địa phương

Hiệu quả của mô hình sử dụng đất

Phỏng vấn và công cụ SWOT

đình

có tiến hành phương thức trồng xen trong vườn điều

và các tiêu chí về xã hội (chính sách nhà nước;

nguồn lực về vốn, lao động , kinh nghiệm sản xuất của nông hộ, thị trường nông sản)

Thảo luận nhóm (3 đến 5 người nông dân tiêu biểu) về những hạn chế và tiềm năng của mô hình so sánh bắt cặp, ma trận cho điểm

Xác định số hộ gia đình cần phỏng vấn theo công thức tính toán của một nghiên cứu mang tính định tính (Nguyễn Thị Kim Tài, 2006) như sau:

S2: phương sai mẫu (0,25)

Lấy mẫu cho cả thôn là 52 hộ Sau khi có được danh sách các hộ áp dụng mô hình trồng xen từ Bác trưởng thôn, tôi tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên những hộ được phỏng vấn Trong đó có 30 hộ tiến hành trồng xen cà phê trong vườn điều, 14

hộ có áp dụng trồng xen, còn lại 8 hộ chỉ trồng độc canh cây điều

3.3.2 Phương pháp điều tra

Phỏng vấn một số cán bộ chủ chốt của xã và ấp, một số nông dân am hiểu về sản xuất của địa phương (Phụ lục 1) để đánh giá những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu

Dùng dòng thời gian để nắm bắt được những sự kiện xảy ra trong xã và việc hình thành mô hình cà phê xen điều

Trang 28

Phỏng vấn nông dân thu thập số liệu về đầu tư, sản xuất, thu nhập (câu hỏi đóng và mở) trong 3 năm trở lại đây

Thảo luận nhóm (3 đến 5 người nông dân tiêu biểu) về những hạn chế và tiềm năng của mô hình

Dùng SWOT phân tích những điểm yếu và thách thức nhằm tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả cho mô hình cà phê xen điều

3.3.3 Xử lý, phân tích, và tổng hợp thông tin

3.3.3.1 Xử lý và tổng hợp thông tin

Phần câu hỏi mở: sắp xếp và chọn lọc những thông tin cùng loại vào một nhóm, sau đó thống kê số hộ có cùng ý kiến để rút ra kết luận cuối cùng

Phần câu hỏi đóng: được mã hóa bằng dữ liệu trong phần mềm Excel

3.3.3.2 Phân tích thông tin

Trong đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình thì phương pháp được sử dụng

là phương pháp CBA-Cost Benefit Analysis (là phương pháp so sánh giữa thu nhập

và chi phí có tính giá trị của đồng tiền theo thời gian)

Các giá trị hiện tại thu nhập và chi phí theo John Gunter được xác định bằng công thức sau:

Giá trị hiện tại của thu nhập BPV (Benefit Present Value):

i là tỷ lệ lãi của tiền vay ngân hàng ở thời điểm hiện tại hay tỷ lệ chiết khấu

t = 1,2,3…Là thứ tự năm đầu tư

Giá trị hiện tại của chi phí CPV (Cost Present Value)

Trang 29

Giá trị hiện tại ròng NPV (Net Present Value) là hiệu số giữa thu nhập và chi phí thực hiện sau khi đã chiết khấu Nói cách khác là lợi nhuận được quy về giá trị đồng tiền ở thời điểm hiện tại

Nếu NPV > 0: sản xuất có lãi, phương án được chấp nhận

Nêu NPV = 0: sản xuất hòa vốn

Nếu NPV < 0: sản xuất thua lỗ, phương án không được chấp nhận

Chỉ tiêu này cho biết quy mô của lợi nhuận về mặt số lượng nhưng chưa nói lên mức độ (chất lượng) của các chi phí để đạt được giá trị hiện tại ròng Tức là chưa cho biết chất lượng đầu tư là tốt hay xấu

Tỷ lệ thu nhập, chi phí BCR (Benefit Cost Rate) là thương số giữa toàn bộ thu nhập so với toàn bộ chi phí sau khi đã chiết khấu đưa về giá trị hiện tại Công thức tính theo Jonh Gunter như sau:

BPV

0

0

) 1 (

) 1 (

Chỉ tiêu này chính là hệ số sinh lãi thực tế Nó phản ánh về mặt chất lượng đầu tư Tức là nó cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được mấy đồng thu nhập phương án nào có BCR lớn nhất thì được chọn

Nếu BCR > 1: phương án sản xuất có lãi

Nếu BCR < 1: phương án sản xuất thua lỗ

Trang 30

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của hệ thống sử dụng đất ở địa bàn nghiên cứu

4.1.1 Thời tiết, địa hình, tưới tiêu

Địa hình thôn 5, rất đặc biệt, hai bên là địa hình đồi cao, ở giữa là địa hình bằng phẳng Với địa hình bằng phẳng thích hợp cho người dân canh tác các loại cây trồng, đặc biệt là cà phê và điều (Chu Thiết Liễn, trưởng thôn 5)

Khí hậu ở đây là khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,60C Độ ẩm trung bình hàng năm là 82 % Hướng gió phổ biến trong vùng là gió Đông, Đông Bắc và gió Tây Tốc độ trung bình 10 -12 m/s, gió có tần suất tốc độ lớn nhất đến 21 - 25 m/s Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa trung bình năm từ 2200 - 2400 mm Qua điều tra phỏng vấn người dân được biết những năm gần đây khí hậu bất lợi thường xuyên xảy ra (vào thời điểm điều ra hoa thời tiết thường mưa nhiều làm giảm rất nhiều năng suất của cây điều) thể hiện qua bảng 4.1

Bảng 4.1: Năng suất và giá điều trong 3 năm gần đây ở thôn 5

Năm Năng suất điều trung bình

(kg/ha)

(Theo kết quả điều tra, 2012)

Vì vậy khí hậu bất lợi đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của hệ thống sử dụng đất (hiệu quả kinh tế của mô hình)

Trang 31

Hệ thống thủy lợi từ hồ Đạ tẻh chạy qua thôn 5, đã hoàn thành vào cuối năm

2010 đã đáp ứng nhu cầu tưới tiêu của người dân Đây chính là điểm mạnh để mô hình trồng cà phê xen điều phát triển rộng rãi, cũng như trồng các loại cây trồng khác

4.1.2 Diện tích vườn nhà, chất lượng đất

Qua khảo sát cho thấy rằng diện tích trồng cà phê xen điều của các hộ nằm trong khoảng từ 0,5 ha đến 3,2 ha Do trước đây nguồn nước chưa được cung cấp đầy đủ nên mô hình chưa được áp dụng trên diện tích rộng Với diện tích bình quân của các hộ khoảng 2 ha/hộ họ đã biết sử dụng đất nhà để tăng gia sản xuất, áp dụng

mô hình canh tác phù hợp tạo ra thu nhập nhiều hơn và thường xuyên hơn nhằm phát triển kinh tế

Theo điều tra được biết nhóm đất ở đây chủ yếu là nhóm đất đỏ vàng Qua đánh giá của người dân thì đất ở đây bạc màu và nghèo dinh dưỡng nhưng nói chung chất đất thích hợp cho cây điều và cây cà phê phát triển Dựa vào kinh nghiệm làm vườn lâu năm của mình, người dân sẽ biết được chất lượng đất của vườn như thế nào rồi từ đó họ có những biện pháp lựa chọn cây trồng phù hợp, cùng với sự kết hợp tưới tiêu, bón phân hợp lý vừa cải tạo cấu trúc đất vừa nâng cao hiệu quả kinh tế cây trồng Bên cạnh đó việc lựa chọn các cây trồng trong mô hình của các hộ cũng theo xu hướng thị trường nên đã hình thành nhiều mô hình khác nhau tại địa phương

4.1.3 Kiến thức chuyên môn về kỹ thuật canh tác của người dân

Ngày nay, với sự phát triển của cơ sở hạ tầng (hệ thống điện, giao thông đi lại, cơ sở vậy chất phục vụ cho canh tác,…), cùng với sự phát triển của tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin…, người dân được tiếp cận với rất nhiều nguồn thông tin không chỉ để giải trí, mà còn học hỏi kinh nghiệm sản xuất qua một

số chương trình như: bạn của nhà nông, các chương trình khuyến nông…, trên hệ thống thông tin đại chúng như ti vi, đài

Trang 32

Bảng 4.2: Tình hình tập huấn kỹ thuật trong 1 năm của người dân thôn 5

Số lần tập huấn kỹ thuật Số người tham gia

đó thì đội ngũ cán bộ khuyến nông phải có kiến thức sâu rộng về chuyên môn cả về

lý thuyết lẫn thực hành, hiểu tâm lý của người nông dân nhằm tạo sự gần gũi và tin tưởng của người dân

Như vậy, việc người dân tiếp cận đến với các nguồn thông tin sẽ là cơ sở quan trọng để họ nắm bắt được các kỹ thuật không chỉ là giống hay cách chăm sóc

mà cả kỹ thuật quản lý mô hình của mình sao cho có lợi nhuận kinh tế cao nhất và bền vững

4.1.4 Cơ cấu lao động theo tuổi và giới tính của nông hộ

Theo điều tra thôn 5 có 134 hộ với 543 nhân khẩu, số người có độ tuổi từ 14 tuổi trở lên là 413 người chiếm 76,1 % Qua đó ta thấy được số lao động trong các

hộ gia đình nơi đây tương đối dồi dào Số lao động trong hộ đa phần là từ 2 người trở lên Trước đây khi chỉ trồng độc canh cây điều thì nguồn lao động này trở nên

dư thừa rất nhiều, công việc của họ chỉ bận rộn vào tháng 2,3,4 bởi vì vào thời gian

Ngày đăng: 03/06/2018, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm