Tuy nhiên đây là lĩnh vực còn mới mẻ đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, theo đó cũng có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này và càng hiếm hoi hom đối với lĩnh vực truyề
Trang 1j ụ ĩ - i
VĂN HOÁ NGHE NHÌN
CỦA NGƯỜI CHĂM
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH VẢN h o a đ ô n g n a m á
KHOÁ 2004 - 2008
TBưOllS Pậl HỘC MỞ TP.HCWTHƯ VIỆN
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHÚ VĂN HẲN
THÀNH PHÔ' HỒ CHÍ MINH, THÁNG 08 NĂM 2008
ti
Trang 31 Lý do chọn đề tài
Người Chăm là một thành phần dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam thống nhất, sinh sống lâu đời và có một nền văn hoá rực rỡ, độc đáo Trong bức tranh đa màu sắc của nền văn hoá Việt Nam, văn hoá Chăm có những nét đặc thù
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức,
sự đa dạng văn hoá và bản sắc văn hoá dân tộc đang được đề cao ở tầm cao mói Văn hoá và biểu hiện văn hoá của mỗi tộc người ngày càng được nghiên cứu sâu hom, kỹ hom với một sự tôn trọng, bình đẳng
Người Chăm cũng như các dân tộc, tộc người khác ở Đông Nam Á, đều có nền văn hoá bản địa chung của cư dân nông nghiệp lúa nước Trải qua những giai đoạn lịch sử đầy biến động thăng trầm, văn hoá của người Chăm biến đổi đồng hành cùng diễn trình vận động trong không gian, qua thời gian của sự tiếp biến,
sự giao thoa, hoà nhập giữa những yếu tố văn hoá nội sinh và ngoại sinh Tuy đã
có hàng nghìn công trình nghiên cứu về văn hoá Chăm, nhưng cho đến nay văn hoá Chăm vẫn đầy bí ẩn, nhất là mảng văn hoá phi vật thể Chính điều đó đã không ngừng cuốn hút các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu
Gần đây, truyền thông đại chúng đang có xu hướng phát triển mạnh, sự bùng nổ của Internet và các phưomg tiện truyền thông khác đã tác động nhiều đến đời sống con người và đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cần quan tâm, nhất là ở các vùng đồng bào thiểu số Tuy nhiên đây là lĩnh vực còn mới mẻ đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, theo đó cũng có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này và càng hiếm hoi hom đối với lĩnh vực truyền thông đại chúng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong đó có người Chăm
Người Chăm là một cộng đồng năng động, ưong xu thế phát triển hiện nay người Chăm đã tiếp nhận hết sức đa dạng các phưomg tiện truyền thông và cũng chịu ảnh hưởng không ít từ loại hình này Đặc biệt tiếng dân tộc Chăm trong lĩnh vực phát thanh truyền hình Việt Nam cấp trung ưomg và địa phưomg đã tác động nhiều mặt đến văn hoá, xã hội của người Chăm, cũng như các giá trị ngôn ngữ ngày càng được nâng cao trong đời sống văn hoá tinh thần của xã hội Chăm
Trang 4Việc nghiên cứu đề tài “Văn hoả nghe nhìn của người Chăm” là nền
tảng quý báu góp phần hiểu biết thêm tinh hoa văn hoá của dân tộc Chăm, trước tiên trong văn hoá nghe nhìn và góp phàn hiểu biết thêm cộng đồng các dân tộc Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Là sinh viên được đào tạo chuyên ngành văn hoá, đề tài “Văn hoá nghe
nhìn của người Chăm” được chọn làm khoá luận tốt nghiệp nhàm giúp cho bản
thân có điều kiện tiếp xúc vói thực tế, vận dụng tổng hợp các kiến thức đã học giải quyết các vấn đề nghiên cửu, góp phần hiểu sâu hon về văn hoá dân tộc Chăm trong thời kỳ hiện đại cũng như văn hoá Chăm trong lĩnh vực tiếp cận truyền thông đại chúng Điều đó còn có ý nghĩa góp phần bổ sung vốn tài liệu để
từ đó chúng ta có thể tìm hiểu sâu hơn, rộng hơn về văn hoá dân tộc Chăm nói riêng và bổ sung tư liệu vào nền văn hoá Việt Nam
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá, tôn giáo, xã hội, ngôn ngữ của người Chăm nhưng có rất ít các công trình đề cập đến việc tiếp nhận các phương tiện truyền thông đại chúng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
này Trong các công trình liên quan đến đề tài “Văn hoá nghe nhìn cửa người
Chăm” có thể kể đến:
Trước năm 1975 tại miền Nam có tiểu luận cao học xã hội của Đào Quang
Mỹ: “Điều tra về vô tuyến truyền hình của xã hội Việt Nam” viết về truyền hình
ở Sài Gòn (Trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn, năm 1970); “Bốn lý thuyết về
báo chỉ, truyền thanh, truyền hình, điện ảnh” do Nguyễn Đình Tuyến dịch (Việt
Nam và Thế giới thời báo xuất bản, Sài Gòn, năm 1972);
Sau năm 1975, liên quan đến đề tài này có “Các báo cáo về việc thực
hiện QĐ 53/CP cửa Hội đồng Chính phủ cũng như các bài viết về văn hoá trong truyền thông đại chúng ở đồng bào dân tộc Chăm” (báo cáo của Uỷ ban
Nhân dân tỉnh An Giang, Ninh Thuận, Bình Thuận, năm 1980)1 trình bày tình hình thực hiện nhiệm vụ này, qua đó trình bày một số thành quả ban đầu của phát
1 Uỷ ban Dân tộc của Chính Phủ.
Trang 5thanh truyền hình ở vùng đồng bào Chăm và chưomg trình tiếng Chăm thực hiện
tại các phương tiện truyền thông; “Truyền thông đại chúng nhập môn” của
Huỳnh Văn Tòng (Đại học Mở - Bán công thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, năm 1993); Viết về lĩnh vực truyền hình có luận án tiến sĩ của Đinh Quang Hưng, đề
tài: “Những phương pháp và biện pháp chủ yếu nhằm phát triển sản phẩm
truyền hình cho phù hợp với yêu cầu về truyền hình ở Việt Nam hiện nay”
(Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, năm 1996)
Ngoài “Ngôn ngữ Chăm với việc bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc” của Phú Văn Hẳn (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1999) và “Tiếng dân tộc
trong truyền thông đại chúng” do Phú Văn Hẳn thực hiện vào năm 2008 (Viện
Khoa học xã hội vùng Nam Bộ); hoặc Bùi Khánh Thế trong bài ‘Tiếng Chăm
trên sóng điện và các vấn đề ngôn ngữ học”; cần kể thêm một số công trình viết
về truyền thông trong đó có nói đến truyền hình như “Chân dung công chúng
truyền thông” của Trần Hữu Quang (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001);
“Truyền thông đợi chúng - những kiến thức cơ bản” do Trần Hậu Thái dịch (từ
Claudia Mast), năm 2003; “Văn hoá nghe nhìn và giói trẻ” của Đỗ Nam Liên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2005); “Công tác truyền hình bằng tiếng
dân tộc thiểu số” của Đài Truyền hình Việt Nam (báo cáo của Uỷ ban Dân tộc,
năm 2006); “Phát thanh dân tộc thiểu số” của Đài Tiếng nói Việt Nam (báo cáo
của Uỷ ban Dân tộc, năm 2006)
Đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào thể hiện một cách có hệ thống (đã công bố) về khía cạnh văn hoá trong lĩnh vực phát thanh truyền hình của tiếng dân tộc Chăm Tuy nhiên các công trình và các tài liệu kể trên ở nhiều gốc độ khác nhau, cũng như bài giảng của Lê Khắc Cường2 về những vấn đề có
tính đại cương liên quan đến “Truyền thông đại chúng các nưởc Đông Nam Ả ”
giúp ích nhiều cho việc nghiên cứu, thực hiện đề tài này
4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
Khoá luận đề tài “Văn hoá nghe nhìn của người Chăm” tập trung tìm
hiểu về khía cạnh văn hoá trong lĩnh vực phát thanh truyền hình tiếng Chăm và
2 Ts Lê Khắc Cường, Gv thinh giảng tại Khoa Đông Nam Á, Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 6của người Chăm Đối tượng chính của đề tài sẽ tập trung khảo sát việc tiếp xúc, tiếp nhận văn hoá nghe và nhìn của người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận và Nam Bộ Đây là các cộng đồng địa phương tiêu biểu của người Chăm và có những đặc thù trong việc tiếp nhận văn hoá nghe nhìn cũng như có Chương trình tiếng Chăm trong Đài phát thanh truyền hình và Đài Tiếng nói Việt Nam (cụ thể
là Đài phát thanh truyền hình Ninh Thuận đặt tại thành phố Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận; Đài phát thanh truyền hình Bình Thuận đặt tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Đài Tiếng nói Việt Nam - cơ quan thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh ) Đồ tài nghiên cứu chú trọng khảo sát người Chăm có mối quan tâm như thế nào đến phát thanh, truyền hình và loại hình này tác động như thế nào đến đời sống văn hoá người Chăm hiện tại và tương lai cũng như trong việc bảo tồn
và phát triển văn hoá dân tộc của người Chăm hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp khoa học, người nghiên cứu thực hiện điền dã tại vùng người Chăm cư trú ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh và An Giang, phỏng vấn ngẫu nhiên và phỏng vấn chuyên gia, kết họp thu thập thông tin và xử lý số liệu, nghiên cứu tài liệu về dân tộc, ngôn ngữ dân tộc, kinh tế - xã hội của ngưòi Chăm
Đe hoàn thành đề tài khoá luận này, người thực hiện cố gắng vận dụng các phương pháp khác nhau để nghiên cửu đề tài ở khía cạnh văn hoá và văn hoá học,
vì vậy phương pháp văn hoá học được chú trọng vận dụng cùng với các phương pháp khoa học tiếp giáp như dân tộc học, ngôn ngữ học và điều ưa xã hội học để cho kết quả tin cậy
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Với kết quả nghiên cứu của đề tài “Văn hoá nghe nhìn cửa người
Chăm”, hy vọng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn hoá của người Chăm qua
việc tiếp nhận truyền thông đại chúng đặc biệt là phát thanh truyền hình nói chung và Chương trình tiếng Chăm ưong lĩnh vực phát thanh và truyền hình Qua
đó đề tài sẽ hướng đến một tầm nhìn hệ thống hơn về tiếp nhận và tiếp xúc các phương tiện nghe nhìn cũng như các phương tiện truyền thông ưong thòi kỳ hiện
Trang 7đại và hội nhập, góp phần định hướng phát triển bền vững cộng đồng Chăm Tài liệu của khoá luận giúp cho những nghiên cứu tiếp tục về văn hoá nghe nhìn và văn hoá Chăm.
Trong Chương 2: về “Phát thanh truyền hình tiếng Chăm” (từ tr 30 - tr 49) trình bày 2 mục chính, gồm: 2.1 Phát thanh truyền hình tiếng dân tộc thiểu số; 2.2 Tiếng Chăm ưên phát thanh truyền hình
Trong Chương 3: về “Người Chăm với văn hoá nghe nhìn hiện nay (từ tr
50 - ư 72) trình bày 3 mục chính, gồm: 3.1 Việc tiếp nhận phương tiện nghe nhìn của người Chăm; 3.2 Tác động của phát thanh truyền hình với người Chăm; 3.3 Xu hướng tiếp nhận văn hoá nghe nhìn của người Chăm
Trang 9CHƯƠNG 1:
C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trang 101.1 Một số khái niệm về phương tiện nghe nhìn
Để có cái nhìn khái quát và thống nhất, chúng tôi giới thiệu một số thuật ngữ Các thuật ngữ này cũng là những khái niệm mà trong đề tài sử dụng:
- Truyền thông - Communication3:
Từ một thuật ngữ kỹ thuật mang ý nghĩa thông báo tin tức bàng phương tiện thông tin, communication được định nghĩa một cách tổng quát đó là mọi hoạt động được thực hiện để xác lập, xây dựng, truyền tải hay trao đổi thông tin giữa máy phát và các máy thu; hoặc toàn bộ những phương pháp dùng để thông tin giữa các cá nhân, một nhóm người hay số đông4
Communication dần dần trở thành thuật ngữ khoa học sử dụng rộng rãi và được quốc tế hoá chỉ sự truyền đạt tin tức bằng những phương tiện kỹ thuật Ở Việt Nam, communication được gọi là truyền thông
Khi truyền thông được phổ biến rộng rãi trong công chúng, người ta ghép
từ “mass” (số nhiều, số đông, quần chúng) vào từ “communication” và mass communication có nghĩa là truyền thông cho số đông, được dịch ra tiếng Việt là
“truyền thông đại chúng”
Nhà khoa học Nga Xvetaeva N.N coi truyền thông đại chúng là “quá trình truyền bá thông tin (tri thức, các giá trị tinh thần, đạo đức và các chuẩn mực luật pháp) với sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật (in ấn, radio, quay phim, truyền hình ) tới một số lượng đối tượng lớn”5
3 Sử dụng thuật ngữ tiếng Anh để “trung thành” với những thuật ngữ “gốc” vốn quen thuộc với người Việt Nam, một phân do khó tìm được từ tương đương trong tiếng Việt.
4 Khái niệm này từ Dictionnaire du multimédia: audiovisual informatique, telecommunications, Jacques Notaise, Jean Barda, Olivier Dusanter, P.Afnor, 1996 và The Merriam Webster, W ebster’s Third New
International Dictionary o f the English Language unnabridges Philippines copyright 1986 by Merriam
Webster inc, Made in The U.S.A.44AG/KP91 (trích từ Tài liệu Phú Văn Hẳn, 2008, ‘T iếng dân tộc trong truyên thông đại chúng”, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ).
5 Truyền thông đại chúng trong hệ thống các quan hệ xã hội, Xvetaeva N.N.trong tác phẩm Truyền thông
đại chúng trong x ã hội X ã hội chủ nghĩa, Leningrad 1979, ư 57, bản tiếng Nga (trích tù Tài liệu Phú Văn
Hăn, 2008, “Tiếng dân tộc trong truyền thông đại chúng”, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ).
Trang 11Tác giả Huỳnh Văn Tòng của Việt Nam đưa ra định nghĩa giản đơn hơn:
“Truyền thông là kỹ thuật truyền đạt tin tức, tư tưởng và thái độ từ người này sang người khác”6
- Phương tiện thông tín (Media) và thông tin đại chúng (Mass media):
Theo nghĩa đen, media chỉ hệ thống có khả năng tái tạo đồng thời văn bản, tiếng động, hình ảnh Sau này nó được sử dụng để chỉ toàn bộ những hoạt động
và sản phẩm liên quan đến sự chế tạo, phổ biến thông tin đến công chúng Trong nghĩa đó người ta hay phân nhóm các media theo một trong những đặc tính của chúng và thường là theo tri giác Theo đó sự phân chia các media có thể dựa trên những tiêu chí khác nhau: về kỹ thuật, về chức năng hoặc các tính chất khác Mass media cũng là từ ghép để chỉ tính đại chúng, phổ biến của media Ở Việt Nam, dựa theo chức năng truyền thông xã hội, media và mass media thường được hiểu là phương tiện thông tin và thông tin đại chúng Người ta có thể chia media thành những phần nhỏ hơn hoặc theo những tính chất khác nhau (điện tử, hoá lý, sợi kim loại hay quang học, hoặc in ấn, phát thanh, truyền hình ) Từ multimedia (ghép từ “multi - nhiều” với media) để chỉ tính đa dạng của media và trong tiếng Việt thường được hiểu với nghĩa thông tin đa phương tiện, thông tin
đa chức năng Multimedia được dùng từ đầu những năm 80 ở thế kỷ trước
Nếu như communication chỉ chung mọi mặt của truyền thông, thông tin thì media dùng để chỉ những phạm vi nhỏ hơn của truyền thông Philippe Breton, Serge Proulx đã chia mảnh đất truyền thông thành các khu vực nhỏ: xuất bản, truyền thanh, truyền hình Và theo tính chất khác hơn nữa thì quảng cáo rồi tin học cũng là những media Do khái niệm multimedia có phổ rất rộng nên người ta phân chia theo nhiều cách khác nhau Ví dụ xét theo chức năng, truyền thông xã hội có thể chia thành các media: xuất bản, truyền thanh, truyền hình Thomas R Dye Harmon Zeigler7 cũng đưa ra bảy lĩnh vực thuộc cấu trúc của mass media, * 1
6 Truyền thông đại chúng nhập môn, Huỳnh Văn Tòng Tài liệu học tập phổ biến nội bộ, Đại học Mở -
Bán công Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, 1993, tr.5.
1 American politics in the media age Thomas R Dye Harmon Zeigler CA Brooks cole, 1986, tr.96
(trích từ Tài liệu Phú Văn Hẳn, 2008, “Tiếng dân tộc trong truyền thông đại chúng”, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ).
Trang 12đó là: sách, báo, điện ảnh (motion pictures), phát thanh, tạp chí, băng đĩa (recordings), truyền hình Michel C.Emery, Ted Curtís Smyth trong cuốn
“Readỉng ỉn mass communỉcation: concepts and ỉssues ỉn the mass medùt”
cũng coi báo chí (press), phát sóng (broadcasting trong đó có radio, truyền hình), xuất bản sách (book publishing), phim ảnh, tạp chí đều là những mass media
- Nghe Nhìn tương đương thuật ngữ audiovisual của tiếng Anh hay audỉovisuel trong tiếng Pháp, có nghĩa phổ biến trong tiếng Việt là nghe nhìn và
dùng để chỉ những media khác với những media in ấn (print media) Audiovisual được ghép từ audio (âm thanh) với visual (nhìn, hình ảnh) để chỉ kỹ thuật truyền thông kết hợp âm thanh và hình ảnh Bản thân nó cũng có nghĩa là multimedia vì
sử dụng nhiều media (hình ảnh và âm thanh) ưong sự tương tác (Interactive)
- Truyền hình gắn với thuật ngữ Televisión (viết tắt là TV) được ghép từ
tele (xa) với Vision (nhìn) để chỉ sự truyền tin bằng cách kết họp giữa hình ảnh và
âm thanh thông qua các công cụ chuyển đổi ánh sáng và âm thanh thành sóng điện từ, rồi tái tạo chúng thành những tia sáng thấy được và những âm thanh nghe được Những hình ảnh này có thể là hình ảnh tĩnh hoặc động của đối tượng hay vật thể Định nghĩa trên đây nặng tính kỹ thuật nhưng tóm lại truyền hình được hiểu là thông tin kết hợp hình ảnh và âm thanh thông qua phát sóng hoặc các hình thức dẫn truyền khác và được người xem tiếp nhận trên màn hình
- Truyền hình cáp/ Cáp truyền hình (Cable televisión/ televisión par cable):
Trước hết nói về cáp (cable): Cáp là phương tiện để truyền thông tin, nối các phần của một hệ thống Một sợi cáp được hợp thành từ một hoặc nhiều sợi dẫn điện được bao bọc bởi một hoặc nhiều lớp cách ly Mỗi đầu dây cáp đều có đầu nối
Truyền hình cáp - Cable televisión: là từ ghép của cable và televisión
Truyền hình cáp sử dụng các mảng cáp để phát hoặc phân phối các chương trình, khác với truyền hình dùng sóng hertz hoặc vệ tinh Chất lượng hình ảnh tốt và số lượng các kênh chương trình truyền hình cáp đều rất lớn Truyền hình cáp cho phép phát triển truyền hình tương tác (Interactive), nghĩa là có sự phối họp, trao
Trang 13đổi qua lại Ví dụ như kết nổi với hệ thống điện thoại, với máy vi tính để tăng khả năng đối thoại, trao đổi thông tin.
- Truyền hình kỹ thuật số - Digital television (television numérique):
Tiếng Việt gọi là truyền hình kỹ thuật số Trong truyền hình kỹ thuật số các tín hiệu được xử lý bằng cách số hoá tại hai đầu truyền hình ảnh: từ camera đến đầu đọc của khán giả xem truyền hình Việc truyền, phát và lưu giữ chương trình đều được số hoá Chất lượng hình ảnh truyền hình kỹ thuật số rất tốt, chất lượng âm thanh tương đương chất lượng đầu đọc đĩa laser
- Truyền hình qua vệ tinh - Satellite television (television par satellite):
Đây là hệ thống truyền hình mà việc phát các chương trình được thực hiệnqua vệ tinh Tín hiệu truyền hình được truyền dưới dạng sóng hertz và được thu tại mặt đất bàng các anten parabol lớn hoặc cá nhân có đường kính khác nhau Các anten này hướng đến vệ tinh để thu sóng Dùng một anten có thể thu được các chương trình từ một hay nhiều vệ tinh gần nhau (cách nhau vài km) và cùng hướng quỹ đạo Người ta thường kết hợp giữa vệ tinh và cáp bằng cách thu tín hiệu vệ tinh vào một đầu thu chung rồi phát lại cho hệ thống cáp
Có hai cách để truyền qua vệ tinh:
• Từ trạm truyền tín hiệu được phát lên vệ tinh rồi lại được đưa xuống nhiều trạm thu mặt đất Từ đây hình ảnh được dẫn qua các mạng cáp
• Từ trạm truyền tín hiệu được phát lên vệ tinh và từ đây phát thẳng tới người xem qua các anten chảo
- Video: được sử dụng để chuyển nhận những hình ảnh và âm thanh truyền
hình (television) Những âm thanh và hình ảnh này thường được ghi vào băng từ (magnetic tape) và phát lại thông qua máy chuyên dụng lên màn hình ti vi Nếu gọi một cách đầy đủ là video cassette hoặc video tape, song trong cuộc sống người ta hay nói gọn là video
- Compact: theo nghĩa đen là tập trung, nén, dồn chặt Disc là đĩa
Compact disc là CD, thoạt đầu là từ chỉ chung cho các loại công cụ trợ giúp điện
tử bằng đĩa compact Sau này người ta phân biệt rõ CD là đĩa ghi âm còn VCD tức là video compact disc và DVD (digital versatile disc) là đĩa ghi hình ảnh
Trang 14Từ CD - Rom để chỉ đĩa CD lưu trữ dữ liệu được sử dụng dưới dạng đọc
Từ đây hình thành nên các từ CD - Rom văn hoá, CD - Rom bách khoa toàn thư,
CD - Rom khoa học, CD - Rom du lịch để chỉ các CD - Rom có nội dung văn hoá, bách khoa toàn thư, khoa học, du lịch
Một từ khá thông dụng nữa của thời đại thông tin là “đại lộ thông tin”8
(information highway) Đây là mạng lưới điện tử tốc độ cao và băng thông rộng,
đảm bảo sự lưu thông các thông tin số hoá dưới dạng văn bản, hình ảnh tĩnh hoặc động, các thông điệp âm thanh, âm nhạc Các đại lộ thông tin có thể đi đến tận cửa các công ty, trường học, hộ gia đình Trong tưomg lai, sự phát triển của đại
lộ thông tin có thể tạo nên những “mê đạo viễn thông” chằng chịt
- Văn hoá đại chúng - Popular culture hoặc pop culture :
Có nhiều định nghĩa về văn hoá cũng như định nghĩa về văn hoá đại chúng, nhưng có thể hiểu đây là văn hoá của số đông trong xã hội Nét đặc trưng
là tính phổ biến của nó tại thời điểm đó Ray B Browne xem popular culture là thế giới văn hoá bao quanh ta, gồm quan điểm, thái độ, hành vi ứng xử, ẩm thực, trang phục, kiến trúc đường xá, giải trí, thể thao, tôn giáo Tóm lại là tất cả những gì gắn với đời sống9
Từ khái niệm popular culture có thêm một thuật ngữ tiếng Anh nữa là mass culture Hai thuật ngữ này có tính tương đồng và có thể dùng thay thế nhau.Nhìn chung các thuật ngữ này có xuất xứ từ phương Tây do sự ra đời của các phương tiện truyền thông cũng như nhu cầu khách quan trong thông tin và nghiên cứu Các khái niệm này nhanh chóng được phổ biến và trở thành thuật ngữ quốc tế Các nhà khoa học Nga cũng chuyển âm hoặc dịch nghĩa các khái niệm này sang tiếng Nga Có hai cách thể hiện các khái niệm này: phiên âm từ tiếng Anh hoặc Pháp chỉ biến đổi một chút phần đuôi cho phù hợp ngữ pháp tiếng Nga: communication - communicasia, television - televidenie, visual - visualnưi, hoặc dịch nghĩa “nghe nhìn” sang tiếng Nga
8 Nguyên Phó tổng thống M ỹ AI Gore được coi là người sáng tạo ra từ này ưong cuộc vận động tranh cử cho Bill Clinton.
9 Mass media, mass culture James Wilson Stau, Le Ro Wilson Fourth edition, p.3 (trích từ Tài liệu Phú
Văn Hăn, 2008, ‘T iếng dân tộc trong truyền thông đại chúng”, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ).
Trang 15Nhìn chung, truyền thông ở Việt Nam phát triển chậm hơn nhiều nước, nhất là các nước phát triển nên các khái niệm liên quan đến lĩnh vực này cũng chậm được phổ cập Song vào những năm 60 của thế kỷ XX, ở miền Nam khái niệm “nghe nhìn” đã được dịch theo âm Hán - Việt, Đào Quang Mỹ đã dùng từ
“thính thị” khi đề cập đến cách diễn tả bằng hình ảnh và âm thanh của vô tuyến truyền hình10 Đến nay các khái niệm liên quan đến nhiều lĩnh vực của nghe nhìn không còn xa lạ với số đông công chúng khán giả Việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn như truyền hình, video, băng, đĩa nhạc, máy vi tính, và gần đây là các công cụ kỹ thuật số ngày càng trở nên phổ biến Báo chí hiện nay đã nói về nghe nhìn khá nhiều Qua các cuộc điều ưa cũng đã thấy rõ thanh thiếu niên không bỡ ngỡ với những thuật ngữ nêu ưên và đa số có thể ttao đổi, nhận xét khá thoải mái các vấn đề về nghe nhìn Sự ra đời của tin học và những tiện ích do nó đưa lại cùng với những kết hợp tương thích của các công cụ nghe nhìn khác ngày càng làm cho cấu trúc của truyền thông đại chúng được mở rộng hơn
- Văn hoá nghe nhìn - Audiovisual culture: Sự lan rộng và phổ biến của
các phương tiện nghe nhìn làm cho chúng ngày càng ưở nên thiết yếu ưong đời sống xã hội, trở thành nhu cầu không thể thiếu, nhưng đồng thời cũng tạo nên những thói quen, ảnh hưởng đến nhiều mặt ưong hưởng thụ văn hoá Quá trình này diễn ra từ từ, không ồn ào nhưng dần dần để lại dấu ấn ưong cách làm việc, tác phong ứng xử, đi đứng, ăn mặc
Khái niệm “văn hoá nghe nhìn” (audiovisual culture) để chỉ lối sống cũng
như nhu cầu hưởng thụ văn hoá thông qua các thiết bị nghe nhìn cũng như những tác động về mặt văn hoá do các phương tiện nghe nhìn mang đến Khái niệm này chưa được ghi vào các từ điển nhưng ưong các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài nỏ thường được nhắc đến
Có thể nói những dấu hiệu chính để văn hoá mang tính nghe nhìn, hình thành nên cụm từ “văn hoá nghe nhìn” đó là:
• Các thiết bị nghe nhìn ưở thành phương tiện, công cụ, là cái không thể thiếu ưong cuộc sống nói chung và đời sống văn hoá nói riêng
10 Điều tra về vô tuyến truyền hình tại x ã hội Việt Nam Đào Quang Mỹ Tiểu luận cao học xã h ộ i, Trường
Đại học Văn Khoa Sài Gòn, 1970, tr.62, 160.
Trang 16• Nó được hình thành từ nhu cầu của con người và nó chi phối trở lại, tạo nên những thói quen, tâm lý thưởng ngoạn mới gắn liền vói các phương tiện nghe nhìn.
• Nó làm phát triển những kỹ năng mới của thời đại thông tin cũng như làm xích lại các nền văn hoá và có tác động sâu sắc, tạo nên những thay đổi trong lối sống
Trên cơ sở đó có thể đưa ra định nghĩa: “Văn hoá nghe nhìn là tổng hoà của nhu càu, lối sống, phong cách hưởng thụ, cách ứng xử, cũng như những thói quen hình thành dưới tác động của các phương tiện nghe nhìn Đây là một quá trình tích hợp tự nhiên trước những thay đổi của môi trường sống mà sự thích ứng dường như là khách quan theo quy luật tiếp nhận”
Dần dần hình thành thêm những khái niệm đi vào những ngành hẹp như
“children’s media” (media của trẻ em) hay “network culture” (văn hoá mạng) hay
“ekrannaia cultura” (văn hoá màn hình - trong tiếng Nga)
Các khái niệm cũng sẽ ngày càng phong phú theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật cùng với sự ra đời ngày càng nhiều những media mới
Tiếng Chăm, do “sinh sau đẻ muộn” trong lĩnh vực truyền thông cũng như trong văn hoá nghe nhìn nên các thuật ngữ liên quan đến văn hoá nghe nhìn mới được hình thành cùng lúc tiếp xúc vói văn hoá phương Tây hoặc thông qua ngôn
ngữ văn hoá Việt, như “Rayo” (Đài), Danak dak papar sap Cham (Chương trình phát thanh tiếng Chăm) di Rayo sap ndom Vietnam (của Đài tiếng nói Việt Nam) hoặc Danak dak papar sap papar binguk (Chương trình phát thanh
truyền hình), Vì thế các thuật ngữ chỉ “văn hoá nghe nhìn” bằng tiếng Chăm không nhiều và chủ yếu có gốc từ ngôn ngữ phương Tây hoặc từ tiếng Việt, như:
“tivi” (truyền hình), “katset” (casset - máy thu âm), mbang (băng), “mbang katset” (băng caset), prỉang (đĩa), ilamu iek (văn hoá nhìn), ilamu pang (văn
hoá nghe), “angten” (anten), “pharambol” (parabol)
Trang 171.2 Khái quát về văn hoá nghe nhìn
Nghiên cứu văn hoá nghe nhìn là vấn đề không mới trên thế giới, nhất là ở những nước phát triển, mặc dù chỉ phát triển chủ yếu từ thế kỷ XX trở lại đây.Văn hoá nghe nhìn được cho là ra đời muộn so với nhiều ngành nghiên cứu khác nhưng với đà phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật cùng với những tiện ích khó phủ nhận và vai trò to lớn của nghe nhìn, nên việc nghiên cứu về nghe nhìn tuy là lĩnh vực mới đối với nhiều nước trên thế giói, nhất là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, nhưng đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu văn hoá
Trên thực tế, sự phát triển của truyền thông trong lĩnh vực phát thanh truyền hình, băng đĩa và gần đây nhất là Internet đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, như về: chương trình, công chủng, thị hiếu, các vấn đề trong quản lý, giáo dục, nhất là đối với giới trẻ Trong khi đó các công trình nghiên cứu về nghe nhìn chưa nhiều và có thể nói chỉ mới bắt đầu được quan tâm, chú ý ở Việt Nam
Ở Việt Nam nghe nhìn nói chung về truyền hình, băng đĩa nói riêng xuất hiện chưa lâu, song đây là lĩnh vực phát triển đầy tiềm năng Sự phát triển của hai lĩnh vực này trong những năm qua đã được chứng minh
Nhưng nếu so sánh với sự phát triển của truyền hình trong những năm gần đây và tàm quan trọng của nó thì số lượng công trình nghiên cứu quả là ít ỏi Các công trình nghiên cứu về băng đĩa ghi hình còn nghèo nàn hơn Nếu tỷ lệ các công trình giữa truyền hình và băng đĩa thì sự chênh lệch này là phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Nhưng việc chưa có công trình nào viết về băng đĩa ở Việt Nam là một khiếm khuyết cần khắc phục Công bàng mà nói, tuy những công trình chuyên sâu còn ít, nhưng báo chí với sự nhanh nhạy của những người “đo nhịp sống xã hội” đã cho thấy nhiều vấn đề cần quan tâm Tuy nhiên với khuôn khổ của những bài báo, nội dung của chúng chỉ dừng lại ở mức độ nêu thực trạng
và cảnh báo một số vấn đề
Những tư liệu do người nước ngoài viết về truyền hình Việt Nam không nhiều Vai trò của truyền hình cũng như công cụ tạo dựng các quan hệ xã hội, kết nối các dân tộc, đem lại cho người dân cảm giác là một phần của đại gia đình Việt
Trang 18Nam, rộng hơn là một phần của thế giới, bình đẳng và cùng tồn tại Song bên cạnh đó lại tiềm tàng một nguy cơ về sự phá vỡ những giá trị truyền thống Tuy không ít các phim truyền hình, hình ảnh của cuộc sống đô thị với tiện nghi hiện đại dễ đưa đến những so sánh, nhất là lớp trẻ thường lấy phim ảnh làm thước đo cho tiêu chuẩn sống Dần dàn nền văn hoá của các dân tộc bị pha trộn và phá huỷ Điều dễ thấy nhất là nếp sinh hoạt cộng đồng truyền thống bị phá vỡ và con người ngày càng gần với lối sống cá nhân ở phương Tây.
Người Chăm với những đặc điểm về phát triển tâm lý có những nhu cầu riêng và là người tiếp nhận tích cực những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đồng thòi cũng chịu tác động của phương tiện nghe nhìn nhiều nhất trên cả phương diện tích cực và tiêu cực, là đối tượng cần quan tâm, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách kỹ lưỡng về ảnh hưởng của truyền thanh, truyền hình cũng như tác động văn hoá đối với người Chăm Nhiều câu hỏi cần đặt ra: người Chăm hiện nay có mối quan tâm như thế nào với truyền thanh, truyền hình? Nhu cầu văn hoá của người Chăm ra sao? Các chương trình truyền thanh, truyền hình nào được họ ưa thích và những ước mong của họ về truyền thanh, truyền hình trong tương lai? Những người làm chương trình truyền thanh, truyền hình cần biết ý kiến của người Chăm để đáp ứng được nhu càu này và để chất lượng chương ngày càng được nâng cao
Người Chăm được đánh giá là cộng đồng nhạy bén và năng động, là cộng đồng có mức sống khá ổn định so với cộng đồng thiểu số khác trong nước và tương đối đồng đều, sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn của cộng đồng Chăm không quá lớn Hơn thế nữa, trong xu thế đô thị hoá nhanh chóng, sự cách biệt này được rút ngắn Đa số người Chăm đều sử dụng các phương tiện truyền thông như truyền hình, radio và một số phương tiện nghe nhìn phổ biến khác như đầu video, đầu đĩa hình, nên các phương tiện này thực sự là công cụ thông tin, truyền bá kiến thức cũng như phục vụ giải trí cho nhiều người Chăm
Người Chăm vốn có truyền thống của một xã hội nông nghiệp đang tiến lên xã hội công nghiệp, việc sử dụng thời gian rảnh rỗi có những chuyển biến rất
cơ bản về tính chất và sự thay đổi đó tạo ra những sắc thái văn hoá mới Trong xã
Trang 19hội nông nghiệp thời gian rảnh rỗi thời vụ được sử dụng chủ yếu vào các hoạt động hội hè, thời gian này thường kéo dài trong nhiều ngày và cả cộng đồng cùng tham gia vào lễ hội và các trò chơi dân gian; thời gian rỗi của cá nhân trong ngày được sử dụng cho các thú tiêu khiển như nuôi chim, ưồng hoa, cây cảnh hoặc thăm thú lẫn nhau Cách thức sử dụng đó hình thành trên tính chất bình lặng của hoạt động kinh tế và tâm lý nhàn nhã trong cuộc sống Trong xã hội công nghiệp, các hoạt động kinh tế thương mại, dịch vụ, sản xuất diễn ra liên tục quanh năm
ít nhiều đã và đang tác động vào đời sống kinh tế xã hội nên thời gian rỗi thời vụ ngày càng ít có, vì thế, xã hội công nghiệp ít có những lễ hội kéo dài nhiều ngày làm đình chỉ hoạt động kinh tể của xã hội như trong xã hội nông nghiệp Nhưng mặt khác do năng suất lao động tăng lên nên thời gian rỗi của mỗi cá nhân trong
xã hội công nghiệp tăng lên nhiều so với xã hội nông nghiệp; và cũng do tính chất của nền kinh tế, việc sử dụng thời gian rỗi có một sự thay đổi sâu sắc Nhịp điệu tiến triển gấp gáp, những đòi hỏi gắt gao về năng lực và trình độ chuyên môn đã tạo áp lực lớn đối với nhu cầu không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp đã cuốn hút cả thời gian rỗi Con người trong xã hội công nghiệp sử dụng thời gian rỗi một cách có kế hoạch và nhàm đến một mục tiêu cụ thể Các hoạt động trong thời gian rỗi ngoài mục tiêu giải trí và nghỉ ngơi còn hướng đến mục tiêu học tập
để không ngừng nâng cao sự hiểu biết, đến sự thưởng thức văn hoá, nghệ thuật, đến sự mở rộng các quan hệ xã hội Sự thay đổi cách thức sử dụng thời gian rỗi phản ánh những đặc điểm văn hoá mới của xã hội, tạo ra các thói quen mới: học thêm, đọc báo, đọc sách, nghe xem băng, nghe radio, xem truyền hình, chơi thể thao, sinh hoạt nhóm, đi du lịch
Văn hoá nghe nhìn là một hình thức văn hoá mới của xã hội công nghiệp hiện đại, nó hình thành và phát triển dựa trên sự tiến bộ trong các kỹ thuật truyền thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình và trên cơ sở xu hướng tâm lý mong muốn sử dụng thời gian rỗi một cách có hiệu quả nhất cho sự nghỉ ngơi, thư giãn về tâm lý cũng như thể chất và đồng thời đem lại những lợi ích thiết thực khác
Trong những năm gàn đây, kỹ thuật truyền hình ngày càng phát triển đã nâng cao chất lượng phát sóng Sự nở rộ của các đài phát thanh truyền hình địa
Trang 20phương cùng những nỗ lực áp dụng kỹ thuật hiện đại như tăng các kênh truyền hình cáp, kỹ thuật số đã làm phong phú thêm cho chương trình nghe nhìn và theo
đó khán giả cũng được quyền lựa chọn những món ăn tinh thần theo sở thích của mình Song song với kỹ thuật phát triển, thị trường rộng mở của các phương tiện nghe nhìn cũng đặt ra nhiều vấn đề về quản lý văn hoá, vấn đề quản lý việc lắp đặt anten parabol
Nói về truyền hình Việt Nam, khá nhiều ý kiến tập trung cho các chương trình giải trí Trước tiên, cần khẳng định có nhiều lời khen cho những tiến bộ gần đây trong xây dựng chương trình: nhiều kênh, nhiều thể loại, nhất là từ khi truyền hình cáp ra đời và sau đó giá thuê bao ngày càng rẻ hơn đã tạo điều kiện cho khán giả tiếp thu nhanh các tin tức và mở mang tầm nhìn ra thế giới
phim truyện truyền hình Phim phóng sự, tài liệu có phim dài và phim ngắn Thật
ra chưa có quy chuẩn nào cho loại ngắn hay dài và cũng khó phân biệt ranh giới rạch ròi giữa phim phóng sự tài liệu ngắn và một số đoạn phim minh hoạ tin tức Các phim này tạo nên thế mạnh cho các đài địa phương vì tính chất thời sự
“người thật việc thật” tại từng địa bàn và phù hợp với khả năng về nhân lực cũng như kỹ thuật của các nhà đài Đây thực sự là mảng phim phản ánh thực tế nhiều mặt cuộc sống ở hầu khắp cả nước Nó tuyên dương những gương tốt và cũng phê phán những mặt trái, những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống như nạn tảo hôn, ma tuý, buôn lậu, xuất khẩu lao động, sách giáo khoa Trong mảng phim tư liệu với
đề tài văn hoá nghệ thuật, nhiều chân dung các nhà văn, nhà thơ, những người hoạt động văn hoá, câu chuyện về các làng nghề, nghệ thuật truyền thống đưa lại cho người xem nhiều điều lý thú Sự tương đối đều tay của các thiên phóng sự bàng hình ảnh cho thấy những nỗ lực của các đài địa phương và khoảng cách giữa các đài đang được rút ngán Song mặc dù các nhà làm phim tài liệu đã chịu khó đi vào nhiều ngõ ngách của cuộc sống nhưng nhìn chung “chất lượng vẫn giẫm chân tại chỗ” Tuy nhiều đề tài được khai thác nhưng cách thể hiện không có gì mới, vẫn là kể bằng lòi rồi dùng hình ảnh minh hoạ
THUỔNG ĐẬIHOC MÍ ĨP-HCM
THƯ VIỆN
I
Trang 21Nhìn chung phim truyện truyền hình có những lời chê nhiều hơn khen Điều mà nhiều người nhận thấy là sự nghèo nàn của đề tài Có một thời trên truyền hình nhất là truyền hình phía Bắc khai thác đề tài chiến tranh và khán giả thường thấy hình ảnh các anh bộ đội ưở về quê nhà sau cuộc chiến là những người chịu nhiều thiệt thòi cả về hạnh phúc gia đình lẫn đời sống kinh tế Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần cũng xác nhận “sự lặp lại của một dạng đề tài, chủ đề, một số phạm vi phản ánh trong phần lớn phim”11 Đó là sự lặp lại môtip các cô gái ở nhà không chồng mà có con, bộ đội bị mất vợ, con cái lo làm giàu bỏ mặc cha mẹ Sự lặp lại đến nhàm chán chứng tỏ một cái nhìn máy móc, xơ cứng trước hiện thực Còn nhiều những nhược điểm khác: nghèo nàn về trang phục, đạo cụ, bối cảnh, diễn viên ít nên hầu như chỉ thấy cũng những gương mặt đó trong hầu hết các bộ phim.
Có rất nhiều vấn đề cần làm để vươn tới những bộ phim có chất lượng cao hơn Trước hết là đề tài Thòi gian gần đây các tác giả đã chú ý khai thác nhiều mảng đề tài, khắc phục phần nào lối mòn của các câu chuyện quẩn quanh về các
bộ đội ưở về sau chiến tranh Những đề tài về cuộc sống xây dựng, phát triển kinh
tế nhiều hơn, bóng dáng những con người cố gắng vươn lên vượt qua số phận để làm giàu Trong các phim về hoạt động kinh tể đầy dẫy những cạnh tranh, đố kỵ, thủ đoạn, triệt hạ nhau tạo nên kịch tính cùng các câu chuyện tình lôi cuốn Song nhìn chung các phim này cũng chỉ phản ánh lối làm ăn nhỏ của những người nghèo khó vươn lên chứ chưa có được những mẫu hình về các tập đoàn công nghệ, các công ty quốc gia hoặc ở tầm cao hơn là doanh nghiệp hoạt động ưên thương trường quốc tế với những thử thách khốc liệt hơn mà mục tiêu “công nghiệp hoá - hiện đại hoá” đòi hỏi Phải chăng trình độ các nhà biên kịch còn bị hạn chế nhiều trong lĩnh vực này hay trong thực tế các doanh nghiệp Việt Nam cũng thuộc loại tầm tầm vậy thôi, chứ chưa đủ sức vươn ra đại dương rộng lớn, đầy sóng gió?
Một phần thu hút sự chú ý của khán giả cũng như báo chí đó là phim truyện nước ngoài Có những thời điểm các đài phát nhiều phim nước ngoài và có
11 Phim truyện truyền hình và những vẩn đ ề nóng bòng trong cuộc sổng Báo Thanh niên ngày 9/12/2002.
Trang 22sự chồng chéo lẫn nhau: đài này vừa chiếu một bộ phim thì vài ngày sau đài địa phương khác đã chiếu lại cùng bộ phim đó Đây là biểu hiện của sự nghèo nàn phim mục Việc ra đời của quá nhiều đài địa phương trong khi cơ sở kỹ thuật cũng như đội ngũ còn yếu, tất phải tìm cách lấy chương trình để lấp chỗ trổng Một vấn đề khác là công ty thường mua quảng cáo bàng việc cung cấp bộ phim
mà mục đích là qua phim ảnh tạo nên những nhu cầu để bán hàng sau này Phim Hàn Quốc một thời đổ bộ gây nên những cơn sốt thời trang là một minh chứng Việc “xuất khẩu văn hoá” này nhắm vào nhiều đích trong đó có tiêu thụ hàng hoá
và tiếp thị du lịch
Một nhu cầu không kém phần bức thiết là xây dựng phim trường cho các hãng phim truyền hình Một thực tế là dựng cảnh, quay phim tại phim trường rẻ hơn chi phí đi quay bên ngoài Hơn nữa khi tái hiện khung cảnh cho các phim đề tài lịch sử hoành tráng hay một số phim đề tài đương đại nếu có phim trường thòi gian quay phim sẽ được rút gọn, hoạ sĩ dễ thiết kế và dựng cảnh trí hơn Ở Việt Nam do không có phim trường nên phần lớn các bộ phim phải thực hiện bên ngoài, tốn kém về di chuyển, lưu trú, chưa kể những khó khăn do ngoại cảnh, môi trường thay đổi
Một mảng chương trình khác thu hút sự quan tâm của khán giả và công luận là ca nhạc, đặc biệt là ca nhạc trẻ Các sân khấu, các phòng trà ca nhạc thu hút khán thính giả thế nào thì trên truyền hình không khí cũng sôi động như thế,
có thể còn hơn vì màn ảnh nhỏ có số lượng khán giả đông hơn Những năm gần đây, chương trình ca nhạc trên truyền hình khá phong phú, gồm nhiều thể loại hướng tới nhiều đối tượng khán giả khác nhau Nói đến ca nhạc truyền hình nhìn
chung các ý kiến đều công nhận những nỗ lực của các nhà sản xuất đã tạo nên một sân chơi rộng, trong đó có nhiều chương trình định kỳ truyền hình trực tiếp Những cái được của các chương trình ca nhạc truyền hình được nhắc nhiều là chương trình phong phú, khán giả tha hồ lựa chọn, nhưng thực tế chỉ là hình thức
do chương trình thì nhiều nhưng cách tổ chức, các gương mặt ca sĩ tuy có tên tuổi nhưng gần đây cảm giác nghèo nàn vì quá quen thuộc, nhàm chán
Trang 23Trong khuôn khổ của Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 22, một cuộc hội thảo về ca nhạc truyền hình đã được tổ chức vào ngày 11/01/2003 Những người tham gia hội thảo đã thẳng thắng nêu ra những tồn tại trong các chương trình ca nhạc truyền hình, đó là: “Các chương trình phần nhiều là chưa hay” Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có nhiều: do đội ngũ làm chương trình còn hạn chế, chưa mang tính chuyên nghiệp, không bắt kịp việc định hướng cho người xem, thiết bị quá lạc hậu, kinh phí thực hiện quá thấp, nhất là tại các đài địa phương Một số người sản xuất tỏ ra thiếu bản lĩnh chính trị để thẩm định những chương trình cần phổ biến Các chương trình ca nhạc phong phú đã làm cho số lượng khán giả xem chương trình tại các chương trình này rất lớn số lượng điều
ưa vào giữa năm 2003 cho thấy các chương trình Nhịp cầu âm nhạc; VTV bài hát tôi yêu', Thay lời muốn nói và gần đây nhất là MTV miền nhiệt đới luôn có số lượng khán giả cao Song cũng xuất hiện nhiều hiện tượng bất cập Tình ưạng thương mại hoá đã thể hiện ưong ca nhạc trẻ Quảng cáo cũng đến gõ cửa và nhiều chương trình lăng xê ca sĩ một cách lộ liễu Nhiều chương trình chưa có sự chọn lọc và định hướng ưở nên dễ dãi Các ca sĩ ăn mặc nhiều khi quá hở hang gây cảm tưởng không tôn trọng khán giả và lệch lạc ưong thẩm mỹ Một thòi gian báo chí phản ánh nhiều hiện tượng các nam ca sĩ có cách ăn mặc và ưang điểm khó phân biệt giới tính gây phản cảm đối vói khán giả
Xuất hiện lần đầu tiên tại Việt Nam với nhiều chương trình SV96 đến nay trò chơi truyền hình đã ưở nên không thể thiếu được đối với khán giả truyền hình
và ngày càng phong phú, hấp dẫn Đường lên đỉnh Olympia mang tính chất của một quỹ học bổng thông qua trò chơi kiến thức Dựa ưên ưò chơi giải ô chữ rất
phổ biến ưên các báo viết, Chiếc nón kỳ diệu được thiết kế thành chương trình
phát hình với những chủ đề có định hướng và định kỳ Hành trình văn hoả là những cuộc du lịch tại chỗ, mở rộng cánh cửa ra thế giới để khán giả có thể tìm hiểu thêm về cảnh đẹp, phong tục, tập quán cũng như đòi sống hằng ngày của người dân các dân tộc khác nhau ưên thế giới, và còn nhiều hơn nữa những trò
chơi: 24 hình/s; Ở nhà chủ nhật; Trúc xanh; Vui để học; Rồng vàng; Ai là triệu
phú; Chung sức; Vượt lên chính mình Tuy có nhiều chương trình mua của nước
Trang 24ngoài nhưng đã được các nhà làm chương trình thay đổi cho phù hợp với công chúng Việt Nam.
1.3 Vài nét về văn hoá dân tộc Chăm
Người Chăm là một trong những cư dân sinh sống lâu đời trên mảnh đất Việt Nam v ề nguồn gốc tộc người, các nhà khoa học đã xếp người Chăm vào nhóm Mã Lai - Đa đảo (M - P) Cùng chung nhóm này, ở Việt Nam còn có các dân tộc Ê Đê, Giarai, Churu, Raglai Trong các công trình nghiên cứu về dân tộc học từ xưa đến nay, còn tồn tại những ý kiến khác nhau về nguồn gốc người Chăm cũng như các tộc người trong ngữ hệ Mã Lai - Đa Đảo ở Việt Nam: hoặc là người di cư từ thế giới đảo Đông Nam Á đến, hoặc là người di cư từ các quần đảo Nam Trung Quốc xuống vùng đất liền Đông Dương rồi từ đó di cư ra hải đảo Đông Nam Á12 Một số nhà khoa học Xô Viết cũ cho rằng người dân Nam Đảo có nguồn gốc từ dân Bách Việt và họ xuống phía nam bằng hai con đường, đường thứ nhất qua Philippines, Indonesia tới tận châu Đại Dương, một bộ phận trở lại lục địa vào Malacca và Việt Nam Có thể giữa ngưòi Chăm và một sổ cư dân Nam Đảo là sự hoà huyết giữa Ấn Độ và Đông Nam Á Hoàng Tâm Xuyên có viết “ Nhưng do những nguyên nhân sâu xa của lịch sử và truyền thống văn hoá, trong cư dân Đông Nam Á còn có khá đông người gốc Ấn Độ13
Sau khi các nhà khảo cổ học tìm thấy những di chỉ khảo cổ Sa Huỳnh đầu thế kỷ XX với niên đại từ 4000 năm đến 2000 năm trước công nguyên, các nhà khoa học giả thiết ràng chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh có thể là tổ tiên của
người Chăm Những tác giả trong công trình “Văn hoả Chăm” đã dành một
chương nói về văn hoá Sa Huỳnh và gọi đó là văn hoá tiền Champa14
Văn hoá truyền thống của người Chăm gồm nhiều lóp, trong đó cỏ lớp văn hoá mang những truyền thống bản địa của cư dân nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á và về sau, người Chăm tiếp nhận Bàlamôn giáo Trải qua quá trình bản
12 Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, Văn hoá Chăm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr.9.
13 Hoàng Tâm Xuyên (chủ biên), Mười tôn giáo lớn trên thế giới, bàn dịch của Dương Thu Ái và Phùng
Thị Huệ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, ư.27.
14 Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, Văn hoá Chăm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, ư 13.
Ị
Trang 25địa hoá, những lóp văn hoá này đã hoà trộn vào nhau và trở thành văn hoá truyền thống chung của người Chăm.
Do đặc điểm cư trú và bản sắc văn hoá mang tính địa phương, người Chăm ngày nay được chia làm ba nhóm cộng đồng: Chăm Hroi, Chăm Ninh Thuận và Bình Thuận, Chăm Nam Bộ Họ sống tập trung trong các thôn xóm riêng biệt gọi
là “palei”, dân số Chăm cả nước có khoảng 150.000 người
• Chăm Hroi:
Chăm Hroi sinh sống ở hai tỉnh Phú Yên và Bình Định tập trung ở các huyện Vân Canh (Bình Định) và Đồng Xuân, Sơn Hoà, Sông Thinh (Phú Yên) dân số khoảng 20.000 người Chăm Hroi sống gần gũi và hoà đồng với người BaNa và đặc biệt là có những mối quan hệ hôn nhân khăng khít
Người Chăm Hroi sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng và rẫy Chăm Hroi ở vùng thấp biết làm thuỷ lợi để trồng lúa nước, biết nuôi trâu bò và dùng trâu bò để kéo cày Ở vùng cao vẫn còn nhiều gia đình Chăm Hroi làm rẫy Đời sống kinh tế của người Chăm Hroi đã khá lên so với trước năm 1975
Người Chăm Hroi nói tiếng Chăm nhưng không còn lưu truyền chữ viết cổ (loại Akhar Thrah) như người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, và cũng không dùng đến chữ Arab như người Chăm ở Nam Bộ và cộng đồng Chăm Chăm Hroi vẫn còn duy trì xã hội mẫu hệ truyền thống, song không theo đạo Bàlamôn cũng như đạo Islam như nhiều người lầm tưởng Người Chăm Hroi không có tục hoả táng như một bộ phận người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận mà chỉ tín ngưỡng đa thần và gắn với tập tục truyền thống địa phương Người Chăm Hroi còn duy trì một nền âm nhạc dân gian Chăm cùng với các nhạc
cụ cổ truyền như bộ chiêng, bộ trống (nhạc gõ) phong phú về thể loại và mang âm điệu độc đáo riêng Văn hoá của người Chăm Hroi gắn với phong tục tập quán cổ truyền và có quan hệ gần gũi với văn hoá của một số tộc người ở Trường Sơn - Tây Nguyên và văn hoá cư dân Trung Bộ
• Chăm Ninh Thuân • •và Bình Thuân:
Người Chăm cư trú ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận còn được gọi là Chăm Panduranga Đặc biệt là Ninh Thuận, họ sống tập trung ở các huyện Ninh
I
Trang 26Phước, Ninh Hải (Ninh Thuận) và Bắc Bình, Tuy Phong, Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận) Theo thống kê mới nhất cho biết dân số Chăm Ninh Thuận là 73.000
người (chiếm lh dân số Chăm toàn quốc) và Bình Thuận là khoảng 40.000 người
Lâu nay, phần lớn các nhà khoa học trong và ngoài nước thường chú ý nghiên cứu người Chăm ở bộ phận này Một trong những lý do được nhiều người biết đến là sự gắn bó giữa cộng đồng này với những ngôi tháp Champa cổ với nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng trong vùng Các nhóm tháp Champa như Po Yang Pakrang (Ba Tháp), Po Klaung Girai, Po Rome, Po Dam, Po Sah Inư (Phú Hài) đều có lối kiến trúc và nghệ thuật độc đáo Do sự tàn phá của thời gian và chiến tranh, hầu hết các tháp đều hư hại và một số tháp đã sụp đổ hoàn toàn Sau năm
1975, nhiều tháp đã được sửa chữa, trùng tu Các tháp Champa hiện nay đều là niềm tự hào của người Chăm và của nhân dân Việt Nam và là noi thu hút du khách tứ phương đến chiêm ngưỡng Lễ hội Katê hàng năm của người Chăm vào ngày mồng một tháng 7 Chăm lịch là ngày hội lớn tại các tháp ở Ninh Thuận và Bình Thuận
Người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận biết trồng lúa nước từ xa xưa Đập Nha Trinh là công trình thuỷ lợi nổi tiếng của tổ tiên người Chăm, nay vẫn tiếp tục tưới nước cho một số cánh đồng rộng lớn ở vùng Phan Rang (Ninh Thuận) Ngày nay, người Chăm đã biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và phát triển nông nghiệp Nhiều hộ người Chăm trồng nho và có thu nhập từ nho khá hơn so với các hộ chỉ làm lúa Người Chăm nuôi trâu, bò ngày càng nhiều để kéo cày, dâng lễ và trao đổi Một bộ phận người Chăm không theo đạo Islam đã nuôi heo và có thu nhập cao từ việc chăn nuôi loại gia súc này Palei Hamu Chrauk (Bầu Trúc, Ninh Thuận) và Palei Rigauk (Trì Đức, Bình Thuận) còn lưu truyền nghề làm gốm thủ công Các sản phẩm gốm Chăm làm bằng đất nung dùng cho sinh hoạt gia đình rất thịnh hành tại vùng người Chăm và một số tộc người khác ở các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Palei Chakleing (Mỹ Nghiệp, Ninh Thuận) vẫn giữ gìn và đang phát huy nghề dệt thổ cẩm truyền thống Các sản phẩm thổ cẩm với gần trăm loại hoa văn không chỉ là mặc hàng dùng may mặc cho các chức sắc tôn giáo và phục vụ tín ngưỡng của người Chăm,
Trang 27mà ngày càng phổ biến trên thị trường Tại thành phố Hồ Chí Minh, chương trình
“Thời trang trên nền vải thổ cẩm” vào năm 1996 đã thu hút sự chú ý của nhiều người
Hầu hết các ý kiến cho ràng người Chăm Ninh Thuận và Bình Thuận theo hai tôn giáo chính là Bàlamôn và đạo Hồi (Islam) Thực tế, hiện nay người Chăm biết rất ít về giáo lý người Bàlamôn Khoảng một nửa số người Chăm ở đây theo tục hoả táng (gọi là Chăm Jat hoặc Chăm Chuh) và một bộ phận khác ít hơn gồm người Chăm ở Palei la La-U, Palei la Banguk (Ninh Thuận) và Kinh Cựu (Bỉnh Thuận) chỉ thờ phượng thần linh và tổ tiên của mình, số còn lại theo đạo Islam bao gồm Chăm và Chăm Bàni (còn gọi là Bini)
• Chăm Nam Bộ:
Đặc điểm của người Chăm Nam Bộ là toàn bộ theo tôn giáo Islam Họ cư trú trong các thôn xóm riêng biệt, xung quanh những thánh đường Islam ở các tỉnh An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh Dân số trên 20.000 người Hầu hết người Chăm Nam Bộ đều theo đạo Islam và lấy kinh Qu’ran làm kim chỉ nam cho hoạt động tín ngưỡng của mình
Người Chăm Nam Bộ ở nhà sàn Nhiều làng Chăm được hình thành ven
bờ sông, rạch, kênh, mương Ở đây không có những ngôi tháp Champa hùng vĩ như ở miền Trung, song tại các khu cư trú của người Chăm đều có Masjid (thánh đường) lớn với lối kiến trúc độc đáo riêng Có thánh đường đã được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là di tích kiến trúc
Hiện nay vẫn còn một số người Chăm Nam Bộ hành nghề đánh cá trên sông Số khác làm ruộng và buôn bán Nhiều phụ nữ Chăm An Giang biết dệt sarong (xà-rông), kama (khăn tắm, khăn ràn), thêu khăn, đan lưới phục vụ nhu cầu ăn mặc truyền thống Chăm và dùng để trao đổi trong vùng Sau Đổi mới, Hội những người dệt ở An Giang được hình thành Đến năm 1999, Họp tác xã dệt thêu Châu Giang cũng được thành lập tại Châu Phong (Tân Châu, An Giang) Đến nay, người Chăm ở Nam Bộ đã từng bước ổn định cuộc sống và kinh tế gia đình của một số hộ đã khá hơn trước
Trang 28Người Chăm trong quá trình phát triển đã hình thành một nền văn hoá phong phú về nội dung và đa dạng về diện mạo Do những nguyên nhân lịch sử
đã dẫn đến sự hình thành nhiều vùng cư trú của người Chăm Quá trình giao lưu, tiếp xúc với những yếu tố văn hoá bên ngoài tại mỗi vùng của đồng bào Chăm đã hình thành những sắc thái văn hoá đặc thù mang tính bản địa Nền nông nghiệp Chăm xưa có dấu vết gắn với nền văn hoá Sa Huỳnh “Lúa chiêm” xuất hiện ở đồng bằng Bắc Bộ xưa được học giả Lê Quý Đôn nêu ưong “Vân đài loại ngữ”
do người Việt xưa mang về từ Chiêm Thành (Champa xưa) Vùng ruộng lúa cùng với các loại nông cụ ngày càng được nông dân Chăm cải tiến, nhiều hệ thống kênh mương xưa được phát huy giá trị, các hoạt động tinh thần như hệ thống lễ nghi nông nghiệp vẫn được người Chăm tuân thủ chặt chẽ cùng với các lễ hội truyền thống như Katê, Chabun, Rija Tất cả các lễ tiết đó đều nhằm cầu nguyện thần linh cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt và đều là các yếu tố hợp thành nền văn hoá nông nghiệp của người Chăm
Địa bàn cư trú của người Chăm tập trung ở đồng bằng, song do sinh sống gần biển và tựa lưng vào triền Đông dãy núi Trường Sơn nên người Chăm sớm biết khai thác cả các tiềm năng của biển và núi Cũng chính bàng con đường biển
mà cư dân Champa xưa đã có cơ hội tiếp xúc với bên ngoài, có sự giao lưu với văn minh Ấn Độ và văn hoá Islam Dấu ấn của văn minh Ấn Độ là sự ảnh hưởng của đạo Phật, đạo Hinđu và việc thờ ba vị thần Shiva, Vishnu và Brahma mà kiến trúc của các tháp Champa là những minh chứng Hàng ưăm tác phẩm văn chương dân gian Chăm có nội dung mang nét văn hoá Ấn cho ta thấy ngôn ngữ Chăm không chỉ vay mượn nhiều từ ngữ cùng gốc với ngôn ngữ Pali - Sanscrit mà còn mượn luôn cả hệ thống chữ Phạn để xây dựng hệ thống chữ viết của minh
Sự tiếp xúc với Islam trên xứ sở Champa diễn ra khá sớm từ khoảng thế kỷ thứ X, và rõ hơn là vào thế kỷ XIV - XV, làm thành nhóm Chăm Bàni Còn đạo Islam mới du nhập vào cộng đồng Chăm ở Ninh Thuận cách đây không lâu vào những năm 60 của thế kỷ XX làm hình thành bộ phận Chăm trong cộng đồng Chăm Bàni v ề nguồn gốc tôn giáo thì cả Chăm Bàni và Chăm đều có chung một tôn giáo Islam, song do quá trình lịch sử, ngưòi Chăm Bàni theo đạo Islam nhưng
Trang 29vẫn bảo tồn các giá trị truyền thống Còn Chăm, do đã tiếp xúc khá thường xuyên với người theo Islam ở Malay, ở Nam Dương (Malaysia, Indonesia ) và một số nước khác nên sinh hoạt tôn giáo Islam của bộ phận này khá thống nhất với người Islam ở Malaysia và các nước khác ở Đông Nam Á Islam ngày càng xâm nhập vào nền văn hoá Chăm, thể hiện trong tín ngưỡng tôn thờ Allah và các thánh thần khác của Islam.
Hiện nhiều người chỉ hiểu mẫu hệ Chăm theo nghĩa đen là một xã hội mà phụ nữ nắm quyền, trong đó có quyền bắt rể và con cái phải lấy họ mẹ Điều này chỉ đúng với người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, con gái đến tuổi trưởng thành đều đi hỏi chồng, con trai đi ở rể và các con đều theo huyết thống bên mẹ Đối với người Chăm Nam Bộ thì con ưai phải đi hỏi vợ, có thể ở rể hoặc không, các con đều theo huyết thống bên cha
Các nghề làm gốm và dệt vải của người Chăm hiện nay vừa bảo lưu được vốn truyền thống quí báu, vừa là nguồn thu nhập đối với một bộ phận người Chăm, song do là một nghề thủ công xưa, kỹ thuật sản xuất chưa được cải tiến, hàng làm ra không đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm công nghiệp, đẹp và rẻ hơn
Hàng năm ở mỗi địa phương người Chăm đều có những ngày hội lễ Cứ mỗi khi có lễ hội truyền thống, không khí ở các palei Chăm luôn vui tươi và sinh động, nhiều hoạt động văn hoá nghệ thuật dân tộc Chăm được khơi dậy nguồn sinh lực mới Ngoài hàng ngàn tác phẩm cổ đang được người Chăm bảo lưu nay
đã có thêm nhiều tác phẩm nghiên cứu, tác phẩm ca, múa, nhạc về Chăm Các hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuật dân tộc Chăm ngày càng được chú ý đầu tư, bồi dưỡng
Mỗi vùng Chăm, do phát triển tự nhiên của ngôn ngữ đã hình thành các phương ngữ Thực hiện chính sách ngôn ngữ dân tộc, chính quyền thuộc các địa phương có đông người Chăm đã tăng cường đẩy mạnh việc biên soạn chương trình dạy chữ Chăm Ngành giáo dục đã tổ chức nhiều hội nghị rút kinh nghiệm
và muốn đưa chương trình dạy chữ Chăm Akhar Thrah áp dụng rộng rãi trong các trường có con em người Chăm ở các tỉnh khác Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tây
Trang 30Ninh đã tổ chức biên soạn riêng một giáo trình dạy chữ Chăm theo mẫu tự Jawi (CJC) và Latinh (CLC) Hiện nay khá đông người Chăm đang sử dụng loại chữ viết Chăm theo mẫu tự.
Người Chăm ngày nay không ngừng tự vươn lên hoà nhập vào xã hội văn minh, tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội và trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam cũng như hoà nhập vào sự phát triển chung của nhân loại Đặc biệt, kinh tế - văn hoá - xã hội của vùng đồng bào Chăm từ sau khi đất nước đổi mới (1986), nhất là những năm gần đây, phát triển rõ rệt Hạ tầng cơ
sở được xây dựng, 100% các palei Chăm đã có điện, nước sạch nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, đường giao thông đã hoàn chỉnh, toàn bộ các palei đã được phủ sóng phát thanh truyền hình, 100% ở các xã vùng đồng bào Chăm đều đã có trường học, trạm y tế Ở các palei Chăm hôm nay, hầu hết có nhà xây kiên cố, có nhiều nhà tầng Đa số các gia đình Chăm đã có xe máy, tivi Một số gia đình khá giả đã có tủ lạnh, máy giặt, trang trí nội thất khá hiện đại Đội ngũ trí thức người Chăm ngày càng đông đảo Nhưng, để hoà nhập vào dòng chảy của sự phát triển, trong văn hoá Chăm cũng đang diễn ra quá trình giao thoa mạnh, những yếu tố văn hoá truyền thống đang mất đi, thay vào đó là những yếu tố văn hoá của thời hiện đại15
15 Phan Quốc Anh, Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội,
2006, tr.7.
Trang 31CHƯƠNG 2:
PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH TIẾNG CHĂM
Trang 32hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, các chính sách của Đảng và Nhà nước ta đều hướng tới mục tiêu “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ”, các dân tộc có quyền có tiếng nói và chữ viết riêng Đảng, Nhà nước Việt Nam chủ trương và khuyến khích sử dụng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ưên các phương tiện thông tin đại chúng, phục vụ đồng bào các dân tộc thiểu số Đài Tiếng nói Việt Nam là Đài phát thanh quốc gia, ra đòi cùng với cuộc cách mạng tháng Tám 1945, là cơ quan báo chí trực thuộc Chính phủ Tiếng nói Việt Nam vừa là lời xướng, vừa là danh xưng, tự thân khẳng định nhiệm vụ lớn lao và cao cả góp phần làm cho tiếng nói dân tộc ngày một phát triển hơn, hay hơn, trong sáng hơn, chuẩn mực hơn và bay cao, đi
xa hơn
Đài Tiếng nói Việt Nam không chỉ phát bằng tiếng Việt, góp phàn làm cho tiếng Việt ngày một thêm “quốc hồn quốc tuý”, mà phát cả bàng tiếng các dân tộc thiểu số Chương trình phát thanh bằng tiếng các dân tộc thiểu số phát trên sóng đài phát thanh quốc gia là bàng chứng sinh động và có sức thuyết phục lớn về chính sách bình đẳng giữa các dân tộc và tinh thần đại đoàn kết dân tộc của Đảng
và Nhà nước ta
Trước năm 1975, cụ thể từ năm 1956, Đài Tiếng nói Việt Nam đã xây dựng các chương trình phát thanh tiếng dân tộc thiểu số đầu tiên Đó là các chương trình phát thanh tiếng Jrai, Ba Na, Êđê, H’rê, M’nông và Châu mạ Các chương trình phát thanh này do các biên tập viên, phát thanh viên, kỹ thuật viên các dân tộc thiểu số khi ấy là cán bộ, bộ đội từ chiến trường Tây Nguyên, Nam Trung Bộ tập kết ra Bắc thực hiện Sự ra đời của các chương trình phát thanh tiếng dân tộc thiểu số nhằm đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền đoàn kết các dân tộc anh em chung lòng đấu tranh chống Mỹ - nguy, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Việc tổ chức phát sóng các chương trình phát tiếng dân tộc khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ còn có ý nghĩa đề cao vai trò, vị thế và khẳng định sức sống mãnh liệt của tiếng nói các dân tộc thiểu số Góp phần “đánh cho Mỹ cút,
Trang 33đánh cho nguỵ nhào” có Tiếng nói Việt Nam, trong đó có tiếng nói của các dân tộc thiểu số anh em Sau chiến thắng 30-04-1947, các chương trình phát thanh này ngưng phát sóng, các cán bộ, nhân viên trở về các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ xây dựng đài phát thanh địa phương Nhiều người trong số đó đã trưởng thành
Thòi kỳ tồn tại khu vực Việt Bắc, khu tự trị Tây Bắc, Đài Tiếng nói Việt Nam đã trực tiếp hỗ trợ, giúp đỡ về kỹ thuật và con người xây dựng Đài phát thanh khu tự trị Việt Bắc (1961), Đài phát thanh khu tự trị Tây Bắc (1959 - tiền thân là Đài truyền thanh khu tự trị Thái - Mèo)
Đài phát thanh khu tự trị Việt Bắc, ngoài chương trình tiếng phổ thông, có
chương trình tiếng Tày - Nùng Những năm đó, lời xướng Pỉ noọng đài slưong
điếp như lời thương yêu, mời gọi, ưở nên thân thuộc với bạn nghe đài dân tộc
Tày, Nùng Sau chương trình tiếng Tày - Nùng là chương trình phát thanh tiếng Dao và tiếng Mông Ngày ấy, ngôn ngữ Tày, Nùng, Mông, Dao đã chuyển tải được các nội dung mới, phản ánh được cuộc sống lao động sản xuất, học tập, chiến đấu và phục vụ chiến đấu của quân và dân các dân tộc khu tự trị và cả nước, chuyển tải được cả nội dung thời sự quốc tế Những người thực hiện các chương trình tiếng dân tộc ở Việt Bắc thời đó, bao gồm phóng viên, phát thanh viên, kỹ thuật viên đều là người dân tộc bản địa, am hiểu ngôn ngữ và truyền thông văn hoá của dân tộc mình
Từ buổi phát sóng đầu tiên (07-05-1959) Đài phát thanh khu tự trị Tây Bắc
có chương trình phát thanh tiếng phổ thông và chương trình phát thanh tiếng Thái Sau đó có thêm chương trình phát thanh tiếng Mông và tiếng Mường Các chương trình này cũng do cán bộ con em đồng bào Thái, Mông, Mường thực hiện, nói bàng ngôn ngữ dân tộc mình, nói về những chuyện liên quan đến đất nước, dân tộc mình, cho đồng bào mình nghe, nên có hiệu quả rất lớn lao
Sau này, khu tự trị Việt Bắc, Tây Bắc giải thể, cán bộ, phóng viên của các chương trình phát thanh tiếng dân tộc thiểu số được chuyển về Đài Tiếng nói Việt Nam hoặc về đài phát thanh các tỉnh trong khu vực, trở thành những cán bộ cốt cán có kinh nghiệm làm phát thanh dân tộc Hiện nay các Đài Phát thanh - Truyền
Trang 34hình Thái Nguyên, Lào Cai, Sơn La, vẫn giữ thế mạnh về phát thanh dân tộc,
có một phần nhờ biết phát huy truyền thống thời kỳ phát thanh dân tộc khu tự ưị
Từ năm 1990 đến nay, đặc biệt năm 1989, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 22 về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi Tiếp đó, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 72 về một số chủ trương chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng có một nội dung quan trọng: “Trước mắt giúp các tỉnh, các huyện miền núi kinh phí xây dựng các trạm tiếp sóng Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình trung ương Các địa phương cần có kế hoạch tăng thêm các buổi phát thanh sóng ngắn, nhất là các buổi phát thanh bàng tiếng dân tộc, đồng thời chú trọng cải tiến nâng cao chất lượng chương trình ”
Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng
có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc triển khai các chính sách thể hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc anh em, tạo ra bước ngoặt mới trong phát triển phát thanh dân tộc ở Đài Tiếng nói Việt Nam
Từ năm 1990, Đài Tiếng nói Việt Nam lần lượt triển khai các dự án, chương trình mục tiêu quan trọng, nhằm:
• Thành lập các cơ quan thường trú ở các khu vực có đông đồng bào dân tộc
• Xây dựng các chương trình phát thanh tiếng dân tộc thiểu số
• Lắp đặt nhiều trạm thu phát sóng phát thanh ở khu vực miền núi, biên giới
• Xây dựng trạm truyền thanh tại các xã, cụm xã miền núi; cấp phát radiocho hộ đồng bào dân tộc thiểu số
Tiến trình phát triển phát thanh tiếng dân tộc thiểu số, như sau:
Ngày 01-04-1990: Phát sóng chương trình tiếng Mông
Ngày 01-08-1990: Phát sóng chương trình tiếng Khmer Nam bộ
Ngày 01-07-1993: Phát sóng chương trình tiếng Êđê
Ngày 01-07-1994: Phát sóng chương trình tiếng Jrai
Ngày 01-01-1995: Phát sóng chương trình tiếng Ba Na
Ngày 01-11-1998: Phát sóng chương trình tiếng XơĐăng
Ngày 01-08-2001: Phát sóng chương trình tiếng K’ho
Trang 35Ngày 01-01-2005: Phát sóng chương trình tiếng Chăm.
Ngày 07-05-2006: Phát sóng chương trình tiếng Dao
Ngày 19-08-2006: Phát sóng chương trình tiếng M’nông
Thòi lượng chương trình: 30 phủưchương trình
Các chương trình có thời lượng phát sóng từ 90 phút đến 150 phúưngày, phát cả 3 buổi sáng, trưa, tối Tổng thời lượng phát sóng của các chương trình tiếng dân tộc thiểu số trong Hệ phát thanh Dân tộc là gần 30 giờ/ngày
Phạm vi phủ sóng ở những khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Ví dụ: Chương trình tiếng Chăm bố trí máy phát sóng tại vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên và Nam Bộ; Chương trình tiếng Mông, tiếng Thái ngoài phạm vi phủ sóng khu vực miền núi phía Bắc, còn tiếp phát sóng khu vực Tây Nguyên
Có thể khẳng định, cho đến thời điểm này, Đài Tiếng nói Việt Nam là cơ quan truyền thông triển khai sớm nhất, nhanh nhất, qui mô nhất và cũng có thể nói là hiệu quả nhất chủ trương tuyên truyền phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số bằng tiếng dân tộc thiểu số
Song song với những cố gắng của Đài Truyền hình, Đài Tiếng nói Việt Nam đã thực hiện chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số Theo đề nghị của Đài Tiếng nói Việt Nam, gần đây theo Văn bản số 1835/TTg-VX, ngày 10/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ, đã đồng ý cho triển khai thực hiện Dự án
“Mở rộng mạng phủ sóng phát thanh các chương trình văn hoá - xã hội và các chương trình bằng tiếng dân tộc khu vực Trung du và miền núi Bắc Bộ giai đoạn
2006 - 2010”
Nghị định số 96/2003/NĐ-CP ngày 20/08/2003 của Chính phủ qui định cơ cấu bộ máy tổ chức của Đài Truyền hình Việt Nam có Ban truyền hình tiếng dân tộc, tiếp đó Quyết định số 622/QĐ-THVN ngày 08/06/2004 của Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam qui định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Truyền hình dân tộc (Chương trình VTV5) Hiện nay chương trình
Trang 36VTV5 phát 12 giờ/ngày, tăng 2 giờ/ngày so với năm 2005 và gấp 3 lần so với giai đoạn phát sóng thử nghiệm, với 10 ngôn ngữ: Mông, Thái, Êđê, Jrai, Ba Na, XơĐăng, K’ho, Khmer, Chăm, S’tiêng Theo kế hoạch phát triển của kênh VTV5, đến năm 2010, thời lượng phát sóng sẽ tăng 20 giờ/ngày với 19 thứ tiếng VTV5
đã chuyển tải nội dung phản ánh nhiều mặt của cuộc sống kinh tế, văn hoá - xã hội, giáo dục, y tế, khoa học đời sống đến đồng bào các dân tộc thiểu số trên khắp mọi miền đất nước Từ khi có truyền hình bàng tiếng dân tộc, đồng bào dân tộc được thụ hưởng nhiều thông tin quan trọng, góp phần nâng cao dân trí ở vùng dân tộc thiểu số
Ở các địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh cũng đã giành thời lượng nhất định để phát bằng tiếng dân tộc thiểu số về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của cấp uỷ, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân để đồng bào biết, thực hiện Ngoài các Đài địa phương ra còn phổ biến khoa học kỹ thuật, nêu những gương mặt điển hình tiêu biểu trong lao động, làm giàu của một số hộ gia đình để đồng bào ở nơi khác trên mọi miền đất nước học tập, thực hiện theo các mô hình phù hợp với từng địa bàn
cụ thể của từng địa phương của mình
Công tác tuyên truyền qua sách, báo, tạp chí, tranh ảnh bàng tiếng dân tộc thiểu số đã được một số địa phương chú trọng trong in ấn, trong truyền thông như trên panô, áp phích vào những ngày lễ lớn của đất nước và dân tộc ở địa phương hoặc những sự kiện lớn như vào các kỳ bầu cử, đại hội Đảng, phát động các phong trào thi đua yêu nước Nhiều ấn phẩm bàng hai thứ tiếng dân tộc và phổ thông để tuyên truyền về pháp luật; để tuyên truyền về môi trường, về y tế, giáo dục, Theo Quyết định 975/QĐ-TTg, ngày 20/07/2006 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi do Thông tấn xã Việt Nam phát hành in bằng chữ dân tộc Êđê, Ba Na, Giarai, Khmer và Chăm; đã cùng vói 19 báo, tạp chí (tính đến năm 2007) được cấp không thu tiền cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn
Trang 37Trong nhiều năm qua, sự quan tâm đầu tư có hiệu quả của Đảng, Nhà nước đối với ngành truyền hình đã giúp bà con ở vùng sâu, vùng xa được xem truyền hình quốc gia cũng như chương trình truyền hình của các đài địa phương.
Phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số là một nội dung quan trọng được ghi trong các Nghị quyết của Đảng, các Quyết định của Chính phủ, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số Điều đó khẳng định sự bình đẳng về đời sống văn hoá tinh thần giữa đồng bào miền núi và miền xuôi, góp phần giữ gìn bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.Thông qua chương trình phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc, đồng bào tiếp thu thuận lợi hơn bởi vì họ nghe và hiểu được do bằng chính ngôn ngữ của mình Qua truyền hình mà đồng bào H’mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc thực hiện tốt cuộc vận động xoá bỏ cây thuốc phiện, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, biết trồng cây lúa nước, bỏ tập tục du canh du cư, sống định canh, định cư xây dựng thôn bản ấm no hạnh phúc; Đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên như: Êđê, Jrai, Ba Na, K’ho khi xem và nghe các chương trình phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc về y tế, giáo dục, văn hoá, xã hội đã biết được bệnh phong là bệnh có thể chữa khỏi, hiểu được công tác kế hoạch hoá gia đình, biết rằng đẻ nhiều con sẽ dẫn đến nghèo đói Những tấm gương lao động sản xuất giỏi đã có tác dụng rất lớn đối với đồng bào Khmer, Chăm trong việc sản xuất lúa theo kỹ thuật tiên tiến
Phát thanh truyền hình tiếng dân tộc có một tầm quan trọng đặc biệt và ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc Vì vậy, cần phải xây dựng một kênh sóng truyền hình bàng tiếng dân tộc tại Đài Truyền hình Việt Nam có chất lượng, hiệu quả tuyên truyền cao Đồng thời phải xây dựng được chương trình phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc tại địa phương có đủ khả năng sản xuất và phát sóng chương trình tại địa phương và góp chương trình cho VTV5 để phát sóng với những nội dung phù hợp
Với đồng bào các dân tộc thiểu số thì đòi hỏi chính đáng của họ là được xem truyền hình và nghe phát thanh, đặc biệt là chương trình truyền hình phát
Trang 38bằng tiếng của dân tộc mình Vì đối với đồng bào dân tộc thiểu số ngoài vấn đề tiếng nói của họ được tôn trọng, bình đẳng thì điều quan trọng hơn là nội dung các chương trình tiếng dân tộc đó truyền tải cho họ tiếp thu được thuận lợi hơn bởi họ nghe và hiểu được hơn khi nghe bàng tiếng phổ thông.
Từ ngày 10/02/2002, Đài Truyền hình Việt Nam đã được Chính phủ cho phép phát sóng thử nghiệm truyền hình tiếng dân tộc ưên sóng quốc gia qua vệ tinh (chương trình VTV5) nhằm phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số ưên địa bàn
cả nước, với thời lượng 4 giờ/ngày và 7 thứ tiếng dân tộc thiểu số Các chương trình này chủ yếu do các Đài địa phương sản xuất gửi cho VTV5 Từ ngày 25/03/2003 các chương trình đó có phụ đề tiếng Việt, nên nhiều dân tộc khác khi xem chương trình đều có thể hiểu được những nội dung chính
Ngay trong thời gian phát sóng thử nghiệm (3 buổi/tuần), chương trình đã được đồng bào các dân tộc thiểu số ở mọi nơi đón nhận rất nhiệt tình và có sự ủng
hộ cao Bởi vì thông qua chương trình họ biết thêm nhiều về các dân tộc anh em sống ở nhiều vùng khác nhau trên tổ quốc Sự hiểu biết ấy càng được nâng lên khi
họ không chỉ được nghe chính bản ngữ phát ra từ sóng truyền hình mà còn được nhìn thấy những hình ảnh, những con người thân quen của dân tộc mình qua màn ảnh nhỏ Và như vậy, nhu cầu đòi hỏi về việc tăng thời lượng cũng như chất lượng các chương trình truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số là một tất yếu khách quan
Tại Nghị định số 96/2003/NĐ-CP ngày 20/08/2003 của Chính phủ, ừong điều 3: Cơ cấu tổ chức của Đài Truyền hình Việt Nam trong mục các tổ chức sản xuất chương trình, có Ban Truyền hình tiếng dân tộc Sự ra đời của Nghị định là
cơ sở pháp lý để truyền hình Việt Nam thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền bằng tiếng dân tộc thiểu số trên kênh VTV5 Và ngay sau đó, ngày 01/01/2004, kênh truyền hình tiếng dân tộc (VTV5) chính thức tách thành một kênh sóng riêng phủ sóng qua vệ tinh, thời lượng phát sóng tăng lên gấp đôi (8 giờ/ngày) và phát liên tục các ngày trong tuần với các thứ tiếng dân tộc thiểu số: Khmer, Chăm, Êđê, Jrai, Ba Na, K’ho, H’mông, S’tiêng
!
Trang 39Trong 6 tháng đầu năm 2004, chương trình dân tộc thiểu số do phóng viên VTV5, các Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại cần Thơ, Đà Nang trực tiếp sản xuất và do các đài địa phương tại Tây Bắc, Tây Nguyên cộng tác theo chỉ đạo nội dung của Truyền hình Việt Nam Song tại thời điểm này lại phát sinh một khó
ĩ khăn là: Tại VTV5 chưa có phóng viên, biên dịch viên là người dân tộc thiểu số,
nên hiệu quả tuyên truyền đến với đồng bào các dân tộc thiểu sổ còn nhiều hạn chế
* Lãnh đạo Đài Truyền hình Việt Nam đã quyết định sử dụng cán bộ phóng
viên, biên tập viên là người dân tộc thiểu số đang làm việc tại Đài phát thanh truyền hình các địa phương biệt phái về VTV5 trong thời hạn từ 6 tháng đến 1 năm để trực tiếp tham gia sản xuất và biên dịch các chương trình bằng tiếng dân tộc thiểu số Trong vòng 2 năm qua (từ tháng 07/2004 đến tháng 07/2006) tại VTV5 liên tục có 7 cán bộ biệt phái luân phiên trực tiếp biên dịch tại các thứ tiếng: H’mông, Thái, Êđê, Jrai, Ba Na, K’ho, Chăm, XơĐăng Bằng cách làm này, chương trình truyền hình dân tộc thiểu số đã bước đầu khởi sắc và từng bước mang lại hiệu quả đối với đời sống kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Từ 01/01/2005 đến 31/12/2005, VTV5 tiếp tục tăng thời lượng phát sóng lên 10 giờ/ngày (tăng 2 giờ/ngày) với 10 thứ tiếng: H’mông, Thái, Êđê, Jrai, Ba
Na, XơĐăng, K’ho, Khmer, Chăm, S’tiêng
Từ 01/01/2006 đến nay, VTV5 tiếp tục tăng thời lượng phát sóng lên 12 tiếng trong ngày Song song với việc tăng thời lượng, chất lượng chương trình luôn được từng bước cải tiến
Chương trình tiếng dân tộc thiểu số ưên phát thanh truyền hình đã từng bước có những bước đi phù hợp, cơ bản đạt được những mục tiêu ban đầu mà Chính phủ đã giao cho Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam Trong kế hoạch phát triển của mình, kênh VTV5 từ năm 2007 - 2009, thời lượng chương trình (của 19 thứ tiếng: Khmer, Chăm, Êđê, Jrai, Ba Na, K’ho, Xê-Đăng, S’tiêng, Thái, H’mông, Mường, Dao, M’nông, K’Tu, H’rê, Châu Ro, Vân Kiều,
Pa Cô, Rắc Lây sẽ tăng như sau:
Trang 40Quá trình phát triển, chương trình tiếng dân tộc thiểu số của Đài truyền hình quốc gia cũng như các Đài địa phương góp phần gìn giữ tiếng nói của các dân tộc thiểu số, đồng thời, để làm tốt hơn vai trò của mình cho những năm tiếp theo càn có sự phối hợp giữa các Bộ, và nhiều ngành liên quan cùng với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chương trình “Dạy tiếng dân tộc thiểu số trên truyền hình” thì chữ viết của các dân tộc thiểu số sẽ được bảo tồn và phát huy Như vậy phát thanh truyền hình mới có thể đứng vững bằng hai chân: tiếng nói và chữ viết Hai nội dung của một ngôn ngữ luôn có nhiệm vụ bổ trợ nhau.
2.2 Tiếng Chăm trên phát thanh truyền hình
2.2.1 Vài nét về tiếng Chăm
Người Chăm có ngôn ngữ riêng tồn tại và phát triển cùng với các ngôn ngữ khác bên cạnh tiếng Việt - ngôn ngữ quốc gia Việt Nam Tiếng Chăm có một vị trí đặc biệt trong nghiên cứu ngôn ngữ học, dân tộc học, sử học, tiếp xúc văn hoá Việt Nam và Đông Nam Á, bởi các loại hình văn tự cũng như văn bia và các di cảo liên quan đến ngôn ngữ Chăm đều cho thấy đây không chỉ là một di sản văn hoá quí báu của dân tộc Chăm mà còn thể hiện ở mối quan hệ với nền văn hoá Ấn
và các dân tộc ở khu vực Đông Nam Á Tiếng Chăm có quan hệ đặc biệt với nhóm ngôn ngữ Nam Đảo lục địa, liên quan đến nhiều ngôn ngữ dân tộc thuộc gia đình ngôn ngữ M - p trong nước cũng như trong khu vực Đông Nam Á bao gồm ngôn ngữ các tộc người nói tiếng Melayu Do chung sống lâu đời với người Việt
và các dân tộc sử dụng ngôn ngữ khác ở Việt Nam, tiếng Chăm đã tiếp thu nhiều ảnh hưởng của tiếng Việt và các ngôn ngữ đó