1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong tục tập quán người chăm ơ miền trung về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ khi có thai, trong và sau khi sinh

163 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 3,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm về kinh tế văn hóa xã hội và tín ngưỡng dân gian của người Chăm liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ khi có thai, khi sinh và sau sinh .... Một số các phong tục tập quán c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

PHONG TỤC TẬP QUÁN NGƯỜI CHĂM

Ở MIỀN TRUNG VỀ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ BÀ MẸ KHI CÓ THAI, TRONG VÀ SAU KHI SINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Trang 2

Naêm 2008

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MIÊU TIỂU CHÔNG

PHONG TỤC TẬP QUÁN NGƯỜI CHĂM Ở MIỀN TRUNG VỀ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ BÀ MẸ KHI CÓ THAI, TRONG VÀ SAU KHI SINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Trang 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2008

Trang 5

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MIÊU TIỂU CHÔNG

PHONG TỤC TẬP QUÁN NGƯỜI CHĂM Ở MIỀN TRUNG VỀ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ BÀ MẸ KHI CÓ THAI, TRONG VÀ SAU KHI SINH

Chuyên ngành : SẢN PHỤ KHOA Mã số : 3.01.18

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS LÊ VĂN ĐIỂN

Trang 6

TP Hoà Chí Minh – Naêm 2008

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất kỳ công trình nào khác

Miêu Tiểu Chông

Trang 8

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các Hình, Bảng và Biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đặc điểm về kinh tế văn hóa xã hội và tín ngưỡng dân gian của người Chăm liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ khi có thai, khi sinh và sau sinh 4

1.2 Một số thuốc từ cây cỏ và sản phẩm có nguồn gốc từ động vật thường dùng cho phụ nữ Chăm trong thời kỳ mang thai, khi sinh và sau sinh 23

CHƯƠNG 2 – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHÊN CỨU 34

2.1 Thiết kế nghiên cứu 34

2.2 Đối tượng nghiên cứu 34

2.3 Nội dung nghiên cứu 34

2.4 Phương pháp nghiên cứu 36

2.5 Vấn đề y đức 42

CHƯƠNG 3 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

3.1 Một số các phong tục tập quán của phụ nữ người Chăm trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ trong thời kỳ mang thai, khi sinh và sau sinh 43

3.2 Những lá cây, rễ củ cây và động vật thường dùng cho phụ nữ Chăm trong thời kỳ mang thai và sau sinh 61

CHƯƠNG 4 – BÀN LUẬN 65

4.1 Những đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu và các yếu tố liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản 65

4.2 Một số thuốc nguồn gốc từ dạng thực vật và động vật thường dùng cho mẹ trong thời kỳ mang thai, khi sinh và sau sinh 102

Trang 9

KẾT LUẬN 115 KIẾN NGHỊ 117 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: Bảng phỏng vấn

PHỤ LỤC 2: Một số hình ảnh về phong tục tập quán của người Chăm

trong chăm sóc sức khỏe mẹ và con

PHỤ LỤC 3: Phiếu kiểm tra dược liệu

PHỤ LỤC 4: Các cây thuốc phụ nữ Chăm thường dùng

PHỤ LỤC 5: Danh sách phụ nữ Chăm tham gia nghiên cứu

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CS : Cộng sự

ĐHKN : Điều hòa kinh nguyệt

KHHGĐ : Kế họach hóa gia đình

NXB : Nhà xuất bản

SKBMTE : Sức khỏe bà mẹ trẻ em

SKSS : Sức khỏe sinh sản

VHTT : Văn hóa thông tin

VN-DSH : Việt Nam – Dân số học

YHCT : Y Học Cổ Truyền

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hình Tên hình

Hình 2 Chôn nhau thai trước sân nhà Phụ lục 2 Hình 3 Sau sinh sản phụ “nằm lửa lớn” và giường tre Phụ lục 2 Hình 4 Mẹ và con nằm chung một phòng và ăn cơm tại giường Phụ lục 2 Hình 5 Mẹ và con ở phòng kín và cho con bú Phụ lục 2 Hình 6 Mẹ chăm sóc rốn con Phụ lục 2 Hình 7 Mẹ ủ ấm cho em bé Phụ lục 2 Hình 8 Đốt lửa ngoài sân để báo hiệu trong nhà có người sinh Phụ lục 2 Hình 9 Họ hàng và người thân mừng cho bé đầy tháng Phụ lục 2 Hình 10 Phụ nữ Chăm Roi nấu rễ nhân trần uống sau sinh Phụ lục 2 Hình 11 Phụ nữ Chăm Ninh Thuận xông bằng lá khuynh diệp, sau sinh Phụ lục 2

Hình 17 Nhân trần phơi khô Phụ lục 4

Hình 19 Cây hương phụ Phụ lục 4

Trang 12

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CS : Cộng sự

ĐHKN : Điều hòa kinh nguyệt

KHHGĐ : Kế họach hóa gia đình

NXB : Nhà xuất bản

SKBMTE : Sức khỏe bà mẹ trẻ em

SKSS : Sức khỏe sinh sản

VHTT : Văn hóa thông tin

VN-DSH : Việt Nam – Dân số học

YHCT : Y Học Cổ Truyền

Trang 13

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hình Tên hình

Hình 2 Chôn nhau thai trước sân nhà Phụ lục 2 Hình 3 Sau sinh sản phụ “nằm lửa lớn” và giường tre Phụ lục 2 Hình 4 Mẹ và con nằm chung một phòng và ăn cơm tại giường Phụ lục 2 Hình 5 Mẹ và con ở phòng kín và cho con bú Phụ lục 2 Hình 6 Mẹ chăm sóc rốn con Phụ lục 2 Hình 7 Mẹ ủ ấm cho em bé Phụ lục 2 Hình 8 Đốt lửa ngoài sân để báo hiệu trong nhà có người sinh Phụ lục 2 Hình 9 Họ hàng và người thân mừng cho bé đầy tháng Phụ lục 2 Hình 10 Phụ nữ Chăm Roi nấu rễ nhân trần uống sau sinh Phụ lục 2 Hình 11 Phụ nữ Chăm Ninh Thuận xông bằng lá khuynh diệp, sau sinh Phụ lục 2

Hình 17 Nhân trần phơi khô Phụ lục 4

Hình 19 Cây hương phụ Phụ lục 4

Trang 14

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số bảng Tên bảng

Bảng 3.1 3 tỉnh được chọn nghiên cứu 37 Bảng 3.2 5 huyện được chọn nghiên cứu 38 Bảng 3.3 2 khu vực nghiên cứu 39 Bảng 3.4 Nhóm tuổi của phụ nữ Chăm trong diện nghiên cứu 39 Bảng 3.5 Nghề nghiệp của phụ nữ Chăm 40 Bảng 3.6 Tỷ lệ phân phối tôn giáo của phụ nữ Chăm 40 Bảng 3.7 Tỉ lệ phân phối trình độ học vấn của phụ nữ Chăm 41 Bảng 3.8 Nhóm tuổi lập gia đình 42 Bảng 3.9 Tỉ lệ phân phối tuổi lập gia đình trung bình 43

của phụ nữ Chăm ở 2 vùng Bảng 3.10 Số con của mỗi gia đình ở 2 vùng 43 Bảng 3.11 Số con liên quan đến trình độ học vấn 44 Bảng 3.12 Số con trung bình ở từng vùng nghiên cứu 45 Bảng 3.13 Số mong muốn giới tính của con 45 Bảng 3.14 Nguồn thông tin về chăm sóc thai nghén 46 Bảng 3.15 Áo mặc của phụ nữ Chăm khi có thai 46 Bảng 3.16 Thời gian nghỉ ngơi trước khi sinh 47 Bảng 3.17 Chế độ ăn trong thời kỳ mang thai 47 Bảng 3.18 Thói quen thường dùng các chất để uống, hút 48

của phụ nữ Chăm ở 2 vùng Bảng 3.19 Thời gian không quan hệ tình dục trong thời kỳ mang thai 49 Bảng 3.20 Có chuẩn bị đồ dùng cho mẹ và con trước khi sinh ở 2 vùng 49 Bảng 3.21 Phụ nữ Chăm chọn nơi sinh ở từng vùng 50 Bảng 3.22 Người đỡ đẻ cho phụ nữ Chăm ở 2 vùng 51 Bảng 3.23 Mong có người thân ở bên cạnh khi sinh 51 Bảng 3.24 Tỉ lệ sinh của phụ nữ Chăm theo các tư thế và từng vùng 52 Bảng 3.25 Tỉ lệ phân phối những cảm tưởng sau sinh của phụ nữ Chăm 53

Trang 15

từng vùng Bảng 3.27 Tỉ lệ phân phối nơi chôn nhau thai sau sinh của người Chăm 54 Bảng 3.28 Nơi nằm của bé sơ sinh sau sinh 55 Bảng 3.29 Tỉ lệ phân phối nơi nằm cho người mẹ sau sinh 55 Bảng 3.30 Tỉ lệ phân phối ăn kiêng sau sinh ở vùng cao và đồng bằng 56 Bảng 3.31 Tỉ lệ nằm lửa sau sinh của bà mẹ Chăm 56 Bảng 3.32 Tỉ lệ phân phối thời gian nằm lửa sau sinh 57 Bảng 3.33 Tỉ lệ xông hơ sau sinh tùy thuộc nhóm tuổi và từng vùng 57 Bảng 3.34 Thời gian làm việc lại tùy theo nghề nghiệp của mình 58 Bảng 3.35 Tỉ lệ phân phối trong quan hệ tình dục sau sinh 58 Bảng 3.36 Tỉ lệ phân phối theo phương pháp băng rốn ở 2 vùng 59 Bảng 3.37 Tỉ lệ biến chứng trong chăm sóc rốn ở 2 vùng 59 Bảng 3.38 Thời gian tắm cho em bé 60 Bảng 3.39 Thời gian cho con bú sau sinh ở 2 vùng 60 Bảng 3.40 Tỉ lệ dùng lá rễ cây ở phụ nữ Chăm trong thời kỳ mang thai 61 Bảng 3.41 Các loại lá rễ cây thường dùng trong thời kỳ mang thai 62 Bảng 3.42 Tỉ lệ sử dụng thuốc từ nguồn cây, lá, củ của phụ nữ Chăm 62

sau sinh ở từng vùng Bảng 3.43 Các loại lá, rễ, củ thường dùng đơn lẻ sau sinh 63 Bảng 3.44 Tỉ lệ phân phối thời gian dùng ngay lá, rễ, cây cho mẹ

Bảng 3.45 Tỉ lệ phân phối thời gian dùng các loại rễ cây làm thuốc 64

Cho phụ nữ Chăm sau sinh Bảng 3.46 Một số bài thuốc phụ nữ Chăm thường dùng để điều trị bệnh 65 Bảng 3.47 Tỷ lệ sử dụng các thực phẩm có nguồn gốc từ động vật 65

phụ nữ Chăm thường dùng sau sinh

Trang 16

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒSố biểu đồ Tên biểu đồ Trang

Biểu đồ 3.1 Phân bổ mẫu theo địa phương 38 Biểu đồ 3.2 Phân bổ mẫu theo vùng 39 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ phân phối tôn giáo của phụ nữ Chăm 41 Biểu đồ 3.4 Mong muốn giới tính của con 45 Biểu đồ 3.5 Ăn kiêng thời kỳ mang thai 48 Biểu đồ 3.6 Nơi sinh của phụ nữ 50 Biểu đồ 3.7 Chế độ ăn thời kỳ sau sinh 55 Biểu đồ 3.8 Các loại thuốc YHCT dùng sau sinh 63

Trang 17

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang

Bảng 3.1 Các địa bàn có người Chăm chọn nghiên cứu 43 Bảng 3.2 Nhóm tuổi của phụ nữ Chăm trong diện nghiên cứu 44 Bảng 3.3 Nghề nghiệp của phụ nữ Chăm 44 Bảng 3.4 Tỷ lệ phân phối tôn giáo của phụ nữ Chăm 45 Bảng 3.5 Tỷ lệ phân phối trình độ học vấn của phụ nữ Chăm 45 Bảng 3.6 Nhóm tuổi lấy chồng 46 Bảng 3.7 Khám thai ở hai vùng 46 Bảng 3.8 Số con của mỗi gia đình ở 2 vùng 47 Bảng 3.9 Số con liên quan đến trình độ học vấn ở 2 vùng 47 Bảng 3.10 Số con trung bình ở từng vùng nghiên cứu 48 Bảng 3.11 Phân số sự mong muốn giới tính của con 48 Bảng 3.12 Nguồn thông tin về chăm sóc thai nghén 49 Bảng 3.13 Aùo mặc của phụ nữ Chăm khi có thai 49 Bảng 3.14 Người đỡ sinh cho phụ nữ Chăm 50 Bảng 3.15 Thời gian sắp xếp nghỉ ngơi trước khi sinh hai vùng 51 Bảng 3.16 Chế độ ăn trong thời kỳ mang thai ở 2 vùng 51 Bảng 3.17 Các chất thường dùng trong thời kỳ mang thai ở hai vùng 52 Bảng 3.18 Thời gian không quan hệ tình dục trong thời kỳ mang thai 52 Bảng 3.19 Có chuẩn bị đồ dùng cho mẹ và con trước khi sinh ở 2 vùng 53 Bảng 3.20 Mong có người thân ở bên cạnh khi sinh 53 Bảng 3.21 Tỷ lệ sinh của phụ nữ Chăm theo các tư thế và từng vùng 54 Bảng 3.22 Tỷ lệ phân phối những cảm tưởng sau sinh của phụ nữ Chăm 54 Bảng 3.23 Các phương pháp cắt rốn trước năm 1975 và sau năm 1975 55 Bảng 3.24 Phòng nằm cho mẹ và con sau sinh 56 Bảng 3.25 Tỷ lệ phân phối ăn kiêng sau sinh ở vùng cao và đồng bằng 57 Bảng 3.26 Tỷ lệ nằm lửa sau sinh của bà mẹ Chăm ở hai vùng 57 Bảng 3.27 Tỷ lệ xông hơ sau sinh ở 2 vùng 58

Trang 18

Bảng 3.29 Tỷ lệ phân phối trong quan hệ tình dục sau sinh 59 Bảng 3.30 Tỷ lệ phân phối theo phương pháp băng rốn 59 Bảng 3.31 Tỷ lệ biến chứng trong chăm sóc rốn ở hai vùng 60 Bảng 3.32 Thời gian tắm cho em bé sau sinh 60 Bảng 3.33 Thời gian cho con bú sau sinh 61 Bảng 3.34 Tỷ lệ sử dụng thuốc nguồn gốc từ lá, củ, rễ cây của phụ nữ Chăm 62

sau sinh Bảng 3.35 Sử dụng củ nghệ vàng để chăm sóc da sau sinh ở 2 vùng 63

Trang 19

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒSố biểu đồ Tên biểu đồ Trang

Biểu đồ 3.1 Phân bổ mẫu theo hai vùng cao và đồng bằng 44 Biểu đồ 3.2 Phụ nữ Chăm chọn nơi sinh ở từng vùng 50 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ phân phối nơi chôn nhau thai sau sinh của người Chăm 56 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ dùng lá, rễ cây để dùng ở phụ nữ Chăm 61

trong thời kỳ mang thai Biểu đồ 3.5 Các loại lá, rễ, cây thường dùng trong thời kỳ mang thai 61 Biểu đồ 3.6 Các loại rễ củ cây thường dùng sau sinh 62 Biểu đồ 3.7 Kết quả sử dụng củ nghệ vàng chăm sóc da sau sinh 64 Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ sử dụng các thực phẩm có nguồn gốc từ động vật phụ nữ

Chăm thường dùng sau sinh 64

Trang 20

MỞ ĐẦU

Phong tục tập quán được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài Đó lànhững tài sản vô giá, thể hiện bản sắc văn hóa, đời sống tinh thần của dântộc, gắn chặt với cuộc sống, sinh hoạt lao động của quảng đại quần chúng.Những phong tục tập quán đó được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệkhác, ngày càng được phát huy, sáng tạo, đã góp phần xây dựng một nềnvăn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ dân tộc ít người tương đốilớn chiếm 14% dân số, trong đó người Chăm là một dân tộc sinh sống lâuđời trên dải đất miền trung và đồng bằng nam bộ Việt Nam Trong lịch sửphát triển họ đã đạt được một trình độ cao về tổ chức xã hội và tạo ra mộtnền văn hóa phong phú, độc đáo, đa dạng Kết quả của quá trình hoạt độngcó định hứơng của họ và sự tác động của những nhân tố lịch sử, xã hội, sựgiao lưu văn hóa với những cộng đồng kế cận trong vùng người kinh và cácdân tộc khác [9]

Khi đề cập tới nền văn hóa Chăm ở Việt Nam, có nhiều nghiên cứu liênquan đến lịch sử, kiến trúc, ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo, tín ngưỡng… ít cónhững nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe mẹ và con, nhất là sự khác biệttrong chăm sóc sức khỏe sinh sản của người Chăm hiện nay so với phongtục tập quán chăm sóc mẹ và con trong thời gian trước năm 1975 Hơn nữa,sự chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ Chăm còn tùy thuộc vào nhữngkhu vực sinh thái, tôn giáo, trình độ học vấn, kinh tế gia đình khác nhau [5],[11]

Trang 21

Để tìm hiểu về bảo vệ sức khỏe của dân tộc Chăm hiện vẫn còn chế độmẫu hệ là một việc làm cần thiết, góp phần nghiên cứu thêm về văn hóaChăm trong nền văn hóa Việt Nam [43],[67]

Tỷ lệ phát triển dân số hiện nay của người Chăm là 2,57% [9]

Nghiên cứu về quần thể và biến động dân số của người Chăm, các tàiliệu của Pháp trước đây cho rằng dân số Chăm giảm đến mức chỉ còn vàivạn người là do chiến tranh, do điều kiện thiên nhiên, vệ sinh môi trường,

do sinh sản [9]

Trước đây nền y học chưa phát triển, việc chăm sóc sức khỏe cho mẹvà con đều phụ thuộc vào phong tục tập quán, kinh tế, tôn giáo, kinhnghiệm ở từng vùng khác nhau và sử dụng các loại cây cỏ, sản phẩm cónguồn gốc từ động vật để làm thuốc, để chăm sóc sức khỏe cho mẹ và controng thời kỳ mang thai, khi sinh và sau sinh

Những phong tục tập quán này góp phần tích cực vào xây dựng đờisống văn hóa mới, đặc biệt là trong giáo dục, bồi dưỡng thế hệ phụ nữ trẻbiết giữ gìn truyền thống, đạo đức, tâm hồn tình cảm nhân cách, lối sống,nếp sống tốt đẹp của dân tộc, không những phù hợp với thời đại mới, loạibỏ được những nhân tố ngoại lai, mê tín dị đoan mà còn phát huy sáng tạolàm phong phú thêm những ý nghĩa truyền thống văn hóa theo định hướngcủa nền văn hóa do Đảng ta đề ra trên lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản.Từ những vấn đề trên với sự cần thiết để thực hiện đề tài nghiên cứu:

“Phong tục tập quán người Chăm ở miền Trung về chăm sóc sức khỏe bà mẹ khi có thai, trong và sau khi sinh”

Nhằm thực hiện các mục tiêu sau đây:

Trang 22

1 Nghiên cứu một số đặc điểm về phong tục tập quán của người Chăm liên quan đến việc chăm sóc sức khoẻ bà mẹ khi có thai, trong và sau sinh

2 Tìm hiểu một số thuốc từ cây cỏ và sản phẩm có nguồn gốc từ động vật, dân tộc Chăm thường dùng cho phụ nữ Chăm trong thời kỳ mang thai, trong và sau sinh.

Trang 23

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ KINH TẾ VĂN HÓA XÃ HỘI VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI CHĂM LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC CHĂM SÓC SỨC KHỎE BÀ MẸ KHI CÓ THAI, KHI SINH VÀ SAU SINH

Cuộc sống hàng ngày của từng gia đình, từng dòng họ người Chăm đếnngày nay vẫn còn lưu trữ không ít nếp văn hóa đặc sắc xa xưa Trong nếpvăn hóa ấy được hình thành từ trong lòng quốc gia Chămpa cổ đại, rất đadạng Chămpa trở thành đối tượng nghiên cứu thực sự của các nhà khoa họcbắt đầu từ giữa thế kỷ XIX Các công trình nghiên cứu của tác giả trong vàngoài nước, đã đề cập hầu hết ở các lĩnh vực văn hóa của người Chăm,trong đó có: nghệ thuật điêu khắc, cấu trúc nhà cửa, tôn giáo và các phongtục tín ngưỡng dân gian Chăm [5]… Trong nghiên cứu của đề tài này đề cậpđến lĩnh vực văn hóa xã hội và những yếu tố liên quan đến chăm sóc sứckhỏe bà mẹ trong thời kỳ mang thai, khi sinh và sau sinh

1.1.1 Nguồn gốc lịch sử và tín ngưỡng dân gian của người Chăm liên

quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản

Nguồn gốc người Chăm cũng như các dân tộc thuộc ngôn ngữ hệ Mã Lai– Đa Đảo ở Việt Nam, đến nay trong khoa học còn nhiều ý kiến khác nhau.Có người cho rằng họ là con cháu của những người di cư từ thế giới đảoĐông Nam Á đến, có người cho rằng họ từ các quần đảo, vùng biển Trung

Trang 24

Khi xem xét một cách tổng quát về số phụ nữ có thai, số con còn sống,số con chết trên một cộng đồng, nhất là phụ nữ ở nông thôn, đặc biệt ở phụnữ Chăm tuỳ thuộc vào các yếu tố khác nhau Có phụ nữ chưa tới 20 tuổiđã sinh từ 1 – 2 lần Sự tham gia sớm vào quá trình sinh sản của phụ nữnhóm tuổi này đã từng kéo dài ở nông thôn nước ta bao năm tháng trướcđây Ngày nay tình trạng này đã có nhiều thay đổi Các khảo sát xã hội họccho thấy ở độ tuổi 15 – 19, hầu hết phụ nữ chưa lập gia đình Ở độ tuổi 20 –

24 đa số cũng chỉ có một con và độ tuổi 30 mới ở mức có 2 con [43]

Cộng đồng người Chăm, chế độ hôn nhân của người Chăm còn biểuhiện những truyền thống của dân tộc, những chi phối của tôn giáo và ítnhiều có ảnh hưởng của xã hội hiện đại Thời kết hôn của người Chăm tuycó đôi chút khác biệt giữa hai tôn giáo Bàlamôn và Bàni Trước đây thôngthường con gái khoảng 16 – 18 tuổi là đã xây dựng gia đình Với quan niệmtheo truyền thống như vậy trong thời gian qua đã xảy ra những vấn đề hếtsức phức tạp trong việc thực hiện luật hôn nhân và gia đình ở vùng cóngười Chăm Công tác giáo dục cho mọi đối tượng từ chức sắc tôn giáo, các

Trang 25

bậc cha mẹ đến tuổi trẻ chưa được trang bị đầy đủ về kiến thức khoa học,chưa giải phóng họ ra khỏi những ràng buộc khắt khe là do có phần thamgia của tôn giáo và do các tập tục cũ [5], [43], [51]

Việt Nam là một nước thuộc vào nhóm những nước có mức sinh cao ởĐông Nam Á Suốt trong thập kỷ 80, tỷ lệ sinh duy trì ở mức 3% (1989)[9].Người Chăm dân số tăng tự nhiên phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó cósự khác nhau giữa nông thôn và thành thị rất rõ nét Từ năm 1975 – 1981,tỷ lệ sinh giữa hai vùng không chênh lệch nhiều, nhưng từ năm 1983 đếnnay, tỷ lệ sinh ở thành thị ngày càng giảm, trong khi ở nông thôn khônggiảm, có năm lại tăng lên Do đời sống tinh thần còn rất hạn chế, tâm lýsinh con nhiều để nhờ cậy lúc tuổi già còn rất phổ biến Nhiều nơi chưađược phổ biến sinh đẻ có kế hoạch hoặc chỉ phổ biến theo phong trào Tỷ lệchết nguyên nhân có nhiều, nhưng đa số là chết bệnh (93%), số còn lại làchết do tai nạn giao thông, do sinh đẻ (3%) và các loại khác (4%) [5],[9],[43]

Cho đến nay xã hội người Chăm theo chế độ mẫu hệ Theo truyềnthuyết dân gian, người Chăm có vị vua đầu tiên có tên là PÔNƯKAR (thiên

Y anar, thánh mẫu…) hiện nay có nhiều đền thờ như: tháp Bà ở Nha Trang,tháp PÔKLONGRAI ở Ninh Thuận, tháp PÔSAHNƯ ở Bình Thuận… vàothời điểm vị trí của mình PÔNƯKAR luôn đề cao vai trò phụ nữ thể hiệntrong đảm đương việc nước, lo toan cho đời sống sinh hoạt gia đình từ lễnghi truyền thống, phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian, cưới hỏi, lễtang, di chúc, đến công việc chăm sóc sức khỏe cho mẹ và con Ngườichăm sống tập trung từng khu, từng vùng theo một quan hệ huyết thống

Trang 26

dòng tộc từ phía nữ, mỗi dòng tộc đều có thờ một dị vật gọi là “Chiết tâu”là một biểu tượng của dòng tộc luôn lưu giữ lại cho thế hệ sau đều do phíanữ giữ gìn bảo quản

Nhìn chung cộng đồng người Chăm là một dân tộc theo chế độ mẫu hệcó trình độ văn hóa và ý thức tự giác tộc người khá cao, nên trong đời sốnghọ đã lưu giữ được khá nhiều phong tục tập quán đặc biệt là những phongtục chăm sóc sức khỏe cho mẹ và con vẫn còn lưu lại đến ngày nay [5], [9]

1.1.2 Môi trường địa lý và sự phân phối dân cư của Champa trước đây và của người Chăm hiện nay

1.1.2.1 Môi trường địa lý

Xét về mặt kiến tạo địa lý ở miền trung Việt Nam, vùng đất Chăm đượcchia làm bốn khu vực chính: khu vực đồng bằng Bình Trị Thiên; khu vựcđồng bằng Nam – Ngãi – Định; khu vực Phú Yên Khánh Hòa; khu vựcđồng bằng Ninh Thuận, Bình Thuận Mỗi khu vực trên đều có những nétvừa rất chung và rất riêng cả về kiến tạo địa hình, địa lý lẫn khí hậu Khíhậu miền trung vẫn là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng ấm mưa nhiều phùhợp với sự phát triển của nhiều loại động, thực vật và thuận lợi cho việcsinh sống của con người Chính đặc điểm địa hình và khí hậu đã tạo nên cảmột thảm thực vật gần như thống nhất suốt dải đất miền trung; thảm rừngphi lao; rừng thưa lá trên cát và đồi trọc ven biển Như vậy nhìn một cáchtổng quan, ta thấy miền trung nước ta là cả một dải đất trù phú và thuận lợicho con người sinh sống và làm ăn [9], [11]

Trang 27

1.1.2.2 Sự phân bổ dân cư của người Chăm hiện nay

Dân tộc Chăm về dân số được xếp thứ 17 trong 54 thành phần tộc người

ở nước ta Theo số liệu điều tra dân số ngày 01/4/1989 dân tộc Chăm có96.918 người Cho đến năm 2003 có 137.093 nhân khẩu chiếm 0,17% dânsố cả nước, chủ yếu 12 Tỉnh: Bình Định (4.546 người); Phú Yên (19.219người); Ninh Thuận (60.345 người); Bình Thuận (29.601 người); An Giang(12.165); TPHCM (5.084); Tây Ninh (2.893); Đồng Nai (2.375); BìnhDương (428); Bà Rịa Vũng Tàu (140); Bình Phước (200); Đồng Tháp (97).Việc gia tăng dân số nhanh vào những năm 1963 và những năm sau 1975.Đến nay, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 2,57 đến 2,93%n [9], [31], [36], [71]

Do những nguyên nhân lịch sử, sự phân bố của người Chăm hiện naytrên những địa bàn khá xa nhau Trên những vùng địa lý và sinh thái rấtkhác nhau, vùng cao nguyên đất đỏ ở Sơn Hòa, đầu nguồn sông Đà Rằng ởSông Hinh, chân dãy Trường Sơn ở Văn Canh – Đồng Xuân, vùng đồngbằng khô cạn ở Phan Rang, Phan Thiết, vùng biên giới Tây Ninh, cực namcao nguyên ở Đồng Nai, hai bên bờ sông Hậu Giang và một quận nội thành

ở thành phố Hồ Chí Minh [42]

Trong đó 80% dân số người Chăm sống tập trung chủ yếu ở các tỉnhmiền Trung: Ninh Thuận chiếm 44%; Bình Thuận 22%; Phú Yên 14% tổngdân số người Chăm Người dân ở khu vực này hiện còn duy trì nhiều mặtsinh hoạt tinh tế cổ truyền còn tồn tại phần lớn các phong tục, tín ngưỡng vàtôn giáo xa xưa… phản ảnh đặc trưng tộc người Chăm.[9],[31],[71]

Trang 28

1.1.3 Một số nét khái quát về kinh tế, văn hoá xã hội của người Chăm

1.1.3.1 Kinh tế đời sống:

Trong lịch sử, người Chăm rất chú ý trong canh tác lúa nước, được thểhiện trong việc xây dựng các hệ thống thuỷ lợi trong việc chọn giống lúa vàkỹ thuật canh tác Ngày nay người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận đãtiếp thu và phát triển truyền thống đó của cha ông họ Nghề thủ công củangười Chăm như dệt, gốm, chạm khắc đá… xưa kia rất phát triển [5], [11] Những hoạt động kinh tế của đồng bào Chăm khá phong phú, đa dạngvà phát triển… Sản xuất chính của người Chăm là nông nghiệp và thủ côngnghiệp Ngoài ra còn có các hoạt động trao đổi, buôn bán, đánh cá Có nơithủ công nghiệp gắn với nông nghiệp và là nghề phụ của gia đình như ởNinh Thuận và Bình Thuận

Người Chăm còn khai thác các vùng đất cao ở chân núi sườn đồi, mỗinăm một vụ vào mùa mưa, trên loại đất này còn trồng bắp, đậu, mè và cácloại khoai, bầu, bí…[11]

Sau năm 2000 hầu hết các tỉnh có đồng bào Chăm sinh sống nhà nướcđã quan tâm đầu tư nhiều chương trình, dự án như : chương trình mục tiêuquốc gia xóa đói, giảm nghèo và việc làm, chương trình 135, chương trìnhnước sạch và vệ sinh môi trường, dự án hạ tầng nông thôn, dự án nuôitrồng thủy sản… từ đó cơ sở hạ tầng đã được tăng cường đáng kể như : xâydựng các công trình thủy lợi ở Ninh Thuận, Bình Thuận và Phú Yên…, sảnxuất nông nghiệp có sự chuyển biến tích cực thích ứng dần với nền kinh tếthị trường; lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ bước đầu phát triển các

Trang 29

ngành nghề truyền thống như: dệt thổ cẩm, đan lát ở tỉnh Ninh Thuận, BìnhThuận được duy trì, một số thôn bản người Chăm ở Ninh Thuận duy trì việctrồng và buôn bán thuốc nam Đời sống của đồng bào Chăm ngày càngđược cải thiện hơn : người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận tỷ lệ hộ nghèocòn 13,9%, thu nhập bình quân người Chăm ở vùng này từ 100.000đ –120.000đ / người / tháng Các hộ sử dụng nước sạch từ 60 – 72 % [71]

1.1.3.2 Văn hoá xã hội của người Chăm

 Về ở:

Người Chăm sống tập trung thành các Paley (làng) trên các gò đất cao.Các làng Chăm trước đây rất ít cây xanh Người Chăm thường ở nhà nềnđất tại miền trung, nhà sàn tại tây nam bộ Việt Nam.[5]

 Về ăn uống:

Do điều kiện môi trường tự nhiên của địa bàn cư trú, ven miền duyênhải nên các món ăn thường ngày cũng như các lễ vật dâng cúng lên cácthần linh nay vẫn còn mang dấu ấn văn hoá biển khá đậm nét Ngoài nghềbiển còn rất thông thạo về nghề rừng Nguồn thực phẩm chủ yếu từ rừng,sông, suối… Ngoài ra còn chăn nuôi thêm gia súc : trâu, dê, bò, gà, vịt, cừu…nuôi bằng cách thả rong [5]

Những bữa ăn chính (trưa và tối) thường dùng các thức ăn phổ biến nhưnước mắm, mắm nêm, mắm cá, mắm chưng, rau rừng luộc, măng luộc,canh rau rừng, canh chua lá me, cá khô, cá nướng, cá kho, cá chiên, thịtkho, thịt nướng, thịt luộc, thịt xào… Đặc biệt là món kho thường dùng làmthức ăn cho các bà mẹ sau sinh Món kho chế biến từ thịt các loại động vật

Trang 30

Họ cho rằng là một món ăn cung cấp chất đạm và chất béo cao, thường khocá biển, cá đồng, kho thịt gà, vịt, bò, trâu, heo và các loại thịt rừng… [5].Đối với món kho, người Chăm rất lưu ý gia vị của nó, gia vị truyềnthống thường được sử dụng trong cách chế biến các món ăn là: củ nghệ,Gừng, sả, ớt, tiêu, muối, đường, tỏi, ngò, quế, cơm dừa, các lá thơm của câyrừng… [5]

Mỗi cộng đồng người Chăm Ấn giáo hay Chăm Bani đều có tục riêng.Người Chăm Ấn giáo, theo đạo Bàlamôn, không ăn thịt bò, người ChămBani không ăn thịt heo, thịt giông Người Chăm Ấn giáo không ăn thịt bòbởi theo tục thờ bò thần Nang di, bò tót của thần Shiva Các con vật đượchiến tế và các đồ cúng thường là dê, gà, trâu, thỏ, cá… thường dùng nhiềuvà cũng là những con vật được nuôi nhiều nhất tại vùng của người Chămsinh sống [5], [100]

Trong tháng ăn chay (Ramưwan sau tết) mọi tín đồ người Chăm theođạo Hồi giáo đều thực hiện nhịn ăn ban ngày khi có mặt trời và chỉ được ănuống vào ban đêm.[5], [98]

Trong chế biến thức ăn của người Chăm theo đạo Hồi giáo, thường sửdụng khá nhiều gia vị nhất là gia vị cay và béo, chất béo chủ yếu lấy từnước cốt dừa bằng cách dùng dừa nạo thành những sợi nhỏ và vắt lấy nướccốt, nước cốt dừa có thể cho vào nhiều loại thức ăn như cà ri, các mónchưng, kho, hầm và cả nước chè Lượng cá nước ngọt đánh bắt được vàomùa cá ngoài việc làm thức ăn hàng ngày còn chế biến thành các loại khôvà mắm để dành ăn dần

Trang 31

Một số món ăn đặc biệt riêng cho người Chăm Hồi giáo như : cari bò,cari dê, cari cá; Gơ buôik ( Rơ chao ) : giống cari nhưng nhiều nước hơn vàthêm một số vị chua như me, quả tai chua Rượu là thức uống người Hồigiáo không dùng[5]

Tập tục ăn trầu và hút thuốc cũng còn được duy trì ở nhiều người Chămcó tuổi Đàn ông và một số đàn bà người Chăm có thói quen hút thuốc lá,thuốc lá do người Chăm tự trồng trong vườn hoặc rẫy

 Về mặc

Áo của người Chăm là một trong những loại hình y phục khá phong phúvà đa dạng về hình dạng và kiểu cách Cho đến nay dạng áo vẫn còn kháphổ biến trong cộng đồng người Chăm nhất là đối với phụ nữ Chăm lớntuổi Riêng đàn ông Chăm hiếm thấy ăn mặc theo dạng áo dài Chỉ cónhững người đàn ông thuộc giới tăng lữ mới mặc áo dài thường xuyên, vì họbuộc phải ăn mặc theo đúng phong tục tập quán tín ngưỡng và tôn giáo.Còn những đàn ông thuộc giới thường dân, chỉ mặc áo dài khi phải thựchiện một số nghi thức trong một buổi lễ nào đó thôi [5]

 Đặc điểm chữ viết và văn học dân gian

Tiếng Chăm là một ngôn ngữ trong nhóm Nam Đảo ở Việt Nam về mặtcấu trúc tiếng Chăm rất gần gũi với các tiếng cùng nhóm (Churu; Giarai;Eâđê; Radglai;…) những chữ viết của ngôn ngữ này có một số đặc điểmriêng Trong số các loại chữ viết dùng để ghi tiếng Chăm dưới dạng AkharThrak (là một loại văn tự ngữ nguyên) được dùng lâu dài và phổ biến hơncả Một số từ ngữ đáng kể được rút lọc từ vốn ca dao, tục ngữ,… trong tất cảcác đặc điểm xã hội ngôn ngữ học của tiếng Chăm, nổi bật nhất là trạng

Trang 32

Luân lý xã hội và tâm lý con người cũng được phản ảnh sắc gọn qua tụcngữ, ca dao, thơ… trong văn học dân gian còn phải kể đến những bài hát, bàixướng lễ tại lăng, tháp… Các thể loại hát như: Hát ru con, hát đối đáp, hátlễ… về làn điệu có nhiều quan hệ với dân ca Trung bộ Đó là những sinhhoạt tinh thần rất phong phú và khác nhau ở từng địa phương [99]

Người Chăm có rất nhiều lễ hội Phần lớn các lễ hội này có liên quanđến nông nghiệp Múa là loại hình nghệ thuật đặc sắc của người Chăm màphần lớn là để phục vụ cho các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian [11], [49]

 Tôn giáo và lễ hội dân gian chung của người Chăm

Người Chăm hiện nay theo ba tôn giáo là BàLaMôn, Bàni và Hồi giáo.Các hình thức tín ngưỡng và lễ hội dân gian Chăm tồn tại trong mối quan

Trang 33

hệ liên kết, phụ thuộc vào nhau Tín ngưỡng của người Chăm rất đa dạng,phong phú, tồn tại dưới các hình thức khác nhau Những tín ngưỡng cổ xưamang tính chất của loại hình tín ngưỡng thuộc xã hội nguyên thuỷ, có tínngưỡng liên quan đến thờ cúng tổ tiên, dòng họ, có những tín ngưỡng liênquan đến sản xuất nông nghiệp nhưng dần dần đã trở thành tập tục đượctiến hành kèm theo những lễ nghi mang tính chất lễ hội dân gian

Gia đình và dòng họ có vai trò rất quan trọng trong đời sống văn hoátinh thần của người Chăm Gia đình và dòng họ có nhiều lễ nghi, mang tínhđặc thù của dân tộc như các phong tục tang ma, cúng thần, lễ nhập Kut, thờcúng tổ tiên [67], [98]

Một bà mẹ Chăm ở vùng đồng bằng từ khi có thai đến khi sinh con vàchăm sóc con sau sinh có những lễ tục sau: lễ cầu an cho người mang thai;lễ tẩy uế cho người mang thai; lễ chuẩn bị trước khi sinh; lễ đeo bùa chohài nhi để ngừa tà; lễ mừng cho sơ sinh đầy tháng [49], [68]

Người Chăm Hroi ở Phú Yên có lễ hội mừng sức khỏe, lễ bỏ mã, lễ đâmtrâu, mừng lúa mới, cúng được mùa, xuống giếng … được tổ chức theo từnghộ gia đình, cách thức lễ nghi cũng giống nhau Ngày nay các lễ hội nàyvẫn còn duy trì mặc dầu đã có những ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa cácdân tộc khác như: Ba Na Ê Đê … [42], [67]

1.1.4 Y tế và chăm sóc sức khỏe sinh sản:

Tình trạng y tế và sức khỏe của đồng bào Chăm ở các vùng miền trungtrước năm 1975 hầu như chưa được quan tâm Ngoài hoạt động có tính chấtmê tín của các thầy cúng, thầy phù thủy,… nhằm chữa bệnh cho nhân dân,

Trang 34

các cơ sở khám chữa bệnh, đội ngũ y tế và thuốc men còn thiếu nghiêmtrọng, tình hình vệ sinh môi trường không tốt nhất là ở các xã vùng cao Việc thực hiện gia đình ít con chưa có, ngoài ra do phong tục tập quáncủa người Chăm theo chế độ mẫu hệ nên sinh con gái là một hạnh phúctrong gia đình để nối dòng họ, gia đình nhiều con thiếu sự chăm sóc của chamẹ, một phần thiếu ăn đưa đến tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cao trên 60%(trước năm 1975) và 50% (năm 1994) và 36,7% (năm 1999) tất nhiên trẻ

em ở vùng cao tỷ lệ suy dinh dưỡng còn cao hơn ở vùng đồng bằng [71]Mức sinh ở nước ta tuy có giảm nhưng số con trung bình của một phụ nữ

ở tuổi sinh đẻ năm 1989 có 3,8 con đến năm 1999 là 2,3 con, nhưng ở cácvùng trung du miền núi, duyên hải miền trung và tây nguyên số vùng nàycòn ở mốc trên 4 con Việc chăm sóc phụ nữ có thai và các bà mẹ cònnhiều thiếu sót Tỷ lệ các bà mẹ được khám thai và khi đẻ được cán bộchuyên môn giúp còn thấp, việc chăm sóc sau sinh, hướng dẫn cho bú mẹvà cách nuôi con chưa được chú ý làm tốt Nguyên nhân là do sự yếu kémcủa hệ thống cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, độingũ cán bộ đặc biệt là nữ hộ sinh còn thiếu nghiêm trọng, trình độ kiến thứctay nghề chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho mẹ và con,nhất là các vùng khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa, hơn nữa về nhậnthức nội dung và ý nghĩa của chăm sóc sức khỏe sinh sản chưa được đầy đủ,sự thiếu hiểu biết về cách đề phòng các nguy cơ đối với sức khỏe sinh sảncùng với những tập tục lạc hậu trong lối sống cũng như trong hành vi ứngxử về chăm sóc sức khỏe mẹ và con nhất là ở các vùng cao, vùng khó khănvề địa lý, kinh tế, văn hóa xã hội của người Chăm miền trung[15],[16],[63]

Trang 35

Một vấn đề hiện nay như là một yếu tố tác động đến khả năng kết hônsớm đó là quan hệ tình dục trước hôn nhân, có thai ngoài ý muốn và đôngcon, đặc biệt là việc cung cấp các phương tiện tránh thai còn hạn chế, nhậnnhức của người dân trong cộng đồng đối với vấn đề này còn yếu Qua kếtquả đã chứng minh trên có những sự khác nhau về tuổi lập gia đình Đếnnay ở Việt Nam đã đưa ra luật hôn nhân nước ta đã qui định tuổi kết hônnam không được cưới trước 22 tuổi, nữ trước 18 tuổi Đây chỉ là độ tuổi thấpnhất và pháp luật đã qui định, theo tài liệu đã thống kê: sản phụ dưới 20tuổi sinh con bị dị tật bẩm sinh cao hơn sản phụ sinh con ở tuổi 25 – 30 là50% Theo số thống kê những phụ nữ sinh ở độ tuổi từ 25 – 29 cơ hội trẻ bị

dị tật bẩm sinh là 1/1500, ở độ tuổi 35 -39 cơ hội trẻ bị dị tật bẩm sinh là1/250, hoặc 40 tuổi thì 1/60, cùng với sự tăng tuổi của người mẹ có thai tỷlệ trẻ sơ sinh bị mắc các bệnh này cũng tăng theo [4], [70]

Ngày nay sự đầu tư của nhà nước cho sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhândân về lĩnh vực dân số kế hoạch hóa gia đình không ngừng tăng lên đã tạođiều kiện cho việc củng cố và phát triển mạng lưới cơ sở y tế, kế hoạch hóagia đình rộng khắp đến tận các bản làng thôn xóm trong cả nước Đảm bảosự công bằng, mọi người đều được tiếp cận với các thông tin và dịch vụchăm sóc sức khỏe sinh sản kế hoạch hóa gia đình có chất lượng, phù hợpvới điều kiện kinh tế của xã hội đặc biệt chú ý các đối tượng bị thiệt thòi,người nghèo, người có công với nước, miền núi, các vùng sâu, vùng xa vàvùng có nguy cơ cao về môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.Thực hiện bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, dự phòng tíchcực và chủ động trong mọi khâu của chăm sóc sức khỏe sinh sản, kết hợp y

Trang 36

1.1.5.1 Trong thời kỳ mang thai

Người Chăm thường mặc áo rộng, váy rộng, cột dây thắt lưng bằng vải(không thắt chặt quá), không mang tất, không mặc áo lót ngực

Mùa nóng thường mặc áo vải mỏng, mùa lạnh mặc áo len đan khoácngoài mang dép hai quai mỏng, không mang giày cao gót

Trong thời kỳ mang thai vẫn đi lao động, đi làm ruộng rẫy, thu hoạchmùa màng, ngồi may, dệt thổ cẩm bình thường, trong vài tháng cuối khôngđược làm nặng như gánh nước, xách vác bao lúa nặng và không được đi rẫy

xa phải ở lại vì sợ sinh non.[5]

Về quan hệ tình dục: Vẫn quan hệ bình thường, đa số (70%) là khôngquan hệ tình dục khi phụ nữ ốm nghén trong ba tháng đầu,ø kiêng cữ giaohợp trong ba tháng cuối [51]

Về ăn uống: Những gia đình khó khăn, ăn những thứ mình có và mìnhthích chứ không kiêng cữ [9]

Thông thường trong ba tháng đầu, ăn nhiều rau quả, thịt, trứng, cá, thứcăn không để lâu Không ăn đu đủ, chuối hột vì sợ thai trứng trong ba thángđầu thai kỳ Trong ba tháng giữa thai kỳ mỗi ngày ăn một trứng gà con so,có người ăn trứng ngỗng mỗi tuần 2-3 trứng [5]

Ba tháng cuối thai kỳ thường uống nước dừa và không được ăn nhiều cácloại thức ăn nóng như ớt, hạn chế ăn muối [5]

Trang 37

Trong nhà ở người Chăm khi có người mang thai ít nuôi động vật nhưmèo, chó… Nếu nuôi động vật khác như gà, vịt, cừu, dê, bò đều nuôi cóchuồng trại, có người chăn dắt vì sợ ảnh hưởng đến thai trong bụng mẹ[9],[51].

1.1.5.2 Chuẩn bị trước khi sinh

Người mẹ thường nhắc nhở khuyên con ăn uống đều đặn và không đểbụng đói, không làm việc nặng nhất là ba tháng cuối và ngày gần sinh,không lo lắng nhiều, khuyên chồng nên an ủi động viên vợ, nhất là nhữngngày đi lao động xa cũng phải về nhà với vợ, lúc sinh chồng phải có mặt để

lo cho vợ, khi cần thiết phải mời thầy cúng đến làm lễ theo phong tục, mụcđích để cho phụ nữ mang thai thật sự bình tĩnh không căng thẳng, không losợ, thư thản trước khi sinh Trước khi sinh phụ nữ Chăm thường tắm rửasạch sẽ, chú ý vệ sinh phần ngoài bộ phận sinh dục vì họ nghĩ rằng sau khisinh nhiều ngày sau mới tắm lại [5]

Trong thời kỳ trước khi sinh, phụ nữ Chăm thường ăn no và uống nướcdừa vì họ cho rằng khi sinh ra mồ hôi nhiều, đau bụng nhiều sợ mệt kiệt sứcnên phải ăn uống trước đủ no.[5]

Trang 38

Khi sản phụ đau bụng chuyển dạ, gia đình họ mang lễ đi mời bà mụ tớilàm lễ cúng cho bà mẹ sinh, đỡ sinh Lễ vật gồm một thước vải trắng, mộtchén gạo, mấy cây đèn sáp, trầu và rượu [5]

Ngoài ra người mẹ cũng cần chuẩn bị cho con sau sinh những thứ cầnthiết như : áo quần, vải, giường nằm, phòng ngủ, muối, lò lửa, …

1.1.5.3 Phụ nữ Chăm khi sinh

Sau khi chuẩn bị tất cả các công việc cho sinh đẻ, chuẩn bị cho các lễtục sau sinh, mời bà mụ vườn để đỡ sinh Nếu sinh ở nhà phụ nữ Chămthường sinh trong một phòng riêng đã chuẩn bị sẵn trước sinh, khi sinhthường sinh trên giường tre đã chuẩn bị sẵn gối, chồng lên nhau khoảng 2-3gối, đầu cao chân thấp giống như sinh nửa nằm nửa ngồi trong buồng đượcche kín, hai tay nắm cột giường hai bên hay người thân Mụ vườn đỡ sinhxong, cắt rốn bằng dao, kéo hay cật cây tre, cật cây giang đối với phụ nữChăm vùng cao đồ cắt rốn chỉ dùng một lần rồi bỏ, bà mẹ không giữ lại đểdùng vào các lần đẻ sau… Mụ vườn kiểm tra đủ các phần của nhau thai, rồiđưa cho người nhà đem chôn trong khuôn viên nhà sân đất trống (trước sânnhà hay sau sân vườn), tùy theo gia đình hay tôn giáo không có sự khácnhau giữa vị trí chôn nhau thai có khi chôn ở trước cổng nhà[51]

1.1.5.4 Sau khi sinh

Giai đoạn sau sinh là thời gian chuyển tiếp quan trọng về sinh lý tìnhcảm và xã hội đối với người mẹ trẻ sơ sinh và cả gia đình Tuy nhiên ởnhững nước đang phát triển, đặc biệt là các vùng dân tộc ít người vùng cao,nhu cầu của người mẹ và trẻ sơ sinh trong giai đoạn này thường không đượcquan tâm một cách đầy đủ Sự thiếu quan tâm đó là do không biết rằng đa

Trang 39

số những trường hợp tử vong, tai biến cho người mẹ đều xảy ra trong giaiđoạn sau sinh, tử vong sơ sinh trong mấy ngày đầu vẫn còn cao Người tatưởng rằng do lý do kinh tế nhưng thật ra thiếu sự chăm sóc, thậm chí hoàntoàn bỏ mặc những phụ nữ sau sinh, trẻ sơ sinh tại nhà hoặc ở cơ sở y tế đãlàm cho sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh không nâng lên được bao nhiêu [89],[90],[91],[92]

Sau sinh, bà mẹ người Chăm nằm nghỉ trên giường, người nhà cho uốngnước dừa, mụ vườn lo chăm sóc em bé lau khô, băng rốn bằng vải thườnghay vải áo quần của cha mẹ, không được băng chặt, mặc đồ cho em bé vàbế em bé nằm gần mẹ để cho mẹ nhìn thấy con mình biết được con traihay con gái và âu yếm con.[11], [68]

Sau sinh con nằm chung với mẹ cùng phòng để cho mẹ và con cùng gầngũi nhau ngày cũng như đêm, làm gắn bó thắt chặt tình cảm giữa mẹ vàcon Trẻ sơ sinh chỉ xa mẹ lúc mẹ xông hơ, tắm rửa vệ sinh mà thôi Mẹ vàcon tiếp xúc với nhau như vậy tạo mối quan hệ vững bền cho cuộc sống maisau [9]

Về vận động thích hợp sau khi sinh: sau khi sinh, đã làm cho sản phụmệt mỏi rã rời suy yếu mất sức khỏe cho nên trong 24 giờ ngay sau khisinh, sản phụ phải nằm im trên giường nghỉ ngơi để có thể bớt mệt mỏi Đốivới phụ nữ sinh thuận, nếu cơ thể khoẻ mạnh sau 24 giờ nằm trên giường làcó thể ngồi dậy được, còn đối với những sản phụ sinh khó, có cắt tầng sinhmôn hoặc mổ cần nằm lâu hơn (thường 3 đến 4 ngày) là thích hợp nhưngluôn trở mình cử động thích hợp ở trên giường Ngày thứ 2 có thể đi lạitrong buồng Sau ngày thứ 3, tăng dần thời gian và phạm vi hoạt động có

Trang 40

thể tập thể dục, co duỗi chân, nằm ngửa rồi dậy, vận động tay chân…đều lànhững vận động có ích Khoảng nửa tháng sau khi sinh, có làm một số việcnhà nhẹ nhàng chỉ làm lao động nặng sau khi đã đầy tháng và chú ý khôngđược đứng lâu, ngồi xổm, làm những việc như phải xách nặng leo núi đểtránh sa tử cung [77]

Những hoạt động trong thời kỳ đầu sau khi sinh cần kết hợp cả với việcxoa bóp bụng để sự co hồi tử cung tốt, hết sức có ích cho việc tránh bị mắccác bệnh hậu sản Nếu nằm trên giường suốt một tháng liên tục sẽ làm chosự bình phục của cơ thể không thuận lợi Vì vậy sau khi sinh không nênnghỉ ngơi quá lâu mà nên chú ý đến vận động một cách thích hợp[77]

Phụ nữ Trung Quốc quen ở cữ sau khi sinh Ba nhiệm vụ chủ yếu là nằmnghỉ cho bú và ăn cơm, rất ít người vận động luyện tập Thời kỳ mang thaingười mẹ tăng cân, mỡ tích nhiều, cơ nhão, sức đề kháng yếu, mô đáy chậudãn nở khi sinh, lực căng của dây chằng ở các cơ cũng yếu đi, cho nên saukhi sinh nếu không chú ý vận động, hợp lý cơ thành bụng sẽ nhão ảnhhưởng đến vẻ đẹp, ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa [77]

Do vậy ngay khi sinh xong phải nghỉ ngơi tối thiểu 24 giờ Ngày hômsau có thể trở mình trên giường, ăn uống cho con bú rửa mặt đi vệ sinh đềucó thể được, sau đó thể lui tới bên mép giường hay trong phòng, đồng thờicó thể tập thể dục nhẹ trên giường nhưng tránh quá sức Ngoài những vậnđộng hằng ngày, sản phụ có thể luyện các bài tập thể dục dành cho phụ nữsau khi sinh, nhằm thúc đẩy sự hồi phục sức khoẻ sau khi sinh [77]

Mẹ con nằm cùng phòng, trẻ có thể bú được sữa nhiều Sữa mẹ lànguồn thực phẩm thiên nhiên duy nhất của đứa trẻ

Ngày đăng: 05/04/2021, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w